Chủ Nhật, 24 tháng 9, 2023

Nhận diện, đấu tranh với biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân - từ chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân của Đảng ta hiện nay

 TCCS - Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân nói riêng; Người đã đưa ra nhiều chỉ dẫn quan trọng về chống chủ nghĩa cá nhân. Trong bối cảnh mới, tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống chủ nghĩa cá nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là cơ sở để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, xứng đáng với niềm tin và sự kỳ vọng lớn lao của quần chúng nhân dân.

Hội Chữ thập đỏ tỉnh Hòa Bình triển khai chương trình “Chung tay vì sức khỏe cộng đồng” tổ chức phiên chợ nhân đạo, nhằm giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn_Ảnh: TTXVN

Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân

Bản chất của chủ nghĩa cá nhân

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh, đặc thù đối tượng để chỉ rõ, nêu ví dụ hoặc đưa ra những so sánh phù hợp mô tả, giúp mọi người hiểu thế nào là chủ nghĩa cá nhân. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng thuật ngữ chủ nghĩa cá nhân, Người so sánh “chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc”(1), “là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác”(2); “là kẻ địch nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội”(3)... Mặt khác, Người chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa cá nhân là tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, tách rời, coi thường và đối lập với lợi ích chung của tập thể, cộng đồng, xã hội; thể hiện tập trung ở khuynh hướng cực đoan, làm cho lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, cộng đồng, trái ngược với yêu cầu chăm lo đến lợi ích cá nhân chính đáng; sẵn sàng “đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc”(4) và “chủ nghĩa cá nhân, lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác”(5).

Như vậy, chủ nghĩa cá nhân là hệ thống quan điểm, thái độ, hành vi của chủ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu lợi ích của chủ thể ấy trên cơ sở tuyệt đối hóa vai trò và lợi ích cá nhân, tách rời và đối lập, làm tổn hại đến lợi ích của cộng đồng, xã hội.

Biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân

Qua nhiều tác phẩm, bài phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa cá nhân, bởi những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân rất đa dạng, biến hóa “muôn hình vạn trạng”. Tổng hợp các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể khái quát biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân bằng 10 “căn bệnh” sau:

1- Bệnh quan liêu: nghĩa là trong công việc thì trọng hình thức mà không xem xét toàn diện, không vào sâu vấn đề, không sát với công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng.

 2- Bệnh tham lam: “bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”(6), trong những trường hợp nhất định thường sinh ra tham ô, lãng phí, đây là một thứ “giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm”, là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân.

3- Bệnh lười biếng: “không chịu khó học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ”(7) và còn là lười suy nghĩ, ngại làm việc, lười đổi mới, sáng tạo,...

4- Bệnh kiêu ngạo: những người mắc bệnh này thường nghĩ rằng cái gì họ cũng biết, cũng làm được, dẫn đến coi thường tổ chức “xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng mà chỉ muốn làm thầy quần chúng”(8).

5- Bệnh hiếu danh: theo Người, “những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”(9).

6- Bệnh “hữu danh vô thực”: loại bệnh này có biểu hiện là “làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch”(10).

7- Bệnh cận thị: nghĩa là chỉ để ý đến cái nhỏ, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng, “không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ”(11).

8- Bệnh tị nạnh: nghĩa là luôn so sánh hơn thiệt giữa mình với người khác, luôn đòi hỏi sự bình đẳng nhưng thực chất họ “không hiểu rằng: Người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ. Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít. Thế là bình đẳng”(12).

9- Bệnh xu nịnh: biểu hiện của căn bệnh này là “trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu(13); “theo gió bẻ buồm, không có khí khái”(14).

10- Bệnh a dua và kéo bè kéo cánh: biểu hiện của căn bệnh này là chỉ dùng những người bảo vệ lợi ích của mình (dù không có tài); ham dùng người nhà, anh em quen biết, bè bạn; những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực,...

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thứ bệnh trên đều do một thứ “vi trùng độc” là chủ nghĩa cá nhân sinh ra; tất cả cán bộ, đảng viên mắc các loại bệnh này là sa vào chủ nghĩa cá nhân và đều có tội với Đảng, với nhân dân.

Sự cần thiết phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân

Trước tiên, chống chủ nghĩa cá nhân nhằm mục tiêu xây dựng và rèn luyện đạo đức cách mạng; đồng thời, phát hiện và loại bỏ “căn bệnh” này khỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trước yêu cầu phát triển của cách mạng, nếu cán bộ, đảng viên không được giáo dục, tổ chức tốt, không tự rèn luyện tốt thì sẽ nảy sinh những tiêu cực, thoái hóa xuất phát từ chính chủ nghĩa cá nhân. Do vậy, “để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng”(15), chúng ta phải kịp thời phát hiện và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên quan điểm: “chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, nếu nó còn lại trong mình, dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”(16). Vì vậy, để xây dựng và hoàn thiện giá trị đạo đức cách mạng thì nhất thiết phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, đồng thời nuôi dưỡng, bồi đắp tinh thần tập thể.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu “chống”, mà còn phải “trừ bỏ, quét sạch, tiêu diệt” chủ nghĩa cá nhân. “Xây” và “chống” có mối quan hệ hữu cơ với nhau ở chỗ xây dựng đạo đức cách mạng đi đôi với đấu tranh loại bỏ và chống ảnh hưởng xấu của chủ nghĩa cá nhân; xây dựng đạo đức mới, đạo đức xã hội chủ nghĩa gắn liền với việc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và các tàn dư tư tưởng. Người phân tích, ví như chúng ta mua sắm được bộ bàn ghế, giường tủ mới, thì trước khi kê vào phòng, cần phải quét dọn nhà cửa sạch sẽ đã. Do đó, phải “quét sạch” hết chủ nghĩa cá nhân ra khỏi tư tưởng của từng cán bộ, đảng viên thì mới có thể xây dựng được đạo đức cách mạng, con người mới.

Thứ hai, chống chủ nghĩa cá nhân góp phần xây dựng xã hội mới tốt đẹp, đúng bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, cần xây dựng xã hội mới, một xã hội “cần, kiệm, liêm, chính”. Xuất phát từ mục tiêu của cách mạng là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận diện kẻ thù nguy hiểm nhất, trực tiếp nhất là chủ nghĩa cá nhân. Theo Người, “chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(17). Nói cách khác, “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ nghĩa... Muốn thành người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, phải chống chủ nghĩa cá nhân”(18), bởi chủ nghĩa xã hội hướng tới giải phóng con người khỏi áp bức, bất công và xây dựng nền dân chủ thật sự gắn với sự công bằng, văn minh vì lợi ích chân chính của cộng đồng.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) chỉ rõ: “nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở... Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”(19). Đây chính là những biểu hiện tập trung nhất của “căn bệnh” chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Do đó, chủ nghĩa cá nhân chính là kẻ địch “nội xâm” của những người cộng sản, là “kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”(20).

Quán triệt quan điểm về chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều văn bản quan trọng để cụ thể hóa chủ trương của Đảng về công tác xây dựng Đảng(21). Để thực hiện tốt quyết tâm chính trị đó, trên cơ sở quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân, Đảng và Nhà nước ta trong thời gian tới cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản trong thời gian tới:

Nhóm giải pháp về tổ chức đảng

Trước tiên, “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”(22). Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân chỉ thực sự hiệu quả khi mỗi cán bộ, đảng viên hiểu rõ mục tiêu, lý tưởng, đường lối của Đảng; tiêu chuẩn, tư cách đạo đức của người cộng sản. Yêu cầu đặt ra là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải chú trọng công tác giáo dục nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên qua tổ chức học tập chính trị kết hợp với rèn luyện trong thực tiễn. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị(23); việc quán triệt phải song song với tuyên truyền sâu, rộng để cán bộ, đảng viên hiểu rõ mục đích, yêu cầu, tính chất quan trọng của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, từ đó tạo ra sự đồng thuận, quyết tâm, tự giác đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân ở mỗi cán bộ, đảng viên.

Thứ hai, “phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên”(24) nhằm tạo sự thống nhất về ý chí và hành động, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Tự phê bình và phê bình phải được thực hiện một cách thường xuyên, nghiêm túc và có lý, có tình. Đồng thời, Đảng ta cần phát huy vai trò của nhân dân trong hoạt động giám sát, lên án và phê bình cán bộ, đảng viên có biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; có cơ chế khuyến khích việc phát hiện và tố giác hành vi, biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân bằng việc mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho người dân; làm tốt công tác tiếp nhận, xử lý thông tin và bảo vệ người tố cáo.

Thứ ba, thực hiện “sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc”(25) và “kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh”(26). Bởi, chi bộ là tổ chức tế bào của Đảng, tạo thành nền tảng của Đảng, là nơi thể hiện đầy đủ các mặt hoạt động và sức chiến đấu của Đảng. Do đó, yêu cầu đặt ra trong sinh hoạt chi bộ là mỗi cán bộ, đảng viên phải chấp hành đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Mỗi đảng viên phải chịu sự quản lý của chi bộ, tham gia sinh hoạt chi bộ nghiêm túc dù ở bất kỳ cương vị công tác nào. Đồng thời, việc thi hành kỷ luật Đảng phải nghiêm minh, tránh bao che hoặc trù dập, trả thù lẫn nhau; kiên quyết sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phần tử cơ hội, thực dụng, mang nặng chủ nghĩa cá nhân.

Thứ tư, để chống chủ nghĩa cá nhân thì “công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”(27), nhằm thể hiện tính răn đe đối với cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Vì vậy, công tác kiểm tra phải được tiến hành một cách có tổ chức, bài bản và khoa học. Không để tạo ra “vùng cấm”, không “ưu tiên” bất cứ cá nhân và tổ chức nào, không mắc “bệnh thành tích”, “bệnh hình thức” trong kiểm tra. Để công tác kiểm tra của Đảng phát huy hiệu quả, cần chú trọng kiểm tra, đánh giá năng lực, phẩm chất đạo đức người đứng đầu trong công tác lãnh đạo, quản lý; đồng thời, tiến hành kiểm tra, đánh giá thái độ tích cực của cán bộ, đảng viên với công việc, với nhân dân; kiểm tra, đánh giá kết quả tu dưỡng đạo đức, lối sống và kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao của cán bộ, đảng viên.

Cán bộ, đảng viên hướng dẫn đồng bào Pa Dí ở xã Tung Chung Phố, huyện biên giới Mường Khương, tỉnh Lào Cai kỹ thuật trồng quýt cho giá trị kinh tế cao_Ảnh: TTXVN 

Nhóm giải pháp về sự tự ý thức rèn luyện của cán bộ, đảng viên

Trước tiên, mỗi cán bộ, đảng viên cần xác định một cách rõ ràng trong nhận thức, “phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”(28) và “phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”(29). Mỗi cán bộ, đảng viên không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc, cho nhân dân; nếu khi lợi ích chung của Đảng, của Tổ quốc mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân thì sẵn sàng hy sinh lợi ích của cá nhân; kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân.

Thứ hai, cán bộ, đảng viên “phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân”(30). Bởi lẽ, Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và cả dân tộc. Đảng chỉ có sức mạnh nếu giữ vững được mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Muốn làm cho quần chúng phấn khởi, tin tưởng, người đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân; không lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh, ra oai.

Thứ ba, cán bộ, đảng viên “phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”(31). Mỗi cán bộ, đảng viên cùng với đạo đức cách mạng còn phải có năng lực và trình độ, vì có năng lực mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phải ra sức học tập nâng cao hiểu biết về đường lối, chủ trương của Đảng và trình độ chuyên môn; có thái độ và phương pháp học tập đúng đắn, lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải đi đôi với hành.

Nhóm giải pháp bảo đảm về điều kiện, môi trường làm việc

Trước tiên, huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm an sinh xã hội. Bởi, kinh tế - xã hội phát triển, chất lượng cuộc sống được bảo đảm, nguồn vốn tích lũy không ngừng tăng cao là điều kiện thuận lợi để hạn chế sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân hiệu quả. Để huy động tối đa mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, năng lực nội tại và tính tự chủ của nền kinh tế; phát triển kinh tế nhanh và bền vững, góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân...

Thứ hai, xây dựng và triển khai thực hiện quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức công vụ của cán bộ, đả#ng viên. Các chuẩn mực và quy tắc ứng xử công vụ cần được xây dựng theo hướng hài hòa giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, tăng cường tính công tâm và thanh liêm trong giải quyết công vụ; đồng thời, xây dựng quy định về xử lý kỷ luật. Các quy tắc đạo đức phải hướng vào điều chỉnh việc nhận quà biếu, cấm hối lộ và các hình thức lạm dụng công quyền để thu vén lợi ích cá nhân.

Thứ ba, xây dựng môi trường làm việc thân thiện, đoàn kết, tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ, đảng viên yên tâm công tác, rèn luyện và phấn đấu. Xây dựng và phát huy lối sống “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội; sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, phù hợp thuần phong mỹ tục Việt Nam. Kịp thời ngăn chặn thông tin sai trái tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên, nhất là trên không gian mạng. Tăng cường quản lý và định hướng thông tin, kịp thời ngăn chặn thông tin xấu, độc, thông tin cổ xúy lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân trên không gian mạng.

Thứ tư, phải “có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín với nhân dân”(32).

1- Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực đủ sức ngăn chặn các hành vi lạm quyền, chuyên quyền, sử dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân. Xây dựng chế độ giám sát quyền lực thông qua các hình thức: chế độ giám sát của Hội đồng nhân dân, chế độ giám sát trong nội bộ Đảng, chế độ giám sát trong bộ máy nhà nước; có cơ chế khuyến khích người phát hiện và tố giác hành vi, biểu hiện chủ nghĩa cá nhân bằng việc mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho người dân.

2- Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước. Tăng cường và nâng cao hiệu quả việc lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài... Nâng cao chất lượng công tác đánh giá đúng, chính xác chất lượng cán bộ để biết đâu là cán bộ tốt, đâu là cán bộ yếu kém, vi phạm để sàng lọc; nếu vi phạm nghiêm trọng thì loại bỏ. Đồng thời, thực hiện nghiêm Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”.

3- Xây dựng chế tài đủ mạnh đối với hành vi cố ý “không làm” của các cơ quan công quyền, của đội ngũ cán bộ, đảng viên có quyền quyết định chính sách khi họ có đủ thông tin về một chính sách có lợi cho đất nước, cho nhân dân, nhưng cố tình trì hoãn hoặc không quyết định vì mục đích vụ lợi cá nhân, lợi ích nhóm./.

Tư tưởng “trọng dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bài học trong xây dựng chính quyền vì nhân dân phục vụ hiện nay

 TCCS - Tư tưởng “trọng dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nội dung cơ bản, quan trọng và xuyên suốt trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Người, đến nay vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Việc nghiên cứu và vận dụng tư tưởng “trọng dân” của Người trong xây dựng chính quyền vì nhân dân phục vụ có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội XIII của Đảng đề ra.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ với người dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh_Ảnh: TTXVN

Nội dung tư tưởng “trọng dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhân dân: Trên cơ sở kế thừa truyền thống dân tộc và văn hóa nhân loại, Người đã đưa ra quan niệm về dân với nội hàm rất rộng và chủ yếu đề cập đến nhân dân Việt Nam, Người thường gọi nhân dân bằng nhiều cách gọi khác nhau, như “dân”, “dân ta”, “dân chúng” hay “đồng bào”, thể hiện sự gần gũi và dễ hiểu. Theo Người, dân là tập hợp đa số những người khác nhau về dân tộc, tôn giáo, giới tính, giai tầng khác nhau, sống ở trong nước hay ở nước ngoài, không phân biệt giống nòi, trai gái, giàu nghèo, tôn giáo. Trong điều kiện là một nước nông nghiệp, thuộc địa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ yếu đề cập đến lực lượng trực tiếp sản xuất, có tiềm lực vật chất và tinh thần to lớn, đó là những người dân lao động, bao gồm công nhân, nông dân, trí thức; Người chỉ rõ: “Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử khác yêu nước”(1). Trong nhiều bài viết, bài phát biểu, Người đề cập đến nhân dân với nội hàm là mọi người dân nước Việt, là mỗi người con Rồng cháu tiên, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, giàu nghèo, quý tiện, trong đó công nông chiếm tuyệt đại đa số. Đó là nền tảng của quốc dân.

Mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân biệt sự khác nhau giữa quốc dân và nhân dân. Quốc dân là mọi người Việt Nam chung gốc tích, văn hóa, lịch sử, không phân biệt trong đó tính chất tiến bộ hay phản động. Người cho rằng: “Nhân dân và quốc dân khác nhau. Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử khác yêu nước. Đó là nền tảng của quốc dân. Những bọn phản động chưa đến nỗi bị xử tử, vẫn là quốc dân. Nhưng chúng không được ở trong địa vị nhân dân, không được hưởng quyền lợi như nhân dân. Chúng không có quyền tuyển cử, ứng cử; không có quyền tổ chức tuyên truyền, v.v.. Song chúng cần phải làm tròn nghĩa vụ, như phục tùng trật tự, tuân theo pháp luật của nhân dân”(2). Như vậy, dân trong quan điểm của Người là tập hợp tất cả người Việt Nam thuộc các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, chủ yếu là những người lao động, nhưng không bao hàm những kẻ tay sai, bán nước, phản động, xâm hại lợi ích quốc gia, dân tộc. Quan niệm về dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kế thừa tư tưởng “trọng dân”, thân dân trong lịch sử và phù hợp với quan điểm của các nhà lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã chỉ ra khi khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân.

Đề cao vai trò và sức mạnh của nhân dân: Từ khi có xã hội loài người đến nay, lịch sử xã hội là do quần chúng nhân dân sáng tạo, xây dựng và là động lực thúc đẩy lịch sử tiến lên không ngừng. Mọi sự kiện lớn lao hay các cuộc cách mạng xảy ra trong xã hội đều có sự ủng hộ, tham gia tích cực của đông đảo quần chúng nhân dân. Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, đã hình thành tư tưởng “trọng dân”, coi dân là gốc, chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân.

Tiếp thu tinh hoa của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh tư tưởng “trọng dân” trong nhiều bài nói, bài viết và thực hành trong thực tiễn cách mạng theo chân lý “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”(3). Người nhiều lần khẳng định tư tưởng lấy dân làm gốc, “Gốc có vững cây mới bền, Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(4); có lực lượng dân chúng thì việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được.

Vai trò, sức mạnh của nhân dân càng được phát huy, nhân lên gấp bội khi được tập hợp lực lượng hùng hậu, kết thành một khối thống nhất. Theo Người, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(5). Có thể thấy, Người đặt nhân dân ở vị trí trung tâm, sánh cùng trời, đất và xác định rõ không có gì quý bằng nhân dân; không có gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân và cũng không có gì chống được dân chúng - “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”(6). Từ việc tổng kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến khẳng định một nguyên lý sâu sắc: Có dân là có tất cả, mất dân là mất hết, “Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác”(7).

Chính vì đề cao, coi trọng vai trò, sức mạnh của dân nên Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “đối với dân, ta đừng có làm gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy”(8), bởi “Ý dân là ý trời. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại. Đó là lời nói chí lý của thánh hiền đời xưa”(9).

Coi trọng và xác định nhân dân là mục tiêu, động lực của cách mạng: Đây là một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng “trọng dân” Hồ Chí Minh, bởi dân là điểm xuất phát và cũng là điểm đến cuối cùng trong toàn bộ quan điểm và hoạt động cách mạng của Người. Ngay từ sớm, khi chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, nhân dân lầm than nô lệ, các khuynh hướng cứu nước của các bậc tiền bối thất bại, Người dần hình thành chí hướng cứu nước gắn liền với cứu dân và quyết định ra đi tìm đường cứu nước; từ đó, thâm nhập sâu rộng vào đời sống của nhân dân (công nhân, nông dân) ở các nước chính quốc và thuộc địa để thấu hiểu, thấu cảm và khơi dậy tinh thần đấu tranh giải phóng khỏi ách áp bức nô lệ. Toàn bộ sự nghiệp cách mạng, Người chưa bao giờ nguôi nghĩ đến nhân dân, “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”, đến khi về với thế giới người hiền, Người cũng “không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, từ những quan điểm mang tính chiến lược của cách mạng đến những mong muốn thiết thực hằng ngày, như tương, cà, mắm, muối, áo cho dân mặc, nhà cho dân ở... đều là mục tiêu cách mạng của Người. Từ nhận thức đến chủ trương, quan điểm, nghị quyết, cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tôn chỉ và chương trình hành động của Mặt trận, đoàn thể... đều hướng vào mục tiêu vì nhân dân; nhân dân là mục tiêu, lý tưởng của toàn bộ sự nghiệp cách mạng chứ không chỉ là vấn đề mang tính nhất thời. Trong đó, tập trung cốt lõi vào các vấn đề, như dân tộc độc lập, nhân dân tự do, đồng bào hạnh phúc, “Nhân dân luôn là tâm điểm của quá trình tư tưởng Hồ Chí Minh và sự quan tâm của Người đối với nhân dân không bị giới hạn trong các ranh giới địa lý. Mục đích của Người không chỉ là giải phóng đất nước mình khỏi sự thống trị ngoại bang mà trong chiều sâu tư tưởng của mình, bên cạnh mục đích giành độc lập dân tộc, Người còn mong ước đến sự công bằng, bình đẳng và no ấm cho nhân dân mình”(10). Mục tiêu mọi chính sách của Đảng và Nhà nước đều nhằm mục đích phục vụ nhân dân, cán bộ, đảng viên phải vì dân phục vụ.

Nhân dân không chỉ là lực lượng lao động chủ yếu, trực tiếp sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, mà còn là động lực thúc đẩy cách mạng phát triển. Người khẳng định: “Tất cả của cải vật chất trong xã hội, đều do công nhân và nông dân làm ra. Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống còn và phát triển”(11). Quần chúng nhân dân có mặt khắp mọi nơi, nếu được dẫn dắt bởi một tổ chức chính trị với đường lối đúng đắn, khoa học thì lực lượng quần chúng sẽ thành một khối thống nhất, có sức mạnh vô địch. Ngay từ khi hoạt động chính trị, Người đã nhận thấy “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến”(12). Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tổ chức và lãnh đạo giành được chính quyền về tay nhân dân, Người càng nhận thấy sức mạnh to lớn của nhân dân, không chỉ trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, mà còn trong xây dựng xã hội mới.

Nhân dân không chỉ đóng góp tài lực, vật lực để giúp đỡ cán bộ, đảng viên và tổ chức cách mạng, mà còn để tổ chức và giải quyết thắng lợi nhiệm vụ của các phong trào cách mạng. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, ở mỗi giai đoạn có những phong trào khác nhau được tổ chức nhằm giải quyết nhiệm vụ đặt ra. Không chỉ trong đấu tranh chống ngoại xâm, mà còn trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, thói quen và truyền thống lạc hậu. Các phong trào được tổ chức thành công đều có sự đóng góp rất lớn và hiệu quả của nhân dân. Thực tiễn cách mạng Việt Nam trong những ngày đầu giành được chính quyền, Người kêu gọi sự đóng góp của nhân dân, dựa vào nhân dân để giải quyết nạn đói, nhờ sự ủng hộ cơ sở vật chất, tiền của của nhân dân mà tổ chức phong trào diệt giặc dốt trên toàn quốc.

Nhân dân là người làm chủ chính quyền nhà nước: Sau khi nước nhà giành độc lập, xây dựng chính quyền nhà nước mới, Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(13). Trong Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục quán triệt và cụ thể hóa quan điểm “trọng dân” trong chính quyền nhà nước. Đó là “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(14).

Tư tưởng “trọng dân” trong xây dựng chính quyền nhà nước được thể hiện rõ trong những nội dung cơ bản của Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước của dân là Nhà nước dân là chủ và dân làm chủ. Dân làm chủ nghĩa là tất cả quyền lực trong nhà nước đều thuộc về nhân dân, người dân có quyền bầu ra người đại diện cho mình, kiểm soát nhà nước và có thể bãi nhiệm chức vụ khi họ không hoàn thành nhiệm vụ. Dân là chủ tức là người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm. Dân làm chủ và dân là chủ, nên cán bộ từ Trung ương đến cơ sở đều là công bộc, là “đầy tớ” của dân. Người nhiều lần nhấn mạnh: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”(15)Nhà nước do dân là nhà nước do nhân dân lập nên thông qua việc lựa chọn, bầu ra những vị đại biểu của mình và được dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để nhà nước hoạt động. Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu các cơ quan nhà nước phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. Muốn vậy, cán bộ, công chức phải tin dân, “trọng dân”, kính dân và không ngừng nâng cao ý thức trách nhiệm xây dựng nhà nước phục vụ nhân dân. Nhà nước vì dân là nhà nước hoạt động vì lợi ích của nhân dân, lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục tiêu. Một nhà nước vì dân là nhà nước có đội ngũ cán bộ từ người đứng đầu nhà nước đến công chức bình thường đều là công bộc, làm đầy tớ cho dân, chứ không phải làm quan cách mạng, đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Nói đi đôi với làm, Người là một tấm gương sáng về tận trung với nước, tận hiếu với dân, tận hiến cả cuộc đời cho cách mạng. Người nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, uỷ thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mục đích đó”(16).

Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ được sinh ra từ nhân dân, sống trong lòng dân và cuối đời lại về với nhân dân, “làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”. Người để lại cho toàn Đảng và toàn dân ta quan điểm về “trọng dân” hết sức giá trị cho công cuộc đổi mới đất nước nói chung, xây dựng chính quyền vì nhân dân phục vụ nói riêng hiện nay.

Vận dụng tư tưởng “trọng dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào xây dựng chính quyền vì nhân dân phục vụ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Tư tưởng “trọng dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận của Đảng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt thực tiễn cách mạng Việt Nam. Mọi chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng đều dựa vào nguồn lực và sức mạnh của nhân dân, do nhân dân và vì lợi ích của nhân dân. Trong hơn 37 năm đổi mới đất nước (1986 - 2023), Đảng ta luôn chú trọng xây dựng chính quyền vì nhân dân phục vụ và đã có những bước tiến mới. Giai đoạn 2021 - 2030, Đảng ta định hướng: “Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch...”(17).

Nền hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở được thể chế hóa trong thực tiễn đời sống xã hội. Từ năm 2012 đến nay, tổng số văn bản quy phạm pháp luật do các bộ ban hành là hơn 8.600 văn bản; mỗi năm các bộ trình Chính phủ ban hành hơn 140 nghị định hướng dẫn, đã thiết lập khuôn khổ thể chế cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa(18),... tạo thuận lợi cho người dân tham gia vào hoạt động của chính quyền, đồng thời tạo lập cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất cho tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương. Hệ thống hành chính nhà nước đã và đang được tiếp tục sắp xếp theo hướng tinh gọn, hiệu quả để phục vụ tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp. Các bộ, ngành và địa phương đã giảm được nhiều đầu mối bên trong mỗi đơn vị, đặc biệt là giảm trên 25% đơn vị sự nghiệp; giảm 3.980 đơn vị sự nghiệp; thực hiện tích cực việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã (đã giảm 8/713 đơn vị hành chính cấp huyện và 557/11.160 đơn vị hành chính cấp xã; 38.369/98.455 thôn, bản, tổ dân phố, tương ứng giảm 39%); về tinh giản biên chế gắn với sắp xếp tổ chức bộ máy: đã giảm trên 27.500 biên chế công chức (tương ứng giảm 10,01% so với năm 2015); giảm gần 243.000 biên chế viên chức (tương ứng giảm 11,98% so với năm 2015), và vượt so với mục tiêu giảm 10% mà Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17-4-2015, của Bộ Chính trị, “Về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức” đề ra đến năm 2021. Công chức từ cấp huyện trở lên giảm 40.000 người; giảm gần 148.000 cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở thôn, bản, tổ dân phố; hợp đồng lao động giảm gần 7.000 người(19).

Cán bộ Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an thành phố Hà Nội đến tận nhà dân để cấp căn cước công dân gắn chip_Nguồn: tuoitre.vn

Đội ngũ cán bộ, công chức được đào tạo ngày càng bài bản, có năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu công việc, có tinh thần trách nhiệm và tính chuyên nghiệp ngày càng cao, qua đó phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn. Công tác quản lý cán bộ, công chức hiệu quả hơn, như giảm thiểu cấp trung gian, giảm số lượng cán bộ lãnh đạo, tinh giản biên chế; thực hiện cơ cấu lại, từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, giảm chi phí hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động(20). Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII đánh giá: “Mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ngừng được hoàn thiện, vận hành theo cơ chế “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(21).

Tuy vậy, việc xây dựng nền hành chính vì nhân dân phục vụ đến nay vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển đất nước, bộc lộ một số hạn chế cần khắc phục, cụ thể: 1- Vẫn còn tình trạng nợ văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh đã có hiệu lực pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của các bộ, cơ quan ngang bộ, dẫn đến gây khó khăn trong công tác tổ chức thi hành luật; 2- Hệ thống hành chính nhà nước chưa thật sự tinh gọn, hiệu quả. Việc phân công, phân cấp, phân quyền giữa các ngành, các cấp chưa hợp lý, mạnh mẽ và đồng bộ; năng lực của một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương thiếu chặt chẽ; thực hiện đổi mới lề lối làm việc, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan nhà nước chưa đi vào thực chất...; 3- Công tác chỉ đạo, tổ chức thi hành pháp luật, cơ chế phối hợp giữa Chính phủ, các bộ, ngành với Ủy ban nhân dân các cấp hiệu quả chưa cao, “trong nhiều trường hợp, việc phối hợp còn tạo thêm nhiều tầng nấc trung gian, mất nhiều thời gian, tạo ra sự đùn đẩy trách nhiệm, ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công việc”(22).

Trong giai đoạn 2021 - 2030, Đảng ta định hướng: “Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch”(23). Để thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng này, cần tiếp tục vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng “trọng dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào xây dựng chính quyền vì nhân dân phục vụ ở các nội dung sau:

Thứ nhất, quán triệt quan điểm dân là chủ và dân làm chủ làm nguyên tắc chỉ đạo xây dựng chính quyền vì nhân dân phục vụ. Xây dựng chính quyền vì nhân dân phục vụ cần phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân trong hoạt động của Nhà nước. Đại hội XIII của Đảng khẳng định, cần “Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. “Tổ chức một cách có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ”(24). Muốn xây dựng chính quyền vì nhân dân, phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân và khuyến khích, động viên nhân dân sử dụng quyền công dân và làm tròn nghĩa vụ công dân; tham gia bầu đại biểu đại diện cho mình để thực thi chủ trương, chính sách và các hoạt động quản lý, phát triển xã hội của Nhà nước. Từ đó, quyết định của cơ quan nhà nước phản ánh và đáp ứng tốt hơn nguyện vọng của nhân dân, góp phần gia tăng sự hài lòng đối với cơ quan nhà nước. Mặt khác, phải không ngừng nâng cao dân trí, giáo dục ý thức chính trị của nhân dân tham gia tích cực vào các hoạt động của Nhà nước.

Thứ hai, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền là chủ, làm chủ của nhân dân trong các hoạt động hành chính của nền công vụ. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng phát huy tốt hơn các hình thức dân chủ trực tiếp của nhân dân, có cơ chế để nhân dân tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện.

Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức; động viên nhân dân tham gia phát triển kinh tế; quản lý và tự quản xã hội; xây dựng, quản lý, thụ hưởng văn hóa; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, ngoại giao nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân. Công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết, phản hồi ý kiến, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực trong bộ máy hành chính nhà nước, như quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí, thiếu trách nhiệm, có lời nói, hành xử thiếu chuẩn mực với nhân dân gây bức xúc xã hội. Đồng thời, xử lý nghiêm mọi hành vi lợi dụng dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý là cơ sở xây dựng Chính phủ điện tử tiến tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật theo hướng khoa học, hiện đại, chuyên nghiệp. Nêu cao trách nhiệm người đứng đầu trong xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Đây vừa là xu thế khách quan, vừa là yêu cầu đòi hỏi cấp thiết trong thời đại 4.0 hiện nay nhằm xây dựng chính quyền phục vụ nhân dân.

Thứ ba, tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức thật sự là công bộc của dân. Trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay, phải lấy tiêu chí phục vụ lợi ích nhân dân, hướng tới chân lý “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”(25). Thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức để họ trở thành những công chức chuyên nghiệp, thạo việc, công tâm và từng bước hoàn thiện tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức phù hợp với vị trí việc làm nhằm bảo đảm chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay. Giáo dục đội ngũ cán bộ, công chức phải gần dân, lắng nghe, tiếp thu và phản hồi ý kiến của nhân dân để vừa nắm bắt tâm tư tình cảm của dân, vừa kịp thời điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện nền công vụ trọng dân. Có cơ chế “khơi dậy tinh thần cống hiến vì đất nước, tạo động lực và áp lực để mọi cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, tận tụy phục vụ nhân dân;... bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”(26) theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng./.

Đấu tranh với “tà đạo” trên địa bàn vùng cao

Là trung tâm chính trị - kinh tế của vùng trung du miền núi Đông Bắc, cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ, Thái Nguyên cũng là địa bàn mà các phần tử xấu và thế lực thù địch tìm cách thâm nhập hoạt động, lôi kéo người dân tham gia tổ chức, hội nhóm tín ngưỡng, tôn giáo trái pháp luật.

Trước tình hình đó, lực lượng Công an tỉnh Thái Nguyên đã phát huy vai trò nòng cốt, tham mưu cấp uỷ, chính quyền địa phương các giải pháp bảo đảm ANTT vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đấu tranh, xoá bỏ các "tà đạo" trên địa bàn.

Xoá trắng "tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình"

Theo thống kê, tại Thái Nguyên có gần 300 cơ sở, địa điểm sinh hoạt tôn giáo hợp pháp với hơn 160.000 tín đồ, người theo đạo; có 3 tôn giáo chính là Phật giáo, Tin lành và Công giáo. Các địa điểm sinh hoạt tôn giáo tồn tại đan xen ở nhiều địa bàn khác nhau nhưng đều hoạt động theo quy định của pháp luật, các chức sắc tôn giáo đều tham gia đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Về đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Thái Nguyên chiếm gần 30% dân số toàn tỉnh, sinh sống tập trung chủ yếu ở 5 huyện miền núi, vùng cao là Định Hoá, Võ Nhai, Phú Lương, Đồng Hỷ và Đại Từ. Đặc thù phần lớn đồng bào cư trú phân tán, xen kẽ tại vùng núi với địa hình chia cắt phức tạp, nhiều nơi có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh, đời sống người dân còn khó khăn...

Trao đổi với phóng viên Báo CAND, Thượng tá Đào Việt Anh, Phó Trưởng phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Thái Nguyên cho biết, xuất hiện từ năm 1989 đến nay, "tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình" đã gây ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình ANTT và đời sống của đồng bào dân tộc Mông ở Thái Nguyên. Tính đến tháng 11/2021, trên địa bàn còn 13 xóm, 6 xã của hai huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai với 227 hộ, 1185 khẩu đồng bào dân tộc Mông tin theo tổ chức bất hợp pháp này.

Tuy nhiên, với quyết tâm chính trị cao nhằm đấu tranh, ngăn chặn, tiến tới xoá bỏ "tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình", lực lượng Công an tỉnh Thái Nguyên đã tham mưu cấp uỷ, chính quyền địa phương và là lực lượng nòng cốt trong việc đấu tranh, xoá trắng các điểm nhóm của tổ chức bất hợp pháp này, đến cuối năm 2022 đã tuyên truyền vận động tháo dỡ 8/8 nhà đòn, giao nộp 106 phông chữ biểu tượng; vận động các đối tượng cầm đầu, cốt cán ký cam kết từ bỏ tổ chức, đồng thời tuyên truyền, vận động 100% số hộ, số khẩu ký cam kết từ bỏ.

Bóc trần sự thật về "Bà Cô Dợ", tổ chức "Ân điển cứu rỗi"

Về hoạt động của đạo "Bà Cô Dợ" là do Vừ Thị Dợ (SN 1977), người Mông gốc Lào, trú tại TP Miwaukee, bang Wisconsin, Mỹ sáng lập năm 2016. Tổ chức này lợi dụng xuyên tạc một số câu, điều trong Kinh thánh Cựu ước, Tân ước để giảng dạy, tuyên truyền đạo. Vừ Thị Dợ tuyên truyền, con trai út của Dợ sinh ngày 23/11/2000 chính là Chúa Giêsu tái lâm lần hai, sẽ cai trị người Mông trong 1.000 năm, ai theo "Bà Cô Dợ" sẽ được chia tiền. Nhóm này sử dụng phần mềm Zoom chỉ đạo số đối tượng cốt cán trong nước tích cực tuyên truyền, lôi kéo người Mông tại Việt Nam tham gia, mục đích kích động tư tưởng ly khai, tự trị, tập hợp lực lượng lập "Nhà nước Mông".

Đấu tranh với “tà đạo” trên địa bàn xứ chè -0
Đối tượng Vừ Thị Dợ tuyên truyền kích động tư tưởng ly khai, tự trị, lập "Nhà nước Mông".

Đã có hàng trăm đối tượng người Mông ở các nước tham gia tổ chức, trong đó tại Việt Nam có 19 điểm người Mông ở các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai và Thái Nguyên tham gia. Đáng chú ý, tổ chức "Bà Cô Dợ" có một số hoạt động ảnh hưởng tới an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội như: kích động tư tưởng hẹp hòi dân tộc và chia rẽ dân tộc; chỉ đạo các đối tượng dùng Kinh Thánh để phản bác lại chính quyền đến tuyên truyền; yêu cầu tất cả tín đồ "không được tiêm vaccine phòng dịch bệnh COVID-19 vì sẽ làm giảm trí nhớ, gây hại cho sức khỏe con người", đồng thời "hướng dẫn cách thức đối phó với cơ quan y tế để không tiêm vaccine COVID-19", "mong muốn mọi người phải vững tin theo "Bà Cô Dợ" thì sẽ có đất nước của người Mông"...

Tính đến đầu năm 2022, tỉnh Thái Nguyên có 4 người dân tộc Mông là vợ chồng, chị em trong một gia đình tại xóm Chòi Hồng, xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai bị ảnh hưởng theo tổ chức này. Công an tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp cấp ủy, chính quyền huyện Võ Nhai tổ chức tuyên truyền, vận động, đến nay các đối tượng đã ký cam kết từ bỏ.

Đối với tổ chức "Ân điển cứu rỗi" (còn có tên gọi khác là "Ân điển đời đời" hoặc "Sự cứu rỗi đời đời") do ông Park Ock Soo (SN 1944), lập ra năm 1971 tại Hàn Quốc. Tổ chức này thông qua các hoạt động từ thiện, mời tham gia các khóa đào tạo giáo lý để lôi kéo người tham gia. "Ân điển cứu rỗi" được coi là dạng hệ phái đạo Tin lành, nhưng giáo lý có nhiều nội dung sai lệch Kinh thánh khi cho rằng, ông Park Ock Soo là hiện thân của Chúa Giêsu, tin theo "Ân điển cứu rỗi" mặc nhiên "được Chúa cứu rỗi, không còn tội khi vi phạm", cổ súy cho lối sống phóng khoáng, tự do, "sống trong tội lỗi mà không cần phải ăn năn và cảm thấy day dứt hối hận". Do đó, các tổ chức Tin lành chính thống tại Hàn Quốc và các nước coi "Ân điển cứu rỗi" là "tà giáo".

Thời gian qua, tổ chức này đã đẩy mạnh tuyên truyền, lôi kéo người tham gia dưới nhiều hình thức biến tướng của tôn giáo, có nhiều diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định về ANTT tại địa phương. Ở Thái Nguyên có 10 hộ/49 khẩu là người dân tộc Mông tin theo tổ chức "Ân điển cứu rỗi" trú tại xóm Đồng Dong, xã Phương Giao, huyện Võ Nhai đang bị ảnh hưởng. Hiện, Công an tỉnh Thái Nguyên đang chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ phối hợp chính quyền địa phương tổ chức đấu tranh xóa bỏ, không để tổ chức này lan rộng gây ảnh hưởng đến ANTT...

Kiên quyết xoá bỏ, không để các tổ chức tái hoạt động

Theo Thượng tá Đào Việt Anh, trước tình hình các tổ chức bất hợp pháp, đạo lạ xâm nhập địa bàn, Công an tỉnh Thái Nguyên chủ động tham mưu, đề xuất cấp uỷ, chính quyền các cấp chỉ đạo giải quyết; tham mưu Tỉnh uỷ, UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai, huy động hệ thống chính trị tham gia vận động, tuyên truyền bà con nhân dân từ bỏ, không tin, không nghe, không theo các luận điệu tuyên truyền của các tổ chức bất hợp pháp, "tà đạo", củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, thực hiện có hiệu quả các chính sách dân tộc, tôn giáo, gắn với an sinh xã hội, phát triển kinh tế - xã hội.

"Chú trọng gặp gỡ, tranh thủ người có uy tín trong dân tộc thiểu số và chức sắc tôn giáo để nắm bắt tình hình, tâm tư, nguyện vọng của bà con, giúp đỡ đồng bào từng tin theo, nay đã từ bỏ "tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình", "tà đạo Bà Cô Dợ", "Ân điển cứu rỗi"..., sinh hoạt lại các tín ngưỡng truyền thống hoặc tổ chức tôn giáo hợp pháp, đã được Nhà nước công nhận", anh chia sẻ. Đây cũng là giải pháp căn cơ, bền vững, tạo thuận lợi cho công tác bảo đảm ANTT trên địa bàn.

Đấu tranh với “tà đạo” trên địa bàn xứ chè -0
Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Thái Nguyên phối hợp tuyên truyền, vận động bà con huyện Võ Nhai không theo tổ chức "Bà Cô Dợ".

Đại uý Hoàng Anh Tuấn, Phó Đội trưởng Đội An ninh dân tộc, Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Thái Nguyên cho biết, CBCS trong đơn vị thường xuyên bám cơ sở để tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức chính trị cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là đồng bào Mông, giúp họ có "sức đề kháng" trước hoạt động tuyên truyền, lôi kéo của phần tử xấu. Đặc biệt, Đội có 3 CBCS người Mông am hiểu phong tục, tập quán đồng bào nên thuận tiện trong việc tiếp xúc, gặp gỡ tuyên truyền vận động bà con.

"Qua những lần "ba cùng", chúng tôi vận động đồng bào giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động tại địa phương, đồng thời đấu tranh xoá bỏ hoàn toàn "tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình", "Bà Cô Dợ", "Ân điển cứu rỗi", kiên quyết không để các tổ chức này tái hoạt động trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số" - Trung tá Hoàng Anh Thái, cán bộ người Mông của Đội An ninh dân tộc, Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Thái Nguyên nhấn mạnh.

Kiên quyết bác bỏ những luận điệu xuyên tạc cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay của Đảng ta

 Thời gian qua, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước do Đảng ta lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Mục đích của chúng là gây rối loạn đời sống chính trị, hạ thấp uy tín của Đảng ta, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Bài viết góp phần đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc “Các phe phái triệt hạ lẫn nhau trong Đảng” của các thế lực thù địch.

 Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước đang được Đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ, bất kể đó là ai và không có “hạ cánh an toàn”,… được nhân dân đồng tình ủng hộ và quốc tế ghi nhận. Một số trường hợp cán bộ lãnh đạo không đủ uy tín, năng lực lãnh đạo, quản lý hoặc để cơ quan cấp dưới tham nhũng… đã xin thôi giữ chức.

Mặc dù vậy, các thế lực thù địch đã ra sức tung tin, bình luận rằng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hay việc xin thôi chức của một số chức danh lãnh đạo cấp cao của Đảng là do “ép buộc”, chỉ là “cuộc chiến thanh trừng phe phái”, đấu đá, hạ bệ nhau, tranh giành chức quyền… Những luận điệu đó hoàn toàn sai trái, phản động và cần phải được đấu tranh loại bỏ. 

Với tâm lý, bản tính tò mò, muốn tìm kiếm thông tin khác lạ của công chúng; với khả năng dẫn dắt người nghe, các thế lực thù địch, phản động đã thuyết phục, làm phân tâm và tác động mạnh mẽ những tư tưởng tiêu cực đến nhiều người, trong đó có cả đảng viên, gây tâm lý hoang mang, dao động, bán tín, bán nghi, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Kẻ kém hiểu biết, thiếu trách nhiệm chính trị hoặc có những vấn đề bức xúc cá nhân thì mượn cớ, đồng tình, cổ súy cho các luận điệu xuyên tạc đó nhằm mục tiêu bôi nhọ, hạ thấp uy tín của các lãnh tụ, thực chất là hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Những âm mưu, hành động này nhằm mục tiêu xóa bỏ vai trò duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng, xóa bỏ chế độ chính trị của nước ta hiện nay.

Trước những thông tin xấu độc ấy, việc thông tin đầy đủ, kịp thời những hoạt động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó có việc xử lý kỷ luật đảng viên, nhất là đảng viên là lãnh đạo cao cấp của Đảng vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kể cả những người xin thôi chức vì những lý do khác nhau là cần thiết, đòi hỏi phân tích khách quan, khoa học, thuyết phục.

Trước hết, về lý luận, quan điểm và nguyên tắc xây dựng Đảng

Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản nhất trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Mọi quyết định quan trọng theo thẩm quyền của Đảng đều thuộc về tập thể lãnh đạo, theo đa số trên cơ sở dân chủ, công khai bàn bạc, thảo luận và theo những quy trình nhiều bước, thông qua nhiều cấp, nhiều khâu (đánh giá, quy hoạch, lấy phiếu tín nhiệm…) để lựa chọn cán bộ có phẩm chất, năng lực nổi trội và uy tín. Nguyên tắc tập trung dân chủ không cho phép một người hay một nhóm người nào thao túng, áp đặt, kể cả người đó đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng. 

Các quy định của Đảng nghiêm cấm mọi hành vi mua chuộc hay áp đặt, vận động hay đe dọa, trù dập người có ý kiến khác với tập thể, khác với người đứng đầu. Các bước trong quy trình của công tác cán bộ, đặc biệt là khâu đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử được quy định cụ thể, nhiều bước, nhiều chủ thể đánh giá, góp ý công khai và lấy phiếu tín nhiệm nên khó có thể lợi dụng phe nhóm để “hạ bệ” nhau.

Để trong sạch, vững mạnh, Đảng phải thường xuyên đấu tranh tự phê bình và phê bình. Đây là quy luật tồn tại của mỗi tổ chức làm cho ưu điểm của mỗi tổ chức, mỗi người được phát huy, khuyết điểm được khắc phục, sửa chữa và bớt đi. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Tự phê bình là cá nhân (cơ quan hoặc đoàn thể) thật thà nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, để người khác giúp mình sửa chữa, mà cũng để người khác biết mà tránh những khuyết điểm mình đã phạm. Phê bình là thấy ai (cá nhân, cơ quan, đoàn thể) có khuyết điểm thì thành khẩn nói cho họ biết để họ sửa chữa, để họ tiến bộ”(1).

Trong thực tiễn cách mạng Việt Nam và trải qua 93 năm xây dựng Đảng, tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, trở thành nguyên tắc hoạt động của Đảng. Đó là sự ngăn chặn từ sớm, từ xa những hành vi thiếu chuẩn mực của cán bộ, đảng viên, là biện pháp quan trọng, thường xuyên để ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Đồng thời, để phát hiện những sai phạm của cán bộ, đảng viên, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng cũng trở thành công cụ hữu hiệu để làm trong sạch Đảng. Đây cũng là quy luật tồn tại của Đảng, vì Đảng như một cơ thể sống, vừa phải thường xuyên kết nạp những người đủ tư cách vào Đảng, tạo sinh lực mới để tiếp nối sự nghiệp cách mạng, vừa phải sàng lọc, loại bỏ những phần tử thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng. Kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trở thành một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng không thể thiếu, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền, hầu hết những vị trí chủ chốt của chính quyền do các đảng viên nắm giữ, dễ có nguy cơ quan liêu, xa dân và tham nhũng, tiêu cực.

Để phòng, chống tham nhũng, thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là yêu cầu khắc phục những khuyết điểm nhức nhối, kéo dài trong công tác cán bộ, Đảng đã bổ sung, hoàn thiện và ban hành nhiều văn bản như: Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương “về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””; Kết luận số 14-KL/TW ngày 22-9-2021 của Bộ Chính trị “về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”; Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23-9-2019 của Bộ Chính trị “về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”; Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương “về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”; Quy định số 41-QĐ/TW ngày 3-01-2021 của Bộ Chính trị “về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”; Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương “về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng”; Thông báo kết luận số 20-TB/TW ngày 8-9-2022 của Bộ Chính trị “về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật”…

Đây là những chủ trương đúng đắn của Đảng. Đại hội XIII của Đảng đã xác định một trong ba giải pháp đột phá về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và là giải pháp đột phá đầu tiên, đó là “Tiếp tục hoàn thiện thể chế về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, nhất là công tác tổ chức, cán bộ”(2).

Thứ hai, về thực tiễn

Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển của Đảng, khó tránh khỏi có một bộ phận đảng viên do thiếu rèn luyện về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, suy thoái, tham nhũng phải xử lý kỷ luật bằng các hình thức khác nhau, trong đó có khai trừ ra khỏi Đảng và xử lý hình sự nếu vi phạm pháp luật của Nhà nước.

Những nhiệm kỳ Đại hội gần đây, nhất là từ Đại hội XII, số đảng viên bị xử lý kỷ luật tăng, kể cả đảng viên giữ cương vị lãnh đạo cao cấp. Hàng loạt cán bộ, không kể đương chức hay đã nghỉ hưu, cấp caohay thấp, khóa này hay khóa trước, nếu kiểm tra phát hiện sai phạm thì tùy mức độ mà bị xử lý kỷ luật theo các quy định của Đảng và xử lý hình sự theo pháp luật của Nhà nước. 

Với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, được đông đảo đảng viên và nhân dân ủng hộ, những năm gần đây, số đảng viên vi phạm được phát hiện nhiều hơn và bị xử lý kỷ luật nghiêm hơn. Trong số đảng viên là cán bộ diện Trung ương quản lý, nhiệm kỳ Đại hội XI xử lý kỷ luật 11 người, đến nhiệm kỳ Đại hội XII là 113 người và từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, hơn 70 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý đã bị kỷ luật, trong đó, lần đầu tiên, Trung ương khai trừ 03 Ủy viên Trung uơng Đảng đương nhiệm. Điều đó cho thấy quyết tâm phát hiện, xử lý vi phạm, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng.

Vậy nhưng, các thế lực thù địch lại rêu rao, vu khống là trong Đảng đang “hạ bệ”, “thanh trừng” lẫn nhau, nhất là ở cấp cao. Chúng thêu dệt rằng có hiện tượng “phái này” đang chống “phái kia”, bằng sự “phân tích công phu” với những lời lẽ bịa đặt. 

Trên thực tế, cũng có những điểm mới so với trước đây khi có quy định về từ chức, miễn nhiệm. Một số cán bộ tuy khuyết điểm chưa đến mức phải xử lý kỷ luật nhưng đã xin thôi giữ chức do uy tín giảm sút, để cơ quan, đơn vị, lĩnh vực mà mình phụ trách tham nhũng, tiêu cực, gây thiệt hại lớn cho nhân dân, đất nước, làm cho tình hình xã hội bất ổn. Đây là nét văn hóa mới trong lãnh đạo các cấp - điều mà nhân dân mong đợi cán bộ phải liêm sỉ, giữ gìn nhân cách. 

Lợi dụng thực tế này, các thế lực thù địch rêu rao về cái gọi là “chiến dịch thanh trừng trong Đảng”, sự “trỗi dậy”, “củng cố quyền lực” của phe này hay sự “thất bại”, “hết thời” của phe kia v.v.. Cần nhắc lại rằng, việc quyết định khai trừ khỏi Đảng đối với đảng viên là cán bộ cấp cao là quyết định của Ban Chấp hành Trung ương nên không dễ tồn tại phe phái để “lái” theo ý kiến của “phe nhóm” nếu không bằng những căn cứ chính trị, pháp lý thuyết phục. Điều này cũng được thông tin kịp thời, công khai trong Đảng và toàn xã hội, được đảng viên và nhân dân đồng tình, tin tưởng.

Khi khuyết thiếu một số chức danh lãnh đạo, việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vào chức danh đó là việc hoàn toàn bình thường. Những người được bổ nhiệm, giới thiệu đều là những người có trong quy hoạch, thực hiện theo đúng quy định, quy trình, phát huy trí tuệ tập thể, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, bàn bạc dân chủ, thấu đáo, quyết định tập thể với sự nhất trí cao. Vậy nhưng, các thế lực thù địch vẫn khai thác những thông tin thất thiệt, suy luận, thậm chí bịa đặt hoàn toàn để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của lãnh đạo cấp cao, thổi phồng, đánh tráo các khái niệm, kích động nhằm ly tán lòng dân, gây mất đoàn kết trong nội bộ nếu những người tiếp nhận thông tin không vững tâm, không có bản lĩnh và cách nhìn nhận, đánh giá khoa học, khách quan trong mỗi sự kiện. 

Phải thừa nhận trong một số trường hợp, do công tác chuẩn bị nhân sự chưa tốt, cá biệt còn để những người “lọt” qua các vòng quy hoạch hay luân chuyển được đề bạt, giới thiệu ứng cử chức vụ cao hơn rồi sau đó mới kiểm tra, phát hiện ra những khuyết điểm. Điều đó đã được kiểm điểm, rút kinh nghiệm, thậm chí xử lý kỷ luật cán bộ tham mưu, tổ chức đảng có chức năng, nhiệm vụ trong từng khâu của công tác cán bộ. Cán bộ được đề bạt khi không đủ điều kiện cũng đã bị xử lý kỷ luật ngay cả khi đang giữ chức vụ mới, cao hơn. Điều đó thể hiện tinh thần “không có ngoại lệ”, không có “hạ cánh an toàn”, không thể nói vu vơ như luận điệu của những kẻ có tư tưởng sai trái, thù địch về việc “thanh trừng lẫn nhau” trong Đảng.

Thứ ba, nhận định về thời gian tới và các giải pháp cần quan tâm

Đất nước ta đã trải qua cuộc chiến tranh kéo dài, một bộ phận công chức, viên chức của chính quyền cũ và những người thân thiết, ủng hộ chính quyền cũ đang sinh sống ở nước ngoài vẫn có thái độ mặc cảm, thù địch, do đó cần thời gian, sự kiên trì và nhất quán trong thực thi chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước ta. Bên cạnh đó là những phần tử cơ hội chính trị, có những quan điểm chống phá. Thực tế đó đòi hỏi phải thường xuyên, kịp thời đưa tin chính xác, đầy đủ về đất nước và con người Việt Nam ra thế giới. Mặt khác, phê phán những nhận thức lệch lạc, những thông tin xấu độc nhằm bôi nhọ Việt Nam, vu khống, thổi phồng và suy diễn các khuyết điểm của Đảng, hạ thấp uy tín của lãnh đạo, gây mất đoàn kết nội bộ.

Khi phương tiện thông tin ngày càng hiện đại, phát triển với tốc độ nhanh, đa dạng, nhiều chiều thì đồng thời xuất hiện những vấn đề mới có tính hai mặt. Mặt tích cực là người dân tiếp cận nhanh chóng, thuận lợi với thông tin, tri thức, được tạo điều kiện để nâng cao hiểu biết, có thêm kiến thức để phát triển kinh tế - xã hội… Mặt khác là sự xuất hiện của nhiều thông tin xấu độc, ảnh hưởng đến nhận thức và hành động tiêu cực của một bộ phận nhân dân. Điều đó đòi hỏi sự kiểm soát hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, những kiểm soát từ các cơ quan nhà nước thường diễn ra trong điều kiện rất khó khăn, phức tạp và thường bị chậm trễ. 

Vậy nên, việc tự ý thức của mỗi người dân về tính chính xác, chân thực của thông tin, khả năng phân biệt, sự cảnh giác, đấu tranh với mặt trái của những thông tin xấu độc để đề phòng, miễn dịch với nó là cần thiết, quan trọng và cấp bách. Mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương, tổ chức, từng gia đình cũng như mỗi cá nhân phải đề cao cảnh giác trong tiếp nhận thông tin. Vì thế, việc giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân của các cấp, các ngành, nhà trường và mỗi gia đình có tác động mạnh mẽ, thường xuyên và có hiệu quả cao trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đất nước ngày càng phát triển, giao lưu, hợp tác quốc tế ngày càng được tăng cường trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, ngoại giao… Xây dựng hệ thống chính trị đòi hỏi nâng cao trình độ của nhân dân, cán bộ, mà trước hết là những người làm việc trong môi trường quốc tế. Vì vậy, một mặt phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, thực hiện đúng pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, mặt khác phải tăng cường giáo dục đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Cùng với đó là những đòi hỏi đối với các cơ quan hành pháp phải có đủ năng lực để nhanh chóng phát hiện, bóc gỡ thông tin xấu độc trên mạng, xử lý nghiêm minh bằng pháp luật đối với những kẻ vi phạm pháp luật trong việc thông tin không chính xác, không khách quan, gây hại đến an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội.

Cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, trong quá trình xây dựng Đảng và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, một số tổ chức đảng và đảng viên vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng ở các mức độ khác nhau; một số cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện không đúng các nguyên tắc của Đảng: lợi dụng nguyên tắc tập trung dân chủ; trù dập những người trái ý kiến với mình; lợi dụng quyết định tập thể, coi đó là bình phong để che đậy các hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm. Vẫn còn tình trạng “đoàn kết xuôi chiều”, “mũ ni che tai”, nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng. Đây là những cái cớ để các thế lực thù địch thổi phồng, bóp méo, suy diễn sự kiện theo chiều hướng tiêu cực.

Vì thế, trong công tác xây dựng nội bộ đảng trong sạch, vững mạnh, cần thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng. Đây là cơ sở, là điều kiện để bảo đảm đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng phải thống nhất về nhận thức và thực hiện đúng các nguyên tắc của Đảng thì sẽ bảo đảm, tạo nên sức mạnh của mỗi người và tổ chức. 

Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, bàn bạc thảo luận dân chủ, tôn trọng các ý kiến khác nhau, nhất là ý kiến khác với ý kiến của mình. Khi tập thể đã quyết định thì phải thực hiện nghiêm túc, nếu cần có thể bảo lưu ý kiến và được cấp trên sớm xem xét, trả lời. Thực hiện tự phê bình và phê bình chân thành, đúng đắn, vì sự tiến bộ của mỗi người, của tổ chức. 

Thực hiện nguyên tắc đoàn kết thống nhất, Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là những tiền đề, điều kiện tiên quyết nhất để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, không thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc, vu khống, gây chia rẽ được nội bộ Đảng. Bởi vậy, cần sớm khắc phục tình trạng vi phạm nguyên tắc của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu cấp ủy khi không được phê bình, góp ý kịp thời do những yếu kém trong thực hiện các nguyên tắc nêu trên.

Cảnh giác cao độ, nhất là trong những dịp chuẩn bị Đại hội Đảng. Đây là khoảng thời gian mà các thế lực thù địch thường tập trung chống phá quyết liệt, khoét sâu vào vấn đề nội bộ của Đảng. Công tác nhân sự cần được chuẩn bị kỹ lưỡng, lắng nghe ý kiến của nhân dân về uy tín của người lãnh đạo, thực sự dựa vào dân để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ; kiểm tra, xác minh tài sản, thu nhập một cách thực chất; giải quyết triệt để đơn thư tố cáo, kể cả giấu tên nhưng có căn cứ xác đáng trước khi bầu cử, ứng cử, khắc phục căn bản tình trạng phải xử lý kỷ luật sau khi đã được bầu vào chức vụ cao hơn.

Lịch sử cách mạng chứng minh rằng, trong nội bộ Đảng đoàn kết, nhất trí, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện thường xuyên, có hiệu quả, đội ngũ đảng viên và nhân dân ghi nhận, phấn khởi thực hiện đường lối của Đảng, đời sống mọi mặt của nhân dân được nâng cao thì sẽ triệt tiêu tận gốc những ảnh hưởng tiêu cực từ các thế lực thù địch. Đồng thời chứng minh những luận điệu xuyên tạc như chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ là “chiêu bài để triệt hạ lẫn nhau”,“sự thanh trừng nội bộ”, “tranh giành chức quyền” giữa các phe nhóm chính trị… chỉ là những lời trống rỗng, lạc lõng trước những đổi thay mạnh mẽ của đất nước.