Thứ Năm, 21 tháng 9, 2023

Đại tướng Phan Văn Giang chủ trì Hội nghị Thường vụ Quân ủy Trung ương !


-----
Sáng 21-9, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì Hội nghị Thường vụ Quân ủy Trung ương. Dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương: Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Thượng tướng Vũ Hải Sản, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Phạm Hoài Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam. Dự hội nghị có Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam.
Hội nghị cho ý kiến, thông qua Đề án tổ chức diễu binh, diễu hành tại Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (Đề án).
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Đại tướng Phan Văn Giang giao Bộ Tổng Tham mưu tiếp thu đầy đủ ý kiến của Thường vụ Quân ủy Trung ương, hoàn chỉnh Đề án, báo cáo Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phê duyệt. Căn cứ nội dung Đề án, xây dựng Kế hoạch của Bộ Tổng Tham mưu tổ chức lực lượng thực hiện; tổ chức triển khai Đề án, kế hoạch bảo đảm chặt chẽ, nghiêm túc, đúng mục đích, yêu cầu đã xác định; chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng quán triệt, thực hiện nghiêm túc Đề án và kế hoạch tổ chức thực hiện; phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các cơ quan thuộc ban, bộ, ngành Trung ương trong quá trình thực hiện Đề án. Tổng cục Chính trị chỉ đạo các cơ quan theo chức năng, nhiệm vụ thực hiện các nội dung mà Đề án và kế hoạch đã xác định; chỉ đạo các cơ quan, đơn vị làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, tổ chức các hoạt động hướng tới kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ.
Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu Tổng cục Hậu cần làm tốt công tác bảo đảm trang phục, trang bị, vật chất, hậu cần cho lực lượng Quân đội, dân quân tự vệ, dân công hỏa tuyến tham gia diễu binh, diễu hành; chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị chỉ đạo làm tốt công tác bảo đảm ăn, ở, sinh hoạt, phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường cho các lực lượng diễu binh, diễu hành. Tổng cục Kỹ thuật chỉ đạo làm tốt công tác bảo đảm kỹ thuật cho các lực lượng, phương tiện tham gia diễu binh, diễu hành. Các cơ quan, đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ thực hiện nghiêm túc, chất lượng các nội dung, nhiệm vụ giao trong Đề án và tổ chức lực lượng thực hiện Đề án.
ST

QUÂN ĐỘI ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG TÌNH HÌNH MỚI !


-----
Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là nội dung quan trọng cốt lõi của đường lối chiến lược cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề đoàn kết toàn dân tộc, Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.
Thấm nhuần sâu sắc quan điểm đó, những năm qua, thực hiện chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất”, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn quán triệt sâu sắc và gương mẫu trong thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trọng tâm là Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đạt nhiều kết quả quan trọng. Trong hơn 20 năm qua, các cơ quan, đơn vị, nhất là các đơn vị đóng quân trên địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo, biên giới, hải đảo đã phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương bám dân, bám địa bàn, thực hiện “bốn cùng”1 để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Toàn quân đã chú trọng làm tốt công tác dân vận; tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trên từng địa bàn trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ ở cơ sở, tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân. Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị đã tích cực, chủ động tham gia các phong trào, cuộc vận động, chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, chăm sóc sức khỏe, nâng cao dân trí; thực hiện chính sách an sinh xã hội, hoạt động đền ơn đáp nghĩa bằng nhiều mô hình2, cách làm phù hợp, được cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân đánh giá cao. Trong giai đoạn 2003 - 2022, các cơ quan, đơn vị đã phối hợp làm mới, sửa chữa, nâng cấp 145.636km đường nông thôn (làm mới 5.058km); 202.305km kênh mương nội đồng (làm mới 1.250km); cải tạo 3.879km lưới điện; xây dựng 5.855 nhà văn hóa, 17.926 nhà ở chính sách cho người có công, hộ nghèo; làm 1.072 cầu các loại; 934 công trình nước sạch; xóa gần 3.000 nhà tạm, nhà dột nát. Hỗ trợ trên 4.200 tỉ đồng cho địa phương phát triển kinh tế; đảm nhận trên 100 dự án phát triển kinh tế với số vốn 2.038 tỉ đồng, v.v. Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng đứng chân trên địa bàn chủ động nắm chắc tình hình, tham mưu, chỉ đạo xử lý thắng lợi các tình huống về quốc phòng, an ninh; chủ động, nhạy bén đấu tranh, làm thất bại hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; xung kích, đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu nạn,... nhất là phòng, chống, đẩy lùi dịch Covid-19 đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân.
Với trách nhiệm chính trị cao, thông qua hoạt động thực tiễn phong phú, thiết thực, hiệu quả, Quân đội đã đóng góp quan trọng vào việc củng cố, tăng cường, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, v.v. Qua đó, xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc; niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ngày càng được nâng lên; làm sáng thêm phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.
Thời gian tới, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu cao hơn, với cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự phân hóa giàu nghèo trong quá trình phát triển, những yếu kém của một số cấp ủy, chính quyền trong quản lý xã hội và giải quyết những vấn đề nảy sinh, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên,... cùng sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch sẽ tác động không nhỏ đến xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tình hình đó đòi hỏi các cấp, ngành, lực lượng, cả hệ thống chính trị và toàn dân nói chung, Quân đội nói riêng cần quán triệt, thực hiện tốt hơn nữa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; trong đó, tập trung thực hiện tốt những nội dung chủ yếu sau:
Một là, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng; cán bộ, chiến sĩ, về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên, yêu cầu cấp bách, lâu dài trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, được thực hiện toàn diện trên các mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh,... với sự tác động nhiều chiều của thực tiễn đời sống xã hội cũng như tình hình trong nước, khu vực và quốc tế. Vì vậy, các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục quán triệt, nắm vững các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc3, làm cơ sở đề ra các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; làm cho mọi người nhận thức rõ, đó không chỉ là chức năng, nhiệm vụ chính trị, trách nhiệm, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, mà còn góp phần tăng cường sự đồng thuận trong xã hội, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân, tạo nguồn động lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, củng cố cội nguồn sức mạnh để Quân đội hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Từ đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ luôn nêu cao trách nhiệm, gương mẫu chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nói chung, về đại đoàn kết toàn dân tộc nói riêng, thực sự là hạt nhân đoàn kết, chỗ dựa tin cậy của nhân dân.
Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy (chi bộ), chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các tầng lớp Nhân dân trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu, nhằm xác định phương hướng, những giải pháp thiết thực, kịp thời trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở từng cơ quan, đơn vị trong tình hình mới. Theo đó, các cấp ủy, tổ chức đảng căn cứ vào tình hình cơ quan, đơn vị, đặc điểm địa bàn đóng quân để xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo phù hợp, hiệu quả. Chính ủy, chính trị viên các cấp nêu cao trách nhiệm, chủ động trao đổi với người chỉ huy, chỉ đạo các cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện nghiêm túc. Cơ quan chính trị các cấp cần làm tốt vai trò tham mưu, hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng trong tổ chức thực hiện. Tiếp tục đẩy mạnh công tác dân vận, bám dân, bám địa bàn, vận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp để tuyên truyền, vận động nhân dân, tạo sự đồng thuận trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuyên truyền để Nhân dân nắm được tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh; về dân tộc, tôn giáo; nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để chống phá. Qua đó, động viên đồng bào nêu cao ý thức tự hào, tự tôn dân tộc, tích cực lao động sản xuất, sống “tốt đời, đẹp đạo”, tương thân tương ái, chia sẻ, giúp đỡ nhau xây dựng khu dân cư, làng, bản ngày càng phát triển; tuyệt đối không nghe theo sự xúi giục, kích động của phần tử xấu, các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, chú trọng tuyên truyền, vận động nhân dân hiểu, thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân; hiểu biết, tôn trọng, chấp hành nghiêm pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực theo phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Song, kiên quyết chống các biểu hiện lợi dụng tự do, dân chủ làm mất an ninh, trật tự, ảnh hưởng tới sự đồng thuận xã hội và sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ba là, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc là đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân; gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Vì vậy, các cơ quan, đơn vị tiếp tục hưởng ứng, thực hiện tốt các chương trình, dự án, phong trào Thi đua yêu nước, các cuộc vận động mà Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức, các ngành, địa phương phát động,... bằng các phong trào, chương trình, hoạt động phong phú, thiết thực; nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, sẵn sàng hy sinh, cùng nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, góp phần ổn định, nâng cao đời sống của nhân dân. Các đoàn kinh tế - quốc phòng tiếp tục quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, thực hiện tốt việc kết hợp củng cố quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm của đất nước.
Bốn là, phát huy vai trò của Quân đội tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh. Các cơ quan, đơn vị quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Chính phủ về xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh4, trên cơ sở đó phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai đồng bộ, hiệu quả. Trước hết, cần làm tốt công tác phát triển đảng, đào tạo, bồi dưỡng, góp phần tạo nguồn xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở. Thông qua tập huấn, bồi dưỡng, cử cán bộ, đảng viên tham gia cấp ủy xã, sinh hoạt tại các chi bộ, tổ đảng thôn, bản, nhất là đối với các xã ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, nơi mới chia tách, sáp nhập,... góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền. Đồng thời, tham mưu, giúp cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể vững mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động, thực sự là nơi tập hợp, vận động quần chúng nhân dân tham gia các cuộc vận động, phong trào Thi đua yêu nước, khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo của nhân dân đóng góp cho sự nghiệp cách mạng. Cùng với đó, các đơn vị tích cực tham gia xây dựng, củng cố các mối quan hệ xã hội, các phong trào cách mạng ở địa phương; thực hiện tốt công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ, phối hợp giải quyết việc làm cho quân nhân xuất ngũ; chăm lo xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ rộng khắp, phát huy vai trò của chi bộ quân sự xã, phường, thị trấn,... làm nòng cốt xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở địa phương.
Năm là, tăng cường nắm chắc tình hình, kiên quyết đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ nhân dân với Đảng, lực lượng vũ trang, nhất là trên các địa bàn chiến lược là một trọng tâm chống phá xuyên suốt của các thế lực thù địch. Vì vậy, các cơ quan, đơn vị đề cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, Ban Chỉ đạo 35, lực lượng chuyên trách tăng cường đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Trên cơ sở nắm chắc tình hình, cần phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức, nhất là với lực lượng Công an để giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đặc biệt, các cơ quan, đơn vị phải chuẩn bị tốt kế hoạch, lực lượng, tổ chức luyện tập; phối hợp, hiệp đồng tham gia giải quyết “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội, bảo đảm kịp thời, hiệu quả, đúng nguyên tắc. Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị thực hiện tốt Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XIII) về Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới”, Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, v.v. Qua đó, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; cán bộ, đảng viên, chiến sĩ không có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, giữ vững đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Phát huy truyền thống gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, cán bộ, chiến sĩ toàn quân tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa các chủ trương, giải pháp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần tăng cường sự đồng thuận trong xã hội, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội với Nhân dân; củng cố cội nguồn sức mạnh, cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Trung tướng NGUYỄN VĂN GẤU, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam

BIỆN CHỨNG CỦA XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI TA


Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đât nước, Đảng ta không hề lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn xác định: bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, Nhân dân ta và cả hệ thống chính trị. Trong đó, Quân đội là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân, của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Xuất phát từ thực tiễn tình đất nước và điều kiện hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN trong điều kiện mới, Đảng ta xác định: Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đây là vấn đề có tính quy luật, rất biện chứng cần nhận thức đúng và thực hiện đồng bộ, thống nhất trong xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” với tổ chức, biên chế phù hợp; có cơ chế hoạt động ổn định; hệ thống vũ khí, trang bị có hàm lượng khoa học - công nghệ ngày càng cao, khả năng cơ động nhanh với bước đi, lộ trình phù hợp, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, vừa bảo đảm cho Quân đội ta tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; mãi mãi là “Bộ đội Cụ Hồ” - Bộ đội của Nhân dân.
Vì vậy, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng chiếm vị trí quan trọng hàng đầu, mang ý nghĩa quyết định chất lượng, hiệu quả xây dựng Quân đội chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới.
Cốt lõi trong xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng là làm cho cán bộ, chiến sĩ có nhận thức đúng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng, của Quân đội trong tình hình hình mới; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, con đường đi lên CNXH ở nước ta; tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Đây là vấn đề căn cốt nhất, hệ trọng nhất để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội; giúp cán bộ, chiến sĩ thực hiện tốt mục tiêu “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Nếu phẩm chất này bị “phai mờ”, Quân đội ta dễ bị “phi chính trị hóa”, không thể hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó, cho dù được trang bị vũ khí, phương tiện quân sự hiện đại.
Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng phải gắn liền với xây dựng Quân đội chính quy. Đây không chỉ là một trong những nguyên tắc hàng đầu trong xây dựng Quân đội ta mà còn là điều kiện cần thiết giúp cán bộ, chiến sĩ thực hiện nghiêm quy chế, chế độ lãnh đạo, giải quyết đúng đắn các mối quan hệ, phù hợp với điều kiện cụ thể của đơn vị.
Vì vậy, tinh giảm tổ chức, biên chế quân đội đã và đang được điều chỉnh theo hướng tinh, gọn, mạnh; giảm dần đầu mối trung gian và giảm quân thường trực, có bước điều chỉnh chiến lược về công tác tổ chức, cán bộ, phù hợp với trình độ kỹ thuật, vũ khí trang bị, phương thức tác chiến mới và các yếu tố: địa lý, địa hình, thời tiết, khí hậu... Đồng thời, phát triển mạnh các đơn vị mới theo yêu cầu của chiến tranh công nghệ cao như: Bộ Tư lệnh 86, Cục Công nghệ thông tin, Cục Cứu hộ, cứu nạn... Cùng với đó, thực hiện nghiêm nền nếp chính quy và phương châm: Làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh, kỷ luật của Quân đội.
Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy cần gắn chặt với xây dựng Quân đội tinh nhuệ và từng bước hiện đại; làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn nhạy bén về chính trị; mềm dẻo và sắc sảo trong xử lý các tình huống chiến lược, được huấn luyện thuần thục, có kỹ năng, kỹ thuật và sáng tạo trong chiến đấu, sử dụng vũ khí, trang bị phù hợp với điều kiện mới, nhất là ứng dụng công nghệ thông tin trong huấn luyện, diễn tập, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập sát thực tế trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm sâu sắc từ thực tiễn cuộc xung đột quân sự Nga - Ucraina để hoạch định các chủ trương, chính sách mới cho sát với thực tiễn bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình tình mới.
Trong hiện đại hóa quân đội, nhất là hiện đại hóa một số quân, binh chủng kỹ thuật phải tính kỹ sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, thu nhập của người dân, tiềm lực quân sự nhà nước. Từng bước theo kịp trình độ hiện đại của quân đội một số nước trong khu vực và thế giới. Chú trọng đầu tư mua sắm và đa dạng hóa các nguồn vũ khí, đẩy mạnh nghiên cứu, chế tạo, cải tiến vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự đúng lộ trình, từng bước đi, tránh nóng vội, chủ quan duy ý chí.
Tiếp tục đầu tư, phát triển mạnh công nghiệp quốc phòng, tập trung vào công tác bảo quản, sửa chữa, nâng cấp... những vũ khí, trang bị hiện có và nghiên cứu, sản xuất một số vũ khí tương đối hiện đại. Mặt khác, xây dựng chiến lược và lộ trình hợp lý trong mua sắm, sản xuất, trang bị vũ khí hiện đại cho các các lực lượng làm nhiệm vụ đặc biệt, bảo đảm cho quân đội đủ sức quản lý vùng trời, vùng biển, hải đảo …, phù hợp với trình độ phát triển của khoa học, công nghệ và sức bền của nền kinh tế quốc dân, học thuyết quân sự Việt Nam.
Nhân tố quyết định thắng lợi trong xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại là giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội ta; lấy xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở, lấy xây dựng con người và văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là trung tâm.
Quan tâm hơn nữa công tác giáo dục, huấn luyện bộ đội, nhất là hạ sĩ quan, binh sĩ theo chuẩn mực "Bộ đội Cụ Hồ" gắn với quá trình chấn chỉnh biên chế, tổ chức, phát triển vũ khí, trang bị và phát triển nghệ thuật tác chiến, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của ông cha và các nước tiên tiến để xây dựng Quân đội ta đúng với Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Vì vậy, quán triệt và vận dụng sáng tạo phép biện chứng duy vật trong xây dựng Quân đội ta hiện nay có ý nghĩa dẫn đường để đi đến mọi thành công.

TRANG BỊ KIẾN THỨC CHO GIỚI TRẺ ĐẤU TRANH TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

Không chỉ nước ta mà bất cứ quốc gia nào trên thế giới muốn phát triển bền vững trong tương lai cũng đều phải quan tâm đến giới trẻ. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã làm thay đổi phương thức giao tiếp của con người. Mạng xã hội không chỉ trở thành phương tiện phổ biến để kết nối mọi người trên toàn cầu mà còn là công cụ để các thế lực thù địch, phản động đăng tải những thông tin xấu độc. Vấn đề cấp bách hiện nay là phải trang bị kiến thức, định hướng cho giới trẻ “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”…
Mạng xã hội bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ đầu những năm 2000 và phát triển với tốc độ nhanh chóng, dần trở thành nhu cầu thiết yếu của xã hội. Lượng người dùng mạng xã hội Việt Nam chủ yếu ở độ tuổi 18-35. Đây có thể coi là “độ tuổi vàng” của dân số nói chung và là độ tuổi mà truyền thông chính trị cần hướng đến.
Ngoài việc được xem là một trong những kênh thông tin hữu hiệu tích cực, mạng xã hội còn là “môi trường” thuận lợi cho một số cá nhân, tổ chức “lợi dụng” quyền tự do ngôn luận, cung cấp những thông tin sai trái, thậm chí, có những thông tin xuyên tạc, gây hại đến trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc gia. Điều đáng báo động là những thông tin xấu độc đang tấn công giới trẻ.
Các thế lực thù địch đã “đánh đúng” vào sự hiếu kỳ, thích khám phá của giới trẻ để đưa lên mạng xã hội các thông tin “giật gân”, bôi nhọ danh dự cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, Quân đội; khoét sâu vào những vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong xã hội để hướng luồng dư luận và kích động lớp trẻ tỏ thái độ bất mãn với cái mà chúng gọi là “thảm họa của đất nước”. Chúng kêu gọi thanh niên trốn tránh nghĩa vụ quân sự, đi theo cái gọi là “xã hội dân sự”, “tự do ngôn luận”,... mà thực chất là phải bội lại Tổ quốc. Một số ít thanh niên đã sa vào cái bẫy này.
Để giúp cho thế hệ trẻ nhận diện được bản chất âm mưu của các thế lực thù địch, tỉnh táo, bản lĩnh, không để chúng lôi kéo, kích động, các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội cần thực hiện đồng bộ giải pháp, trang bị “vũ khí” để thanh niên tự bảo vệ mình và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch . Trong đó, cần nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của thanh niên và công tác thanh niên. Phải coi công tác chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực đảm bảo cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước; là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị. Quan tâm đến quyền lợi thanh niên, nhất là quyền được học tập, lao động, sáng tạo...
Đặc biệt, cần kiên trì quan điểm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu” trong giới trẻ. Để làm được điều này, cần phát huy vai trò của nhà trường, gia đình và các cơ quan báo chí trong công tác tuyên truyền, giáo dục, định hướng tư tưởng cho thế hệ trẻ. Trong đó, nhà trường phải không ngừng cải tiến nội dung và biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nhận diện rõ âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Các tổ chức đoàn thể cần làm tốt công tác tuyên truyền vận động, hướng các hoạt động thanh niên vào thực hiện các nhiệm vụ chính trị, xã hội. Gia đình phải tích cực chủ động phối hợp chặt chẽ với nhà trường để quản lý giáo dục con em mình chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương, của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các cơ quan báo chí cần tăng cường các chuyên trang, chuyên mục “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, vạch trần bản chất âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, làm cho thanh niên thấy được chống “diễn biến hòa bình” là một việc làm thường xuyên, toàn diện trên mọi lĩnh vực.
Các cấp ủy, tổ chức đảng cần đa dạng hóa hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục; nội dung linh hoạt, gần gũi, dễ hiểu, phù hợp với tâm lý thanh niên và điều kiện thực tiễn. Tăng cường giáo dục cho thanh niên hiểu rõ, nắm chắc về lịch sử, truyền thống văn hóa dân tộc. Từ đó, xây dựng, bồi đắp lòng yêu nước, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc, gia tăng sức mạnh chính trị - tinh thần, làm động lực giúp thanh niên thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tổ chức đoàn các cấp cần chủ động, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho thanh niên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Kịp thời nắm bắt tình hình tư tưởng của thanh niên để uốn nắn những biểu hiện tư tưởng lệch lạc; tránh để cho các thế lực thù địch, phản động có cơ hội lôi kéo, mua chuộc thanh niên. Xây dựng những đội thông tin viên phản ứng nhanh, xung kích; viết tin, bài, chia sẻ, lan tỏa rộng rãi những thông tin tốt; đấu tranh phản bác những thông tin xấu, độc trên các kênh truyền thông, mạng xã hội.
Khi cả xã hội đều đồng sức, đồng lòng đấu tranh với những quan điểm sai trái, thói hư, tật xấu thì các cuộc tấn công của các thế lực thù địch vào giới trẻ chắc chắn sẽ thất bại./.

“CÁC VUA HÙNG ĐÃ CÓ CÔNG DỰNG NƯỚC, BÁC CHÁU TA PHẢI CÙNG NHAU GIỮ LẤY NƯỚC”

 

Đây là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong (Sư đoàn 308, Quân đoàn 1) chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô Hà Nội.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Bác Hồ với Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận và các đoàn thể từ “Thủ đô gió ngàn” Việt Bắc trở về tiếp quản Thủ đô Hà Nội do chính quyền Pháp bàn giao theo Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954) về đình chiến ở Đông Dương. Sáng 19-9-1954, Bác Hồ đã gặp mặt, căn dặn và giao nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong về tiếp quản Thủ đô tại Đền Giếng trong khu di tích Đền Hùng (thuộc núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Bác giảng giải nhiều điều và căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Làm theo lời Bác, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã vượt qua bao thử thách, cam go, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, ghi những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Ngày nay, đất nước đang trên đà đổi mới và không ngừng phát triển; tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta. Khắc ghi lời Bác dạy năm xưa, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam và xây dựng thành công CNXH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng lớn mạnh, lập nhiều chiến công hiển hách, xứng đáng là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày nay. Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân làm theo lời Bác dạy với quyết tâm và trách nhiệm chính trị cao, với tinh thần “quyết chiến, quyết thắng”, ý chí tự lực tự cường, chủ động, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN như lời Bác căn dặn năm xưa.
QĐND

“NGƯỜI CÁCH MẠNG MẪU MỰC”


“Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hòa, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình” (1).
Nguyễn Ái Quốc viết bài “Người cách mạng mẫu mực”, đăng trên báo Thanh Niên, số 61, năm 1926. Bài viết nêu 12 điều đòi hỏi ở một người cách mạng, bao quát các mặt về lý tưởng, về tinh thần hy sinh, về phẩm chất đạo đức, về phương pháp công tác. Người nhấn mạnh: Sự nghiệp cách mạng rộng lớn và khó thực hiện; nó không thể do một người hay một nhà làm mà tốt được. Cách mạng của các nòi giống có mục đích là giải phóng các dân tộc yếu, sau tiến lên làm cách mạng thế giới, sẽ giải phóng toàn nhân loại khỏi ách đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên – những người cách mạng suốt đời phấn đấu vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Theo Bác, người cách mạng mẫu mực trước hết phải là người có đạo đức cách mạng. Bởi “không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”, có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, cao quý của đạo đức cách mạng.
Thấm nhuần tư tưởng về vị trí, vai trò của đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế hệ cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn phát huy tốt tính tiền phong gương mẫu, trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giành độc lập tự do, thống nhất đất nước, đã có rất nhiều cán bộ, đảng viên bất chấp mọi hiểm nguy, gian khổ, sẵn sàng hy sinh thân mình vì độc lập, tự do cho Tổ quốc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng tiếp tục phát huy tính tiền phong gương mẫu trên mọi lĩnh vực công tác đã góp phần làm nên những thành tựu bước đầu rất quan trọng của công cuộc đổi mới.
Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, luôn luôn khắc ghi lời dạy của Người về phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên, trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, nhân cách theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mới trở thành người quân nhân kiểu mẫu, thật sự xứng đáng là người quân nhân cách mạng của một Quân đội anh hùng.
Nguồn: Báo QĐND
(1). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.2, tr.514.
Có thể là hình ảnh về 1 người

Bác bỏ luận điệu cho rằng “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc


Khi việc công khai phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dần đuối lý và tỏ ra kém hiệu quả, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại sử dụng một chiêu trò khác để chống phá cách mạng Việt Nam, đó là: dựa trên một số sự kiện lịch sử để đưa ra những xuyên tạc nhằm chứng minh rằng, “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc”. Mục đích sâu xa của chúng là làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Đây là luận điệu phi lý, cần kiên quyết bác bỏ.
Từ sự thừa nhận không thể phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta bằng cách điên cuồng phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh khi hệ thống tư tưởng, lý luận này đang ngày càng đúng với những diễn biến của thời đại, các thế lực chống phá lại dở nhiều chiêu trò khác. Một trong những thủ đoạn gần đây mà chúng thường sử dụng là đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; chúng dựa vào những sự kiện lịch sử rồi dùng thủ thuật quen thuộc là “đánh lộn sòng đen trắng” để hướng lái dư luận, rằng: tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc. Chẳng hạn như: vin vào sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Liên xô để gặp gỡ I.V. Stalin - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên xô và cuộc nói chuyện giữa hai vị lãnh tụ vĩ đại này vào cuối năm 1952 để đưa ra luận điệu rằng: “I.V. Stalin cáo buộc Hồ Chí Minh là người đi theo chủ nghĩa dân tộc”; trắng trợn hơn, họ dựa vào sự kiện Quốc tế III chỉ thị đồng chí Nguyễn Ái Quốc về tại Cửu Long, Trung Quốc để hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng kết quả của Hội nghị là Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) để rêu rao rằng: “Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930) đã chứng minh rằng tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc”. Tinh vi hơn, họ còn “giả vờ” công nhận công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam để hạ thấp, kích động tư tưởng bài trừ chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng việc Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động là không phù hợp, bởi vì đây là hai hệ tư tưởng hoàn toàn đối lập nhau, v.v. Tuy nhiên, thực tế lịch sử lại chứng minh điều ngược lại, trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Và tư tưởng của Người “là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”1; hoàn toàn không thể, không phải là biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc như luận điệu xuyên tạc của các thế lực chống phá.
Thứ nhất, động lực thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa yêu nước chứ không phải là chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước (hay chủ nghĩa ái quốc, lòng yêu nước, tinh thần yêu nước) là cảm xúc, tình cảm, tinh thần yêu thương, tích cực đối với quê hương, đất nước. Trong khi đó, “Chủ nghĩa dân tộc là tâm lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc”2. Sự khác biệt cơ bản giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc thể hiện ở chỗ: người yêu nước tự hào về đất nước của mình vì những gì nó xứng đáng, còn người theo chủ nghĩa dân tộc tự hào về đất nước của mình bất kể thứ gì (kể cả việc gây tội ác với dân tộc khác), tức là sự tự hào một cách mù quáng và cực đoan. Trong bài viết “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” đăng trên Báo Nhân dân (ngày 22/4/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”3. Từ lòng yêu nước, thương nòi, Người đã yêu thương, đồng cảm với các dân tộc cùng cảnh ngộ, những lớp người dân lao động lầm than ở các nước chính quốc; đó là động lực để Người tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và hiện thực hóa lý tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp, nhân loại. Trả lời phóng viên của Tạp chí Thanh Niên (Canada, tháng 12/1965), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nói rằng lúc còn thanh niên, tôi theo “chủ nghĩa dân tộc”, có lẽ không đúng. Vì hồi đó tôi chỉ biết thương đồng bào tôi, chứ chưa biết “chủ nghĩa” gì cả. Khi đi sang châu Phi, tôi thấy nhân dân thuộc địa ở đây cũng cực khổ, cũng bị áp bức, bóc lột như nhân dân Đông Dương. Khi sang các nước châu Âu, tôi thấy ở đó cũng có một số người rất giàu, “ngồi mát ăn bát vàng”, và lớp người nhân dân lao động rất nghèo khổ. Tôi suy nghĩ nhiều lắm. Trong lúc đó thì Cách mạng Tháng Mười vĩ đại thành công ở Nga. Lênin tổ chức Quốc tế Cộng sản. Rồi Lênin phát biểu Luận cương cách mạng thuộc địa. Những việc đó làm cho tôi thấy rằng: Nhân dân lao động Đông Dương, nhân dân các thuộc địa và nhân dân lao động muốn tự giải phóng thì phải đoàn kết lại và làm cách mạng. Vì vậy, tôi trở nên người theo Chủ nghĩa Mác - Lênin”4. Như vậy, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là cả một chặng đường dài, vượt qua những chông gai thử thách, Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin nhưng rõ ràng, động lực chính là lòng yêu nước, thương dân, chứ không phải vì chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, hay chủ nghĩa dân tộc cực đoan như các thế lực phản động đang rêu rao.
Thứ hai, Hồ Chí Minh luôn đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân trong tiếp cận, giải quyết vấn đề dân tộc; là người luôn đấu tranh chống lại những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, không chấp nhận chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa Sô vanh trong phong trào Cộng sản quốc tế. Xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc luôn gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vấn đề dân tộc được Người tiếp cận và giải quyết như động lực để thúc đẩy sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và là tiền đề cho cách mạng vô sản trên toàn thế giới; lý tưởng giải phóng dân tộc không thể tách rời với mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại. Trong thực tiễn hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh cũng luôn đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, Sô vanh nước lớn. Tại Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa họp ở Mátxcơva từ ngày 14 đến 16/11/1957, chính Hồ Chí Minh là người kiên quyết nhất trong đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư sản. Người đã tán thành bản Tuyên bố chung của Hội nghị và nhấn mạnh thêm: “Bản Tuyên bố nhắc nhở chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”5. Chính vì vậy, cho rằng “Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là một luận điệu “đánh lộn sòng đen trắng” cố tình lấp liếm, bỏ qua lập trường, quan điểm giai cấp công nhân của Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam, phủ nhận vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng của Người.
Thứ ba, Hồ Chí Minh là một trong những người tiên phong bảo vệ và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc trong mối quan hệ với nhân loại, vì mục tiêu chung là công bằng, tiến bộ và hòa bình. Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa quan điểm về vai trò của quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, và khẩu hiệu hành động: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”, Hồ Chí Minh thấy rõ sự cần thiết và con đường tập hợp, đoàn kết các lực lượng của từng dân tộc và trên thế giới để sự nghiệp giải phóng dân tộc giành thắng lợi hoàn toàn, Người kêu gọi: “Lao động tất cả các nước đoàn kết lại!”. Đồng thời, Người khẳng định: “Cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân tộc bị áp bức tự giải phóng mình, vì cuộc đấu tranh đó đánh thẳng vào trái tim của bọn áp bức;... Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư bản. Sự nhất trí của cuộc đấu tranh chống đế quốc bảo đảm thắng lợi cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa và cho giai cấp vô sản ở các nước tư bản”6. Đây không chỉ là một cống hiến rất quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận Mác - Lênin, mà còn cho thấy, Người luôn giải quyết hài hòa, đặt quyền lợi của dân tộc trong mối liên hệ với nhân loại, với giai cấp, với các dân tộc bị áp bức vì mục tiêu chung là xây dựng thế giới hòa bình, tiến bộ, phát triển. Tư tưởng đó đã vượt lên trên “chủ nghĩa dân tộc”, nó hoàn toàn trái ngược với mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta, với mưu đồ chính trị đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc.
Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có mối quan hệ biện chứng không thể tách rời, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng, “mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”7. Đó là tất yếu khách quan, sự lựa chọn của lịch sử mà không luận điệu, thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận. Luận điệu “Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là vô căn cứ, thủ đoạn xảo trá, thấp hèn, dù có tô vẽ thế nào cũng không thể che mờ chân lý.
ST
Có thể là hình ảnh về 7 người và văn bản

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 22/9


“Thanh niên phải luôn luôn rèn luyện đạo đức cách mạng ”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đến thăm và phát biểu tại “Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam toàn miền Bắc” ngày 22 tháng 9 năm 1962.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục đạo đức cho đoàn viên, thanh niên, thấy rõ vị trí, vai trò "Là người tiếp sức cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai". Do vậy, Người đặc biệt quan tâm tổ chức, bồi dưỡng đoàn viên, thanh niên thành đội xung kích cách mạng, lực lượng hậu bị của Đảng nhằm kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp của giai cấp và dân tộc. Người yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên phải tự giác rèn luyện, không ngừng học tập, gương mẫu xung phong trong mọi công việc. Đi đôi với việc giáo dục trí lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững khoa học kỹ thuật, mỗi đoàn viên, thanh niên phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng để trở thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội “vừa hồng, vừa chuyên”.
Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vai trò của đoàn viên, thanh niên. Coi đây là lực lượng xung kích, là đội dự bị tin cậy của Đảng và coi công tác thanh niên là vấn đề được đặc biệt quan tâm chỉ đạo. Do vậy, phải chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng - sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích…của đoàn viên, thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Bác Hồ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần "Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên", thanh niên Việt Nam đã phát huy truyền thống, hăng hái, sôi nổi hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào thi đua, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Thanh niên Quân đội là bộ phận ưu tú của thanh niên Việt Nam, lực lượng đông đảo, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Quân đội, thấu triệt lời Bác dạy, tích cực hưởng ứng thực hiện các phong trào do Trung ương Đoàn phát động, gắn với cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” và phong trào thi đua Quyết thắng. Các phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ toàn quân, nòng cốt là hai phong trào lớn: “Thanh niên Quân đội vươn tới những đỉnh cao”, “Thanh niên Quân đội tiến quân vào khoa học và công nghệ”… đã xuất hiện nhiều mô hình hay tấm gương điển hình tiêu biểu. Qua đó, phát huy hiệu quả vai trò xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ trong thi đua rèn đức, luyện tài, xung kích thực hiện việc khó, việc mới, việc quan trọng, xác lập những đỉnh cao, kỷ lục mới trên từng lĩnh vực hoạt động xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há» CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

50 NĂM CHUYẾN THĂM ĐẦU TIÊN CỦA TỔNG TƯ LỆNH FIDEL CASTRO TỚI VIỆT NAM: BIỂU TƯỢNG SINH ĐỘNG VÀ THUYẾT PHỤC NHẤT CỦA TÌNH ĐOÀN KẾT

 

Việc Tổng Tư lệnh Cuba Fidel Castro Ruz lần đầu thăm Việt Nam từ ngày 12-17/9/1973, trở thành lãnh tụ nước ngoài đầu tiên và duy nhất đến thăm vùng mới giải phóng ở Quảng Trị khi chiến tranh vẫn diễn ra ác liệt là biểu tượng sinh động, thuyết phục nhất về tình đoàn kết, sự ủng hộ vô điều kiện của Cuba dành cho Việt Nam.
Đây là khẳng định của Đại sứ Việt Nam tại Cuba Lê Thanh Tùng trong cuộc trao đổi với phóng viên thường trú của TTXVN tại La Habana nhân kỷ niệm 50 năm chuyến thăm đầu tiên của lãnh tụ Cuba Fidel Castro tới Việt Nam và vùng mới giải phóng miền Nam Việt Nam.
Đại sứ Lê Thanh Tùng nhấn mạnh rằng chuyến thăm của nhà lãnh đạo Cuba đã mang đến cho quân và dân ta sự cổ vũ lớn lao, đồng thời tạo thêm động lực, sự khích lệ mới cho phong trào đoàn kết và ủng hộ Việt Nam trên thế giới. Ngay trong chuyến thăm lịch sử này, Tổng Tư lệnh Fidel đã khẳng định “sau khi nhân dân Việt Nam hoàn thành công cuộc giải phóng, thống nhất đất nước, Cuba sẵn sàng đổ mồ hôi để góp phần xây dựng Việt Nam mười lần tươi đẹp hơn như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn”.
Và Cuba đã giúp Việt Nam tái thiết đất nước với 5 công trình kinh tế - xã hội quan trọng đến nay vẫn phát huy hiệu quả, đó là Bệnh viện 400 giường ở Đồng Hới, Khách sạn Thắng Lợi ở Hà Nội, Trại bò Mộc Châu, Trại gà Lương Mỹ và đoạn đường nhựa 19 km kết nối Sơn Tây - Xuân Mai mà nhiều người dân Việt Nam lâu nay quen gọi là “đường Cuba”.
Theo Đại sứ Lê Thanh Tùng, năm nay, lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước hai nước đã nhất trí tổ chức trọng thể kỷ niệm 50 năm Tổng Tư lệnh Fidel lần đầu thăm Việt Nam và 60 năm ngày thành lập Uỷ ban Cuba Đoàn kết với miền Nam Việt Nam, tiền thân của Hội Hữu nghị Cuba – Việt Nam ngày nay. Ngày 12/9 năm nay, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba trọng thể tổ chức lễ kỷ niệm các sự kiện lịch sử này với sự hiện diện của Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Miguel Díaz-Canel Bermúdez, cùng nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao khác của Đảng, Nhà nước và các vị lãnh đạo lão thành Cuba. Vào ngày 26/9 tới, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm các sự kiện này tại Quảng Trị, nơi lãnh tụ Fidel đã tới thăm vào tháng 9/1973. Đặc biệt, lãnh đạo Cuba đã quyết định cử đồng chí Esteban Lazo Hernández, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, tham dự lễ kỷ niệm với tư cách đại diện Đảng và Nhà nước Cuba.
Đại sứ Lê Thanh Tùng chỉ rõ rằng các hoạt động kỷ niệm trọng đại và phong phú các sự kiện đặc biệt trong quan hệ Việt Nam - Cuba ở cả hai nước không chỉ để tái hiện thời khắc các sự kiện lịch sử, tôn vinh tình đoàn kết anh em và sự ủng hộ quý báu của lãnh tụ Fidel và Cuba dành cho Việt Nam, khơi dậy niềm tự hào, mà còn là dịp để tri ân các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước không ngừng củng cố và phát triển mối quan hệ đoàn kết anh em đặc biệt Việt Nam - Cuba trong hơn 6 thập kỷ qua; đồng thời, giáo dục các thế hệ trẻ hai nước về truyền thống quan hệ đoàn kết anh em, thủy chung, mẫu mực Việt Nam - Cuba nhằm kế tục, viết tiếp những trang sử mới đáng tự hào cho mối quan hệ đặc biệt này.
Đại sứ Lê Thanh Tùng nhận định rằng mối quan hệ đoàn kết anh em đặc biệt giữa Việt Nam và Cuba được Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh tụ Fidel khởi xướng, thiết lập, dẫn dắt, được các thế hệ lãnh đạo kế tiếp và nhân dân hai nước không ngừng củng cố, dày công vun đắp trong gần 63 năm qua, đã trở thành hình mẫu trong quan hệ quốc tế như đồng chí Fidel từng đánh giá.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam trước đây, với tinh thần “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”, Cuba nói đi đôi với làm. Cuba luôn đi đầu trong phong trào thế giới đoàn kết và ủng hộ Việt Nam, hào phóng viện trợ cho Việt Nam hàng trăm nghìn tấn đường và sợi, ngoại tệ, thiết bị hỗ trợ mở đường Hồ Chí Minh huyền thoại và nhiều khoản viện trợ quý báu khác.
Sau khi điểm lại những mốc chính trong quan hệ Việt Nam - Cuba, Đại sứ Lê Thanh Tùng nhấn mạnh đây là mối quan hệ được xây dựng dựa trên ba trụ cột là đoàn kết anh em, hợp tác toàn diện và tin cậy lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước.
Bày tỏ tự hào về tình anh em đặc biệt hiếm có đã trở thành “biểu tượng của thời đại” như Tổng Tư lệnh Fidel Castro từng mô tả, Đại sứ Lê Thanh Tùng khẳng định: “Người Việt Nam luôn khắc ghi trong tâm trí lời bất hủ của lãnh tụ Cuba Fidel Castro: ´Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình!´, và đối với mỗi người Việt Nam, đoàn kết với Cuba là mệnh lệnh của trái tim!”.
Xuất phát từ mối quan hệ chính trị tốt đẹp, tình đoàn kết và lòng ngưỡng mộ lẫn nhau, nhân dân hai nước Việt Nam và Cuba ngày càng nỗ lực tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư. Ngoài các dự án đã được chính phủ hai nước nhất trí như sản xuất lúa gạo và cà phê, hiện nay Việt Nam có nhiều dự án đầu tư hoặc liên doanh tại Cuba, trong đó đặc biệt chú trọng đến lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng, thiết bị vệ sinh, vật liệu xây dựng, năng lượng mặt trời, hạ tầng công nghiệp và du lịch. Ở chiều ngược lại, nhiều chuyên gia, bác sĩ, thợ lành nghề và giám sát xây dựng từ Cuba đã đến Việt Nam tham gia các dự án khác nhau trong các lĩnh vực xây dựng, y tế, công nghệ sinh học, dược phẩm và thể thao.
Trong khuôn khổ chuyến thăm Cuba của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Vương Đình Huệ vào tháng 4/2023, hai nước đã tổ chức Diễn đàn Xúc tiến Thương mại và Đầu tư song phương, trong đó hai bên đã ký kết 4 biên bản ghi nhớ trong các lĩnh vực hàng không, xây dựng, điện và dầu mỏ. Tại diễn đàn, cộng đồng doanh nghiệp hai nước cũng đã thảo luận về tiềm năng sản xuất và tiếp thị gạo, cà phê, ngũ cốc, thức ăn chăn nuôi, chế biến gia cầm và gia súc, xây dựng công viên quang điện cũng như các dự án liên doanh cải tạo và kinh doanh khách sạn.
Việt Nam hiện là đối tác thương mại châu Á lớn thứ hai và là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất của khu vực này tại Cuba. Các mối quan hệ kinh tế và thương mại góp phần củng cố quan hệ anh em truyền thống giữa nhân dân hai nước.
Đại sứ Lê Thanh Tùng nhận định Việt Nam và Cuba có nhiều tiềm năng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư, đặc biệt trong các lĩnh vực bổ trợ cho nhau như sản xuất nông nghiệp, sản xuất vật liệu công nghiệp, xây dựng và hàng tiêu dùng, năng lượng tái tạo, công nghệ sinh học và y tế, cơ sở hạ tầng du lịch, cùng nhiều lĩnh vực khác.
Theo đại sứ, doanh nhân Việt Nam ngày càng quan tâm đến việc tìm kiếm cơ hội kinh doanh và đầu tư tại Cuba. Đại sứ bày tỏ tin tưởng doanh nhân hai nước sẽ tiếp tục nỗ lực tìm kiếm các phương thức hợp tác mới phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế hiện nay, tận dụng những thuận lợi và cơ hội sẵn có, vượt qua khó khăn để từng bước nâng cao hiệu quả kinh tế, thương mại và đầu tư xứng tầm với mối quan hệ đoàn kết, anh em đặc biệt gắn kết Cuba và Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng và vì lợi ích của cả hai dân tộc./
ST
Có thể là hình ảnh đen trắng về 3 người