Thứ Năm, 21 tháng 9, 2023

Việt Nam quan tâm, bảo đảm quyền của các dân tộc

 

Nhiều năm qua, Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đồng thời thực hiện nghiêm túc các nội dung của Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD). Việt Nam đã bốn lần bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công ước CERD. Năm 2023, Việt Nam tiếp tục xây dựng Báo cáo quốc gia CERD 5, qua đó khẳng định những thành tựu trong công tác nhân quyền nói chung và bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số nói riêng.

Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD) được thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn theo Nghị quyết số 2106 A (XX) ngày 21/12/1965 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc. Công ước CERD ra đời với mục tiêu lên án, tiến tới xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc, đồng thời xác lập nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết và không trì hoãn các chính sách nhằm loại trừ các hình thức phân biệt dựa trên chủng tộc, mầu da, dòng dõi, dân tộc hoặc gốc người thiểu số.

Trong phần mở đầu, Công ước CERD khẳng định: “Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng để chống lại bất kỳ sự phân biệt đối xử hay bất kỳ sự kích động phân biệt đối xử nào”; đồng thời chỉ rõ: “Các quốc gia thành viên cam kết sẽ cấm và xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hay sắc tộc” (Điều 5).

Nội dung của Công ước CERD có nhiều điểm tương đồng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Việt Nam. Ngay từ khi mới khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) tại bản Hiến pháp năm 1946 được Quốc hội thông qua đã xây dựng trên các nguyên tắc: Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; bảo đảm các quyền tự do dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.

Trên cơ sở đó, Hiến pháp 1946 khẳng định: Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa (Điều thứ 6); tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình (Điều thứ 7); ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung (Điều thứ 8).

Trải qua các giai đoạn lịch sử, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, trong đó việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và bảo đảm tính thực thi. Tại Điều 5 Hiến pháp năm 2013 xác định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.

Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”. Đồng thời, các quy định về bình đẳng, không phân biệt chủng tộc được tiếp tục cụ thể hóa trong các văn bản luật, các chính sách, mục tiêu quốc gia,… và triển khai đồng bộ ở mọi lĩnh vực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm dân tộc thiểu số phát triển bình đẳng trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Chính sự tương đồng về quan điểm, mục tiêu bảo vệ quyền con người nói chung, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc nói riêng nên từ năm 1982, Việt Nam đã gia nhập Công ước CERD. Từ đó đến nay, Việt Nam luôn thực hiện nghiêm túc các nội dung của Công ước CERD; tích cực triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo đảm, thúc đẩy quyền của đồng bào dân tộc thiểu số.

Trong các năm 1983, 1993, 2000 và 2012, Việt Nam đã bốn lần bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công ước CERD. Điều này cho thấy những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong thực hiện Công ước CERD, đặc biệt là việc bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số như xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, bình đẳng giới…

Năm 2023, Việt Nam tiếp tục xây dựng Báo cáo quốc gia CERD 5 gửi đến Ủy ban Công ước và được xếp lịch bảo vệ tại kỳ họp thứ 111 của Ủy ban (dự kiến tháng 11 và 12/2023). Thông tin về Báo cáo quốc gia CERD 5, bà Trần Chi Mai - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Ủy ban Dân tộc cho biết báo cáo được xây dựng toàn diện trên cơ sở ý kiến đóng góp của các cơ quan Nhà nước ở Trung ương và địa phương, các cơ quan Đảng, Quốc hội, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và người dân.

Cụ thể trong Báo cáo CERD 5 tập trung thể hiện kết quả Việt Nam thực thi Công ước CERD từ năm 2013-2019, tập trung vào các nội dung: Hệ thống pháp luật Việt Nam và các thiết chế bảo đảm, thúc đẩy quyền của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; định nghĩa phân biệt chủng tộc và đánh giá sự phù hợp của định nghĩa phân biệt chủng tộc trong các điều luật của Việt Nam; vai trò quan trọng của công tác dân tộc và thực hiện các chính sách dân tộc trong việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; kết quả thực hiện các cam kết cấm và xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; các biện pháp bảo đảm cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam không phải chịu bất cứ hành động phân biệt chủng tộc.

Với những nội dung nêu trên, có thể khẳng định Báo cáo quốc gia CERD 5 sẽ cung cấp cho cộng đồng quốc tế một bức tranh khá toàn cảnh về vấn đề chống phân biệt chủng tộc ở Việt Nam, từ những biện pháp lập pháp, hành chính, tư pháp cũng như các biện pháp khác mà Việt Nam đã xây dựng, triển khai cho đến kết quả tổ chức thực hiện các biện pháp đó trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2019 nhằm bảo vệ quyền con người, chống các hành vi kỳ thị, phân biệt về chủng tộc tập trung vào người dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Báo cáo CERD 5 được trình bày và bảo vệ tại Ủy ban Công ước sẽ là cơ hội để Việt Nam tuyên truyền về những thành tựu bảo vệ nhân quyền nói chung và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người dân tộc thiểu số nói riêng. Với một quốc gia có tới 53/54 là dân tộc thiểu số thì việc bảo đảm quyền cho đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Đồng thời cũng qua Báo cáo CERD 5, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam thuận hòa, đoàn kết, gắn bó, đề cao ý thức tuân thủ pháp luật sẽ được lan tỏa đến cộng đồng quốc tế, nhằm tăng cường sự hiểu biết và thúc đẩy các quan hệ hợp tác. Từ hiện thực sinh động, thuyết phục này sẽ góp phần bác bỏ những luận điệu vu cáo, xuyên tạc của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí đối với Việt Nam, nhất là trong vấn đề thực hiện các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Đáng buồn là thời gian qua, trên một số diễn đàn mạng xã hội và trong một bộ phận dân cư vẫn xuất hiện những quan điểm, ý kiến lạc lõng, sai sự thật về cái gọi là “kỳ thị dân tộc”, “phân biệt đối xử với đồng bào dân tộc thiểu số” ở Việt Nam.

Nguy hiểm hơn, các đối tượng chống phá, thù địch thường xuyên lợi dụng những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào, các tranh chấp, khiếu kiện, những vấn đề do lịch sử để lại,… coi đây là mục tiêu để tấn công, hòng khoét sâu những bất đồng, mâu thẫu, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan. Địa bàn được các đối tượng chống phá nhắm đến là khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Như ở khu vực Tây Bắc, các đối tượng chống phá dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông”, và đưa ra yêu sách về “quyền tự trị”.

Còn ở Tây Nguyên, các đối tượng rêu rao “Tây Nguyên là của người Thượng”, “người Kinh cướp đất của đồng bào trên chính quê hương của mình” từ đó kích động “đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về xuôi”. Tương tự ở Tây Nam Bộ, các đối tượng kích động người dân tộc Khmer ly khai thành lập “Nhà nước Khơme Krôm độc lập”.

Song song đó, các đối tượng còn lôi kéo, dụ dỗ, tổ chức các hoạt động như vượt biên trái phép, di dân tự do, hòng làm cho đời sống của đồng bào mất ổn định; từ đó rêu rao Việt Nam phân biệt chủng tộc, vi phạm nhân quyền, kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức quốc tế. Không khó để nhận diện âm mưu của các đối tượng chống phá, thù địch này là hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất lòng tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước, kích động bạo loạn, lật đổ chế độ.

Thực tế này cho thấy các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá núp dưới chiêu bài kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Đặc biệt, việc kích động, chống phá trên không gian mạng được chúng triệt để khai thác để tỏa “chân rết” đi đến các vùng miền, xâm nhập vào các cộng đồng người dân tộc thiểu số, tác động theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, hết sức nguy hiểm.

Thực tế này đòi hỏi các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, cũng như các tổ chức đoàn thể cần tiếp tục thực hiện tốt các chính sách dân tộc, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng có hành vi chống phá, kích động phân biệt chủng tộc.

Người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số cần nâng cao tinh thần cảnh giác, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, không tin, nghe theo sự lôi kéo, dụ dỗ của người khác để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Mỗi người dân cần phát huy tinh thần trách nhiệm, kịp thời phát hiện những biểu hiện tiêu cực trong cộng đồng để báo cáo tới cơ quan chức năng làm rõ.

Sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị và người dân sẽ tạo khối đoàn kết gắn bó chặt chẽ, hiệu quả, giúp ngăn chặn hiệu quả và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các đối tượng xấu./.

HÀ NHÂN (nhandan.vn)

Bệnh sính thành tích và “nghệ thuật” che giấu khuyết điểm

 

Thành tích là kết quả tốt đẹp do sự cố gắng, nỗ lực mà đạt được. Thành tích đi liền với biểu dương, khen thưởng sẽ là động lực cho sự phát triển. Đáng tiếc hiện nay, “thành tích” (những yếu kém, tồn tại được che giấu ở những bản thành tích không thật thà) đã và đang bị một bộ phận cán bộ, đảng viên biến nó trở nên méo mó.

Có thể thấy, họ ham thích đến mức sính thành tích, trở thành một căn bệnh của xã hội-bệnh sính thành tích. Những người này làm việc gì cũng chỉ vì thành tích, sẵn sàng làm gian dối, thích được ca ngợi, thích được tung hô, vì vậy, họ cố tình “báo cáo khống”, có một báo mười, thậm chí hàng trăm, hàng nghìn để thổi phồng thành tích. Một số khác (thường là những cá nhân có chức, có quyền) lại sử dụng công quỹ và nhân danh tập thể để rùm beng, biến thành tích của đơn vị, địa phương thành thành tích cá nhân.

Nguy hại hơn, vì thành tích mà họ cố tình che giấu khuyết điểm bằng cách tự “nặn ra thành tích”, không được thì họ “chạy thành tích”, cậy cục, gõ cửa cấp trên, lo lót cho một số cán bộ có chức quyền để báo cáo gian dối, xuyên tạc kết quả, thậm chí sẵn sàng dùng những mánh khóe để đánh lừa cấp trên và dư luận... Vì thành tích mà họ thù ghét những ai vạch mặt, chỉ tên những hạn chế, khuyết điểm của mình. Họ nâng sự che giấu khuyết điểm lên tầm “nghệ thuật”, gọi là “nghệ thuật” che giấu khuyết điểm. Sính thành tích và che giấu khuyết điểm luôn gắn liền với nhau, là hệ lụy của nhau. Họ dùng thành tích để che giấu khuyết điểm, đánh bóng tên tuổi, tạo sự vững mạnh giả tạo, làm bình phong che chắn cho mình, để mở cánh cửa thăng tiến, củng cố vị trí, quyền lực.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những biểu hiện của những kẻ sính thành tích, đó là: “... ham chuộng hình thức, làm việc không xét đến kết quả thiết thực, cần kíp, chỉ chăm về hình thức bên ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai; làm được ít suýt ra nhiều...; tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình; báo cáo dối, giấu cái dở, cái xấu, chỉ nêu cái tốt, cái hay...”. Thực tế thời gian qua, nhiều cán bộ, đảng viên, có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao bị kỷ luật, thậm chí ra hầu tòa, nhưng trước đó đều được xếp loại hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được biểu dương, khen thưởng... 

Căn bệnh này đã được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra là một trong những biểu hiện của tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống: Mắc bệnh thành tích, háo danh, phô trương, che giấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, đánh bóng tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu”... Bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm đã và đang gây ra những hệ lụy nghiêm trọng, gây mất đoàn kết nội bộ, mất niềm tin dẫn đến hủy hoại uy tín, danh dự của cá nhân và sức mạnh của tổ chức, xa hơn, nó còn làm tổn hại đến Đảng, Nhà nước và chế độ.

Nhận diện căn bệnh này không quá khó, nhưng khá phức tạp vì nó thường được che giấu bởi vẻ bề ngoài hào nhoáng, bóng bẩy. Nếu không nhìn nhận thấu đáo, soi vào bản chất, logic của vấn đề thì khó đoán biết, phải qua kiểm tra, giám sát của tổ chức, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân mới phát hiện được chính xác. Bệnh sính thành tích và "nghệ thuật” che giấu khuyết điểm xuất phát từ nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan.

Thứ nhất, xuất phát từ tâm lý háo danh, ưa chuộng hình thức, tư tưởng kèn cựa, đố kỵ “con gà tức nhau tiếng gáy” còn tồn tại trong suy nghĩ, nhận thức của không ít cán bộ, đảng viên. Một bộ phận cán bộ, đảng viên coi thành tích không chỉ là phương tiện nhằm thỏa mãn tâm lý thích được đề cao, ca ngợi mà mục đích sâu xa hơn, họ còn dùng để ngụy trang, bưng bít khuyết điểm. Tâm lý thích khen hơn chê, sĩ diện, thích phô trương theo kiểu “đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại”; tâm lý không muốn “vạch áo cho người xem lưng”; tâm lý nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh hoặc lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau.

Thứ hai, vì mang nặng chủ nghĩa cá nhân mà mắc bệnh sính thành tích, nhất là trong những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, chỉ biết chăm lo, vun vén cho lợi ích cá nhân, quên lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng, đặt cái riêng lên trên cái chung mà bao che, giấu giếm khuyết điểm, khuếch trương thành tích. Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới đã chỉ ra một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân đó là: “Thổi phồng thành tích, đánh bóng tên tuổi; sợ trách nhiệm, tranh công, đổ lỗi; giấu giếm, bao che và không trung thực về những khuyết điểm, sai phạm”.

Thứ ba, do tính chiến đấu của các tổ chức nói chung, tổ chức cơ sở đảng nói riêng chưa được phát huy đúng mức, tự phê bình và phê bình yếu. Cán bộ cấp dưới, đảng viên thì sợ khuyết điểm, không dám chịu trách nhiệm, không đủ dũng cảm để nhìn thẳng vào sự thật, báo cáo đúng sự thật. Thấy cái xấu, cái sai của người có vị trí cao hơn mình chẳng ai dám nói ra. Ai can đảm nói ra thì những người có quyền lợi liên quan hoặc có thể bị ảnh hưởng sẽ cùng nhau cho người đó ra rìa, bị cười nhạo hoặc ghét bỏ.

Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở kém hiệu quả, vai trò của quần chúng không được phát huy. Quần chúng không nói không phải không biết hay không có gì để nói mà họ nghĩ nói ra cấp trên sẽ không nghe, thậm chí có khi còn bị trù dập theo kiểu “đấu tranh-tránh đâu”. Họ sợ sẽ bị quy kết làm mất uy tín cán bộ, làm ảnh hưởng đến thành tích của cơ quan, đơn vị, làm mất đoàn kết nội bộ, làm giảm ý chí chiến đấu của tập thể.

Ngoài ra, công tác thi đua, khen thưởng ở nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực chất, nặng về hình thức. Việc tổ chức đánh giá, kiểm soát về chất lượng không kỹ càng đã tạo kẽ hở và điều kiện cho hành vi “làm láo, báo cáo hay”, “chạy thành tích”, “chạy danh hiệu”... đang là một trong những lý do dẫn đến bệnh sính thành tích và “nghệ thuật” che giấu khuyết điểm của cán bộ, đảng viên hiện nay. Để khắc phục căn bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm cần tập trung giải quyết dứt điểm căn nguyên của nó.

Một là, khắc phục tâm lý sùng bái thành tích, quá coi trọng hình thức, phô trương; giấu giếm khuyết điểm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Cũng cần nhìn nhận rằng, giấu giếm khuyết điểm và thích khen hơn chê là bản tính của con người, là yếu tố tâm lý khách quan. Do đó, muốn chữa bệnh phải điều trị từ gốc. Trước hết, chủ quan của những người này phải muốn chữa và quyết tâm chữa (ở đây bao gồm cả những người mắc bệnh sính thành tích, che giấu khuyết điểm và những người đứng đầu tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị các cấp trong hệ thống chính trị, từng cán bộ, đảng viên). Nhưng thực tiễn đang tồn tại nghịch lý là rất nhiều cán bộ, đảng viên không muốn “chữa bệnh”.

Lý do thật đơn giản: Tự nhận khuyết điểm thì sẽ thiệt nhiều thứ, như mất thành tích, bị trừ điểm thi đua, ảnh hưởng tới những quyền lợi cá nhân. Thậm chí, việc tự nhận khuyết điểm còn bị nhiều người cho là dại dột “chưa khảo đã xưng”, “tự bôi mỡ vào người cho kiến đốt”... không ít trường hợp còn bị cán bộ cấp trên lấy làm ví dụ nhắc đi nhắc lại mãi. Vì thế, nhiều người đã rút ra “bài học” chẳng dại gì “lạy ông tôi ở bụi này”.

Bởi vậy, thay đổi cách nhìn nhận đối với khuyết điểm theo quan điểm “nhân vô thập toàn” và thái độ tích cực khắc phục, sửa chữa khuyết điểm của mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên; sự nhìn nhận, đánh giá của cấp ủy, người đứng đầu theo hướng trân trọng đức tính thẳng thắn, trung thực, tự giác nhận khuyết điểm là yếu tố tiên quyết để tuyên chiến với “căn bệnh” và khắc phục nghịch lý không muốn “chữa bệnh” nêu trên.

Hai là, đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát của cấp ủy, người đứng đầu và các cơ quan cấp trên đối với cơ sở. Duy trì nghiêm nền nếp chế độ sinh hoạt Đảng, chấn chỉnh nền nếp sinh hoạt chi bộ. Đổi mới công tác kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên theo đúng Quy định số 132-QĐ/TW ngày 8-3-2018 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 21-HD/BTCTW ngày 18-10-2019 của Ban Tổ chức Trung ương.

Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, huy động quần chúng nhân dân tham gia phòng, chống, ngăn chặn và đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Đảng ta đang khuyến khích và đã có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. 

Đặc biệt, Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đã xác định rõ nguyên tắc: Công tác kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới, tích cực để phát huy, phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; phải chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ khi mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng.

Ba là, chỉnh sửa, bổ sung quy chế thi đua, khen thưởng cho phù hợp với thực tiễn. Đây chính là liều thuốc đặc hiệu để chữa từ nguyên nhân gốc, trị dứt điểm bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm nguy hại. Hiện nay cũng có quan điểm cho rằng, để tránh bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm, nên bỏ các phong trào, chỉ tiêu thi đua, các danh hiệu thi đua... Chúng ta không thể đồng tình với quan điểm này, bởi vì thi đua là động lực của sự phát triển. Bác Hồ từng nói: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Điều quan trọng là phải xây dựng được chỉ tiêu thi đua sao cho phù hợp với tình hình thực tế của từng cơ quan, đơn vị, địa phương, tránh bệnh sính thành tích.

Cũng không nên bóp méo, làm sai lệch bản chất, ý nghĩa tích cực của việc thi đua, để rồi biến chỉ tiêu thi đua thành “vũ khí” để hù dọa, trù dập của lãnh đạo, quản lý đối với cấp dưới hoặc là “sản phẩm” để đánh bóng tên tuổi cho lãnh đạo, quản lý và những kẻ cơ hội, thực dụng. Việc đăng ký các danh hiệu, hình thức thi đua, khen thưởng cũng cần thực hiện dân chủ và linh hoạt. Cần động viên, khuyến khích mọi người đăng ký theo nguyện vọng chứ không nên ép buộc, áp đặt. Mặt khác, cũng không nên khống chế, giới hạn số lượng, tỷ lệ đăng ký thi đua để tránh tình trạng bình xét thi đua thiếu công bằng, dân chủ.

Bốn là, phát huy vai trò, tính tiền phong gương mẫu của người đứng đầu và sự tự giác tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, đối với đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp, nhất thiết phải trung thực với Đảng, phải coi việc nói dối Đảng, nói dối cấp trên, báo cáo sai sự thật, che giấu khuyết điểm là có tội với Đảng, vi phạm tư cách đảng viên, tổ chức đảng ở đó cần xem xét xử lý kỷ luật, thậm chí sẵn sàng đưa ra khỏi Đảng nếu có những vi phạm nghiêm trọng.

Làm tốt công tác bồi dưỡng tạo nguồn, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ "đúng người, được việc, được tổ chức” theo tinh thần, tư tưởng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Phải trong sáng, công tâm, khách quan, đặc biệt là phải rất tỉnh táo, tinh tường trong lựa chọn cán bộ, “đừng thấy đỏ tưởng là chín”, đừng chỉ thấy “cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong” bằng những tấm bằng khen của các cấp nhưng lại làm mờ dần đi tính trung thực, đưa lối suy nghĩ, làm việc dối trá lên hàng đầu mà quên đi cái hiện thực không mấy tốt đẹp bên ngoài bản báo cáo.... 

Khắc phục bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm là công việc đòi hỏi phải có sự thống nhất về tư tưởng, hành động, được tiến hành kiên trì và đồng bộ ở tất cả các cấp với nhiều giải pháp tích cực và chủ động. Trong đó phải thật sự coi trọng biện pháp trọng tâm: Khắc phục tâm lý sùng bái thành tích, phô trương, giấu giếm khuyết điểm của cán bộ, đảng viên; phát huy quyền làm chủ tập thể của đảng viên và quần chúng trong mỗi tổ chức đảng trên cơ sở nâng cao trình độ hiểu biết của đảng viên, quần chúng về mọi mặt; khắc phục sự hình thức trong thi đua... chính là biện pháp cơ bản nhất để chống bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm.

Theo QĐND

Xây dựng “thế trận lòng dân” góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng


(TG) - Xây dựng “thế trận lòng dân” là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân, được vận dụng một cách linh hoạt trong thực tiễn cuộc sống. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu cái gì làm trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”.

1. “Thế trận lòng dân” là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu, phấn đấu của toàn dân tộc được quy tụ, tập hợp, khơi dậy, phát huy, tạo cơ sở vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân. 

 Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiệu quả thì phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp quan trọng là xây dựng “thế trận lòng dân”. Đây là giải pháp cơ bản, lâu dài, quan trọng quyết định các giải pháp khác. 

Khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng có tính cốt tử của “lòng dân” và “thế trận lòng dân”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”.

Để xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh theo đúng chủ trương, Nghị của Đảng, nhất là trên tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII, góp phần đấu tranh, phản bác có chất lượng, hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, thời gian qua, hầu hết cấp ủy, chính quyền các cấp đã tập trung xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; đa số cán bộ, đảng viên nghiêm túc thực hiện quy định về trách nhiệm nêu gương tự giác, thường xuyên, gắn với việc thực hiện “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; chú trọng xây dựng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị các cấp theo hướng gần dân, chăm lo cho dân, tạo sức mạnh và uy tín để củng cố niềm tin trong nhân dân.

Nhìn chung, cấp ủy, chính quyền các cấp đã tiến hành đồng bộ các chủ trương, chính sách, giải pháp xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, coi đây là nhiệm vụ chiến lược thường xuyên, lâu dài. Tập trung phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội; đẩy mạnh thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo, ưu đãi đối với địa bàn vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng; tạo việc làm cho người lao động, tăng lương, miễn giảm thuế; tăng cường phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; chú trọng thực thi quyền con người, quyền công dân; tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cải cách hành chính… Qua đó tạo sự đồng thuận, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc xây dựng “thế trận lòng dân” thời gian qua có lúc, có nơi vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm, bất cập. Sự tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường đã dẫn tới sự bất bình đẳng trong xã hội, tình trạng phân hóa giàu - nghèo ngày càng gia tăng, đời sống vật chất của nhân dân, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn còn nhiều khó khăn. Một số cơ chế, chính sách chưa phù hợp với nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân. Trật tự, an toàn xã hội ở một số nơi chưa được bảo đảm, còn những vấn đề tiêu cực và tệ nạn xã hội. Một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, quan liêu, xa dân, vô cảm trước những bức xúc của nhân dân… Điều này là nguyên nhân làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ.Cùng với tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những biến động nhanh chóng và khó lường, các thế lực thù địch không ngừng đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm chia rẽ lòng dân, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc... Điều này đòi hỏi chúng ta phải chú trọng, tăng cường mạnh mẽ và quyết tâm hơn nữa trong xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, đồng thời là yêu cầu cấp bách trong bối cảnh hiện nay; cần tiến hành đồng bộ, toàn diện nhiều nội dung biện pháp, với sự tham gia của mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức.

2. Việc đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch nhất định phải dựa vào nhân dân, có sự “đồng tâm hiệp lực” của nhân dân. Theo đó, để xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh trong quá trình đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản, trọng tâm sau:

Một là, không ngừng thấm nhuần, quán triệt quan điểm của Đảng về vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán với quan điểm “dân là gốc”, nhân dân là chủ thể của mọi công việc xây dựng, phát triển đất nước cũng như bảo vệ Tổ quốc. Kế thừa tinh thần các kỳ Đại hội Đảng trước, Đại hội XIII của Đảng đã tiếp tục xác định: “trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(1)

Nhờ thực hiện nghiêm nguyên tắc “dân là gốc” nên trong mọi giai đoạn cách mạng, nhân dân ta luôn một lòng, một dạ đi theo Đảng, ủng hộ chủ trương, đường lối của Đảng, đặc biệt là trong những tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” khi Đảng mới ra đời, trong thực hiện sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc trước đây và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Chính niềm tin, sự ủng hộ, đồng lòng của nhân dân đối với Đảng là “bức thành trì” vững chắc nhất chống lại mọi kẻ thù tư tưởng nào của Đảng.

Hai là, quyết tâm mạnh mẽ, triển khai hiệu quả hơn nữa các nội dung, giải pháp xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh. 

Một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm xây dựng thành công “thế trận lòng dân” vững mạnh trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch đạt kết quả, trước hết Đảng, hệ thống chính trị phải thực sự trong sạch, vững mạnh, thực sự vì nhân dân phục vụ. Nhân dân chỉ thực sự “tâm phục khẩu phục”, toàn tâm toàn ý tin Đảng, tin Nhà nước, đi theo Đảng, ủng hộ mọi quyết sách của Nhà nước khi mà mục tiêu phục vụ nhân dân được thể hiện rõ ràng, nổi bật trong thực tiễn cuộc sống; việc thực hiện chủ trương, biện pháp luôn thống nhất giữa “nói và làm”. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, công chức, viên chức của Nhà nước phải thực sự làm gương trước quần chúng nhân dân; xứng đáng là những chiến sĩ tiên phong; mẫu mực cả về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống; hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. 

Để xây dựng Đảng về đạo đức, Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, thực hiện thường xuyên, sâu rộng, có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ chí Minh gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị”(2); đồng thời đề ra yêu cầu: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển đất nước”(3). Đại hội XIII cũng yêu cầu hình thành cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đồng thời, có cơ chế sàng lọc thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân(4).

Ba là, chăm lo đời sống của nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Phải thấm nhuần và thực hiện tốt hơn nữa trên thực tế lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì hại cho dân ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(5). Việc chăm lo cho đời sống của nhân dân phải được cụ thể hóa, triển khai tích cực, thường xuyên và sát sao hơn nữa trong mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực theo đúng tinh thần Đại hội XIII của Đảng đã đề ra: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”(6).

Theo đó, cần quyết liệt hơn nữa trong việc triển khai những chính sách cụ thể, phù hợp với từng đối tượng, thành phần, tầng lớp, như: “chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân”(7). Tạo điều kiện để nông dân ở các vùng, khu vực phát triển từng bước trở thành cư dân đô thị mà không dẫn đến di cư quy mô lớn; có chính sách hợp lý để chuyển lao động nông thôn sang các ngành phi nông nghiệp, thực hiện thành công mô hình nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh... Trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ có trình độ cao; thật sự tôn trọng và tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn, phản biện của các chuyên gia, đội ngũ trí thức(8). Tôn vinh, khen thưởng kịp thời, xứng đáng những doanh nhân có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc(9). Quan tâm động viên cựu chiến binh, công an hưu trí phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” và phẩm chất cách mạng nhằm không ngừng nâng chất lượng mọi mặt của đời sống; tiếp tục đóng góp công sức, trí tuệ vào việc xây dựng, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ; tích cực đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời “Chú trọng nâng cao phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, cố gắng bảo đảm những nhu cầu cơ bản, thiết yếu của nhân dân về nhà ở, đi lại, giáo dục, y tế, việc làm...”(10).

Những vấn đề nêu trên chính là thực tiễn và chân lý chắc chắn nhất, có sức thuyết phục nhất để củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân; để toàn dân luôn một lòng, một dạ đi theo Đảng, ủng hộ Nhà nước; luôn đoàn kết và sẵn sàng, tự nguyện bảo vệ nền tảng tư tưởng, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch.

Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, khẳng định những thành tựu mà đất nước ta đạt được, nhất là trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Với những nội dung, cách thức phù hợp với tình hình, bối cảnh mới hoạt động tuyên truyền phải thực sự tác động đến mọi “ngõ ngách cuộc sống”, để các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ luôn nhận thức rõ và đúng sự thật khách quan là: trong những năm qua, với tinh thần yêu nước, đoàn kết, nhất trí, quyết tâm, bản lĩnh, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã “đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật; đất nước phát triển nhanh và bền vững”(11)

Sự thực là, sau gần 40 năm đổi mới “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn... Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(12). Những thành tựu này là kết quả phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân ta; khẳng định sự đúng đắn trong chủ trương, đường lối của Đảng; là lý lẽ khách quan, hiệu quả nhất phản bác lại những luận điệu xuyên tác, bóp méo, thổi phồng của các thế lực thù địch và phần tử bất mãn, phản động; là cơ sở vững chắc để nhân dân thêm tin tưởng, đoàn kết, phát huy “thế trận”, tự giác đấu tranh với mọi kẻ thù tư tưởng để bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ cùng những thành tựu của sự nghiệp cách mạng.

Năm là, tiếp tục làm tốt công tác dân vận để nhân dân hiểu sâu sắc hơn Đảng không có mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu phục vụ nhân dân. 

Cùng với thực hiện đúng những chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “...vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm...”(13), các cấp ủy đảng, chính quyền cần phải chú trọng hơn nữa trong khai thác, phát huy những mặt mạnh của mỗi công dân, dù họ thuộc giai cấp, tầng lớp, tôn giáo nào. Không ngừng tạo sự đồng thuận cao, ủng hộ lớn, niềm tin vững mạnh trong toàn thể xã hội trên cơ sở của sự tương đồng: lợi ích của dân tộc - lợi ích của nhân dân - lợi ích của Đảng. Các tổ chức, đoàn thể trong hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên phải luôn thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, động viên quần chúng nhân dân; đồng thời thực hiện tốt yêu cầu mà Đại hội XIII đã nêu đề ra về “Quy định cụ thể gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình...”(14)./.

TS. NGUYỄN THU HUYỀN 
Học viện Hành chính Quốc gia

_________________________

(1) (2) (3) (4) (6) (7) (8) (9) (10) (11) (12) (14) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I,  tr.27-28, 183, 178, 178-179, 165-166, 166, 167, 168, 149, 20, 25, 198.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1995, t.4, tr.56.

(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr. 698. 

Sự phi lý của luận điệu “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”

 

Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Những thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung chính là những luận cứ xác đáng, hữu hiệu để bác bỏ luận điệu “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”.

Sự phi lý của một luận điệu

Độc lập, tự chủ là ý chí sắt đá được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, trở thành giá trị cốt lõi thiêng liêng trong truyền thống quý báu của dân tộc ta. Chính vì thế, độc lập, tự chủ là vấn đề mang tính nguyên tắc, nhất quán trong hệ thống các quan điểm của Đảng ta, có tầm quan trọng đặc biệt và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Trong điều kiện của thế giới hiện nay, Đảng ta đã xác định hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế là phương châm chỉ đạo và tổ chức thực hiện; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế với giữ vững độc lập, tự chủ đất nước là một trong những mối quan hệ quan trọng đặc biệt cần giải quyết trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, với bản chất thâm độc, các thế lực thù địch cho rằng, chính sách đối ngoại giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam là hão huyền, phi thực tế. Chúng cho rằng "không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế được"; "đã độc lập, tự chủ thì không thể hội nhập quốc tế và ngược lại, đã hội nhập quốc tế thì không thể có độc lập, tự chủ". Đồng thời, chúng còn cho rằng thể chế chính trị của Việt Nam là khác biệt, không phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế, với một đảng duy nhất cầm quyền càng không thể hội nhập quốc tế.

Toàn cầu hóa là tất yếu khách quan kéo theo quá trình cả thế giới theo dòng thời cuộc hội nhập quốc tế. Đó cũng là quá trình nước nào cũng phải tìm mọi cách thức để tự bảo vệ mình. Vậy nên hội nhập quốc tế là xu thế khách quan thì việc mỗi nước phải giữ được tố chất của mình cũng là một nhu cầu và nhiệm vụ tất yếu. Nhưng nếu xem xét một cách sâu xa hơn thì có thể thấy ngay được luận điệu “Không thể có độc lập tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam” thực chất là sự hằn học của thế lực thù địch. Chúng ta có đủ luận cứ về lý luận và chứng cứ về thực tiễn để bác bỏ hoàn toàn luận điệu phi lý này.

Hiệu quả hội nhập quốc tế hiện diện trên mọi mặt đời sống xã hội

Sau hơn 30 năm thực hiện “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, từ nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn, Đảng ta đã xác nhận nhiều mối quan hệ đan xen nhau rất phức tạp đòi hỏi phải xử lý đúng đắn, hiệu quả, trong đó có mối quan hệ “giữa độc lập tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”.

Trong Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Đảng ta đã chỉ rõ mục tiêu của hội nhập quốc tế là: “Củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo toàn và phát huy bản sắc dân tộc, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.

Quan điểm và chủ trương của Đảng nêu bật việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sẽ tạo ra cơ hội, tiền đề để giữ độc lập, tự chủ trên mọi mặt đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Quán triệt và xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trong công tác đối ngoại, những năm qua, chúng ta đã thu được những thành quả khả quan.

Trong lĩnh vực chính trị. Chúng ta đã đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất: Chủ động tham gia phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc. Hội nhập quốc tế về chính trị được thực hiện tương đối nhanh, sâu rộng và thực chất cả trong kênh song phương và đa phương. Hội nhập song phương tạo tiền đề để Việt Nam phát huy vai trò trên diễn đàn đa phương, qua đó tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hơn.

Hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu đã góp phần cải thiện đáng kể tiềm lực trong nước, nâng cao vị thế địa chiến lược của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á, Đông Á, châu Á-Thái Bình Dương và trên phạm vi toàn cầu. Từ một quốc gia hội nhập sau, Việt Nam đã trở thành nhân tố tích cực tham gia tiến trình hội nhập khu vực, chủ động đề xuất những sáng kiến, thúc đẩy các liên kết. Việt Nam cũng tích cực hội nhập sâu rộng vào trật tự kinh tế, chính trị toàn cầu, trở thành thành viên có trách nhiệm và uy tín trên cộng đồng quốc tế.

Trong lĩnh vực kinh tế. Chúng ta đã xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư quốc tế, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học-công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến; khai thác hiệu quả các thỏa thuận được ký kết, đặc biệt là các khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương.

Theo Tổng cục Thống kê, tính đến năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 732,5 tỷ USD, xuất siêu 11,2 tỷ USD. Đầu tư vào Việt Nam đã đăng ký hơn 400 tỷ USD, năm 2022 đạt 22,4 tỷ USD, tăng 13,5% so với năm trước. Việt Nam được xếp vào nhóm 15 quốc gia thu hút FDI hàng đầu thế giới. Hiện nay cộng đồng tài trợ quốc tế hoạt động thường xuyên ở nước ta đã lên tới hơn 50 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và hơn 20 nhà tài trợ đa phương.

Ngoài ra, nước ta còn nhận được vốn ODA từ hơn 600 tổ chức phi chính phủ quốc tế. Thành công của hội nhập kinh tế quốc tế góp phần tăng cường nguồn lực, tạo điều kiện vật chất-kỹ thuật thuận lợi cho việc bảo vệ độc lập, tự chủ của đất nước, tạo nền tảng để hội nhập về chính trị và hội nhập các lĩnh vực khác. Kinh tế đất nước phát triển, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên là nhân tố quan trọng để giữ vững độc lập, tự chủ của đất nước.

Trong lĩnh vực văn hóa-xã hội. Đến nay, Việt Nam đã ký hơn 100 thỏa thuận, điều ước quốc tế song phương có nội dung văn hóa. Hội nhập văn hóa xã hội đi vào chiều sâu đã thu hút bạn bè quốc tế đến với Việt Nam ngày càng nhiều hơn.

Từ thành công của hội nhập trong lĩnh vực này đưa tới việc hình thành nhiều dự án, nhiều công trình văn hóa ngay tại Việt Nam với quy mô ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân ta có cơ hội tiếp cận và thưởng thức những giá trị văn hóa tiêu biểu của nhiều quốc gia trên thế giới, từ đó thúc đẩy tiềm năng sáng tạo của nhân dân và khuyến khích giao lưu với cộng đồng quốc tế. Nguồn lực và động lực về văn hóa-xã hội được tăng cường sẽ là yếu tố quan trọng để chúng ta giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, để ánh sáng văn hóa Việt Nam là ngôi sao lấp lánh trên bầu trời văn hóa các dân tộc trên thế giới.

Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Hội nhập trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh là một trong những nhiệm vụ quan trọng để phục vụ và hỗ trợ cho chính sách chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, vừa phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước, vừa bảo vệ độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong bối cảnh môi trường quốc phòng, an ninh trên thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp. Việt Nam đã từng bước mở rộng hợp tác quốc phòng, an ninh với các nước lớn và các nước trong khu vực, đã có quan hệ quốc phòng chính thức với gần 70 nước, đặt văn phòng tùy viên quân sự tại hơn 30 nước và có hơn 40 nước có văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam. Việt Nam cũng đã tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh, quốc phòng khu vực và từng bước tham gia vào những hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh, quân sự toàn cầu.

Tiếp tục kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại


Tình hình thế giới ngày càng có những biến động phức tạp, nhanh chóng, khó lường, trong khi hội nhập là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh dẫn tới những thách thức to lớn trong quá trình bảo vệ độc lập, tự chủ, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc. Trước những vấn đề mới đặt ra, Đảng ta đã xác định rõ những nguyên tắc, phương châm, mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng lớn cho quá trình hội nhập quốc tế.

Để bảo vệ, giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế, trước hết cần xác định rõ và luôn kiên định lợi ích quốc gia là mục tiêu cao nhất trong quá trình hội nhập quốc tế. Tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia về chính trị-đối ngoại, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh. Nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia là yếu tố quyết định thành công của quá trình hội nhập quốc tế.

Đó là sức mạnh được tạo nên từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, của khối đoàn kết toàn dân tộc và của văn hóa, con người Việt Nam; sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, cần chủ động phát hiện, ngăn chặn “từ sớm, từ xa” các nguy cơ đối với đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Phòng, chống một cách chủ động mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng hội nhập quốc tế để chuyển hóa nội bộ; phát hiện ngăn chặn kịp thời các đối tác nước ngoài lợi dụng các kẽ hở về luật pháp và sơ hở, yếu kém của ta để gây sức ép, trốn thuế, thao túng thị trường trong nước; đấu tranh với các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia như rửa tiền, buôn lậu, sản xuất và tiêu dùng hàng giả, gian lận thương mại, tín dụng đen, tội phạm sử dụng công nghệ cao.

Tăng cường quản lý hoạt động trên mạng xã hội và internet, có biện pháp ngăn chặn các thế lực thù địch xâm nhập vào những mạng nội bộ gây thiệt hại về kinh tế, phá hoại tư tưởng. Ngăn chặn việc nhập các ấn phẩm văn hóa độc hại từ bên ngoài để bảo đảm an ninh văn hóa.

Cùng với đó, cần nâng cao năng lực dự báo tình hình quốc tế, khu vực phục vụ đắc lực yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế. Đổi mới tư duy, nghiên cứu có chiều sâu, nhạy bén bám sát tình hình để có những dự báo xác đáng. Tập trung nghiên cứu những biến động mới của tình hình thế giới, khu vực, những điều chỉnh chiến lược và chính sách của các nước lớn, những mối quan hệ giữa các nước lớn. Nghiên cứu đánh giá và xác định đúng đắn quan hệ đối tác, đối tượng trong từng tình huống cụ thể để có những ứng phó phù hợp, hiệu quả.

Giải pháp có ý nghĩa căn cơ là tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế. Đảng ta đã xác định nâng cao bản lĩnh chính trị và trí tuệ của Đảng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng tạo trong thực tiễn hoạt động của Đảng.

Có thể khẳng định rằng, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, nhằm góp phần hiện thực hóa phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong những năm đổi mới vừa qua, chúng ta đã thể hiện nhất quán và từng bước cụ thể hóa nội dung của chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế cho từng giai đoạn, phù hợp với bối cảnh tình hình thế giới và khu vực. Những thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung chính là những luận cứ, bằng chứng xác đáng nhất để bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch về vấn đề này./.

Theo qdnd.vn



THỦ TƯỚNG ĐÁNH GIÁ CAO QUAN ĐIỂM CỦA MỸ VỀ VỤ KHỦNG BỐ Ở TÂY NGUYÊN


Thủ tướng Phạm Minh chính đánh giá cao quan điểm rõ ràng của Mỹ đối với vụ tấn công khủng bố tại Tây Nguyên, khi tiếp Cố vấn An ninh quốc gia Jake Sullivan.

Thủ tướng Phạm Minh Chính hôm 20/9 tiếp Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan nhân dịp tới thành phố New York dự phiên thảo luận chung cấp cao Khóa 78 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.

Thủ tướng đánh giá cao sự ủng hộ mạnh mẽ của Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ với thúc đẩy quan hệ song phương, đặc biệt là đóng góp của ông Sullivan trong thu xếp thành công chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Joe Biden ngày 10-11/9 và việc hai nước xác lập quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện.

Thủ tướng đánh giá cao quan điểm rõ ràng của phía Mỹ đối với vụ tấn công khủng bố tại Tây Nguyên, đề nghị hai bên hợp tác giảm sự chống đối của các đối tượng phản động, thù địch đối với đất nước và nhân dân Việt Nam.

Trong cuộc gặp gỡ báo chí tại Hà Nội hồi tháng 7, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Marc Knapper khẳng định Mỹ phản đối vụ tấn công ở Đăk Lăk, Tây Nguyên và sẽ phối hợp với Việt Nam để tìm ra kẻ đứng sau sự việc.

"Tôi xin khẳng định Mỹ không chấp nhận những gì đã xảy ra tại Đăk Lăk, cũng như phản đối bạo lực dưới mọi hình thức. Chúng tôi xin gửi lời chia buồn đến gia đình những người bị hại, đồng thời lên án bằng những ngôn từ mạnh mẽ nhất với việc sử dụng bạo lực để đạt mục đích", ông Knapper nói, đề cập vụ nhóm khủng bố tấn công và sát hại 9 người ở Đăk Lăk giữa tháng 6.

Bộ Công an xác định trong các bị can có một người là thành viên của tổ chức có trụ sở tại Mỹ, nhận lệnh chỉ đạo từ tổ chức này xâm nhập Việt Nam và thực hiện vụ tấn công.

Trong cuộc gặp Cố vấn Sullivan ngày 20/9, Thủ tướng Phạm Minh Chính còn đề nghị hai nước tích cực phối hợp, trao đổi hoàn thiện khuôn khổ hợp tác mới, tạo cơ sở để nhanh chóng triển khai những kết quả quan trọng trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Biden.

Thủ tướng cũng mong muốn phía Mỹ ưu tiên thúc đẩy lộ trình công nhận Quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam, không dùng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa Việt Nam, nhất là nông sản vì liên quan đến sinh kế của nông dân, trên cơ sở bảo đảm cân bằng, bình đẳng, cùng có lợi.

Ông Sullivan nhất trí hai bên cần hiện thực hóa nội hàm của quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện và cho biết sẽ thúc đẩy để Mỹ sớm công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Ông hoan nghênh Việt Nam tiếp tục tham gia thảo luận, đàm phán trong Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Thủ tướng Phạm Minh Chính hoan nghênh Mỹ tiếp tục thúc đẩy hợp tác toàn diện, trách nhiệm với ASEAN nói riêng, khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương nói chung.

Cố vấn Sullivan khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN, đánh giá cao vai trò chủ động, tích cực của Việt Nam tại các diễn đàn khu vực và quốc tế. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển.


Thứ Tư, 20 tháng 9, 2023

Quân đội xây dựng thế trận bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Nền tảng tư tưởng của Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định phương hướng chính trị, bản chất cách mạng của một Đảng chân chính. Bảo vệ nền tảng tư tưởng (NTTT) của Đảng là một tất yếu khách quan, một nhiệm vụ chính trị quan trọng của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới. Vì vậy, Quân đội cần tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng tiên phong, mũi nhọn trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ NTTT của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Phòng, chống “diễn biến hòa bình”: Lợi dụng dựng chuyện "trống trường"...

 

Mấy ngày qua, câu chuyện về khai giảng năm học mới vẫn râm ran quanh bàn trà của các bác hưu trí trong xóm. Ấy là bởi, trước đó, ông Bình khẳng định rằng, năm nay cán bộ huyện về dự lễ khai giảng ở trường tiểu học của xã sẽ không dám đánh trống khai trường. Thế nhưng, chuyện lại không phải vậy!

LỰA LỜI MÀ NÓI CHO VỪA LÒNG NHAU

 


Tranh luận trên mạng xã hội không nên đao to, búa lớn; dùng ngôn từ thiếu lịch sư. Trong mọi hoàn cảnh cũng một lời nói nhưng đôi khi biết dùng từ ta sẽ thấy lòng thanh thản và nhẹ nhàng hơn, sự tôn trọng được đề cao và tình cảm con người được nhân lên gấp bội...


Sai ta thay bằng chưa đúng

Phản đối ta thay bằng chưa đồng ý

Xấu xí ta thay bằng chưa đẹp

Ẩu tả ta thay bằng chưa cẩn thận

Dở ẹc ta thay bằng chưa hay 

Thất bại ta thay bằng chưa thành công

Lừa dối ta thay bằng không thật lòng

Xảo trá ta thay bằng không thành thật

Ngu dốt ta thay bằng chưa thông minh

Ghét ta thay bằng không thích 

Tức giận ta thay bằng chưa hài lòng 

Điên tiết ta thay bằng mất bình tĩnh

Câm miệng lại ta thay bằng nên im lặng.

...

Dùng lời hay ý đẹp trên mạng xã hội giúp mỗi chúng ta trân trọng nhau, có thái độ và hành xử nhân văn để cuộc sống này tốt đẹp và ý nghĩa hơn./.


Phan Trung Can

Giải pháp tiếp tục đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

 Giải pháp tiếp tục đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch 

về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta 

        Một là, nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước; nhận diện đúng, chủ động đấu tranh, phản bác có hiệu quả luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động.

    Đây là giải pháp cơ bản, quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong triển khai công tác đấu tranh, phòng, chống làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch. Nhận diện rõ âm mưu, mục đích, lực lượng, phương tiện và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động sử dụng để xuyên tạc quan điểm và thành quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ giúp cho cả hệ thống chính trị có giải pháp kịp thời và hiệu quả để đập tan âm mưu, thủ đoạn của họ, giữ vững ổn định chính trị, kinh tế, xã hội. Đó cũng cách làm có hiệu quả để nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về công tác cán bộ, để “không thể, không dám, không cần, không muốn tham nhũng, tiêu cực”. 

    Công tác lý luận, tư tưởng phải đi trước, đón đầu, không tạo “khoảng trống thông tin” để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chống phá. Cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng phải xây dựng kế hoạch chiến lược, sách lược, tổ chức lực lượng một cách bài bản, khoa học trong đấu tranh, phản bác; thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục và hiệu quả. Do đó, cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân; trong đó, đi đầu là đội ngũ cán bộ, đảng viên, với lực lượng nòng cốt là Ban Chỉ đạo 35 các cấp… tạo mạng lưới đấu tranh ngày càng đông đảo và hiệu quả để phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay.

        Hai là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. 

    Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao lập trường tư tưởng, có bản lĩnh chính trị vững vàng để nhận diện và kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm, sai trái của các thế lực thù địch, phản động. Thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa nắm chắc âm mưu, thủ đoạn chống phá; không bị kích động, lôi kéo vào các hoạt động biểu tình, khiếu kiện đông người hoặc vô tình bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá Đảng và Nhà nước. Cấp ủy, chính quyền các cấp, các cơ quan truyền thông, báo chí, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, thường xuyên tuyên truyền các quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta. 

        Ba là, đổi mới nội dung, đa dạng các hình thức, biện pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động. 

    Đổi mới, bổ sung nội dung đấu tranh trên cơ sở giữ vững quan điểm và nguyên tắc của Đảng và Nhà nước; mềm dẻo, linh hoạt, nhân văn trong phương pháp; công khai, minh bạch đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những kết quả về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần tạo dư luận xã hội lành mạnh, đồng thuận. Sử dụng các kênh truyền thông chính thống và mạng xã hội để tiếp cận đông đảo quần chúng nhân dân, vừa tuyên truyền, vừa bóc trần những xuyên tạc vô căn cứ của các thế lực thù địch. Nâng cao ý thức cảnh giác, tăng cường ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đa dạng hóa các hoạt động đấu tranh, thiết lập và sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn một cách có hiệu quả. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật Đảng và Nhà nước, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. 

        Bốn là, tổ chức, xây dựng lực lượng tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

    Cần xây dựng lực lượng có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, có hiểu biết sâu sắc về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ; là lực lượng nòng cốt, xung kích trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thường xuyên rà soát, nắm và quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nhất là về chính trị tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ động xây dựng kế hoạch, nội dung đấu tranh; dự báo kịp thời tình hình; phát huy vai trò của các lực lượng, đội ngũ cán bộ đầu ngành, các nhà khoa học, đội ngũ nhà báo và đông đảo các cộng tác viên nhiệt huyết và bản lĩnh cùng tham gia đấu tranh. Thường xuyên đánh giá quá trình tổ chức thực hiện để kịp thời phát hiện, ngăn chặn những tư tưởng lệch lạc, sai trái, không để các thế lực thù địch, phản động móc nối, lôi kéo, lợi dụng. 

    Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị hiện nay. Do đó, phải tiến hành đồng bộ, theo phương châm đã được Đảng ta chỉ rõ: “Nhận thức phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải lớn và phương pháp phải đúng”(8). Vì vậy, nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa hết sức quan trọng; góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân với Đảng, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ./. 

KIM CHỈ NAM CHO MỌI HOẠT ĐỘNG CỦA QUÂN ĐỘI TA LÀ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và rèn luyện, hơn 75 năm qua, luôn là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, thực sự là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng từng khen ngợi Quân đội nhân dân Việt Nam luôn chủ động, nhạy bén, tích cực đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội của các thế lực thù địch.

Đại hội XIII của Đảng đánh dấu bước phát triển mới của đất nước và hoạch định những đường lối chiến lược trong tầm nhìn dài hạn, nhìn lại 37 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 32 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 (kỷ niệm tròn 100 năm thành lập Đảng) và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045 (kỷ niệm 100 năm thành lập nước).

Với vị trí, ý nghĩa đặc biệt quan trọng như vậy, khẳng định phải kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây chính là “cẩm nang” thần kỳ, là nhân tố “dĩ bất biến” trong sự nghiệp đổi mới hiện nay. Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI cũng khẳng định: Quân ủy Trung ương, các cấp ủy, tổ chức đảng trong quân đội luôn trung thành, kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn quân đội.

Đó là những khẳng định hết sức chính xác, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn hiện nay. Sinh thời, V.I.Lênin từng đánh giá: “Học thuyết của Mác là học thuyết vạn năng vì nó là một học thuyết chính xác”. Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh thì coi “Chủ nghĩa Lênin... là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.

Trong cuốn sách "Tại sao Mác đúng?", Terry Eagleton, giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Lancaste Vương quốc Anh, khẳng định: Chủ nghĩa Mác giống như bác sĩ, khi mà cơ thể khỏe mạnh sẽ không để ý, song một khi chủ nghĩa tư bản gặp vấn đề nghiêm trọng thì Chủ nghĩa Mác lại phát huy tác dụng phê phán vốn có của mình. Chính Mác đã thúc đẩy những thay đổi tích cực của các nước tư bản". Năm 2016, trong khảo sát hơn một triệu tài liệu mà sinh viên Mỹ bắt buộc phải đọc, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã bỏ xa các cuốn sách khác để trở thành một trong ba tài liệu được đọc và sử dụng nhiều nhất. Điều đó phần nào cho thấy sức sống của học thuyết Mác trong thế giới đương đại.

Ngay từ khi ra đời năm 1930 cho đến nay Đảng ta luôn khẳng định, nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin và đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), Đảng đã bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng đó. “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Trên nền tảng tư tưởng ấy, Đảng luôn phấn đấu, rèn luyện trưởng thành, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.

Thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng luôn nắm vững và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; không ngừng phấn đấu, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực tổ chức, giải quyết thành công những vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... trong nhiều năm qua đã khẳng định vai trò to lớn về sự lãnh đạo của Đảng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ở bất cứ hoàn cảnh, điều kiện nào, Đảng và nhân dân ta luôn trung thành, kiên định lý tưởng, mục tiêu và con đường cách mạng: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Nhờ đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩ đại.

Đảng ta nhận thức sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mang bản chất cách mạng và khoa học. Vì thế, trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước phải kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên định đường lối đổi mới và những nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng. Kiên quyết chống chủ nghĩa giáo điều, áp dụng kinh nghiệm của nước ngoài một cách rập khuôn, máy móc.

Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng đã thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo. Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng. Nêu cao tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và mọi hành động chia rẽ, bè phái. Đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Đảng tăng cường xây dựng về tư tưởng, tổ chức, đạo đức gắn liền với xây dựng Đảng chính trị. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng.

Càng đứng trước nhiều khó khăn thách thức, càng phải kiên định nền tảng tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, càng thấm nhuần sâu sắc và thực hiện thật tốt những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, càng ý thức yêu cầu phải tiếp tục vận dụng đúng đắn, sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn mới của đất nước; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình ổn định, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Tin tưởng rằng, với quyết tâm chính trị và bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ, Quân đội ta sẽ tiếp tục xung kích đi đầu để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội; các cấp ủy Đảng, cơ quan, đơn vị trong toàn quân tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CHỦ NGHĨA CƠ HỘI HIỆN NAY

 

Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI và khóa XII đã chỉ rõ những phần tử cơ hội có nhiều mánh khóe, biểu hiện ra ở rất nhiều dáng vẻ khác nhau như: Rất phổ biến là tệ chạy chức, chạy quyền, “mua quan, bán chức”, biến chức vụ của nhân dân giao cho mình thành “hàng hóa” để mưu lợi, trục lợi, kinh doanh; một biểu hiện khá phổ biến nữa là thói quen “hội” nhưng không “nghị” như Bác Hồ từng nhắc nhở, nghĩa là hội họp thì nhiều nhưng thảo luận, tranh luận thì ít, người chủ trì thì đưa ra lấy ý kiến chiếu lệ, cốt sao áp đặt được ý mình, hợp pháp hóa ý muốn chủ quan của mình, còn các thành viên thì một bộ phận tán dương, a tòng, chiều nịnh ý của người đứng đầu, không dám bộc lộ chủ kiến của mình; một bộ phận thì vô trách nhiệm “sao cũng mặc kệ, sao cho xong chuyện thì thôi”; một bộ phận nữa tuy có hiểu biết nhưng thiếu dũng khí đấu tranh, thấy sai đúng nhưng không dám tỏ bày ý kiến nên giữ thái độ “ai mặc kệ ai... trong Đảng, còn nhiều người giữ thái độ đó, nhất là khi cấp dưới đối với cấp trên. Thái độ đó thường sinh ra thói “không nói trước mặt, hục hặc sau lưng”. Nó gây nên sự uất ức và không đoàn kết trong Đảng. Nó để cho lũ ba phải tồn tại, mặt khác là cơ hội để cho baonj chống phá Đảng có thể leo cao, chui sâu vào trong hàng ngũ lãnh đạo của Đảng ta. Nó để cho khuyết điểm ngày càng chồng chất lại và phát triển ra”.

Bên cạnh đó, chủ nghĩa cơ hội “thành thật” như Ph. Ăng-ghen đã nêu mà ông cho là nguy hại nhất vẫn tồn tại trong một số công việc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay như: Trong một số vụ việc đã không tính toán đầy đủ, thận trọng những ảnh hưởng về cả kinh tế - xã hội, môi trường và dân sinh nên không ít các chương trình, dự án được đề ra một cách chủ quan nóng vội gây lãng phí lớn và tác hại nhiều mặt cả trước mắt và lâu dài.

Mặt khác, ra sức cổ xúy cho lối sống xa hoa, lãng phí của gia đình cán bộ cấp cao. Chúng cho rằng, cán bộ cấp cao là tinh hoa của Đảng, của chế độ, cho nên gia đình cán bộ cấp cao xứng đáng được “ăn trên ngồi trốc”, con em lãnh đạo làm lãnh đạo là hồng phúc của dân tộc nên “ưu ái” một chút trên “quan lộ” là chuyện bình thường... Chính vì thế, đã có lần Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở: “Suy nghĩ của người sống trong lâu đài khác xa ý nghĩ của những kẻ sống trong một túp lều tranh”. Sự chênh lệch giàu nghèo là điều khó tránh trong bất cứ xã hội nào. Nhưng những người cộng sản chân chính khác xa những người cơ hội chủ nghĩa “thành thật” là ở chỗ họ quyết tâm và biết cách xóa dần đi sự nghèo đói, bệnh tật và thất học cho số đông, họ biết tạo ra một đời sống ngày một đủ đầy cho tất cả những người lao động.

Nằm sâu trong những nguy cơ, quốc nạn đối với chúng ta hôm nay đều lấp ló hình ảnh những phần tử cơ hội chủ nghĩa. Có lúc nó hiện nguyên hình khi bị lôi ra ánh sáng, trước công luận, thậm chí trước vành móng ngựa; nhưng lại có một số không nhỏ vẫn mũ áo xênh xang, “miệng nam mô nhưng bụng một bồ dao găm”. Bệnh quan liêu, tệ tham nhũng và thói vô trách nhiệm mà một số không nhỏ người có chức, có quyền mắc phải là một ví dụ. Chính những phần tử cơ hội chưa bị đưa ra ánh sáng, vẫn đang tồn tại trong bộ máy của chế độ ta mới là nguyên nhân cơ bản gây ra những yếu kém của Đảng và Nhà nước. Bảo vệ Đảng, bảo vệ những tư tưởng cơ bản về xây dựng Đảng, chúng ta phải kiên quyết chống lại những biểu hiện nói trên của chủ nghĩa cơ hội.

 

 

VÂNG LỜI BÁC HỒ DẠY

 

Vào ngày 19 tháng 7 năm 1965, Bác Hồ đã đến thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Đoàn Tam Đảo, Bộ đội Phòng không - Không quân (nay là Lữ đoàn Pháo Phòng không 234, Quân đoàn 3). Bác dạy: “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa bộ đội với nhau, giữa nhân dân với bộ đội”. Điều này phản ánh quan điểm của Người về nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội, sức mạnh của đất nước thông qua xây dựng mối quan hệ đoàn kết thống nhất trong quân đội và giữa quân đội với nhân dân cũng như khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Lời dạy trên của Bác, trong giai đoạn đế quốc Mỹ xâm lược tăng cường leo thang chiến tranh ra miền Bắc bằng không quân. Người đã chỉ rõ vai trò to lớn của đoàn kết và khẳng định rằng, đoàn kết chính là yếu tố quyết định để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta làm cách mạng thắng lợi, kháng chiến thành công. Vì vậy, bộ đội Phòng không - Không quân (PK-KQ) nói riêng, toàn quân nói chung muốn đánh thắng giặc Mỹ xâm lược thì phải đoàn kết hơn nữa; phải chăm lo xây dựng mối quan hệ đoàn kết thống nhất trong nội bộ và đoàn kết chặt chẽ giữa quân đội với nhân dân.

Vì thế, lời dạy của Bác luôn được cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Đoàn Tam Đảo, Bộ đội PK-KQ nói riêng, toàn quân nói chung ghi nhớ và thực hiện nghiêm túc, trở thành nguồn sức mạnh to lớn, bảo đảm cho bộ đội PK-KQ, quân và dân ta phát huy sức mạnh tổng hợp đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ xâm lược, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Khắc ghi lời Bác dạy, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn đoàn kết chặt chẽ với nhau như ruột thịt trên tình thương yêu giai cấp; hết lòng giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận; thực hiện toàn quân một ý chí. Đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, thực hiện quân với dân một ý chí, đi dân nhớ, ở dân thương… đã trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng, đồng thời cũng là nguồn cội tạo nên sức mạnh để Quân đội ta chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, luôn là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”. Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy tinh thần đại đoàn kết, tiếp nối quan điểm, đường lối về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc qua các kỳ đại hội, Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.