Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2023

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau” vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại

 Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong đó, tư tưởng “người trước, súng sau” của Người là nét độc đáo, đặc sắc, đến nay vẫn còn nguyên giá trị, cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương cùng các đồng chí lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng dự Hội nghị Quân chính toàn quân năm 2022 _Ảnh: TTXVN

Kế thừa tư tưởng “dân là gốc” của dân tộc và trên cơ sở vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử cũng như xuất phát từ thực tiễn cách mạng, trực tiếp là thực tiễn xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân, làm nòng cốt cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến, kiến quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra tư tưởng “người trước, súng sau”(1). Đây là biểu hiện của tầm cao trí tuệ Hồ Chí Minh; là phương châm để Đảng ta vận dụng vào lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng.

Với tầm nhìn, tư duy chiến lược sắc sảo cùng sự hiểu biết và kiến thức uyên bác, sâu rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, muốn xây dựng quân đội cách mạng, trước hết phải có con người cách mạng, để cùng với vũ khí, trang bị và các yếu tố khác hình thành nên tổ chức, lực lượng. Có con người sẽ có quân đội, có vũ khí, trang bị. Song, con người đó phải được giác ngộ lý tưởng cách mạng, được huấn luyện, rèn luyện, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có trình độ văn hóa, kỹ thuật, chiến thuật. Về mối quan hệ giữa con người và vũ khí, trang bị trong sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao và nhất quán khẳng định vai trò quyết định của nhân tố con người. Theo đó, con người vừa là chủ thể sáng tạo, cải tiến, sửa chữa, nâng cấp, vừa là chủ thể sử dụng, phát huy tính năng, công dụng của các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật trong chiến đấu. Người khẳng định: “Không thể cậy vũ khí mà có thể quyết định được thắng lợi. Phải xem những người cầm vũ khí có phải là những chiến sĩ hăng hái đánh trận không”(2). Đặc biệt, Người hết sức coi trọng, đề cao sức mạnh tinh thần trong từng con người, từng tổ chức và cả dân tộc. Đó là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm, lòng dũng cảm, sự gan dạ, mưu trí, sáng tạo, sẵn sàng hy sinh của cán bộ, chiến sĩ. Người cho rằng, phải luôn coi trọng và phát huy nhân tố chính trị, tinh thần của bộ đội, kết hợp với khơi dậy và phát huy mạnh mẽ sức mạnh, sự sáng tạo của quần chúng nhân dân; khi vũ khí tinh thần hòa quyện, thống nhất với mục tiêu, lý tưởng cách mạng sẽ phát huy cao nhất tính năng, tác dụng của vũ khí, trang bị kỹ thuật, trở thành sức mạnh to lớn trong thực tiễn chiến đấu, làm cho con người và vũ khí trở nên mạnh mẽ hơn. Người nhấn mạnh: “Vũ khí tốt mà tinh thần hèn, thì cũng vô dụng(3); “Có khi địch vật chất hơn ta mà ta tinh thần hơn nó, nên ta thắng nó”(4).

Cùng với việc đề cao vị trí, vai trò của con người trong hoạt động quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, vũ khí, trang bị là công cụ, phương tiện chiến đấu không thể thiếu để xây dựng, tạo nên sức mạnh của Quân đội. Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn động viên cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân phát huy tinh thần tự lực, tự cường, tận dụng các loại vũ khí, phương tiện sẵn có để đánh giặc. Người kêu gọi: “Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”(5); đồng thời, tổ chức lực lượng tự nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, cải tiến vũ khí; phát huy sức mạnh tổng hợp, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại, sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế để trang bị vũ khí cho Quân đội.

Quán triệt tư tưởng “người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng và giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa con người và vũ khí, vận dụng sáng tạo vào xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng. Từ 34 chiến sĩ buổi ban đầu, Quân đội ta đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, lập nhiều chiến công hiển hách. Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội luôn được chăm lo xây dựng vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu. Cán bộ, chiến sĩ thường xuyên được giáo dục chính trị, tư tưởng, trau dồi bản chất giai cấp công nhân, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; qua đó, luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, có ý chí, quyết tâm, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Thực hiện tốt công tác huấn luyện, giáo dục, đào tạo, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ có sức khỏe, trình độ, kiến thức, năng lực, ý thức tổ chức kỷ luật cao đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Đồng thời, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm, chăm lo bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật cho Quân đội theo khả năng cao nhất có thể của đất nước. Nhờ đó, Quân đội nhân dân Việt Nam đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, cùng với toàn Đảng, toàn dân đánh thắng các đế quốc hùng mạnh, các cuộc xâm lược của các nước giàu hơn ta, lớn hơn ta trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay và thời gian tới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn của thời đại, song tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, bất thường, phức tạp và khó dự báo. Sau gần 40 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế của đất nước, niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy vậy, chúng ta cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và ứng phó với an ninh phi truyền thống vẫn đang là những thách thức rất lớn. Tình hình trên đòi hỏi Đảng ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới đất nước, không ngừng gia tăng tiềm lực về mọi mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt được, đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững.

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Đại hội XIII của Đảng xác định: Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại(6). Đây là quan điểm, chủ trương, phương hướng đúng đắn, khoa học, vừa mang tính cấp thiết trước mắt, vừa cơ bản, lâu dài; là đòi hỏi tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế thời đại, khả năng của nền kinh tế đất nước, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tuy nhiên, việc thực hiện chủ trương này phải bảo đảm chặt chẽ, kiên quyết, kiên trì, có lộ trình và bước đi phù hợp, với các giải pháp đồng bộ, khoa học; trong đó, cần tiếp tục quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau” vào quá trình xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tập trung vào những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau”, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của nhân tố con người trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thực tiễn gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã minh chứng sự đúng đắn, sáng tạo của tư tưởng “người trước, súng sau”; là cơ sở quan trọng để chúng ta kế thừa, vận dụng vào xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại. Tuy nhiên, gần đây, trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đã xuất hiện một số loại vũ khí mới, thông minh, trí tuệ nhân tạo,... cùng những hình thái, phương thức tác chiến mới, qua đó ít nhiều làm nảy sinh tư tưởng đề cao vai trò của vũ khí, trang bị hiện đại trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ. Vì vậy, quán triệt sâu sắc tư tưởng “người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần nâng cao nhận thức về nhân tố con người trong xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại để có chủ trương, giải pháp về nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục, đào tạo, có chính sách ưu đãi, thu hút người tài phù hợp, hiệu quả. Trong quá trình thực hiện, cần khẳng định rõ vị trí, vai trò của nhân tố con người trong mối quan hệ với vũ khí, trang bị kỹ thuật; con người là chủ thể, trung tâm, có ý chí, trí tuệ, kỹ năng sẽ quyết định việc phát huy tối đa sức mạnh vật chất của vũ khí, trang bị kỹ thuật; trong khi đó, vũ khí, trang bị kỹ thuật là nhân tố rất quan trọng, song dù có hiện đại đến đâu vẫn do con người sáng tạo và điều khiển mới tạo ra sức mạnh hiện thực. Trên cơ sở đó, tích cực đấu tranh với nhận thức lệch lạc cùng những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về mối quan hệ này trong xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân.

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiểm tra sẵn sàng chiến đấu tại Trung đoàn 927 thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân _Nguồn: phongkhongkhongquan.vn

Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đây vừa là nguyên tắc, vừa là giải pháp quan trọng hàng đầu, giữ vai trò quyết định sự phát triển, trưởng thành và chiến thắng của Quân đội, nhất là trong xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong giai đoạn mới. Chỉ có tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, chúng ta mới xây dựng được Quân đội luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc; giữ vững mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; luôn là lực lượng nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng Quân đội nhân dân. Trong đó, trọng tâm là quán triệt, thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 2-4-2022, của Quân ủy Trung ương, về lãnh đạo thực hiện tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo. Đặc biệt coi trọng quán triệt quan điểm của Đảng về xây dựng con người và tổ chức, trên cơ sở đó thực hiện kết hợp chặt chẽ giữa tổ chức, con người với vũ khí, trang bị kỹ thuật và nghệ thuật quân sự Việt Nam, tạo thành sức mạnh tổng hợp vượt trội, đánh thắng mọi kẻ thù trong các hình thái chiến tranh. Đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng quán triệt, thực hiện nghiêm Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””; Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, “Về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”; quy định về nêu gương, quy định về những điều đảng viên không được làm. Chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Thứ ba, tập trung xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị.

Trong các thành tố hợp thành phẩm chất, năng lực và sức mạnh của nhân tố con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng nhân tố chính trị, tinh thần. Đây là quan điểm cơ bản, xuyên suốt quá trình giáo dục, rèn luyện của Quân đội ta và thực sự trở thành thế mạnh vượt trội trong các cuộc kháng chiến cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, cần tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc cho Quân đội; làm cho cán bộ, chiến sĩ giác ngộ sâu sắc mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, luôn đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phẩm chất đạo đức trong sáng trước mọi diễn biến phức tạp của tình hình và luôn kiên định, vững vàng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục quán triệt Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””; cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới”; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28-12-2021, của Quân ủy Trung ương, về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, toàn diện các mặt công tác: chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, dân vận, chính sách và công tác quần chúng; đề cao dân chủ, kỷ luật, kỷ cương; giữ vững đoàn kết nội bộ.

Cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy, ban chỉ đạo 35 các cấp, lực lượng nòng cốt, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần nêu cao trách nhiệm trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh với nhận thức sai trái, các luận điệu xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng, góp phần làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, âm mưu đòi “phi chính trị hóa” Quân đội, “dân sự hóa quân sự” của các thế lực thù địch, phản động; kịp thời ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Thứ tư, đẩy mạnh đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục và đào tạo; xây dựng Quân đội chính quy, rèn luyện kỷ luật, bảo đảm cán bộ, chiến sĩ có trình độ, kiến thức, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Đây là sự vận dụng sáng tạo, thiết thực nhất tư tưởng “người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạt động quân sự, nhằm tạo động lực, sức mạnh xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Theo Người, “Nếu anh em tư tưởng vững, chính trị vững, kỹ thuật khá, thân thể khỏe mạnh thì nhất định thắng. Trái lại, nếu anh em chính trị khá, nhưng quân sự kém, hoặc chính trị quân sự đều khá nhưng thân thể yếu đuối thì cũng không thắng được”(7). Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định về công tác huấn luyện, diễn tập, sẵn sàng chiến đấu. Trên cơ sở nâng cao nhận thức, xác định rõ trách nhiệm, các cơ quan, đơn vị tổ chức huấn luyện toàn diện, sát với yêu cầu, nhiệm vụ, có trọng tâm, trọng điểm; quán triệt, thực hiện tốt phương châm “Cơ bản - Thiết thực - Vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, theo hướng hiện đại.

Cùng với đó, các học viện, nhà trường quân đội tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội thời kỳ mới. Trong quá trình thực hiện, cần nghiên cứu, vận dụng tốt các quan điểm, nguyên tắc, mối kết hợp trong giáo dục và đào tạo; thực hiện tốt phương châm: chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị. Kết hợp giữa giáo dục và đào tạo trong nhà trường với bồi dưỡng tại đơn vị và tự học, tự rèn trong quá trình công tác của cán bộ, chiến sĩ; đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng hiệu quả những thành tựu của khoa học, công nghệ hiện đại; tích cực hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng để phát triển giáo dục và đào tạo. Đồng thời, lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, thực hiện nghiêm các chỉ thị, quy định về xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”, xây dựng Quân đội chính quy, chấp hành kỷ luật, bảo đảm an toàn,... để giáo dục, rèn luyện bộ đội, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

Thứ năm, chủ động, tích cực chuẩn bị, xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh về mọi mặt, làm nòng cốt xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(8); “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(9). Vì thế, quán triệt, vận dụng tư tưởng “người trước, súng sau” của Người, cần đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc cả trong hiện tại và những năm tiếp theo. Đây là khâu “then chốt” của “then chốt”, là công việc “gốc” của Đảng; là vấn đề cơ bản, chiến lược, cấp bách.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ nói trên, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tiếp tục quán triệt sâu sắc, triển khai thực hiện nghiêm các nghị quyết, kết luận, quy định, quy chế, đề án về công tác cán bộ; trọng tâm là Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”; Nghị quyết số 109-NQ/QUTW, ngày 11-2-2019, của Quân ủy Trung ương, “Về xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới”. Trên cơ sở đó, chú trọng việc phát hiện, tạo nguồn và tổ chức xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; có số lượng, cơ cấu phù hợp, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Tập trung giáo dục, rèn luyện cán bộ về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; có năng lực giỏi, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, sức chiến đấu cao; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung. Để làm được điều đó, các cơ quan, đơn vị cần kết hợp nhiều loại hình, nâng cao chất lượng công tác giáo dục và đào tạo là cơ bản; thông qua thực tiễn để bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ; có chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, xây dựng, phát triển nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu khoa học, giảng dạy, chuyên gia đầu ngành; cán bộ thiết kế - chế tạo, khai thác làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại,...

Thực hiện nghiêm quy trình, nguyên tắc công tác cán bộ; gắn xây dựng đội ngũ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì. Quan tâm xây dựng đội ngũ sĩ quan dự bị đáp ứng tốt yêu cầu động viên theo các trạng thái quốc phòng. Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện, thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với cán bộ quân đội và hậu phương quân đội để cán bộ gắn bó, yên tâm công tác.

Sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc (ảnh: Nguyễn Văn Đông) _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Thứ sáu, thực hiện tốt công tác bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật; đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng.

Xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là chủ trương lớn, với nhiều nhân tố hợp thành; trong đó, cốt lõi là con người, tổ chức và vũ khí, trang bị kỹ thuật. Vì vậy, cùng với xây dựng nhân tố con người - điều kiện tiên quyết, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng cũng lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nghị quyết, kết luận, đề án, dự án, chương trình, kế hoạch về bảo đảm vũ khí, trang bị cho Quân đội. Theo đó, toàn quân tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 26-1-2022, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”; các kết luận, đề án, chương trình, kế hoạch của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng tự chủ, tự cường, hiện đại và lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, góp phần bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang và tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng của đất nước.

Các nhà máy, xí nghiệp của Bộ Quốc phòng tiếp tục nghiên cứu, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật; phát huy truyền thống tự lực, tự cường của Quân đội; xây dựng những trung tâm nghiên cứu khoa học quân sự vững mạnh toàn diện, làm nòng cốt trong chế tạo, sản xuất vũ khí công nghệ cao, hiện đại. Cùng với đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần phát huy sức mạnh tổng hợp, tinh thần chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường của cán bộ, chiến sĩ nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kỹ thuật, bảo đảm kịp thời, đầy đủ vũ khí, trang bị kỹ thuật cho huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân đội.

Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là chủ trương chiến lược, đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta; cần được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, với chủ trương, biện pháp, lộ trình phù hợp, hiệu quả. Trong đó, cần nghiên cứu, vận dụng sáng tạo, hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh về “người trước, súng sau” vào quá trình tổ chức thực hiện; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và vũ khí, trang bị kỹ thuật; bảo đảm nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

Nhân đạo hóa con người

 

Không ngẫu nhiên mà từ nhiều năm nay, nhân loại lấy ngày 8-5 hằng năm là Ngày Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, với mong muốn tôn vinh và chia sẻ, lan tỏa những việc làm nhân đạo, tốt đẹp dành cho con người.

Văn học nghệ thuật chân chính luôn đặt việc nhân đạo hóa con người vào vị trí trung tâm. Là tiếng nói của tình cảm, văn chương lấy hình tượng đậm chất cảm xúc làm phương tiện để đánh thức và nhân lên cảm xúc nhân văn nên phải lấy con người làm gốc. Trước nay một tác phẩm giá trị luôn hướng con người đến cái cao cả, cái thiện, cái tốt, cái đẹp. Tình yêu con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu cũng là nguồn cảm hứng căn bản nhất thúc đẩy các nhà văn miêu tả, phản ánh, sáng tạo.

Ngày nay thế giới coi sự biết lắng nghe nhau là một yếu tố của khoan dung hòa giải văn hóa. Đó cũng là một biểu hiện của tính người, là sự thể hiện cụ thể tinh thần dân chủ, bình đẳng giữa người với người.

Nhưng biết lắng nghe là cả một năng lực văn hóa bởi về bản chất đấy là một quá trình tiếp nhận, do vậy, phải có vốn sống, vốn tri thức, chính trị… để phân tích, tiếp nhận, phản biện. Trong cuộc đối thoại văn hóa toàn cầu thì nghe và biết lắng nghe là những cơ sở mang tính nền tảng quan trọng. Vì có thấu hiểu về nhau mới thấu cảm lòng nhau. Hồ Xuân Hương là nhà thơ nhân đạo lớn ở chỗ bà đã chứng minh một quy luật nghệ thuật, nghệ sĩ trước hết phải biết lắng nghe bước đi, dù nhỏ nhất của sự vật mới có thể nắm bắt được bản chất cuộc sống. Điều này lý giải thơ bà rất nhạy cảm với hình tượng âm thanh. Hai chữ văng vẳng không chỉ văng vẳng trong thơ mà còn văng vẳng cái đau khổ, cái bất lực, cái khát khao bị kìm nén ở thời đại ấy: Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom; Canh khua văng vẳng trống canh dồn; Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng. Và còn biết bao nhiêu từ tượng thanh khác, có bài được âm thanh hóa từ sự vật vô thanh: Mõ thảm không khua mà cũng cốc/ Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om. Đấy là Hồ Xuân Hương lắng nghe tiếng lòng mình cay đắng để mà đối thoại với “thân” chưa chịu già. Vì vậy mà hình tượng không gian đêm khuya lại xuất hiện nhiều trong thơ “Bà Chúa thơ Nôm”...

Do phải sống trong 4 bức tường nhà lao nên người tù Hồ Chí Minh tiếp xúc với thế giới bên ngoài chủ yếu bằng thính giác, cũng đồng thời lắng nghe mình nhiều nhất nên âm thanh trong “Nhật ký trong tù” là một hình tượng đặc biệt. Trong đêm tối xà lim người tù vĩ đại bỗng nghe thấy một tiếng sáo nhớ quê. Âm thanh ấy trở thành khúc đồng vọng của những tâm hồn. Nước non xa cách ngàn trùng, nỗi nhớ khôn nguôi, cảm thương vô hạn, vợ người tù bước lên một tầng lầu nữa, cố nhìn trong vô vọng hình bóng người chồng. Truyền thuyết nước Việt kể nàng “Vọng phu” trèo lên tận đỉnh núi cao ngóng chồng trong khắc khoải chờ đợi mỏi mòn bao năm tháng. Cùng hoàn cảnh ấy, tâm trạng ấy, nàng “Vọng phu” phương Bắc cũng cố trèo lên lầu cao. Với sự đồng cảm sâu sắc nhà thơ Hồ Chí Minh đã tạc bằng ngôn ngữ thơ một hình tượng “nàng Tô Thị” xứ Trung Hoa. Thì ra văn chương không có biên giới bởi cùng một mẫu số chung là tình thương.

Nhà thơ nghe thấy tiếng khóc của đứa bé nửa tuổi, khóc trong tù ngục nên tiếng khóc trở nên đặc biệt. Vì “Cha trốn không đi lính nước nhà!”. Bao ý nghĩa toát lên từ hình tượng này: Là sự mỉa mai đả kích xã hội thật thiếu công bằng; là phê phán thói dã man đối với phụ nữ; là lên án đả kích xã hội phi nhân tính bắt cả đứa trẻ mới đẻ vào tù. Phải có một tâm hồn giàu yêu thương, giàu lòng trắc ẩn, khoan dung và luôn tôn trọng con người mới có thể biết lắng nghe lòng con trẻ… Không có sự mẫn cảm của một thiên tài nghệ thuật không thể nghe được như vậy. Nhà thơ Hồ Chí Minh sâu sắc, tinh tế và nhân ái biết bao!

Đó là những tiếng thơ làm con người lớn lên về lòng yêu thương, về tình người, lòng cảm thông, sự sẻ chia... Làm gì để văn chương hôm nay “nhân đạo hóa” con người đậm đà hơn, tinh tế hơn? Phải đằm sâu vào cuộc đời lấy cái tốt đẹp nhân lên cái tốt đẹp, lấy sự yêu thương nhân lên sự yêu thương. Phải biết nâng đỡ những mảnh đời thiếu may mắn. Phải tìm thấy vẻ đẹp vàng ngọc trong những tấm lòng chân chất chân quê. Phải tránh xa, tẩy trừ những thứ văn chương rẻ rúng, hạ thấp con người... Có thể khẳng định rằng, thời nào cũng vậy, nhân đạo hóa con người-đó là sứ mệnh cao cả và cái đích đến của văn chương.

HÀNG NGÀY GIÁO DỤC LẪN NHAU BẰNG GƯƠNG NGƯỜI TỐT, VIỆC TỐT


Ngay khi còn bôn ba ở nước ngoài tìm đường cứu nước, tháng 5-1924, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này), đã viết: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Và sau đó trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo Đảng và cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định việc lấy gương người tốt, việc tốt là phương thức tốt để hàng ngày giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Năm 1969, khi cho ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt”, Hồ Chí Minh khẳng định: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Người còn nhấn mạnh: “Lấy gương tốt trong quần chúng nhân dân và cán bộ đảng viên để giáo dục lẫn nhau còn là một phương pháp lấy quần chúng giáo dục quần chúng rất sinh động và có sức thuyết phục rất cao”. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, cán bộ cao cấp phải luôn tiên phong, gương mẫu, trở thành những gương sáng trong Đảng, trong xã hội. Ngày 26-12-1963, trong phiên họp Hội đồng Chính phủ, Người nói: “Các đồng chí Bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Đồng thời, Người cũng nhắc nhở: “Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng, lãnh tụ”.
Theo Hồ Chí Minh, dùng người tốt, việc tốt, ưu điểm, những điều tốt đẹp để giáo dục lẫn nhau phải luôn là việc làm quan trọng, cần thiết, thường xuyên. Ngay cả trong thực hiện các nguyên tắc, quy định của Đảng thì lấy người tốt, việc tốt để giáo dục vẫn cần được quan tâm thực hiện. Chẳng hạn, khi thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình, Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Phê bình cũng ví như người đi bằng hai chân, nếu chỉ phê bình trên thôi thì đi một chân, không thể đi được. Không nên chỉ nêu khuyết điểm sẽ sinh ra bi quan, mà cần phải nêu thành tích nữa”. Hồ Chí Minh cũng lưu ý phải gắng giữ gìn mặt tốt, tích cực bằng cách không ngừng củng cố, rèn luyện, tuyệt đối không để mất đi những người tốt, việc tốt. Người chỉ rõ: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu phải tích cực xây dựng, bảo vệ, tạo thuận lợi cho cán bộ, đảng viên rèn luyện phấn đấu để trở thành những cán bộ tốt, làm được nhiều việc tốt. Tháng 10-1947, Người yêu cầu: “Cũng vì lợi ích của dân tộc, mà Đảng cần phải khuyến khích và khen thưởng những ưu điểm và tài năng của đảng viên. Cần phải giúp cho họ học hành, giúp cho họ làm việc và tùy theo hoàn cảnh mà giúp họ về mặt sinh hoạt, trong lúc ốm đau. Khiến cho họ ham làm việc, vui làm việc”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường xuyên nhấn mạnh vấn đề rất cần thiết, quan trọng là phải nhân rộng những gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến. Hồ Chí Minh rất chú trọng đến công tác này. Tháng 6-1961, Người căn dặn các chiến sĩ thi đua ngành Thương nghiệp: “Các chiến sĩ thi đua phải tiếp tục cố gắng làm gương mẫu và tích cực, chủ ý giúp đỡ người khác trong ngành cùng thi đua tiến bộ”. Hồ Chí Minh cũng chỉ ra: Một trong những biểu hiện sâu sắc, cụ thể của người tốt, việc tốt là có những sáng kiến và kinh nghiệm quý, đây chính là của quý chung của cả dân tộc, không được để lãng phí mà phải phải phát huy, lan tỏa một cách chắc chắn, hiệu quả. Người yêu cầu: “Chúng ta phải ra sức làm cho nó dồi dào thêm và lan rộng mãi. Đầu thì lan khắp một đơn vị, một nhà máy, một làng… Dần dần lan khắp cả Quân đội, cả ngành công nghệ, cả nước. Sáng kiến và kinh nghiệm cũng như những con suối nhỏ chảy vào sông to, những con sông to chảy vào biển cả”.
Tinh thần lấy gương người tốt, việc tốt để giáo dục, rèn luyện lẫn nhau đã và đang tiếp tục được Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam thực hiện tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và sự nghiệp đổi mới đất nước. Đảng đã chủ động ban hành nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp để xây dựng, nhân rộng, phát huy nhiều gương tốt trong cán bộ, đảng viên. Điển hình là Ban Bí thư Trung ương Đảng, khóa XI đã ban hành Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7-6 -2012 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp. Quy định có 7 nội dung nêu gương: 1. Về tư tưởng chính trị; 2. Về đạo đức, lối sống, tác phong; 3. Về tự phê bình, phê bình; 4. Về quan hệ với nhân dân; 5. Về trách nhiệm trong công tác; 6. Về ý thức tổ chức kỷ luật; 7. Về đoàn kết nội bộ. Quy định đã được triển khai thực hiện tích cực đem lại hiệu quả thiết thực cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Mới đây, Đảng đã có nhiều chủ trương, biện pháp phù hợp để làm tốt việc bảo vệ, nhân rộng, phát huy những gương người tốt việc tốt, nhất là những cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu, dám nghĩ, dám làm. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đã xác định chúng ta có chính sách, cơ chế phù hợp khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên vì lợi ích chung của Đảng, nhân dân, đất nước mà có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc Đảng, pháp luật Nhà nước; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu, hành động quyết liệt vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
Tuy nhiên, việc phát hiện, nhân rộng, phát huy gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến vẫn chưa được coi trọng đúng mức, sức ảnh hưởng chưa cao. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nêu rõ chúng ta phải nghiêm túc rút kinh nghiệm và kịp thời khắc phục những hạn chế: “Còn nhiều mô hình, gương điển hình tiên tiến ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị chưa được phát hiện, bồi dưỡng kịp thời và nhân rộng hiệu quả. Việc tuyên truyền, tổ chức học tập, áp dụng mô hình mới còn ít được quan tâm…”.
Trong Quân đội nhân dân Việt Nam những gương người tốt, việc tốt luôn được chú trọng duy trì, phát triển và nhân rộng, nhất là thông qua phong trào thi đua quyết thắng của các cơ quan, đơn vị toàn quân. Phong trào thi đua quyết thắng, cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, kết hợp với đẩy mạnh thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã và đang đem lại những kết quả tốt đẹp để Quân đội ta ngày càng vững mạnh, trưởng thành, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”./.
CÔNG MINH
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết '" Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đàng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới "'
Tất cả cảm xúc:
1

Một ngành công nghiệp không chỉ mang giá trị kinh tế

Một ngành công nghiệp thường tạo ra các sản phẩm mang giá trị thuần túy về mặt kinh tế. Nhưng CNVH mang tới hai giá trị: Kinh tế và tinh thần. Hai giá trị này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Văn hóa là điều kiện, cơ sở để thúc đẩy kinh tế phát triển. Ngược lại, kinh tế tạo ra tiềm lực vật chất để phát triển văn hóa, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Trong ngành CNVH, giá trị kinh tế có thể đong đếm bằng con số, còn giá trị tinh thần là không có giới hạn. Một sản phẩm văn hóa có khả năng tác động mạnh mẽ tới nền tảng tinh thần xã hội. Một biểu tượng văn hóa có thể làm thay đổi cả lối sống, tư duy, tình cảm của cả một thế hệ. Vì thế, xây dựng một ngành CNVH với mục tiêu kép (phát triển kinh tế và bảo vệ nền tảng xã hội lành mạnh) là xu hướng tất yếu trong thời kỳ Việt Nam tăng tốc phát triển bền vững.

Đi sau về xây dựng, phát triển CNVH nhưng Việt Nam vẫn có thể trở thành một trung tâm công nghiệp sáng tạo văn hóa tầm cỡ khu vực. Nhiều chuyên gia cho rằng, tiềm năng và cơ hội phát triển CNVH ở Việt Nam được ví như “mỏ vàng” cần sớm được khai thác. Hiện nay, với quy mô dân số hơn 96 triệu người, trong đó, lực lượng lao động khoảng hơn 50 triệu người; hằng năm, trung bình có khoảng 1,5-1,6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động, đây là nguồn lực chính trong quá trình lao động sáng tạo, tạo ra lượng sản phẩm văn hóa dồi dào ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề, nhất là thủ công mỹ nghệ, ngành nghề truyền thống (gốm, lụa, tranh, gỗ), các loại hình nghệ thuật dân gian, văn hóa ẩm thực… ở nước ta. Dân số đông, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm văn hóa lớn tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ văn hóa đa dạng, phong phú, kích thích thị trường phát triển sôi động. Cùng đó, dù chưa thực sự mạnh mẽ nhưng hoạt động xuất khẩu văn hóa của Việt Nam cũng có những bước phát triển khá nhanh chóng. Trong đó, đặc biệt là sản phẩm thời trang Việt đã gây được tiếng vang tại những “kinh đô thời trang” thế giới. Hay văn hóa ẩm thực Việt đang tạo ra những “cơn sốt” tại nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ.

Để phát triển ngành CNVH, điều kiện đầu tiên, mang ý nghĩa quyết định là khả năng đầu tư. Hiện nay, ở nước ta, mức chi cho hoạt động văn hóa chiếm khoảng 1,8% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm. Nhà nước hỗ trợ tài chính cho các hoạt động văn hóa, nghệ thuật bằng cách đầu tư từ nguồn ngân sách và xây dựng những thiết chế văn hóa gián tiếp hỗ trợ cho các hoạt động nghệ thuật thông qua chính sách về thuế. Theo đó, những tổ chức xã hội, nghề nghiệp hay những cá nhân đóng góp tài chính cho các hoạt động văn hóa đều được khấu trừ thuế, được hưởng miễn thuế tài sản và miễn thuế thu nhập khi đóng góp cho Nhà nước. Tuy nhiên, để ngành CNVH phát triển thì đầu tư xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ, kịch bản có chất lượng là cần thiết, nhưng cũng cần quan tâm đến việc tạo nên lực lượng công chúng có nhu cầu thưởng thức văn hóa, nghệ thuật đông đảo. Khi sức “cầu” tăng mạnh, tất yếu nguồn “cung” cũng tăng tương xứng.

Một vài năm gần đây, các chính sách về phát triển văn hóa ở ta đã chú ý hơn tới việc đào tạo công chúng nghệ thuật. Tuy nhiên, thực tế hoạt động này còn thiếu tính bài bản và tương đối nhỏ lẻ. Vì thế, trong chiến lược phát triển CNVH rất cần xem trọng hơn hoạt động giáo dục-đào tạo nhằm tạo sự phát triển từ cả hai phía cung-cầu.

Cũng ở lĩnh vực đầu tư, cùng hoạt động đầu tư bằng ngân sách nhà nước, chúng ta cần có thêm những chính sách khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước vào phát triển ngành CNVH. Thực tế, tại khu vực tư nhân đang xuất hiện ngày càng nhiều doanh nghiệp văn hóa, tập trung vào các ngành: Điện ảnh, xuất bản, nghệ thuật biểu diễn... Tuy nhiên, các doanh nghiệp văn hóa tư nhân chủ yếu mang quy mô nhỏ, chưa có khả năng tập hợp để tạo thành một trào lưu văn hóa, nghệ thuật nào đó. Bởi vậy, để bảo đảm và khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia ngành CNVH, ngoài các chính sách ưu đãi trong đầu tư, điều đặc biệt cần thiết là hoàn thiện hệ thống luật bảo hộ bản quyền. Sự yếu kém trong hệ thống luật bảo hộ hiện tại khiến các sản phẩm văn hóa Việt Nam không được bảo đảm các quyền cơ bản để cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, cản trở việc phát huy khả năng sáng tạo văn hóa.

Ở góc độ giao lưu, hợp tác quốc tế, trong giai đoạn hội nhập sâu, rộng như hiện nay, ngành CNVH Việt Nam không thể “một mình một chợ”. Nhà nước, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa cần đẩy mạnh việc xây dựng, triển khai các chương trình quảng bá thương hiệu sản phẩm, dịch vụ văn hóa, thương hiệu doanh nghiệp văn hóa Việt Nam tại các hội chợ quốc tế, liên hoan quốc tế; lồng ghép các chương trình quảng bá phát triển CNVH gắn với các sự kiện ngoại giao. Từ đó, đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ văn hóa, xây dựng và phát triển thị trường sản phẩm, dịch vụ văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài.

Để gìn giữ, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, sự gắn kết chặt chẽ chiến lược phát triển kinh tế với chiến lược phát triển văn hóa phải được đặt lên vị trí hàng đầu. Bởi lẽ, văn hóa không đứng ngoài kinh tế, phát triển kinh tế bền vững không thể thiếu nền tảng văn hóa ổn định. Mặt khác, văn hóa không chỉ là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, mà còn là "hệ điều tiết" cho sự phát triển kinh tế bền vững.

Phát huy các giá trị văn hóa truyền thống

 

Năm 1943, từ khi cách mạng Việt Nam còn trong trứng nước, Đảng ta đã có Đề cương Văn hóa với những nguyên tắc có sức sống trường tồn. Đề cương Văn hóa năm 1943 lúc đó tập trung vào nhiệm vụ cách mạng trước mắt là đưa văn hóa Việt Nam ra khỏi ảnh hưởng nô dịch của văn hóa thực dân và phát xít, biến văn hóa Việt Nam từ chỗ bị động và tiêu cực trở thành một nhân tố tinh thần lớn mạnh trong sự nghiệp giải phóng đất nước. Đề cương đã gắn liền nhiệm vụ giải phóng kinh tế, chính trị cho xã hội với nhiệm vụ giải phóng cho con người.

Tháng 11-1946, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức ở Nhà hát Lớn Hà Nội, trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu nhiệm vụ của văn hóa mới là phải lấy hạnh phúc của đồng bào, sự nghiệp đấu tranh của dân tộc làm nội dung phản ánh, đồng thời phải tiếp thu những kinh nghiệm của văn hóa xưa và nay để xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam với 3 tính chất: Dân tộc, khoa học, đại chúng. Người nêu rõ vị trí, ảnh hưởng của văn hóa, nghệ thuật trong việc giáo dục thế hệ trẻ, xây dựng con người Việt Nam yêu nước, độc lập, tự cường, tự chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra luận điểm “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Luận điểm này trở thành nguyên tắc chi phối, có ý nghĩa cơ bản, lâu dài, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình phát triển văn hóa Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ nhận thức sâu sắc về một trong những đặc điểm ưu việt của chủ nghĩa xã hội là tính nhân văn, trong sự nghiệp của mình, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vấn đề xây dựng văn hóa, xây dựng con người. Và đó cũng là cơ sở lý luận-thực tiễn quan trọng để Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH).

Trong giai đoạn mới của sự nghiệp cách mạng, Đảng ta tiếp tục tiếp thu quan điểm về văn hóa, con người của Hồ Chí Minh, đồng thời sáng tạo, bổ sung một số tiêu chí mới phù hợp yêu cầu phát triển. Đó là “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, “Gắn nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người với nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước”. Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã khẳng định, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Trong thời kỳ đổi mới chúng ta đã đi qua, văn hóa ngày càng có được sự gắn kết chặt chẽ hơn với các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị và tạo nên những thành tựu về KT-XH, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… của đất nước. Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng: So với yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những thành tựu và tiến bộ mà chúng ta đã đạt được trong lĩnh vực phát triển văn hóa chưa thực sự vững chắc; văn hóa chưa khẳng định được sức mạnh tạo dựng một nền tảng tinh thần xã hội có khả năng miễn nhiễm trước những tác động của mặt trái kinh tế thị trường, trước sự xâm nhập của các luồng văn hóa ngoại lai. Những sản phẩm văn hóa “made in Vietnam” còn thiếu sức cạnh tranh, thậm chí bị lấn át ngay tại thị trường nội địa. Những luồng văn hóa-tư tưởng ngoại lai vẫn tác động tiêu cực đến lối sống của một số lượng không nhỏ người dân Việt, đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên. Từ đó, phát sinh ra nhiều hành vi phản văn hóa, ảnh hưởng đáng kể tới công cuộc xây dựng nền tảng tinh thần xã hội.


ĐẤU TRANH PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ

 20 Tháng 11

 
ĐẤU TRANH PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC
VỀ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ (Kỳ 1)
Nguyễn Xuân Bách
1. Một số thủ đoạn các thế lực thù địch, phản động thường sử dụng để xuyên tạc về cán bộ và công tác cán bộ
Cán bộ và công tác cán bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định đến thành bại của sự nghiệp cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Do vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững. Chính vì vậy, các thế lực thù địch đã tăng cường xuyên tạc về cán bộ và công tác cán bộ, tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau đây:
Một là, tung tin đồn thất thiệt về công tác nhân sự, gây hoang mang trong dư luận
Đây là thủ đoạn được các thế lực thù địch sử dụng khá phổ biến trong thời gian gần đây. Với hình thức, phương pháp khá đơn giản, nhưng tính chất, mức độ nguy hại là vô cùng lớn. Bằng việc chủ ý vứt bừa lên các trang web, mạng xã hội và một số “diễn đàn” với vô số phương án, câu chuyện vô căn cứ; chúng cố tình nhào nặn, giả định theo nhiều chiều hoặc đối ngược, hòng trông đợi theo kiểu: Nếu thông tin này không đúng thì sẽ có thông tin khác mang dáng vẻ của sự thuyết phục, rồi từ đó cấy ghép thêm tin giả, chi tiết bịa đặt, xuyên tạc, nhằm chèo lái, gây hoang mang trong dư luận. Thậm chí làm cho người đọc, người xem thiếu bản lĩnh và kinh nghiệm dễ lầm tưởng, hoài nghi, khó phân biệt đúng sai.
Các tin đồn thất thiệt thường được các thế lực thù địch tung ra vào các thời điểm nhạy cảm như: Ủy ban Kiểm tra Trung ương thông báo về việc xử lý kỷ luật cán bộ của ta mắc sai phạm; việc bãi nhiệm, miễn nhiệm cán bộ; công tác chuẩn bị nhân sự, nhất là nhân sự vào các vị trí quan trọng trong cơ quan Đảng, chính quyền... Ví dụ như, trong công tác nhân sự của một cơ quan, đơn vị nào đó, phương án quy hoạch nhân sự đã rõ mười mươi với những con người và cái tên cụ thể. Vậy mà, chúng lại bịa ra các tin đồn khác nhau: Tin thì đồng chí X sẽ nhậm chức do phe cánh của đồng chí đó đang chiếm thế thượng phong trên nghị trường chính trị, tin khác lại cho rằng đồng chí Y sẽ xoắn ghế vì được ông này, bà kia hậu thuẫn, tin khác nữa là đồng chí Z được nâng đỡ, đấu đá nên ắt thành công... Và rồi, thể nào cũng có một tin được cho là đúng, hòng mục đích mị dân, gây nhiễu loạn dư luận, gây mất đoàn kết nội bộ tổ chức.
Hai là, bịa đặt, bôi nhọ đời tư của cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang
Xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo, để bôi nhọ đời tư, phá hoại uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang (LLVT), hạ bệ thần tượng, là thủ đoạn vô cùng thâm độc, được các thế lực thù địch sử dụng từ lâu để chống phá cách mạng nước ta. Với cách thức tiến hành ngày càng tinh vi, xảo quyệt, phạm vi bao phủ rộng hơn; nội dung toàn diện, nhiều chiều, từ bôi nhọ đời tư của cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, LLVT thời kỳ trước đây, đến lãnh đạo Đảng, Nhà nước, LLVT hiện nay; từ quá trình học tập kém cỏi; tư cách, phẩm chất đạo đức yếu kém trong những năm tuổi trẻ, đến việc được nâng đỡ, ưu ái của những người có chức, có quyền trong quá trình công tác; từ năng lực, trình độ kém cỏi, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cửa quyền, hách dịch đến quan hệ xã hội, quan hệ nam nữ bất chính, để người thân trong gia đình, họ hàng lợi dụng chức vụ để trục lợi, đến việc có nhiều tài sản, tiền, vàng, đất đai... mà nguồn gốc của những tài sản đó không thể lý giải được, chỉ có thể do tham nhũng, chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, xã hội mới có được... thậm chí, chỉ một lời nói, hành động chưa phù hợp của cán bộ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, LLVT cũng có thể trở thành chủ đề “nóng” để chúng phân tích, mổ xẻ, xuyên tạc thành những câu chuyện thị phi về đạo đức, lối sống, về nghệ thuật xã giao, văn hóa công vụ... không chỉ xuyên tạc về đời tư của cá nhân lãnh đạo Đảng, Nhà nước, LLVT, chúng còn tập trung xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu về nguồn gốc xuất thân, tiểu sử gia đình, đời tư của ông bà, bố mẹ, vợ (chồng), con cái... tức là tất cả những gì xấu xa nhất của con người trong xã hội, sẽ được góp lại để gán ghép cho một người, hòng làm mất uy tín, nhân phẩm và danh dự của họ trước tập thể và nhân dân; không chỉ dừng lại ở một cá nhân đơn lẻ, nguy hai và sâu xa hơn là phá hoại, làm mất lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, LLVT, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nuôi dưỡng, kích động tâm lý chống đối Đảng, Nhà nước trong xã hội để cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.
Thời điểm các thế lực thù địch, phản động tập trung chống phá thường diễn ra vào dịp chúng ta tổ chức kỷ niệm ngày thành lập Đảng, Nhà nước, Quân đội; tiến hành tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc bầu các chức danh lãnh đạo cấp cao của Đảng; bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, bầu cử đại biểu Quốc hội, Quốc hội bầu các chức danh lãnh đạo cấp cao của Nhà nước... Cách thức tiến hành của chúng là đào bới, cắt ghép, xâu chuỗi, thêu dệt, tạo dựng hoặc giả tạo hình ảnh, video, clip của cán bộ để xuyên tạc về lý lịch, quá khứ xuất thân, trình độ học vấn... rồi tung lên các nền tảng mạng xã hội, gây bức xúc cho dư luận, khó khăn cho ta trong công tác lựa chọn cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, LLVT...
Ba là, lôi kéo, mua chuộc cán bộ, đảng viên, lão thành cách mạng, tướng lĩnh nghỉ hưu (nhân vật) có tầm ảnh hưởng tham gia vào các hội, nhóm phản động bất đồng chính kiến, để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Đây là một hoạt động hết sức nguy hiểm, thủ đoạn của chúng là móc nối, mua chuộc, lôi kéo những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, thậm chí là những tướng lĩnh nghỉ hưu mắc bệnh “công thần”, kèn cựa địa vị, bất mãn chế độ, tham gia các hội, nhóm do các thế lực thù địch tự xưng là “nhân sĩ trí thức” để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Bằng mồi nhử kinh tế, chúng “khéo léo” mời chào, lôi kéo cán bộ của ta tham gia các hoạt động “du lịch”, “thăm thân”, “hội nghị đầu tư”, “dự án”, tọa đàm, hội thảo..., để truyền bá, reo rắc tư tưởng phản động, chống đối, khi cán bộ của ta có biểu hiện dao động về tư tưởng, chúng sẽ ra sức kích động, mua chuộc, lôi kéo bằng tiền bạc, vật chất, hoặc dùng các thủ đoạn ghi âm, ghi hình... để vừa vu khống, nói xấu Đảng, Nhà nước và chế độ, vừa ép buộc cán bộ của ta, từng bước làm họ thoái hóa, biến chất, sa vào chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, hưởng thụ... từ đó có lời nói, hành vi đối lập với quan điểm của Đảng. Điển hình là những phát biểu phiến diện của ông LML tại cuộc “Tọa đàm khoa học về vùng biển Bãi Tư chính và luật pháp quốc tế” do nhóm người tự nhận là “nhân sỹ trí thức” tổ chức ngày 6/10/2019, càng nguy hiểm hơn khi những phát biểu ấy nhân danh Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang, đã làm ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của Đảng, Nhà nước và quân đội ta, là cơ hội vàng để kẻ địch lợi dụng chống phá.
Thời điểm các thế lực thù địch, phản động tiến hành luôn gắn với các sự kiện, ngày lễ, dịp chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng, bầu cử; ban hành nghị định, đạo luật,... Cách làm của chúng là, khi các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước (kể cả những chủ trương ở cấp cơ sở) mới chỉ ở dạng dự thảo thì chúng lấy danh nghĩa là những nhân sĩ trí thức yêu nước, lập ra các diễn đàn, lôi kéo, mời chào cán bộ của ta tham gia, lợi dụng uy tín của họ để đưa ra các “kiến nghị” nhằm hướng lái dư luận theo ý đồ của chúng; sau khi ban hành thì chúng kích động biểu tình, phản đối, khi có cơ hội thì tổ chức bạo loạn lật đổ; khi các phần tử vi phạm bị bắt và xử lý theo pháp luật, chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, mượn danh của một số tổ chức, cá nhân để đòi trả tự do cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”, đồng thời vu khống Việt Nam đàn áp dân chủ, vi phạm nhân quyền.
2. Nhận diện và chủ động đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về cán bộ và công tác cán bộ
Một là, về công tác nhân sự
Luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng, trong thể chế chính trị một Đảng lãnh đạo ở Việt Nam, việc lựa chọn nhân sự sẽ không bảo đảm dân chủ, không thể lựa chọn được người đủ năng lực và đạo đức để lãnh đạo đất nước; cơ chế lựa chọn cán bộ tại Việt Nam thiếu minh bạch nên đã tạo ra chỗ trống cho những “chuyên gia hối lộ” ngồi vào vị trí lãnh đạo... một bình luận trên Đài Á Châu Tự Do (RFA), xuyên tạc rằng, Đảng đã “xóa bỏ quyền của các đại biểu dự đại hội”, việc quy hoạch và đào tạo cán bộ cốt cán cho Đại hội XIII là Ban Chấp hành Trung ương đã “tước đi quyền tự do, dân chủ trong việc ứng cử, đề cử và bầu cử của các đại biểu dự Đại hội XIII”; việc chuẩn bị đại hội như là hoạt động thay cho đại hội, thực chất tổ chức đại hội chỉ là đánh trống khua chiêng vì mọi việc đã an bài từ lâu…
Trước hết, cần phải khẳng định, đây là luận điểm rất phản động, không đúng với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng ta trong tiến hành công tác cán bộ. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa…” . Hơn ai hết, Đảng ta nhận thức rất rõ về vị trí, vai trò của bản thân mình. Để giữ vững vị trí là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng ta không ngừng tự đấu tranh, rèn luyện để ngày càng hoàn thiện hơn. Trong đó, vấn đề nhân sự được đặc biệt chú trọng vì cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Chính bởi vậy, việc lựa chọn nhân sự được Đảng đặc biệt quan tâm, chỉ đạo tiến hành một cách cẩn trọng, khách quan, bảo đảm dân chủ để có thể lựa chọn được cán bộ đủ đức, đủ tài tham gia lãnh đạo đất nước.
Nguyên tắc nhất quán và xuyên suốt của Đảng ta về cán bộ và công tác cán bộ là: “Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, mà trực tiếp là BCHTW, BCT, BBT, cấp ủy, Ban Thường vụ cấp ủy”. Để lựa chọn, xây dựng, đào tạo được đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, Ban Chấp hành Trung ương (BCHTW), Bộ Chính trị (BCT), Ban Bí thư (BBT) đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị và sửa đổi, bổ sung nhiều quy định, quy chế về cán bộ và công tác cán bộ như Nghị quyết số 26 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và ngang tầm nhiệm vụ; Quy định số 55 về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Kết luận số 12 về “Sửa đổi, bổ sung một số nội dung quy định về công tác cán bộ”; Quy định số 85 về “Kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản của cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”; Quy định số 89 về “Khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp” và Quy định số 90 về “Tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”; Quy định số 105 về “Phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử” để thay thế Quy định số 67, 68 của Bộ Chính trị khóa X; Quy định số 08 về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”, đây là căn cứ pháp lý quan trọng để các cấp ủy, tổ chức đảng cụ thể hóa tiêu chí đánh giá, lựa chọn, quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ; với tinh thần đổi mới mạnh mẽ, chúng ta đã đẩy mạnh việc phân cấp quản lý cán bộ và bổ sung, hoàn thiện quy trình 5 bước khi tiến hành bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ ứng cử, qua đó, đã lựa chọn được đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới.
Việc Đảng lãnh đạo công tác cán bộ không hề gây ra sự thiếu minh bạch trong công tác cán bộ, hay cản trở những người có năng lực lãnh đạo tham gia vào công việc của đất nước như một số đối tượng chống đối đang tung ra. Nếu không có sự lãnh đạo thống nhất về công tác cán bộ của Đảng, nếu chúng ta lơ là, mất cảnh giác khi lựa chọn cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo cấp cao thì cũng đồng nghĩa với việc chúng ta tạo kẽ hở cho những kẻ chống đối có cơ hội chui sâu, leo cao vào tổ chức bộ máy Nhà nước, hình thành lực lượng đối lập về chính trị ngay trong lòng đất nước. Bài học xương máu từ sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa tại Liên Xô (nơi được coi là hệ thống thành trì của chủ nghĩa xã hội trên thế giới), vẫn còn nguyên giá trị đối với chúng ta, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ là do sai lầm trong công tác nhân sự, khi lựa chọn, sử dụng không đúng cán bộ, làm cho quyền lực của Đảng Cộng sản bị giao vào những người “nối giáo cho giặc”. Vì vậy, trong công tác cán bộ, Đảng, Nhà nước ta luôn luôn tiến hành cẩn trọng, theo một quy trình chặt chẽ, đúng Điều lệ, quy chế, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng.
Rõ ràng, công tác nhân sự của Đảng không phải là “sự áp đặt từ trên xuống” hay thiếu dân chủ và càng không có chuyện Đảng đặt ra những quy định trong công tác cán bộ là để tạo khoảng trống cho cán bộ chạy chức, chạy quyền như những gì các thế lực thù địch, chống đối đang hô hào. Để lựa chọn nhân sự vào các vị trí lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, chính quyền, chúng ta phải trải qua một quy trình cân nhắc, đánh giá, lựa chọn kỹ lưỡng. Không phủ nhận vẫn còn tình trạng chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm, nhưng không thể vì những vụ việc mang tính thiểu số đó mà đánh đồng với toàn bộ hệ thống cán bộ, phủ nhận hoàn toàn thành quả công tác cán bộ của ta.