Chủ Nhật, 24 tháng 9, 2023

Sư đoàn 5 (Quân khu 7) đẩy mạnh tăng gia sản xuất, nâng cao đời sống bộ đội

     Thời gian qua, Sư đoàn 5 (Quân khu 7) đã đẩy mạnh nhiều mô hình tăng gia sản xuất hiệu quả, thiết thực nâng cao đời sống bộ đội.

    Theo Đại tá Trịnh Ngọc Dục, Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 5, cùng với thực hiện tốt việc quy hoạch, sư đoàn chú trọng chỉ đạo giáo dục bộ đội nhận thức sâu sắc, vị trí, vai trò, ý nghĩa của tăng gia sản xuất, từ đó khơi dậy tinh thần tự lực tự cường, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ.

    Đến nay, sư đoàn có quy mô tăng gia sản xuất theo hướng cơ bản, vững chắc, lâu dài, phù hợp với tổng thể doanh trại, tận dụng, phát huy tốt mọi nguồn lực. Hệ thống chuồng gia súc, gia cầm được đơn vị xây dựng khép kín; hệ thống vườn, giàn quy hoạch tập trung, nhiều chủng loại, có lưới che kín; 100% hệ thống vườn tăng gia sản xuất có đường nội bộ và lắp đặt hệ thống tưới nước tự động, bảo đảm tiết kiệm nước, giảm công sức của bộ đội. Vườn rau bảo đảm tính gối vụ, đan xen, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp thời tiết, khí hậu, mùa vụ bảo đảm đơn vị luôn có rau xanh phục vụ đời sống bộ đội. Nhiều mô hình được các đơn vị trong toàn quân đến tham quan, học tập rút kinh nghiệm.

    Việc đẩy mạnh tăng gia sản xuất không chỉ giúp cán bộ, chiến sĩ được sử dụng thực phẩm tươi ngon, giá cả ổn định, rẻ hơn thị trường mà còn đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, góp phần xây dựng doanh trại chính quy, xanh, sạch, đẹp, nâng cao huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện "Mẫu mực, tiêu biểu".

    Dưới đây là một số hình ảnh về tăng gia sản xuất tại Sư đoàn 5 (Quân khu 7).

Sư đoàn 5 (Quân khu 7) đẩy mạnh tăng gia sản xuất, nâng cao đời sống bộ đội
Chiến sĩ Trung đoàn 5, Sư đoàn 5 chăm sóc khu chăn nuôi gà đẻ trứng. 

 

Sư đoàn 5 (Quân khu 7) đẩy mạnh tăng gia sản xuất, nâng cao đời sống bộ đội
Trung tướng Trần Hoài Trung, Chính ủy Quân khu 7 đến thăm, kiểm tra mô hình nuôi gà đẻ trứng tại Sư đoàn 5. 
Sư đoàn 5 (Quân khu 7) đẩy mạnh tăng gia sản xuất, nâng cao đời sống bộ đội
Chiến sĩ Trung đoàn 5, Sư đoàn 5 tích cực chăm sóc vườn rau sạch trong giờ nghỉ. 

 

Sư đoàn 5 (Quân khu 7) đẩy mạnh tăng gia sản xuất, nâng cao đời sống bộ đội
Vườn đu đủ được cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 5 cải tạo từ bãi đất trống, khô cằn. 

 

Sư đoàn 5 (Quân khu 7) đẩy mạnh tăng gia sản xuất, nâng cao đời sống bộ đội
Chất lượng bữa ăn hằng ngày của chiến sĩ. 

 

Sư đoàn 5 (Quân khu 7) đẩy mạnh tăng gia sản xuất, nâng cao đời sống bộ đội
Bữa ăn của chiến sĩ được cải thiện thêm từ sản phẩm tăng gia sản xuất. 

 

Sư đoàn 5 (Quân khu 7) đẩy mạnh tăng gia sản xuất, nâng cao đời sống bộ đội
Tiếp nước uống từ sản phẩm tăng gia sản xuất để phục vụ chiến sĩ trên trao trường. 

 

Sư đoàn 5 (Quân khu 7) đẩy mạnh tăng gia sản xuất, nâng cao đời sống bộ đội
Chiến sĩ Trung đoàn 4, Sư đoàn 5 hăng say luyện tập. 

Bộ Quốc phòng tích cực cải cách thủ tục hành chính lĩnh vực kế hoạch và đầu tư

     Thời gian qua, Cục Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng tích cực tiến hành rà soát các điều kiện để bảo đảm vừa đáp ứng được yêu cầu quản lý, vừa đơn giản hóa thủ tục hành chính lĩnh vực kế hoạch và đầu tư trong Bộ Quốc phòng.

Bộ Quốc phòng tích cực cải cách thủ tục hành chính lĩnh vực kế hoạch và đầu tư

Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị công tác cải cách thủ tục hành chính trong Bộ Quốc phòng năm 2022. Ảnh: qdnd.vn 

    Theo đó, các thủ tục hành chính nội bộ được các cơ quan chức năng rà soát, tiến hành cắt giảm, đơn giản hóa, tiết kiệm thời gian, công sức, kinh phí trong quá trình xử lý, giải quyết. Cụ thể, đối với quy trình thẩm định chủ trương đầu tư các dự án, cắt giảm thời gian thẩm định từ 35-40 ngày xuống còn 20-25 ngày, giảm 15 ngày so với trước; đối với quy trình thẩm định dự án, cắt giảm thời gian thẩm định từ 45-60 ngày xuống còn 30-45 ngày; đối với quy trình thẩm định dự toán và kế hoạch lựa chọn nhà thầu, cắt giảm thời gian thẩm định trung bình từ 40 ngày xuống còn 15-17 ngày, giảm 23-25 ngày làm việc; đối với quy trình thẩm định phương án nhập khẩu, cắt giảm thời gian thẩm định từ 38 ngày xuống còn 25 ngày...

HOAN HÔ CƠ THỦ TRẦN QUYẾT CHIẾN - KHÔNG ĐÁNH ĐỔI CHỦ QUYỀN ĐỂ ĐỔI LẤY TRẬN GIAO HỮU VIỂN VÔNG!

         Mới đây, tại giải giao hữu thành lập Liên Đoàn Billiards Carom Trung Quốc, trong trận đấu giữa cơ thủ Trần Quyết Chiến và Dick Jaspers, nhà đài Thượng Hải đã cố tình lồng ghép hình ảnh đường lưỡi bò phi pháp vào sóng trực tiếp một cách vô cùng bất ngờ và không thông báo trước. Ngay khi nhận ra điều này, HLV Nguyễn Việt Hòa yêu cầu Trần Quyết Chiến phải lập tức bỏ giải để quay về Việt Nam để phản đối động thái vô lý, xuyên tạc chủ quyền Việt Nam cũng như không đúng với tinh thần thể thao. Chủ tịch Liên đoàn Billiards & Snookers Thế giới Farouk Barki có gửi thư điện tử mong muốn phía Việt Nam đưa ra một lý do “tế nhị” để giải thích với công chúng. Tuy nhiên, Trần Quyết Chiến đã trả lời rằng: “Đây là sự xuyên tạc đến chủ quyền Việt Nam và không thể dùng lý do gì khác!".

Hoan hô Huấn luyện viên HLV Nguyễn Việt Hòa và cơ thủ Trần Quyết Chiến. Bida hay bất cứ điều gì cũng không thể so sánh với chủ quyền biển đảo của quốc gia. Chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bất biến, không thể chối cãi. Việt Nam - Trung Quốc có quan hệ ngoại giao ở mức Đối tác Chiến lược toàn diện nhưng không ít bất đồng; đặc biệt là việc Trung Quốc yêu sách chủ quyền phi pháp ở biển Đông. Việt Nam xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa kể từ thời Vua Lê Thánh Tông (1490) và sau này là sự khẳng định chủ quyền của các Chúa Nguyễn. Không đánh đổi chủ quyền để lấy tình hữu nghị viển vông. Hoan hô Hoan hô Huấn luyện viên HLV Nguyễn Việt Hòa và cơ thủ Trần Quyết Chiến./.
Yêu nước ST!

 NHẬN DIỆN QUYỀN LỰC VÀ THA HÓA QUYỀN LỰC

 Quyền lực “là quyền hành và thế lực mạnh, đủ để quyết định các công việc: nắm quyền lực trong tay - dùng quyền lực ép người ta phải nghe theo, làm theo”, hiểu khái quát đó là quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy. Còn tha hóa là “1. Trở nên khác đi, biến thành cái khác…2. Trở thành người mất phẩm chất đạo đức, một cán bộ bị tha hóa”. Hiểu theo nghĩa chung nhất, đó chính là cái ban đầu được biểu hiện là cái khác, là hiện tượng làm biến tướng bản chất hoặc mục đích của sự vật, hiện tượng. Tha hóa quyền lực là căn bệnh của những người có chức, có quyền, vì thế cần phải phòng và chống sự tha hóa quyền lực bằng cách: “1. Kiểm tra, xem xét, nhằm ngăn ngừa những sai phạm các quy định… 2. Đặt trong phạm vi quyền hành và trách nhiệm”.
Tiếp cận từ góc độ “phạm vi quyền hành và trách nhiệm”, có thể nhận dạng sự tha hóa quyền lực ở một số biểu hiện cơ bản như sau: 1) Lạm quyền: chủ thể nắm quyền tự cho mình thêm những quyền mà họ không có được khi được trao quyền. Sự “tạo thêm” này là “dạng vượt quá giới hạn”, làm biến dạng quyền lực. 2) Lộng quyền: là sự liều của chủ thể của quyền lực khi “làm” mà không cần biết hậu quả xảy ra thế nào và cũng không sợ trách nhiệm mình phải gánh chịu. 3) Trục lợi từ quyền: hình thành dần trong quá trình thực thi quyền lực, do các chủ thể quyền lực có thể “tranh thủ” chi phối đối tượng để đòi hỏi các lợi ích vật chất và tinh thần cho mình. 4) Độc đoán, chuyên quyền: người được xã hội trao quyền muốn thâu tóm, khống chế quyền lực bằng một cơ chế tập trung quyền lực cao độ về mình; trấn áp tất cả các thế lực chống đối để tuyệt đối hóa quyền lực của mình. 5) Quan liêu: biểu hiện người nắm quyền không bám sát thực tế, không dựa trên những cơ sở thực tế để thực thi quyền lực công mà chỉ nhằm bảo vệ lợi ích ích kỷ của mình, nhóm mình, địa phương mình,v.v.. 6) Tuỳ tiện: người nắm quyền hoặc không biết rõ quyền lực của mình đến đâu hoặc cẩu thả trong thực thi quyền được trao mà không ý thức được hậu quả mình gây ra. 7) Tiếm quyền: là biểu hiện người nhận được quyền lực một cách không hợp pháp mà là sự “đoạt được” địa vị của người có quyền lực hợp pháp. 8) Vô trách nhiệm: là thờ ơ hoặc buông xuôi trước trước yêu cầu của việc thực thi quyền lực được trao; thường gây thiệt hại cho xã hội và cho chính người trao quyền. 9) Bất lực: thể hiện trong việc người nắm quyền lực dần mất đi thực quyền hoặc kém khả năng quyết đoán; chỉ có danh mà không có sức mạnh để thực thi ý chí của mình; thường bị thao túng bởi một thế lực nào đó. 10) Tham quyền cố vị: là biểu hiện người có quyền lực bằng mọi cách giữ lại địa vị vốn có mà không từ một thủ đoạn nào để loại trừ đối thủ. 11) Phân tán quyền lực: là sự biến tướng dưới dạng cục bộ địa phương, lợi ích cá nhân, chia bè kéo cánh; làm mất đi tính thống nhất về quyền lực nhà nước cũng như lợi ích của quốc gia, dân tộc,v.v..
Với một chính đảng đã cầm quyền, việc thực thi quyền lực và yêu cầu phải phòng, chống sự tha hóa quyền lực đối với tổ chức đảng, nhất là với các cán bộ, đảng viên được trao quyền giữ các chức vụ trọng yếu trong Đảng, các cơ quan công quyền, các tổ chức chính trị xã hội là nhằm đảm bảo cho hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành được vận hành hiệu lực, hiệu quả; đồng thời, ngăn ngừa và phòng, chống các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đảng cầm quyền ở đây hiểu theo nghĩa là Đảng lãnh đạo Nhà nước và “lãnh đạo” thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ những trọng trách trong tổ chức Đảng, các cơ quan Nhà nước, hệ thống chính trị. Do có quyền lực, người được trao quyền lực dễ bị tha hóa bởi tự coi mình trở thành “hiện thân” của quyền lực - đặt mình lên trên các nguyên tắc tổ chức của Đảng, dẫn đến từng bước vô hiệu hóa vai trò của tổ chức, làm mất đi tính tiên phong của Đảng cách mạng. Theo đó, người được trao quyền đã vượt quá "phạm vi quyền hành và trách nhiệm" của mình; đã sử dụng quyền lực để chiếm đoạt các giá trị vật chất, tinh thần của xã hội, xâm phạm tới lợi ích của các thành viên khác nhằm mưu cầu cho mình, người thân,v.v.. Tha hóa quyền lực biểu hiện ở nhiều sự việc: từ sự nhũng nhiễu, hạch sách, vòi vĩnh để “tham nhũng vặt” người dân; quan liêu, thờ ơ trước yêu cầu, bức xúc của nhân dân, chậm giải quyết các thủ tục hằng ngày cho người dân ở địa bàn cơ sở,v.v.. đến việc lợi dụng, lạm dụng quyền lực công vụ để mưu lợi ích, tham ô, “tham nhũng lớn” cho cá nhân, nhóm lợi ích… Ở chiều cạnh này, sự tha hóa quyền lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ phản ánh sự suy thoái về phẩm chất và năng lực của người cán bộ, đảng viên mà còn phản ánh thực chất mức độ sự suy thoái quyền lực nhà nước mà đảng đang cầm quyền. Đặc biệt quan tâm vấn xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh căn dặn trong Di chúc: “Đảng là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Phải thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

 XÂY DỰNG ĐẢNG: PHẢI KHAI TRỪ NHỮNG CÁN BỘ HƯ HỎNG RA KHỎI ĐẢNG!

         Ngày 15/3, tại Trụ sở Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì họp Ban Bí thư để xem xét, thi hành kỷ luật các đồng chí: Phan Mạnh Cường, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Đại tá Nguyễn Thế Anh, Tỉnh ủy viên, Phó Bí thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh Kiên Giang.
Sau khi xem xét đề nghị của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Bí thư nhận thấy:
1. Đồng chí Phan Mạnh Cường trong thời gian giữ chức vụ Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Trưởng Ban Quản lý các khu công nghiệp Thái Nguyên kiêm Giám đốc Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng khu công nghiệp (giai đoạn 2013 - 2019) đã vi phạm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng và Quy chế làm việc; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo; thiếu kiểm tra, giám sát, có nhiều vi phạm trong quản lý, sử dụng tài chính, ngân sách, tài sản, đất đai.
Những vi phạm của đồng chí Phan Mạnh Cường gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thiệt hại tiền, tài sản của Nhà nước; gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, mất uy tín cá nhân. Trong quá trình kiểm điểm, không tự giác nhận vi phạm, khuyết điểm.
2. Đồng chí Nguyễn Thế Anh trong thời gian giữ chức vụ Phó Cục trưởng Cục Phòng, chống ma túy và tội phạm, Bộ đội Biên phòng, Phó Chánh Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, Tỉnh ủy viên, Phó Bí thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh Kiên Giang đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và Quy chế làm việc, thiếu tu dưỡng rèn luyện, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; nhận hối lộ, vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm; vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác cán bộ, trong quản lý, sử dụng tài chính, trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, buôn lậu và gian lận thương mại.
Những vi phạm của đồng chí Nguyễn Thế Anh gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thiệt hại tiền và tài sản của Nhà nước; ảnh hưởng rất xấu đến uy tín của tổ chức đảng và lực lượng Bộ đội Biên phòng, mất uy tín cá nhân.
Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm theo Quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức Khai trừ ra khỏi Đảng đối với đồng chí Phan Mạnh Cường và đồng chí Nguyễn Thế Anh./.

 Chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa yêu nước ở Việt Nam và một số vấn đề đặt ra

Trong nhiều thập niên qua, bàn về sự ra đời của dân tộc ở Việt Nam, nhiều người thường gắn nó với thời kỳ phong kiến và sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân, với độc lập dân tộc và giải phóng đất nước. Khởi đầu, vấn đề này được đặt ra từ cuộc thảo luận “Sự hình thành dân tộc Việt Nam” vào những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, với sự chủ trì của giới sử học. Trong các cuộc thảo luận đó, một số ý kiến cho rằng, dân tộc Việt Nam hình thành sớm, thuộc loại hình dân tộc tiền tư bản chủ nghĩa, và sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam bước vào quá trình hình thành dân tộc xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, có quan điểm khẳng định, dân tộc Việt Nam ra đời muộn hơn, song cụ thể vào giai đoạn nào thì khó chỉ ra(11).
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam đề cao chủ nghĩa yêu nước gắn với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước được phát huy cao độ, là động lực to lớn để đoàn kết mọi giai cấp, tầng lớp xã hội, tạo nên sức mạnh toàn dân tộc và là nguồn gốc của mọi thắng lợi. Vậy chủ nghĩa yêu nước có phải là chủ nghĩa dân tộc hay không? Trên thực tế, khái niệm chủ nghĩa dân tộc hầu như không được sử dụng trong diễn ngôn chính trị và học thuật của Việt Nam giai đoạn này. Tuy nhiên, sự thảo luận của nhiều học giả trên thế giới cho thấy, chủ nghĩa yêu nước (Patriotism) thực chất chỉ là một dạng thức của chủ nghĩa dân tộc hoặc luôn đan kết với chủ nghĩa dân tộc, bởi nói đến chủ nghĩa dân tộc, không thể không đề cập tới chủ nghĩa yêu nước(12). Nói cách khác, chủ nghĩa yêu nước là mặt tích cực của chủ nghĩa dân tộc.
Sau cuộc thảo luận “Sự hình thành dân tộc Việt Nam”, một số tác giả vẫn tiếp tục nghiên cứu về vấn đề dân tộc ở nước ta, nhất là trong tình hình mới. Giáo sư Phan Hữu Dật cho rằng, trong sự phát triển hơn nửa thế kỷ qua ở Việt Nam, đã hình thành một cộng đồng người mới, một dân tộc Việt Nam thống nhất trong quốc gia Việt Nam xã hội chủ nghĩa và gọi đó là cộng đồng quốc gia - dân tộc(13). Về ý thức dân tộc, tác giả Lê Thị Lan cho rằng, nó được hình thành từ thế kỷ III sau Công nguyên, gắn với việc truyền bá Nho giáo vào Việt Nam. Theo đó, tầng lớp tinh hoa theo Nho học có vai trò lớn trong xây dựng chủ nghĩa dân tộc, với ý thức về độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, sự tự hào về nền văn hóa riêng, tinh thần đoàn kết dân tộc và lòng yêu nước sâu sắc. Tác giả Lê Thị Lan còn gợi ý, ngày nay, vẫn có thể tiếp tục phát huy chủ nghĩa dân tộc trong xây dựng và bảo vệ đất nước(14). Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay, nên chú trọng đến việc xây dựng ý thức quốc gia - dân tộc.
Chủ nghĩa dân tộc có tính hai mặt và Việt Nam phải đối diện với nó trong bối cảnh thế giới đương đại. Về phương diện quốc tế, Việt Nam không tránh khỏi những tác động của chủ nghĩa dân tộc trên thế giới, nhất là với các nước trong khu vực đã dùng chủ nghĩa này như một công cụ cho phát triển kinh tế, quốc phòng - an ninh và đối ngoại của họ. Do đó, Việt Nam cần phát huy chủ nghĩa yêu nước - một di sản quý giá trong các cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, chủ nghĩa yêu nước không chỉ cần thiết cho công cuộc bảo vệ độc lập, tự chủ, trọng tâm là bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo của Tổ quốc, mà còn có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, nhất là đối với việc xây dựng thương hiệu và sử dụng hàng hóa Việt Nam. Để làm được như vậy, cần có chính sách và hành động thiết thực nhằm quy tụ, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong nước và kiều bào ở nước ngoài.
 Việt Nam cần phát huy chủ nghĩa yêu nước - một di sản quý giá trong các cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc (Trong ảnh: Tiếp bước cha ông)_Ảnh: Tư liệu
Để phát huy chủ nghĩa yêu nước và ngăn ngừa, phòng tránh mặt tiêu cực của chủ nghĩa dân tộc, cần xử lý tốt hai vấn đề phức tạp sau đây:
Một là, tránh nguy cơ nảy sinh chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Chủ nghĩa này dễ xuất hiện khi xảy ra mất đồng thuận trong quan điểm, phương thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia. Thời gian qua, các thế lực thù địch lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân tiến hành kích động chống đối, biểu tình hay có phản ứng trái chiều trên mạng xã hội. Nếu tiếp tục để xảy ra những tình huống như vậy, sẽ gây phân tâm xã hội, không phát huy được chủ nghĩa yêu nước chân chính và là cơ sở làm nảy sinh chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Hai là, tránh nguy cơ tái phát và kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc ly khai. Lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là kết quả lao động, sản xuất và đấu tranh qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, gắn với sự ra đời và phát triển của nhà nước dân tộc. Là nước có chủ quyền, với biên giới lãnh thổ được xác định và là thành viên của Liên hợp quốc, song các thế lực dân tộc cực đoan vẫn chưa từ bỏ âm mưu, hoạt động chống phá. Vì vậy, cùng với tăng cường các biện pháp để củng cố, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, khối đại đoàn kết toàn dân tộc là đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa ly khai.
Tóm lại, trong bối cảnh trỗi dậy mạnh mẽ của chủ nghĩa dân tộc trên thế giới hiện nay, Việt Nam không tránh khỏi bị ảnh hưởng. Để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của chủ nghĩa dân tộc, bên cạnh việc củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần có biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa dân tộc ly khai./.

 MUỐN SỐNG TRONG HÒA BÌNH THÌ PHẢI CHUẨN BỊ CHO CHIẾN TRANH 


- Hòa bình rồi thì không cần chi tiêu nhiều cho quốc phòng nữa
- Cắt giảm ngân sách quốc phòng cho người nghèo thì tốt
- Không còn đánh nước nào nữa thì chi tiêu nhiều cho quân đội làm gì
Đó là một trong số nhiều bình luận mà mình thấy trong mấy ngày qua trên MXH, khi mà dự toán ngân sách 2023 được thông báo. Nhiều người thấy con số chi tiêu quốc phòng ở Việt Nam lớn, lên tới khoảng 10 - 12 tỷ USD là không hề cần thiết. Họ nghĩ rằng cần giảm bớt chi tiêu quốc phòng lại để dành tiền cho cái này cái kia. Miệng thì lúc nào cũng đòi phải đánh nước này nước kia, quốc gia phải mạnh mẽ nhưng lại còn chi tiêu phải giảm xuống… 

Có lẽ nhiều người mê AOE, nên nghĩ rằng quân đội ở ngoài đời cũng như trong quân đội ở AOE vậy. Tức là chỉ cần có tiền chỉ cần gọi quân ra là được ngay. Nhưng đời thực nào có như vậy. Muốn chiến đấu thì phải huấn luyện tốt, phải có vũ khí trang bị, phải “đồ mồ hôi ở thao trường”, muốn bảo vệ Tổ Quốc thì phải hiện diện ở nơi vùng sâu hải đảo, ngoài biển và biên giới… Tất cả những thứ đó đều cần tiền. Thậm chí là rất nhiều tiền để trả lương, tăng phụ cấp cho các chiến sĩ, dân quân và cả người dân tham gia thế trận quốc phòng toàn dân.

Tiếp nữa, trong bối cảnh mà ngân sách quốc phòng của các quốc gia hầu hết đều tăng chứ không có giảm, tức là nếu Việt Nam giảm, không khác gì tự giảm đi sức mạnh quốc gia, mất đi vị thế trong khu vực và quốc tế. Ví dụ, ngân sách quốc phòng Philippines tăng trung bình 6% mỗi năm trong 5 năm qua, con số này của Indonesia là 7%, với Trung Quốc là 7,2% hay với Singapore là 6,5%. 

Hiện tại là thế kỷ 21, nơi mà khoa học kỹ thuật lên ngôi. Quân đội của mỗi quốc gia cũng phải hiện đại hóa theo. Hùng mạnh như Nga, Đức, Pháp, Trung Quốc… còn phải chi hàng chục tỷ và lên tới hàng trăm tỷ đô để hiện đại hóa nền quốc phòng. Hay nhìn quanh bạn bè mà xem, Thái Lan - Indonesia - Philippines - Malaysia đều tăng mức chi giữa bối cảnh châu Á - Thái Bình Dương luôn rất “ban căng”. Việt Nam cũng đang trong xu thế phải hiện đại hóa quân đội ở mọi mặt, cả về vũ khí trang bị, cải cách lương thưởng phụ cấp, chế độ cho các chiến sĩ, sĩ quan, quân nhân…. 

Hòa bình rồi không có nghĩa là chiến tranh sẽ không quay lại. Một đứa trẻ hơi yếu chút thôi là đã có thể bị bạn bè bắt nạt. Một quốc gia mà quốc phòng đi xuống, thì kiểu gì tiếng nói trên trường quốc tế cũng sẽ bị lung lay. Ngoài ra, việc chi tiêu nhiều cho quốc phòng thường thể hiện sức mạnh nội tại nền kinh tế của nước ấy, tham vọng vị thế và tiếng nói quốc gia. Một quốc gia có tầm ảnh hưởng thì nền quốc phòng phải mạnh tỷ lệ thuận với việc chi cho ngân sách quốc phòng.

Trên mạng xã hội, chúng ta gặp được những con người chỉ đạo cả Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cách cầm súng ngắm bắn, hướng dẫn bộ đội tăng thiết giáp cách lái xe tăng, hướng dẫn đặc công cách di chuyển và đột kích, hướng dẫn cứu hỏa cách chữa cháy…

Muốn có được hòa bình, bản thân chúng ta phải mạnh. Mạnh để tự lực tự cường, mạnh để bảo vệ Tổ Quốc và nhân dân, mạnh để răn đe trước bất cứ kẻ thù nào muốn tấn công… Mạnh vì gạo, bạo vì tiền. 

Thế giới của chúng ta của chúng ta chưa bao giờ có hòa bình thực sự sẽ không bao giờ có được hòa bình. Chúng ta luôn phải chuẩn bị cho kịch bản ấy.St

 VỢ LÍNH 


Làm vợ lính rồi, có hối hận không em? 
Suốt cả năm chỉ đôi lần nghỉ phép 
Về ở chung nhà nhưng vẫn xa biền biệt 
Lời hứa "bên nhau" mà ít được gần nhau.
Lính xa quê, chẳng khác những chuyến tàu 

Chỉ ghé vào ga mỗi lần đổ khách 
Lại vội vã ra đi trong chóng vánh 
Rồi dần dần.. như thế.. cũng thành quen.
Làm vợ lính rồi, có hối hận không em? 
Có lạnh thêm mỗi khi trời trở gió? 

Một chỗ em nằm, chỗ kia bỏ ngỏ 
Quàng tay qua chỉ gối lạnh kề bên. 
Bận bịu suốt ngày có lúc cũng quên 
Nhưng đêm về lại chạnh lòng trống vắng 
Qua phòng con, em nằm tìm hơi ấm 

Rồi dần dần.. như thế... cũng thành quen.
Làm vợ lính rồi, có hối hận không em? 
Khi ngày lễ "anh quên" không tặng quà cho vợ 
Những lời chúc cũng vụng về, lớ ngớ 
Sống khô khan như sỏi đá. thao trường.

Lời hứa "cùng em.." đôi lúc chỉ hứa suông 
Vì nhiệm vụ nên nhiều lần lỗi hẹn 
Những ngày nghỉ cũng vội vàng cắt xén 
Rồi dần dần.. như thế.. cũng thành quen.
Làm vợ lính rồi, có hối hận không em? 

Khi con ốm, mẹ đau.. không có chồng bên cạnh
Khi vật dụng trong nhà lại hỏng hư xoành xoạch 
Em một mình lọ mọ sửa thay anh.
Như kiềng thiếu chân đôi lúc cũng chênh vênh 
Em gắng gỏi cho bếp nhà vẫn ấm 

Làm mẹ, làm cha... vai gì em cũng nhận 
Rồi dần dần.. như thế.. cũng thành quen.
Nếu còn kiếp sau, làm vợ lính không em? 
Em mỉm cười, gật đầu "có chứ!" 
Bởi em hiểu: Tất cả vì nhiệm vụ 

Vì sự bình yên, vì tổ quốc thiêng liêng!!!.. 
Ở bất kỳ đâu hải đảo hay biên cương..
Anh đứng nơi nào có hình em ở đó.
Làm vợ lính, chẳng có gì là khó 
Rồi dần dần..
Tất cả..
Sẽ thành quen.
-St-

 “LƯƠNG THỰC, VŨ KHÍ LÀ MỒ HÔI NƯỚC MẮT CỦA ĐỒNG BÀO, LÀ XƯƠNG MÁU CỦA BỘ ĐỘI. VÌ VẬY, PHẢI QUÝ TRỌNG NÓ, PHẢI TIẾT KIỆM NGĂN NẮP, PHẢI SỬ DỤNG HỢP LÝ”


Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói tại Hội nghị cán bộ chuẩn bị Chiến dịch Tây Bắc”, ngày 09  tháng 9 năm 1952. Bước vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhu cầu lương thực, vũ khí cho chiến trường ngày càng lớn, trong khi công tác hậu cần, tiếp tế ngày càng khó khăn, gian khổ. Dự Hội nghị cán bộ chuẩn bị cho Chiến dịch Tây Bắc (1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những ý kiến định hướng và chỉ đạo, đồng thời động viên, khơi dậy tinh thần quyết tâm của cán bộ tại Hội nghị. Câu nói của Bác là sự khẳng định vai trò to lớn của lương thực, vũ khí đối với sự nghiệp kháng chiến của quân và dân ta, là nguồn sức mạnh giúp bộ đội yên tâm cầm súng chiến đấu, tin tưởng vào thắng lợi. Lời dạy của Bác là sự căn dặn về thái độ của mỗi cán bộ, chiến sĩ ngoài mặt trận đối với lương thực và vũ khí, từ đó có trách nhiệm bảo vệ, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nhất, góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.

Lời dạy của Bác năm xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn đối với mọi cấp, mọi ngành, mọi người về ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Mặc dù sự nghiệp đổi mới đã và đang thu được nhiều thành tựu to lớn, nhưng đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, trong công tác quản lý, sử dụng các nguồn lực phục vụ cho sự phát triển đất nước phải tiết kiệm, hợp lý. Những tài sản của Nhà nước, bộ máy chính quyền các cấp đều từ đóng góp của người dân, đòi hỏi người sử dụng phải có ý thức giữ gìn, bảo quản và sử dụng tiết kiệm. Mỗi người cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm của mình, thực hiện cần, kiệm, đóng góp một phần công sức vào công cuộc xây dựng đất nước.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ toàn quân tích cực hưởng ứng và thực hiện tốt các phong trào thi đua: “Yêu xe như con, quý xăng như máu”, “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, “Đơn vị nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt”, “Đơn vị quân y 5 tốt”… và cuộc vận động  “Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông” đã phát huy tinh thần tiết kiệm, giữ tốt, dùng bền các loại vũ khí, trang bị trong biên chế. Trước hết, mỗi người cần phải có nhận thức sâu sắc ý nghĩa, vai trò của việc tiết kiệm và sử dụng hợp lý lương thực, thực phẩm, điện, nước, chất đốt, vũ khí trang bị… Trên cơ sở đó, cụ thể hóa trong công tác hằng ngày, bằng việc tiết kiệm những tiêu dùng không cần thiết như điện, nước, lương thực, thực phẩm, văn phòng phẩm…; bảo quản và sử dụng đúng mục đích các loại vũ khí, khí tài, trang bị trong huấn luyện, diễn tập và thực hiện các nhiệm vụ. Đặc biệt, trong công tác quản lý, việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cần được quán triệt và thực hiện nghiêm túc, vừa thực hiện đúng, đủ tiêu chuẩn, chế độ cho bộ đội, vừa không để xảy ra tình trạng tiêu cực, lãng phí. Ngoài ra, phải đấu tranh kiên quyết và có hiệu quả với những biểu hiện lãng phí, những hành vi sai trái trong bảo quản, sử dụng không đúng mục đích các trang thiết bị, thiết thực góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

 Quân đội chủ động, nhạy bén trong “cuộc chiến” bảo vệ chân lý, niềm tin vào Đảng


Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm NTTT, kim chỉ nam cho mọi hành động.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tình huống khó khăn, phức tạp nào, Quân đội ta cũng luôn là trụ cột của Đảng, Nhà nước, chỗ dựa vững chắc của nhân dân. Đấu tranh bảo vệ NTTT của Đảng đã trở thành một nhiệm vụ chính trị quan trọng của Quân đội trong cả thời bình và thời chiến. Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, Quân đội luôn tiên phong, đi đầu trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ NTTT của Đảng; tiếp tục phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội và xã hội; vạch trần bản chất phản động, phản cách mạng của các quan điểm sai trái, xuyên tạc NTTT của Đảng, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, các cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh, bảo vệ NTTT của Đảng. Thế trận đấu tranh tư tưởng, lý luận trong Quân đội ngày càng vững chắc.

Công tác giáo dục chính trị được đặt lên hàng đầu, không ngừng đổi mới chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục NTTT của Đảng, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng.

Nghiên cứu, nhận diện và đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng, xuyên tạc, phủ nhận NTTT của Đảng. Đã tập trung luận giải có cơ sở khoa học, khẳng định những giá trị bền vững, tính đúng đắn, khoa học, cách mạng và sức sống bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Ban Chỉ đạo, cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương đã quán triệt sâu sắc nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, tập trung triển khai các chủ trương, biện pháp đồng bộ, kịp thời, hiệu quả. Đã chủ động tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, giữ vững sự ổn định về chính trị, tư tưởng trong Quân đội.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Quân đội luôn gương mẫu thực hiện nhiệm vụ về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chủ động, nhạy bén, tích cực đi đầu trong bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch”. St

 Không ai đứng ngoài cuộc và không để “khoảng trống” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng


Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự báo; các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng, nhất là biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, tội phạm công nghệ cao; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân ta còn cam go và lâu dài, phức tạp; nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đặt ra yêu cầu mới và cao hơn.

Để góp phần tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, giải pháp hàng đầu là phải làm cho mọi tổ chức, lực lượng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội thấy rõ tầm quan trọng của nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ NTTT của Đảng hiện nay. Thấu hiểu sâu sắc đấu tranh tư tưởng, lý luận là một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị; bảo vệ NTTT của Đảng là bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Phải làm cho các cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì, mọi cán bộ, chiến sĩ Quân đội thấy rõ trách nhiệm, vinh dự của mình, phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới, thực sự là lực lượng nòng cốt, đi đầu trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận cũng như trong bảo vệ NTTT, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Không một ai, không một tổ chức, lực lượng nào được bàng quan, vô cảm, đứng ngoài cuộc mà phải tham gia một cách chủ động, sáng tạo vào cuộc đấu tranh này.

Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Vì vậy, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, trực tiếp là của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ này.

Bên cạnh lãnh đạo, chỉ đạo, học tập quán triệt Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị, cần coi trọng lãnh đạo thực hiện toàn diện các nội dung về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, áp dụng nhiều hình thức, biện pháp cụ thể, thiết thực, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện của từng cơ quan, đơn vị Quân đội.

Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 35 các cấp trong Quân đội; nâng cao trách nhiệm của cơ quan, bộ phận chuyên sâu giúp việc, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện kịp thời, hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ NTTT của Đảng. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong Quân đội; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các trường hợp chống đối, cơ hội, bất mãn, giữ vững sự ổn định chính trị trong Quân đội.

Để tiếp tục làm cho hệ tư tưởng của Đảng giữ vai trò chủ đạo, thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống văn hóa, chính trị-tinh thần của xã hội và Quân đội, đòi hỏi phải huy động các tổ chức, lực lượng của Quân đội tham gia.

Qua đó, giáo dục, tôi luyện cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội trở thành lực lượng chính trị vững mạnh, hùng hậu, sẵn sàng đảm đương các nhiệm vụ khó khăn, phức tạp hơn. Bảo vệ NTTT của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một cuộc đấu tranh trên lĩnh vực ý thức hệ, đấu tranh tư tưởng, lý luận phức tạp, lâu dài, nên cần phải quan tâm xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng chuyên trách, nòng cốt, thiện chiến, đặc biệt tinh nhuệ về chính trị.

Theo đó, cần coi trọng xây dựng, phát huy vai trò của các nhà khoa học, nhà giáo, chuyên gia, các cơ quan nghiên cứu, học viện, nhà trường; các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản; đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo... trong Quân đội đối với nhiệm vụ tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thiết lập thế trận chủ động, rộng khắp, liên hoàn, vững chắc trong Quân đội. Xác lập tổng thể các biện pháp, nguyên tắc, bố trí, triển khai và tổ chức các lực lượng cụ thể, từ nghiên cứu, giáo dục, tuyên truyền cơ bản, rộng khắp đến trực tiếp tác chiến, đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm trên các phương tiện thông tin, truyền thông truyền thống và hiện đại của Quân đội và quốc gia, trên internet, mạng xã hội; bao phủ toàn bộ nội bộ Quân đội, không ngừng mở rộng trên phạm vi quốc gia và quốc tế; chủ động gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, "chống" phải quyết liệt, hiệu quả; lấy cái đẹp dẹp cái xấu; không bỏ trống trận địa tư tưởng, bảo đảm ở đâu có bộ đội là ở đó có tuyên truyền giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; mỗi đơn vị, mỗi cán bộ, chiến sĩ là một tấm gương sáng về truyền bá NTTT của Đảng.

Kết hợp chặt chẽ các biện pháp chính trị, tư tưởng và tổ chức đấu tranh phòng ngừa, bảo vệ chính trị nội bộ, giữ vững và tăng cường trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Trong thời đại công nghệ 4.0, cần tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện, ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) trong Quân đội, tận dụng truyền thông quốc gia, phục vụ có hiệu quả cho đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Không ngừng hoàn thiện các cơ chế, chính sách xây dựng, bồi dưỡng, sử dụng, bảo vệ con người và lực lượng Quân đội tham gia bảo vệ NTTT của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bổ sung hoàn thiện các khung khổ pháp lý, quy định về khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội, tài liệu, quản lý, kiểm soát, kiểm duyệt các hoạt động nghiên cứu khoa học, hội thảo, tuyên truyền, in ấn, xuất bản, phát hành trong Quân đội, bảo đảm thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ được giao.

Không ngừng đầu tư, đổi mới trang thiết bị công nghệ thông tin, truyền thông, sử dụng AI trong tăng cường bảo vệ NTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu tác chiến cả tập trung và rộng khắp trên không gian mạng, bảo đảm ngành tuyên huấn Quân đội là một binh chủng tác chiến tư tưởng hiện đại. St

 Anh hùng Phạm Tuân - người Việt Nam và Châu Á đầu tiên bay vào vũ trụ ngày 23/7/1980: "Cảm giác lần đầu tiên nhìn quả đất tròn nằm lơ lửng giữa không gian xanh thẳm rất đặc biệt. Tôi đã cố tìm dải đất hình chữ S thân thương để ngắm nhìn..." Ông là người Việt Nam duy nhất ba lần được trao tặng danh hiệu Anh hùng (Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Anh hùng Lao động Việt Nam, Anh hùng Liên Xô). ---ST---

 

Đấu tranh đẩy lùi thái độ bàng quan, dao động về tư tưởng xã hội chủ nghĩa

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, một bộ phận cán bộ, đảng viên tỏ ra thờ ơ, dao động về tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đây là biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị cần đấu tranh phê phán, loại bỏ.

Tư tưởng tiến bộ, nhân văn nhưng vẫn bị thờ ơ, nghi hoặc

Tư tưởng XHCN là một hệ thống những quan niệm phản ánh nhu cầu, ước mơ, nguyện vọng của các giai cấp lao động về một xã hội không có áp bức bóc lột, mọi người đều bình đẳng và có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; là những thành tựu của con người đạt được trong quá trình đấu tranh giải phóng giai cấp; là chế độ xã hội không có áp bức bóc lột, mọi người đều được tự do, bình đẳng, có điều kiện phát triển toàn diện.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn con đường XHCN và xây dựng đất nước theo định hướng XHCN để “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” như Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định.

Tuy nhiên, sau sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, không ít người, trong đó có cả những cán bộ, đảng viên tỏ ra hoài nghi về sự lựa chọn con đường đi lên CNXH của Đảng ta; thậm chí còn xuất hiện những tư tưởng cơ hội đòi xét lại Chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ nhận sự lựa chọn con đường cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Có thể khẳng định rằng, thái độ thờ ơ, dao động của một số cán bộ, đảng viên về tư tưởng XHCN là “căn bệnh” rất nguy hại, biểu hiện đa dạng như: Dửng dưng, làm ngơ, không quan tâm đến những sự kiện, sự việc diễn ra của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị cũng như trước khó khăn của đất nước, trong khi đó lại có những lời lẽ chê bai, phê phán sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và chính quyền các cấp.

Biểu hiện rõ nhất của việc thờ ơ, dao động về tư tưởng XHCN là những phát ngôn mơ hồ về CNXH. Giọng điệu của họ là ngợi ca chủ nghĩa tư bản như hình mẫu của sự phát triển hiện đại và xem cuộc khủng hoảng của CNXH thời gian qua là "bằng chứng khách quan" của một thử nghiệm thất bại. Một số thái độ dao động đáng lên án hơn là lên tiếng phê phán Đảng, Bác Hồ đã không lựa chọn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa để Việt Nam sớm “hóa rồng”, “hóa hổ” như một số nước Đông Bắc Á. Họ cố tình lãng quên rằng, trong suốt thời kỳ dài từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, các chí sĩ yêu nước Việt Nam đã từng thử nghiệm những con đường giải phóng dân tộc, phát triển đất nước khác nhau, trong đó có con đường tư bản chủ nghĩa, nhưng tất cả đều không thành công. Trước tình hình đó, đất nước và nhân dân đòi hỏi một con đường khác, con đường dẫn nhân dân Việt Nam đến độc lập, tự do, hạnh phúc thật sự mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh và Đảng ta đã khai mở từ mùa xuân năm 1930.

Một biểu hiện khác của thái độ thờ ơ, dao động đối với tư tưởng XHCN là phủ nhận giá trị bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới. Có người lập luận rằng, học thuyết do C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin sáng lập là kết quả của việc tổng kết lịch sử châu Âu thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 nên không còn sức sống trong thời đại mới. Học thuyết đó chỉ là sản phẩm của thời đại công nghiệp, không còn phù hợp trong thời đại toàn cầu hóa, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo... Thực chất đây là sự phủ nhận toàn bộ giá trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-một biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra.

“Quy luật tiến hóa của lịch sử” đang hiện diện sinh động ở Việt Nam

Điều kiện bảo đảm cách mạng thành công, xây dựng thành công CNXH trên đất nước ta là trước hết phải có Đảng. Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng và xây dựng CNXH ở nước ta; Đảng phải lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng. Do đó, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đến công tác xây dựng Đảng; yêu cầu Đảng phải nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng, trí tuệ, vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng CNXH vào hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam.

Kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đến nay, đã có nhiều hội thảo bàn luận khá sôi nổi về khả năng và triển vọng của CNXH; trong đó, đáng tiếc là có một số ý kiến của cán bộ, đảng viên có biểu hiện hoài nghi về tương lai của chế độ XHCN. Vào những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, trước sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, với bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

Về sự lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam, Văn kiện Đại hội VII của Đảng (năm 1991) chỉ rõ: Đây là “sự lựa chọn của chính lịch sử”; gắn liền với tư duy sáng tạo, hợp logic và nhất quán của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Đến Đại hội XI của Đảng, trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Việc xác định những đặc trưng cơ bản trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” đã phản ánh tổng quát, toàn diện quan niệm về CNXH của Đảng ta, là sự kiên định, hiện thực hóa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CNXH trong điều kiện mới của đất nước.

Phê phán, đẩy lùi thái độ thờ ơ, dao động về tư tưởng XHCN

Nhìn từ góc độ bản chất, niềm tin CNXH chính là niềm tin khoa học, phát triển trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, gắn bó chặt chẽ với hoạt động của những người cộng sản. Trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, những người cộng sản luôn phấn đấu vì hạnh phúc của toàn thể nhân loại, nhân dân lao động, vì lợi ích của giai cấp và dân tộc. Do đó, xét đến cùng, niềm tin CNXH mang bản chất giai cấp công nhân sâu sắc, là sự thống nhất và biện chứng của tri thức-niềm tin-tình cảm-ý chí-hành động. Đặc trưng cơ bản nhất của niềm tin CNXH là sự nhận thức đúng đắn các quy luật phổ biến và quy luật đặc thù trong sự phát triển của tự nhiên và xã hội. Có niềm tin về CNXH, cán bộ, đảng viên luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Hiện nay, vẫn còn tình trạng một số cán bộ, đảng viên thờ ơ, dao động với nhiều vấn đề của xã hội, trong đó có thờ ơ, dao động với tư tưởng CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đây chính là kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Bởi các thế lực thù địch luôn ráo riết đẩy mạnh hoạt động chống phá những nước CNXH, trong đó có Việt Nam. Chúng tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” với nhiều thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tư tưởng, lý luận, với mục tiêu phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và thành tựu sự nghiệp xây dựng CNXH của Việt Nam. Tính chất thâm độc của các thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trong những năm gần đây là triệt để lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội với các chiêu trò “đổi trắng thay đen”, đưa các thông tin đúng-sai lẫn lộn và xây dựng các “ngọn cờ” chống phá từ bên trong, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nếu cán bộ, đảng viên thờ ơ, dao động sẽ dễ sa vào những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch.

Trước tình hình trên, việc làm rõ con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là cơ sở phản bác thuyết phục, đanh thép các luận điệu sai trái, thù địch; củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới theo định hướng CNXH nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Hiện nay, đa số cán bộ, đảng viên là những người có tri thức, được học tập, công tác, lao động trong điều kiện thuận lợi, do đó, cần hết sức tỉnh táo trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc về CNXH và con đường đi lên CNXH dưới những hình thức khác nhau, trên những diễn đàn khác nhau, nhất là internet và mạng xã hội. Khi thấy những thông tin trên mạng xã hội, cần tỉnh táo nhận diện nguồn tin, tránh bình luận, chia sẻ tùy tiện. Điều này vô tình tuyên truyền cho các luận điệu sai trái, thù địch. Bên cạnh đó, cán bộ, đảng viên cũng cần biết lợi dụng thế mạnh của internet, mạng xã hội để tuyên truyền, lan tỏa những thông tin tốt về tính ưu việt của CNXH, sự đúng đắn của con đường đi lên CNXH ở Việt Nam theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Đối với cán bộ, đảng viên có trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị cao, cần nêu cao tinh thần đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch thông qua việc viết bài trên các sách, báo, tạp chí hay tham gia những diễn đàn báo chí, phát thanh, truyền hình, mạng xã hội... Những sản phẩm đấu tranh trực diện đó thường có tính lan tỏa mạnh mẽ đối với cán bộ, đảng viên, tác động trực tiếp đến tâm lý, tư tưởng và định hướng dư luận trong cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Thái độ thờ ơ, dao động của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tư tưởng XHCN là đáng phê phán và cần có những biện pháp để chấn chỉnh kịp thời, nếu không xử lý dứt điểm dễ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc loại bỏ thái độ thờ ơ, dao động của một số cán bộ, đảng viên về tư tưởng CNXH là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN trong tình hình hiện nay.