Thứ Ba, 26 tháng 12, 2023

Dân tộc Việt Nam chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo cách mạng - một sự thật lịch sử không thể phủ nhận

 Để giải phóng mình khỏi ách thống trị của đế quốc, thực dân, tại sao dân tộc Việt Nam không chọn một tổ chức chính trị nào khác, mà chọn Đảng Cộng sản Việt Nam? Phải chăng đó chỉ là ý chí chủ quan của một bộ phận người yêu nước Việt Nam như điều mà các thế lực thù địch vẫn đang xuyên tạc?! Những người hiểu biết cơ sở lịch sử và pháp lý sẽ đáp trả rằng: Không! Dứt khoát không phải như vậy. Sự lựa chọn đó là của dân tộc Việt Nam, một sự lựa chọn tất yếu khách quan mang tính quy luật lịch sử.

Sự thực là, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đã xuất hiện những ngọn cờ cứu nước, cứu dân, những đảng phái khác nhau, song những ngọn cờ ấy, những đảng phái ấy không đủ sức đảm đương sứ mệnh giải phóng dân tộc.

Tháng 9-1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Sau khi hoàn thành giai đoạn vũ trang xâm lược, chúng đặt nền cai trị hà khắc ở Việt Nam về chính trị, kinh tế, văn hóa... Từ một nước phong kiến độc lập, có chủ quyền, Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Nước Việt Nam mất độc lập, nhân dân Việt Nam trở thành nô lệ.

Vì lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, một bộ phận phong kiến Việt Nam đã đứng lên giương cao ngọn cờ chống thực dân Pháp, ròng rã gần 40 năm (1858 - 1896), vẫn không chống được chủ nghĩa thực dân - một kẻ thù mới của dân tộc, có trình độ phát triển về phương thức sản xuất hơn hẳn. Phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết, tiếp đến là Phan Đình Phùng lãnh đạo, kéo dài đến cuối thế kỷ XIX thì lụi tắt. Đầu năm 1896, những tiếng súng cuối cùng của phong trào Cần Vương chấm dứt, cũng là tín hiệu kết thúc sứ mệnh lịch sử của giai cấp phong kiến Việt Nam trong thời đại mới.

Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX diễn ra sôi nổi, song có hạn chế lớn trong xác định mục tiêu, kẻ thù và phương thức đấu tranh. Tiêu biểu như: Phan Bội Châu xác định chống đế quốc nhằm giành độc lập và thiết lập nền quân chủ lập hiến ở Việt Nam (dựa vào Nhật để chống Pháp, dẫn đến không thành công); Phan Châu Trinh tập trung chống phong kiến (dựa vào Pháp để đánh đổ ngôi vua và bọn phong kiến hủ bại, coi đó như là điều kiện tiên quyết để giành độc lập, cũng đi đến thất bại)...

Trong công cuộc giải phóng dân tộc, những thập niên đầu thế kỷ XX,  đã có nhiều đảng phái đại diện cho các giai cấp, tầng lớp xã hội từng nỗ lực trên vũ đài chính trị, như Nghĩa hưng (1907); Lập hiến (1923); Việt Nam nghĩa đoàn; Đảng Thanh niên; Đảng An Nam độc lập (1927), Việt Nam Quốc dân Đảng (1927)...; kể cả một số đảng của những kẻ tay sai cho đế quốc, như Đại Việt quốc gia xã hội Đảng, Đại Việt quốc dân Đảng trong những năm 40 của thế kỷ trước; hay các đảng phản động, như Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách)... cũng cố thực hiện mưu đồ chính trị. Thế nhưng, sự thực là, các đảng phái đó không được dân tộc Việt Nam lựa chọn giữ quyền lãnh đạo.

Tiếp tục truyền thống yêu nước, bất khuất, kiên cường chống ngoại xâm, các phong trào chống thực dân Pháp đã diễn ra quyết liệt, liên tục, trên các vùng lãnh thổ Việt Nam, hướng tới mục tiêu đánh đổ chế độ thuộc địa, giành độc lập dân tộc. Tuy nhiên, các phong trào cứu nước lần lượt thất bại. Thực tế thất bại của các phong trào đó cho thấy sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản trước nhiệm vụ lịch sử đặt ra. Cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ đứng trước sự khủng hoảng sâu sắc về đường lối, thiếu lý luận cách mạng tiên tiến dẫn dắt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Lịch sử đặt cho dân tộc Việt Nam một câu hỏi mang tầm thời đại: Giải phóng dân tộc bằng con đường nào mới giành thắng lợi? Lực lượng nào đủ khả năng hoạch định đường lối và tổ chức thực hiện đường lối cứu nước, cứu dân? Câu hỏi đó vẫn chưa có lời giải trong suốt mấy thập niên đấu tranh. Đây chính là nhu cầu lịch sử và tất yếu phải có sự ra đời của lực lượng tiên phong.

Sự thực là, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là lời giải đúng cho công cuộc giải phóng dân tộc - bước ngoặt vĩ đại, chính thức chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc ở Việt Nam.

Trước yêu cầu lịch sử, với hành trang là chủ nghĩa yêu nước, lòng yêu nước vô hạn và thương dân sâu sắc, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh) đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước; cuộc hành trình lịch sử ấy bắt đầu từ ngày 5-6-1911. Trên con đường vạn dặm, “Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi/Những đất tự do, những trời nô lệ/Những con đường cách mạng đang tìm đi”(1). So sánh các cuộc cách mạng, Người chỉ rõ, kết cục của các cuộc cách mạng tư sản là “cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”(2). Điều đó có nghĩa là, cách mạng Việt Nam khi đó quyết không chọn con đường cách mạng tư sản, không thể đặt nhiệm vụ ấy cho giai cấp tư sản.

Bằng tư duy mới, coi trọng khảo cứu thực tiễn, đối sánh, cùng với sự nhạy bén đặc biệt về chính trị, Nguyễn Ái Quốc đã tìm và chọn được con đường giải phóng dân tộc triệt để nhất - con đường cách mạng vô sản, theo Cách mạng Tháng Mười Nga, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Trong Đường Cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc khẳng định dứt khoát: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(3). Nghiên cứu lý luận, đối chiếu với thực tiễn chính trị - xã hội, Người đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(4). Tuân theo tính quy luật, để làm cách mạng vô sản thì điều kiện tiên quyết phải tổ chức ra Đảng Cộng sản.

Nhận thức được chân lý của thời đại, Nguyễn Ái Quốc đã nỗ lực xúc tiến chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức, về đội ngũ cán bộ ban đầu đã dẫn tới sự ra đời các tổ chức tiền thân của đảng cộng sản. Những năm 1929 - 1930, phong trào dân tộc theo xu hướng cộng sản thể hiện rõ sự thắng thế so với các xu thế khác, các tổ chức cộng sản cũng phát triển mạnh mẽ. Nhu cầu cần có một đảng cộng sản duy nhất để tập trung sự lãnh đạo trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.

Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc chủ động hợp nhất các tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng; An Nam Cộng sản Đảng, tiếp đến là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930 -  bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Đảng ra đời vạch ngay một Cương lĩnh đúng, đưa cách mạng Việt Nam đi theo xu thế thời đại, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, chính thức chấm dứt sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước ở Việt Nam, đảm nhận sứ mệnh mà các lực lượng trước đó không giải quyết được. “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”(5).

Đảng ra đời với đường lối đúng, đẩy mạnh tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, được toàn dân tin theo và ủng hộ. Đây là bước đầu quyết định, chứng tỏ cách mạng Việt Nam đã có một lực lượng lãnh đạo đủ uy tín, năng lực đưa cách mạng vượt qua khó khăn, thử thách, làm nên những kỳ tích trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến tạo đất nước, đáp ứng khát vọng của nhân dân, phù hợp với xu thế của lịch sử.

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 _Ảnh: Tư liệu

Việt Nam không chọn bên, mà chọn chính nghĩa, lẽ phải, hòa bình và phát triển

 Thứ nhất, trong lịch sử cách mạng và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Việt Nam nhất quán không “chọn bên”.

Có thể khẳng định, đường lối đối ngoại xuyên suốt, nhất quán của Đảng ta là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở đó luôn kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, không phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào khác.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ được kết tinh từ trong lịch sử, thể hiện ý chí tự cường của một dân tộc nhỏ trước các thế lực ngoại xâm hùng mạnh. Tinh thần độc lập, tự chủ thể hiện trong những văn kiện đầu tiên của Đảng giai đoạn tổng khởi nghĩa giành chính quyền với tinh thần “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp từ ngoài vào”(1). Tư tưởng độc lập, tự chủ đã trở thành “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt và định hình các hoạt động đối ngoại của Việt Nam, được phát huy cao độ trong quá trình đấu tranh cách mạng, góp phần đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta đi đến thắng lợi cuối cùng. Với đại thắng mùa Xuân năm 1975, đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ của Việt Nam đã đạt tới đỉnh cao, mở ra một thời kỳ mới trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong suốt chiều dài lịch sử, trước những biến đổi của thời đại, sự chênh lệch tương quan lực lượng giữa Việt Nam và các nước khác, nhưng Việt Nam đã bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc của mình chính là nhờ kiên trì theo đuổi mục tiêu và nguyên tắc độc lập, tự chủ. Những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều biến động, chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Trước các biến cố chao đảo của thời cuộc, giữa những dao động, ngả nghiêng của lòng người, của niềm tin về tương lai của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, Việt Nam vẫn vững vàng, kiên tâm trên con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; trên cơ sở đánh giá lại cục diện thế giới để xác định đường lối, chính sách đối ngoại trong tình hình mới, giữ vững độc lập, tự chủ, đưa đất nước đi lên.

Trong thời kỳ Đổi mới, vận dụng sáng tạo quan điểm độc lập, tự chủ, Việt Nam đã thực hiện chính sách đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại, tránh phụ thuộc vào bất cứ nước lớn hay nhóm nước nào. Qua các kỳ Đại hội, đường lối đối ngoại đã được bổ sung và hoàn chỉnh. Từ chỗ “Việt Nam muốn là bạn”, đến “Việt Nam sẵn sàng làm bạn”, và hiện nay “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, nhất quán, có tầm quan trọng xuyên suốt, mang ý nghĩa sống của Việt Nam trên con đường đổi mới.

Xuyên suốt lịch sử cách mạng đấu tranh cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Việt Nam luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, không tham gia liên minh quân sự với cường quốc, không đứng về bên nọ để chống bên kia. Quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính, phát huy nội lực, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế, thực hiện chính sách đối ngoại vì hòa bình, tự vệ, chính nghĩa, nhân văn, nhân đạo, để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Những gì thuộc về chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc là thiêng liêng và tối cao, bất khả xâm phạm. Đây là vấn đề bất biến, cốt lõi, chính yếu, thường trực, không thể đánh đổi hay nhân nhượng, không thể để nước ngoài thao túng, quyết định vận mệnh của đất nước. Điều này được Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nhất quán từ trước đến nay theo nguyên tắc “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”. 

Trong những thời kỳ lịch sử cách mạng, Việt Nam có lúc bị kẹt giữa những toan tính của các nước lớn, song chúng ta vẫn vượt qua được những thách thức hiểm nghèo, bảo toàn được thành quả cách mạng. Trong giai đoạn hiện nay, khi cạnh tranh giữa các nước lớn có nguy cơ chia rẽ thế giới theo những lằn ranh mới, quyết liệt và sâu sắc hơn, tác động trực tiếp và nhiều chiều đến quan hệ quốc tế, Việt Nam vẫn kiên vững chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, không ngả theo bên nọ để chống bên kia. Hiếm có quốc gia nào có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều nước lớn như Việt Nam(2); và có quan hệ ngoại giao với 192 trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc; là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng. Việt Nam đã gắn kết và đan xen lợi ích với nhiều quốc gia trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh. Quan hệ của Việt Nam với các nước, nhất là các nước lớn, ngày càng đi vào chiều sâu, ổn định. Việt Nam chủ động thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác; tích cực hội nhập quốc tế ngày một toàn diện, sâu rộng Trong bối cảnh thế giới và khu vực đan xen nhiều thách thức khó lường, Việt Nam phát huy vai trò là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng góp phần vào duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Có được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong gần 40 năm đổi mới là minh chứng cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Việt Nam.

Như vậy, quan điểm cho rằng Việt Nam cần dựa vào nước ngoài để gia tăng sức mạnh bảo vệ, phát triển đất nước là không có cơ sở, ảo tưởng, phi thực tế.

Thứ hai, Việt Nam chọn chính nghĩa, lẽ phải, hòa bình và phát triển

Bối cảnh quốc tế hiện nay có nhiều biến động phức tạp, bất lường. Cuộc cạnh tranh giữa các nước lớn trong khu vực và trên thế giới ngày càng quyết liệt trên nhiều lĩnh vực, diễn ra dưới nhiều hình thức, với quy mô, phạm vi ngày càng mở rộng, tính đối kháng ngày càng gay gắt, nội dung ngày càng phức tạp, do đó tính khốc liệt cũng ngày một gia tăng, không gian và thời gian là vô cùng, không có giới hạn, đôi khi mang dáng dấp một cuộc chiến tranh lạnh. Các nước lớn vừa đấu tranh, vừa thỏa hiệp, kéo theo đó là những tập hợp lực lượng mới manh nha, những “sáng kiến” chiến lược được hình thành, những điều ước mà đằng sau đó là những liên minh, liên kết... ra đời, nhiều khi đặt các nước phải thể hiện rõ lập trường, tham gia hay không tham gia, tham gia như thế nào để đạt được lợi ích tối ưu cho đất nước. Thế giới dường như ngày càng có xu hướng phân tuyến rõ ràng. Việt Nam - một quốc gia thành viên ASEAN có vị trí địa - chính trị, địa - kinh tế quan trọng trong khu vực, là đối tượng quan tâm của các nước lớn. Do vậy, trong quan hệ hợp tác với Việt Nam, các nước đều hàm ý muốn lôi kéo Việt Nam tham gia những sáng kiến, tập hợp lực lượng mà họ “dàn xếp”, thông qua “sức mạnh mềm” viện trợ, đầu tư, phát triển... Bối cảnh đó đòi hỏi Việt Nam xác định nguyên tắc, lợi ích và cách ứng xử với các nước trên cơ sở lợi ích chung; lựa chọn đối sách có lợi cho đất nước, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Cần thấy rõ rằng, trong quan hệ quốc tế, hợp tác và đấu tranh là hai mặt song hành; trong quan hệ đối tác - đối tượng có sự đan xen, chuyển hóa. Phương châm này giúp chúng ta tận dụng cơ hội hợp tác; đồng thời, thấy rõ hơn sự khác biệt về lợi ích để tìm các giải pháp đưa quan hệ phát triển, không bỏ lỡ cơ hội hợp tác, nhưng cũng không lơ là, mất cảnh giác. Mục tiêu cơ bản, lâu dài trong nhận thức và vận dụng quan điểm về đối tác, đối tượng của Đảng ta là nhằm tăng cường đoàn kết, mở rộng quan hệ hợp tác, hữu nghị với bè bạn quốc tế, khai thác mặt đối tác, ngăn ngừa, hạn chế, thu hẹp mặt đối tượng. Do vậy, không thể cho rằng, đối tác chỉ là để hợp tác và đối tượng chỉ là để đấu tranh. Với nhận thức mới như vậy, trong môi trường quốc tế ngày càng “phẳng”, sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng sâu sắc, đa chiều..., Việt Nam đẩy mạnh quan hệ đối ngoại, cả song phương và đa phương, với cả những nước có yếu tố đối tượng của chúng ta. Đối với các vấn đề bất đồng, nhất là trong quan hệ với các nước lớn, nước láng giềng, Việt Nam tìm cách xử lý khôn khéo, tránh đối đầu, tránh “chọn bên”, song kiên quyết, kiên trì giữ vững nguyên tắc; đối thoại, hợp tác để xử lý các khác biệt, bất đồng, bảo đảm hài hòa lợi ích, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, với tầm nhìn chiến lược là phục vụ mục tiêu an ninh, hòa bình, phát triển của đất nước. Điều này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong bài phát biểu tại Hội nghị Quân chính toàn quân ngày 20-12-2022: “Kịp thời nhận diện, xử lý đúng đắn, hài hòa, linh hoạt đối tác, đối tượng quốc phòng, không để bị động, bất ngờ; ngăn ngừa nguy cơ xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc, không “chọn bên”(3).

Thời gian qua, bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động phức tạp; cuộc cạnh tranh, thậm chí có lúc lên tới mức đối đầu giữa các nước lớn hiện nay đang đặt nhân loại trước những hiểm họa khôn lường, khó dự đoán. “Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ ngày càng quyết liệt, thậm chí có nguy cơ xung đột, đối đầu, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước có độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu và khả năng cạnh tranh còn hạn chế như nước ta”(4).Trong điều kiện tình hình thế giới vô cùng nhạy cảm, phức tạp hiện nay, Việt Nam kiên trì thực hiện chính sách “bốn không”: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy và đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, là thượng sách để giữ vững hòa bình đất nước, giữ vững chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam đã phát huy sức mạnh “Ngoại giao cây tre”: mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo, nhưng rất bản lĩnh, kiên định, như chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29 (năm 2016) và tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc năm 2921, góp phần giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong mọi hoàn cảnh và mọi thời điểm. Cứng mà không gãy, đa phương mà không phụ thuộc, “Ngoại giao cây tre Việt Nam” thời gian qua bằng sự uyển chuyển, khéo léo và mềm dẻo trong quan hệ với từng nước, song cũng kiên trì, kiên quyết trong ứng xử những vấn đề thuộc về nguyên tắc “bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, quyền và lợi ích chính đáng, giải quyết bất đồng trên tinh thần hữu nghị, tuân thủ triệt để Hiến chương Liên hợp quốc và phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế”, không chỉ khai thông “thế khó” của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn, mà còn tạo ra được mạng lưới lợi ích đan xen, lồng ghép giữa lợi ích quốc gia với lợi ích tổ chức khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế đất nước, góp phần bảo vệ và bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tiễn cán bộ, chiến sĩ Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 5 và Đội công binh số 2 lên đường thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan và Abye _Nguồn: vietnamplus.vn

Với truyền thống văn hóa giữ nước hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, hữu nghị, trọng lẽ phải, chính nghĩa, là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ, gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng, tích cực hợp tác cùng các quốc gia khác trong giải quyết những vấn đề an ninh đang nổi lên, đóng góp vào những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì nền hòa bình bền vững của nhân loại.

Như vậy, quan điểm cổ xúy cho việc “chọn bên” hoàn toàn đi ngược lại  với đường lối, chủ trương của Đảng, trái chiều với lợi ích quốc gia - dân tộc. Chúng ta không chọn bên mà chọn chính nghĩa, lẽ phải. Trong bài phát biểu tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ (CSIS) ngày 12-5-2022, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nêu rõ: “Trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều sự lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; bình đẳng, tất cả cùng có lợi, tất cả cùng chiến thắng”. Chọn chính nghĩa là chọn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị hợp tác và phát triển của đất nước ta. Chọn lẽ phải là chọn hòa bình và phát triển thịnh vượng của thế giới.

Chúng ta chọn hòa bình bởi Việt Nam đã trải qua các cuộc trường kỳ kháng chiến chống xâm lược, các thế hệ người Việt Nam đã đổ bao xương máu để giành và giữ nền độc lập, tự do dân tộc, sự vẹn toàn của bờ cõi, chủ quyền đất nước, nhưng Việt Nam luôn khẳng định tính chính nghĩa và tinh thần yêu chuộng hòa bình. Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, khát vọng hòa bình cũng chính là khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và ngày nay là khát vọng phồn vinh, hạnh phúc, tự cường.

Chúng ta chọn phát triển, hợp tác vì đó là sự lựa chọn hợp lẽ, vì mục tiêu phát triển đất nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phù hợp với xu hướng chung của tất cả các nước trên thế giới. Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2025, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Khát vọng phát triển của đất nước gắn liền với khát vọng hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của cả khu vực và thế giới.

Sự lựa chọn đó của Việt Nam phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc. Và chỉ có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại mới có thể bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, đưa đất nước phát triển hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc./.

Chọn bên hay chọn lợi ích quốc gia - dân tộc?

 Thực tiễn lịch sử quan hệ quốc tế cho thấy, giữa các nước lớn, nhất là giữa các cặp quan hệ, luôn tồn tại mâu thuẫn và khác biệt sâu sắc về lợi ích. Khi giữa các cường quốc có sự đối địch, chia phe, cạnh tranh ảnh hưởng sẽ kéo theo nhiều hệ lụy khó xử đối với các nước vừa và nhỏ trong việc phải “chọn bên”. Bởi lẽ, không phải cứ chọn bên là có thể bảo vệ được chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc, khi mà tham vọng lợi ích của các cường quốc thường vượt quá giới hạn luật pháp quốc tế và đi ngược lại lợi ích chung của nhân loại, đề cao lợi ích của mình để xử lý quan hệ với các đồng minh theo tiêu chí và giá trị lợi ích của họ. Thậm chí, kể cả khi lợi ích của họ có sự hội tụ nhất định ở một vài điểm, khía cạnh nào đó, họ cũng sẵn sàng mặc cả trên lưng các nước khác.

Việc chọn bên mà không tính và không lường hết được những toan tính chiến lược đó sẽ chỉ tạo ra sự phân cực, chia rẽ mới, gây thảm họa cho chính quốc gia đó. Và khi chọn bên, tham gia liên minh thì cái giá phải trả là gì? An ninh chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc phải chăng sẽ được bảo đảm bằng những lời hứa, cam kết? Điều chắc chắn, đó là phải chấp nhận nhượng bộ ít nhiều về chủ quyền hoặc lợi ích quốc gia - dân tộc của mình với cường quốc khi tham gia liên minh. Đó là điều không thể khác trong quan hệ quốc tế. Do vậy, dựa vào một quốc gia nào đó cho dù là “nước phát triển”, hay “cường quốc” thì chẳng những không giải quyết được vấn đề, mà còn khiến tình hình thêm căng thẳng và phức tạp.

Thế nhưng, không ít người ngộ nhận rằng, lựa chọn đứng về “bên” nào sẽ quyết định tương lai, số phận của quốc gia đó. Bài học lịch sử cho thấy, một số nước do không giữ được độc lập, tự chủ, nên phải tìm chỗ dựa hoặc cầu viện vào thế lực bên ngoài, bị cuốn vào guồng quay của những toan tính nước lớn mà không dễ gì thoát khỏi, để đất nước rơi vào thảm cảnh loạn ly bởi các cuộc chiến tranh ủy nhiệm. Các cuộc “cách mạng màu”, hay còn gọi là “cách mạng dân chủ” trên thế giới trong những năm qua là hệ quả của việc quốc gia, khu vực không bảo đảm độc lập, tự chủ, để các lực lượng bên ngoài thao túng, can thiệp khi xảy ra khủng hoảng, khiến nút thắt của những xung đột, mâu thuẫn, đối kháng nội bộ càng thêm rối ren.

Lựa chọn chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trước hết là quyền của mỗi quốc gia. Không một ai, với tư cách, danh nghĩa gì được phép tước bỏ, xâm phạm quyền đó, hoặc lợi dụng để ép buộc quốc gia khác phải đi theo mô hình, giá trị của họ. Việc chọn bên hay không chọn bên, đều phải xuất phát từ điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước, phải bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc; dựa vào sức mình là chính, luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ; không thể ảo tưởng, trông chờ, phó thác hoàn toàn vào bất cứ “bên”, “liên minh” nào, nhất là ngày nay, xu hướng đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc trên thế giới ngày càng chiếm vai trò chủ đạo.

Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, nhất là trong thời điểm biến động sâu sắc về địa - chính trị hiện nay, sự cạnh tranh cũng như điều chỉnh chính sách của các nước lớn khác trước rất nhiều so với giai đoạn trước, chứa đựng nhiều nhân tố khó dự báo. Việc các nước lớn đều theo đuổi các tầm nhìn khác nhau về cấu trúc khu vực, xúc tiến mở rộng tập hợp lực lượng, gia tăng ảnh hưởng thông qua các sáng kiến khu vực, hình thành các liên minh tay ba, tay tư, sử dụng “quyền lực mềm” nhằm lôi kéo sự ủng hộ của các nước thông qua các quan hệ kinh tế, đầu tư, thương mại, chuyển giao công nghệ, viện trợ,... đặt các nước vừa và nhỏ trước ranh giới của sự “chọn bên”. Duy trì chính sách độc lập, tự chủ, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trở thành một bài toán nan giải đối với các nước.

Một thực tế khác cũng cần nói đến là, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau, vừa là đối thủ, vừa là đối tác của nhau. Quan hệ tương tác, phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước tạo nên một mạng lưới đan xen phức tạp, chồng chéo, khiến việc giữ độc lập, tự chủ, tránh chọn bên của các nước ngày càng trở thành một thách thức.

Thực tế này đòi hỏi các nước nhỏ càng phải phát huy cao nhất tinh thần độc lập, tự chủ; vừa kiên định trong lập trường, vừa hết sức khôn khéo, mềm dẻo trong đấu tranh vì lợi ích quốc gia - dân tộc của mình, tránh xung đột, đối đầu; đồng thời, phải tính đến không gian phát triển, không tự bó buộc mình vào vị trí bất lợi cho đất nước trong bối cảnh cục diện quan hệ quốc tế còn nhiều bất định; sự vận động của cấu trúc quyền lực thế giới mới đang có nhiều đảo chiều, biến đổi.

Trong bối cảnh đó, cân bằng quan hệ để tránh tối đa những mâu thuẫn, bất lợi, rủi ro, leo thang thành cuộc đối đầu, xung đột toàn diện; tối đa hóa không gian hợp tác, tối ưu hóa lợi ích an ninh, phát triển là sự lựa chọn của hầu hết các nước trong khu vực hiện nay. Đối với các nước Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), lập trường của hầu hết các nước là không “chọn bên” trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn. Đây là vấn đề cốt lõi, sinh tử của các nước, bởi sự “chọn bên” có thể dẫn đến sự phân hóa, chia rẽ mới trong khu vực, biến khu vực thành “sân khấu tranh chấp địa - chính trị”. Thực tế đó đòi hỏi các nước triển khai chính sách linh hoạt, tránh xung đột, đối đầu. Đây được cho là sự lựa chọn tối ưu nhằm tối ưu hóa lợi ích quốc gia, bảo vệ chủ quyền đất nước, duy trì thế tự chủ chiến lược, thể hiện khát vọng một ASEAN tự cường, trung lập, hòa bình, ổn định, củng cố “vai trò trung tâm” trong bối cảnh tác động chiến lược ngày càng gia tăng giữa các nước lớn.

Việc một số quốc gia xích lại gần bên nọ, bên kia là điều tự nhiên; liên minh để bảo đảm an ninh, phát triển là điều dễ hiểu, song hầu hết các nước không muốn bị ép buộc phải chọn bên. Hơn lúc nào hết, việc chọn bên trong thời điểm cao trào xung đột nước lớn, giống như việc “đổ thêm dầu vào lửa”, tạo thế đối trọng giữa các bên, mâu thuẫn giữa các trục liên minh cũng vì thế gia tăng, làm tổn hại đến chính lợi ích của các nước. Do vậy, quan điểm cổ xúy “chọn bên” chỉ là ảo tưởng, phi thực tế, phi căn cứ. Lợi ích quốc gia - dân tộc mới chính là sự lựa chọn phù hợp, bất biến, bền vững. Việt Nam cũng như nhiều nước trong khu vực, luôn thấu hiểu rõ điều này. Uy-li-am Chong, nghiên cứu viên cao cấp của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (SAS - Yusof Ishak) có trụ sở tại Xin-ga-po, khi nói về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong bài viết “Mạnh mẽ và tinh tế: Cách tiếp cận của Việt Nam để đối phó với sự cạnh tranh của các cường quốc”, trên trang mạng Thinkchina ngày 10-5-2021 đã cho rằng: “Nếu quyền tự quyết trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn là khả năng tối đa hóa lợi ích từ cả hai cường quốc trong khi áp dụng các chính sách phòng ngừa rủi ro để duy trì quan hệ, thì Việt Nam là một điển hình kinh điển của nghệ thuật đó, có thể giúp các quốc gia Đông Nam Á khác nhân rộng chính sách này một cách hữu hiệu”.

Lễ thượng cờ ASEAN nhân dịp kỷ niệm 56 năm Ngày thành lập ASEAN (8-8-1967 - 8-8-2023) và kỷ niệm 28 năm Ngày Việt Nam gia nhập ASEAN (28-7-1995 - 28-7-2023) tại Hà Nội _Nguồn: qdnd.vn

Cổ xúy “chọn bên”: Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị nhằm chống phá đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta hiện nay

 Lâu nay, chính sách đối ngoại của Việt Nam là một trong những mục tiêu tấn công của các thế lực thù địch, phản động. Ngoài việc bóp méo, xuyên tạc, làm sai lệch bản chất các vấn đề, các sự kiện, xuyên tạc chính sách đối ngoại của Việt Nam, họ còn cổ xúy cho cái gọi là “chọn bên”, rằng Việt Nam cần dựa vào nước này để chống nước khác. Gần đây, trước những biến động lớn của đời sống quốc tế liên quan đến cạnh tranh giữa các cường quốc, nhất là cuộc xung đột tại U-crai-na, các phần tử phản động lại rộ lên các chiêu bài cũ, liên tục rêu rao “giảng dạy” cho Việt Nam về chính sách ngoại giao với các nước, đặc biệt là mối quan hệ với các nước lớn, cho rằng đây là cơ hội lịch sử nghìn năm có một để “Việt Nam vươn ra khỏi vòng kim cô”, rằng đây là lúc “thoát Trung, bài Nga”, sớm “đưa Việt Nam hội nhập vào thế giới tự do, văn minh và tiến bộ của phương Tây, đúng với vị trí mà thế giới mong đợi(?!)”. Thậm chí, trên các trang facebook của họ còn xuất hiện cái gọi là “thoát Trung luận” với những luận điểm cổ xúy cho việc chọn bên. Họ cho rằng Việt Nam cần dựa vào Mỹ và các nước phương Tây để vừa phát triển kinh tế, vừa “ngăn chặn hiểm họa từ nước khác”.

Một số quan điểm cho rằng, Mỹ đang muốn lôi kéo Việt Nam vào liên minh chống Trung Quốc do Mỹ đứng đầu, muốn Việt Nam gia nhập “Bộ tứ kim cương mở rộng” nhằm tăng cường sức ép đối với Trung Quốc. Không chỉ đưa ra những luận điểm “bài”, “thoát”, mà họ còn cho rằng cần thiết lập “đồng minh” với các nước lớn, quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam, nhằm hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đối với công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, họ hô hào rằng, chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc; không liên minh quân sự thì mất lãnh thổ, chủ quyền ở Biển Đông; Việt Nam nên liên minh quân sự với các nước lớn có thực lực quân sự, quốc phòng mạnh để được hỗ trợ tối đa về mặt quân sự, kể cả đưa vũ khí trang bị, lực lượng quân đội đến trợ giúp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia. Thậm chí, có ý kiến còn cổ xúy cho quan điểm không liên minh quân sự là đúng trong trường hợp nhằm chống nước khác, nhưng sẽ không đúng đối với trường hợp để bảo vệ Tổ quốc; rằng cần có cách tiếp cận mới và sớm điều chỉnh quan điểm chỉ đạo này. Họ cho rằng, vì mục đích bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thì chẳng những cần thiết mà thậm chí nên chủ động liên minh trước với các nước thật sự tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam. Thông qua thủ đoạn thâm độc này, họ tìm cách tác động đến dư luận, để qua đó hướng lái chính sách đối ngoại, hòng đưa Việt Nam đi vào quỹ đạo lệ thuộc, từ đó làm chệch hướng sự nghiệp cách mạng mà Việt Nam đang thực hiện.

Thực tế, chiêu trò xuyên tạc chính sách đối ngoại, cho rằng Việt Nam không “dứt khoát” trong quan hệ quốc tế, kích động Việt Nam phải thể hiện lập trường, phải chọn bên, là một thủ đoạn thường xuyên được các thế lực thù địch, phản động tìm cách phát tán, cho thấy một sự nhận thức lệch lạc, thiếu hiểu biết, thiếu khách quan, suy diễn một chiều, mơ hồ về chính trị, xuyên tạc vô căn cứ đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Thực chất của những hoạt động trên cũng chỉ nhằm thông qua sự can thiệp từ bên ngoài hòng lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa của nước ta.

Kiên quyết chống việc lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân

 Trong lịch sử cũng như hiện tại, các thế lực cực đoan, thù địch luôn tìm cách chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng dưới nhiều hình thức khác nhau; tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để lôi kéo, kích động tín đồ các tôn giáo nhằm mục tiêu chống phá Việt Nam từ bên trong, phá hoại thành quả cách mạng của dân tộc. Trước thực trạng đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao đóng góp của tôn giáo cho cách mạng, nhưng kiên quyết chống việc lợi dụng tôn giáo, lợi dụng lòng tin của tín đồ để phá hoại sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Người luôn giáo dục cán bộ rằng bản chất của tín đồ là tốt, nếu có ai đó thiếu kiên định không đi cùng dân tộc, thì chỉ là do người xấu lôi kéo nên phải có thái độ khoan hồng, độ lượng với những người lầm đường lạc lối. Phải làm cho quần chúng hiểu rõ thái độ của Đảng và Nhà nước ta không chống tôn giáo, mà chỉ chống lợi dụng tôn giáo, chống chế độ người bóc lột người. Tư tưởng của Người đã trở thành quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong công tác tôn giáo được thể hiện trong Nghị quyết số 25: “Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia”. Quan điểm trên tạo ra môi trường ổn định, lành mạnh cho các hoạt động tôn giáo thuần túy của người dân. Thực tế chứng minh Việt Nam chưa từng xẩy ra mâu thuẫn, xung đột, chiến tranh tôn giáo như các nước trong khu vực và trên thế giới và thành quả của công tác tôn giáo chính là điểm đến Việt Nam an toàn, hấp dẫn và thân thiện cho các hội nghị, hội thảo lớn về tôn giáo tầm quốc tế, khu vực trong nhiều năm qua.

Trong công tác đấu tranh với những biểu hiện sai trái của tín đồ các tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ phải kiên trì, sát dân, hiểu dân để vận động dân. Phải giải thích để đồng bào hiểu âm mưu thâm độc của kẻ thù lợi dụng tôn giáo, lợi dụng niềm tin của người dân để phản nước, hại dân, làm hại tôn giáo. Chỉ có cách mạng mới là con đường giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, trừng trị những kẻ lợi dụng tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo vệ và phát triển tư tưởng của Người, trong công tác tôn giáo hiện nay Đảng ta yêu cầu “Công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp, các ngành, các địa bàn. Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và kiện toàn. Công tác quản lý nhà nước đối với các tôn giáo và đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để chống đối chế độ chỉ thành công nếu làm tốt công tác vận động quần chúng” (Nghị quyết số 25). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ “Xử lý hài hòa các vấn đề dân tộc, tôn giáo, bức xúc xã hội, không để xẩy ra các “điểm nóng”. Kịp thời phát hiện, chủ động xử lý có hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự, gây bức xúc trong dự luận, củng cố niềm tin của nhân dân”(13) .

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng của Người về tôn giáo là giá trị chính trị lớn đã và đang được Đảng, Nhà nước vận dụng triệt để và sáng tạo trong công tác tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Tư tưởng ấy được nhân dân ta học tập nâng cao nhận thức và vận dụng để góp phần đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, qua đó xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước./.

Phát huy giá trị đạo đức, văn hóa của các tôn giáo

 Trong ứng xử với tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhìn nhận và phát huy những giá trị tích cực của các tôn giáo, lấy đó làm điểm chung để đoàn kết tôn giáo, dân tộc. Người luôn tìm những giá trị nhân văn của các tôn giáo để cổ vũ, khích lệ chức sắc và đồng bào theo tôn giáo phát huy giá trị đó vào xây dựng đạo đức xã hội. Người đánh giá cao lòng bác ái, đức hy sinh của những vị sáng lập ra tôn giáo, sáng lập giá trị chân - thiện - mỹ trong triết lý tôn giáo với mục đích chung là mưu cầu hạnh phúc cho con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc phụng sự Đức Chúa, phụng sự Tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng của người Công giáo. Mười điều răn của Chúa quy lại thành hai điều “Kính Chúa - Yêu Người” được Chủ tịch Hồ Chí Minh cụ thể hóa tinh thần yêu người thành yêu nước một cách tài tình, để người Công giáo gắn bó với quê hương, đất nước. Người coi các biểu tượng tôn giáo chính là văn hóa, là niềm tin của tín đồ cần giữ gìn. Trong kháng chiến Người căn dặn không nên vì tiêu thổ kháng chiến mà phá gác chuông nhà thờ, trừ khi giáo dân nhận rõ việc đó là bảo vệ địa phương và tán thành. Trước khi làm việc ấy phải làm lễ rước thánh giá đi nơi khác cho trọng thể(10). Tư tưởng của Người được Đảng, Nhà nước Việt Nam bảo vệ và phát triển thành quan điểm trong Nghị quyết số 25, “Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân”. Trong báo cáo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 tại Đại hội XIII của Đảng tiếp tục kế thừa và phát triển những quan điểm lớn của Đảng về tôn giáo, đặc biệt là phát triển quan điểm mới là phát huy nguồn lực tôn giáo vào các hoạt động cụ thể của xã hội “Phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo vào giữ gìn và nâng cao truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội”(11). Từ tư tưởng đó, trong công tác tôn giáo, các cấp, các ngành đã vận dụng và phát huy giá trị đạo đức, văn hóa tôn giáo trong việc sống hiếu thảo, trung thực, nhân ái, hướng tới điều lành, tránh xa điều ác góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc. Khơi dậy đóng góp tích cực của tôn giáo trong các hoạt động an sinh xã hội, từ thiện, nhân đạo. Hiện nay, cả nước có 300 trường, lớp mầm non, 2 nghìn lớp học tình thương, 12 cơ sở dạy nghề; 500 cơ sở khám, chữa bệnh do cá nhân, tổ chức tôn giáo thành lập và điều hành; gần 800 cơ sở bảo trợ xã hội đang nuôi dưỡng 12 nghìn các đối tượng cần trợ giúp(12), góp phần cùng nhà nước chăm lo đời sống cho người dân còn khó khăn.

Đề cao vai trò của nhân sĩ, trí thức, chức sắc các tôn giáo

 Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức đúng đắn về vai trò xã hội và đạo đức của tôn giáo đối với một bộ phận người dân, đặt biệt Người luôn kính trọng và ca ngợi những vị chức sắc (Giáo chủ) các tôn giáo: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”(7). “Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội... Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”(8). Với tư tưởng đó, trong lần gặp với đại biểu các tôn giáo năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao vai trò của tôn giáo trong công cuộc giải phóng dân tộc, Người nói: “Nước không độc lập thì tôn giáo không được tự do, nên chúng ta phải làm cho nước độc lập đã”(9) dân tộc giải phóng thì tôn giáo mới được giải phóng, lúc này chỉ có quốc gia mà không phân biệt tôn giáo nữa, mỗi người đều là công dân của nước Việt Nam có nhiệm vụ chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc. Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc; thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào theo tôn giáo.

Vận dụng tư tưởng ấy của Người, Đảng ta đưa thành quan điểm trong Nghị quyết số 25 về công tác tôn giáo, trong đó nêu rõ: Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Coi công tác vận động chức sắc, tín đồ là một công tác trọng yếu trong công tác dân vận. Trong công tác đối với chức sắc tôn giáo, người chỉ rõ cần tranh thủ sự ủng hộ của hàng giáo sĩ, đặc biệt là hàng ngũ giáo sĩ cao cấp bằng việc mời họ tham gia cách mạng với một thái độ thực sự cầu thị, chân tình, tin cậy lẫn nhau; tạo điều kiện để các giáo sĩ vừa hoàn thiện sứ mệnh với đạo, vừa hoàn thành nghĩa vụ của người công dân, khơi dạy tinh thần dân tộc của người theo đạo. Phải coi công tác vận động chức sắc tôn giáo là công tác trí thức, bởi đội ngũ chức sắc vừa là người có “thần quyền”, vừa có “phẩm cách và phương pháp” của một người trí thức.

Với tinh thần cầu thị, thái độ chân thành Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được nhiều nhân sĩ, trí thức theo tôn giáo, trong đó có các giáo sĩ Công giáo tham gia kháng chiến, ủng hộ cách mạng. Sự có mặt của các vị nhân sĩ, trí thức, chức sắc Công giáo, như Nguyễn Mạnh Hà, Ngô Tử Hạ, Vũ Đình Tụng, Hồ Đắc Ghi, Nguyễn Thành Vĩnh, các linh mục Phạm Bá Trực, Nguyễn Bá Luật..., đặc biệt là các giám mục Lê Hữu Từ, Hồ Ngọc Cẩn có tác dụng to lớn trong việc động viên, khích lệ người Công giáo tham gia kháng chiến, kiến quốc và hạn chế việc lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch.

Kế thừa và vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đưa việc tranh thủ, vận động chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo trở thành quan điểm và nhiệm vụ xuyên suốt trong công tác tôn giáo qua các thời kỳ cách mạng và xây dựng đất nước. Đặc biệt vận động, tạo điều kiện để các vị chức sắc, tín đồ tham gia đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, thành viên các tổ chức chính trị - xã hội đại diện tiếng nói của khối tôn giáo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến nay, Quốc hội Việt Nam đã trải qua 15 nhiệm kỳ xây dựng và phát triển, từ khóa I đến khóa XV đều có chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo tham gia. Riêng khóa XV có 5 chức sắc trúng cử đại biểu Quốc hội. Được giáo hội giới thiệu, nhân dân lựa chọn bầu vào Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp là những người ưu tú, có nhiều đóng góp trong công tác lập pháp và sự nghiệp xây dựng đất nước, luôn thể hiện rõ trách nhiệm người đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân nói chung, của đồng bào theo tôn giáo nói riêng. Trên tinh thần đấy, từ năm 2016 đến năm 2022, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã 3 lần gặp mặt, biểu dương các chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tổ chức tôn giáo tiêu biểu có đóng góp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các bộ, ban, ngành và chính quyền địa phương thường xuyên có những cuộc gặp gỡ, đối thoại, lắng nghe tâm tư nguyện vọng của các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo góp phần thúc đẩy tôn giáo ngày càng đồng hành, gắn bó với đất nước.

Nhân dân xem múa rồng nhang đại lễ Hội Yến Diêu Trì Cung - lễ hội lớn nhất trong năm của Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh trong đêm trung thu _Nguồn: thanhnien.vn

Đoàn kết các tôn giáo, đoàn kết tôn giáo - dân tộc

 Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ quan điểm và kiên trì thực hiện đoàn kết tôn giáo, đoàn kết toàn dân theo tinh thần “Đoàn kết Lương - Giáo”. Người luôn xem đồng bào các tôn giáo là một phần không thể tách rời của cộng đồng dân tộc và một lực lượng quan trọng của cách mạng. Điều đó không chỉ có tác dụng khuyến khích đồng bào các tôn giáo tích cực tham gia cách mạng, mà còn đập tan những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc gây chia rẽ người cộng sản với đồng bào theo tôn giáo của các thế lực phản động. Từ giá trị của tư tưởng ấy của Người, Đảng ta khẳng định và phát triển trong Nghị quyết số 25: “Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo” và được thực thi, lan tỏa trong đời sống tôn giáo ở khắp mọi miền Tổ quốc. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định các quan điểm trên trong công tác tôn giáo: “Thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật”(4).

Để thực hiện đoàn kết lương - giáo, Người luôn cố gắng làm cho đồng bào hiểu rằng, đức tin tôn giáo và lý tưởng cộng sản có nhiều điểm tương đồng. “Đường lối và mục đích của Chính phủ nhằm ba mục tiêu sau đây: (1) Giải phóng nhân dân khỏi đói, khỏi rét (khổ sở) và khỏi dốt; (2) Đem lại cho nhân dân sự tự do, tự do sống, tự do tín ngưỡng; (3) Bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc”(5). Người luôn tìm và chỉ ra những giá trị đạo đức, văn hóa dân tộc với triết lý của tôn giáo để vận động, đoàn kết đồng bào theo tôn giáo đi theo cách mạng, giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Học tập và làm theo tư tưởng của Người, Đảng ta lấy “Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(6). Làm cho đồng bào các tôn giáo tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, ủng hộ và đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng như ngày nay.

Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo và sự vận dụng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong công tác tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

 Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền căn bản của con người, nhưng quyền đó phải gắn chặt và đồng hành cùng với lợi ích của đất nước, của dân tộc Việt Nam. Do vậy, quyền ấy chỉ có giá trị đích thực khi nó gắn với độc lập dân tộc, nước không được độc lập thì tôn giáo không được tự do. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, đấu tranh cho độc lập dân tộc chính là đấu tranh cho quyền độc lập, tự do của các tôn giáo, chính vì vậy, đấu tranh giành độc lập cho nước nhà cũng là trách nhiệm của cá nhân và tổ chức tôn giáo. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân phải được tôn trọng và bảo đảm dựa trên cơ sở tôn trọng đức tin tôn giáo của mỗi người và không ai được xâm phạm, ép buộc, cản trở quyền đó. Dù thế giới quan khác nhau, niềm tin khác nhau, song không vì thế mà đối đầu, nghi kỵ, ngược lại phải tôn trọng niềm tin của mỗi người(1). Đấy chính là lý do mà ngay phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) (ngày 3-9-1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ tuyên bố “Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”.

Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Nghị quyết số 25-NQ/2003/TW, ngày 12-3-2003, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về công tác tôn giáo” (Nghị quyết số 25), Đảng đưa quan điểm “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”. Quan điểm này được thể hiện cụ thể trong vấn đề theo đạo và truyền đạo “Mọi công dân đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật”. Hiến pháp năm 2013 có bước tiến mới trong việc mở rộng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo... Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

Từ nền tảng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng đến thực tiễn hiện nay cho thấy Việt Nam luôn quan tâm chăm lo đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào. 95% người dân Việt Nam có tín ngưỡng, tôn giáo. Riêng tôn giáo có 41 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động, hơn 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số; khoảng 58 nghìn chức sắc; 148 nghìn chức việc hoạt động ở 63 tỉnh, thành phố trong cả nước(2). Hoạt động tôn giáo, lễ hội tôn giáo diễn ra quanh năm và trở thành nét đẹp văn hóa trong đời sống xã hội, như lễ Phật đản của Phật giáo và Tịnh độ Cư sĩ Phật hội; lễ Giáng sinh, Phục sinh của Công giáo, Tin lành; Tết Chôl Ch-nam Th-mây của đồng bào Khơ-mer; Tháng lễ Ra-ma-đan của cộng đồng Hồi giáo (Islam) và Ra-mư-oăn của cộng đồng Hồi giáo Bà-ni...

Tư tưởng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn liền với việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của tín đồ tôn giáo. Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên và chính quyền phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào theo đạo, làm cho họ “phần xác no ấm, phần hồn thong dong”(3). Tinh thần của Người đã nâng cao sự nhận thức về đoàn kết dân tộc trong đồng bào theo tôn giáo khi đưa mối quan hệ biện chứng giữa “Kính Chúa, Yêu Nước” và chuyển tải tinh thần đó cho phù hợp với thời đại và niềm tin tôn giáo của tín đồ, chức sắc tôn giáo. Tư tưởng của Người đã được các ngành, các cấp liên quan cụ thể hóa trong công tác hướng dẫn tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo đúng chính sách, pháp luật, ủng hộ tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó đồng hành cùng dân tộc, đậm chất nhân văn của các tôn giáo. Cụ thể Phật giáo xác định đường hướng hành đạo “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, Công giáo “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”; Tin lành với đường hướng “Sống phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc”; Cao đài với đường hướng “Nước Vinh Đạo Sáng”...

Có thể thấy tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là cam kết chính trị của người đứng đầu nhà nước với người dân về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa là quan điểm xuyên suốt mà Đảng ta đã bảo vệ và kế thừa trong công tác tôn giáo. Tư tưởng này luôn là định hướng cho cán bộ làm công tác tôn giáo nhận thức đúng, khách quan về giá trị tôn giáo, chấn chỉnh nhận thức sai lệch, tả khuynh của một số cán bộ đối với tôn giáo trong thời điểm lúc bấy giờ và trong thực hiện công tác tôn giáo hiện nay.

Một số giải pháp cần tập trung thực hiện để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời gian tới

 Trước yêu cầu, nhiệm vụ của công tác tư tưởng, lý luận, đồng thời để khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp:

Thứ nhất, bảo đảm vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng, nâng cao nhận thức của người đứng đầu cấp ủy ở các cấp, các ngành về tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã đề ra.

Thứ hai, nâng cao trách nhiệm, ý thức chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân, hình thành ý thức tự giác, thúc đẩy hành động tích cực trong việc bảo vệ, đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ ba, nhận diện và phân loại từng đối tượng, trên cơ sở xem xét ở nhiều mặt như động cơ, vai trò, nội dung các luận điệu, mức độ tác động… để đưa ra biện pháp đấu tranh thích hợp và có hiệu quả; tránh tình trạng hoặc xử lý thiếu kiên quyết, không triệt để hoặc cực đoan, tạo cớ cho các thế lực thù địch chống phá.

Thứ tư, tăng cường các giải pháp về kỹ thuật, nghiệp vụ để ngăn chặn, sàng lọc, làm loãng, quản lý thông tin nhằm chủ động ngăn chặn sự lan truyền những luận điệu sai trái, thù địch và các trang mạng xấu, độc; xây dựng hệ bài viết có nội dung đấu tranh sắc bén và giàu tính chiến đấu, từng bước giành thế chủ động trên không gian mạng. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, sắp xếp, kiện toàn bộ máy chỉ đạo, nhóm chuyên gia, lực lượng nòng cốt (từ Trung ương đến địa phương), đổi mới mô hình và phương thức hoạt động; đặc biệt, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng, các cấp, các ban, ngành và phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đồng chí Nguyễn Phạm Duy Trang, Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh gắn Huy hiệu cháu ngoan Bác Hồ tặng các đại biểu dự Đại hội Cháu ngoan Bác Hồ toàn quốc tại Lễ báo công và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh _Ảnh: TTXVN

Thứ năm, đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc, phản động phải đi liền với việc khẳng định và phát triển các giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh; với việc rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, chú trọng nghiên cứu, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên những vấn đề lớn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta qua hơn 35 năm đổi mới dưới sự soi sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh là minh chứng đanh thép, sống động và thuyết phục nhất để phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, đồng thời khẳng định giá trị, tính đúng đắn, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng mãi soi đường cho sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Quyết tâm, nỗ lực bền bỉ của Đảng, hệ thống chính trị và nhân dân trong bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh

 Cuộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng ta - có mối quan hệ mật thiết với cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Các văn kiện của Đảng thể hiện rõ và nhất quán quan điểm, nhận định, đánh giá về giá trị, cống hiến của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam và nhân loại. Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng về việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, qua đó, góp phần nâng cao nhận thức chính trị và củng cố niềm tin vững chắc của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đối với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm chỉ đạo là, vững vàng kiên định và vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, qua đó tạo cơ sở, khuôn khổ pháp lý để ngăn ngừa và xử lý hành vi vi phạm. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Trong các bộ luật, các luật có điều khoản quy định về xử lý hành vi truyền bá, xuyên tạc tư tưởng và đường lối của Đảng, trong đó có xuyên tạc lãnh tụ Hồ Chí Minh, lãnh đạo Đảng và Nhà nước, như tại Điều 117, Điều 331 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 10 Luật Xuất bản năm 2012; Điều 9 Luật Báo chí năm 2016; Điều 16 Luật An ninh mạng năm 2018…

Công tác đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng có sự tham gia của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân; trong đó, đi đầu là đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lực lượng nòng cốt tham gia đấu tranh là Ban Chỉ đạo 35 Trung ương và các cấp, nhất là ban chỉ đạo 35 của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Hội đồng Lý luận Trung ương... cùng hệ thống các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản với hàng trăm tờ báo, đài phát thanh, đài truyền hình và đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học, tuyên truyền viên… tạo thành mạng lưới đấu tranh ngày càng đông đảo và hiệu quả.

Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, các bộ, ngành, địa phương trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng ngày càng chặt chẽ với vai trò “lĩnh xướng” và sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương, ban chỉ đạo 35 các cấp; sự hợp tác, phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc trao đổi, cung cấp, xử lý thông tin và phối hợp đấu tranh.

Phương thức đấu tranh là vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các đối tượng thù địch, phản động và có hình thức, biện pháp xử lý phù hợp tùy theo mức độ vi phạm; định hướng tuyên truyền, cung cấp đầy đủ thông tin chính thống, quản lý tốt nguồn thông tin, ngăn chặn kịp thời các thông tin, tài liệu sai trái; đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về cuộc đời, sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh; lấy những kết quả từ sự vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng nước ta làm minh chứng sống động, thuyết phục để phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, phản động...

Với các thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài, chúng ta sử dụng, phối hợp các biện pháp, từ tuyên truyền, phản bác dựa vào luật pháp Việt Nam và quốc tế, đến sử dụng biện pháp ngoại giao để ngăn chặn từ xa, kịp thời. Đối với các tổ chức phản động lưu vong, các cơ quan chức năng của Việt Nam đề nghị phía chính quyền nước sở tại phối hợp điều tra, ngăn chặn. Ngoài ra, dựa theo các căn cứ pháp lý của Việt Nam, như Thông tư số 38/2016/TT-BTTTT và Luật An ninh mạng, Bộ Thông tin và Truyền thông đã trao đổi, yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nước ngoài (như Google, Facebook) gỡ bỏ nhiều thông tin vi phạm. Đối với các đối tượng ở trong nước, tùy vào mức độ vi phạm, các cơ quan chức năng có biện pháp từ giáo dục, yêu cầu gỡ bỏ, xử phạt hành chính đến xử lý hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng, Lực lượng 47 (Bộ Quốc phòng), các lực lượng thuộc Bộ Công an, như Cục An ninh chính trị nội bộ, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao... đã vô hiệu hóa được nhiều kế hoạch, “chiến dịch” của các tổ chức phản động lưu vong, các chương trình truyền hình, phát thanh tiếng Việt có nội dung bôi nhọ, xuyên tạc lãnh tụ và Đảng, Nhà nước; dựng “tường lửa” ngăn chặn sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa, tư tưởng xấu, độc trên mạng. Sự ra đời và hoạt động hiệu quả của Ban Chỉ đạo 609 của Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Chỉ đạo 213 Trung ương về đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật (nay hợp nhất thành Ban Chỉ đạo 35 Trung ương); cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã kiên trì, kiên quyết phản bác lại các luận điệu sai trái, xuyên tạc; định hướng tuyên truyền kịp thời, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Đồng thời, tăng cường hoạt động thông tin đối ngoại, mở thêm phiên bản tiếng nước ngoài của Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản…, tích cực đưa những thông tin đầy đủ, chính thống về Việt Nam đến với bạn bè thế giới và các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài.

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về tư tưởng Hồ Chí Minh đến đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, góp phần củng cố vững chắc tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần xã hội. Xuất bản các bộ sách lớn như Hồ Chí Minh Toàn tập (15 tập), Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử (10 tập)… với hàng nghìn tư liệu, sự kiện, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Triển khai các chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, tiêu biểu như Chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước KX. 02, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh với 13 đề tài nhánh, cùng hàng trăm đề tài khoa học các cấp; bên cạnh đó, hàng trăm cuốn sách, hàng nghìn bài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được xuất bản, đăng tải trên các phương tiện truyền thông, qua đó, góp phần đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương của Người trong toàn xã hội, bổ sung những nguồn tư liệu quý, những luận cứ xác đáng, thuyết phục, tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn những giá trị, tầm vóc vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng tham quan trưng bày chuyên đề “Hồ Chí Minh - những nét phác hoạ chân dung” và Triển lãm “Những tấm gương bình dị mà cao quý” tại Bảo tàng Hồ Chí Minh _Nguồn : toquoc.vn

Các cơ quan nghiên cứu, truyền bá, giảng dạy lý luận chính trị, khoa học của Đảng và Nhà nước, như Hội đồng Lý luận Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam… đẩy mạnh nghiên cứu, xây dựng hệ thống luận cứ, luận điểm ngày càng vững chắc đấu tranh phản bác, bẻ gãy từ gốc bằng lý luận các luận điệu sai trái, thù địch, phản động. Bên cạnh đó, công tác lý luận của Đảng tiếp tục có bước phát triển mạnh mẽ; trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện, càng khẳng định vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, tiếp tục soi sáng, dẫn dắt sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta đi đến thắng lợi.

Ban chỉ đạo 35 các địa phương đã kịp thời tham mưu, đề xuất và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của cấp ủy các cấp; phối hợp hoạt động của các thành viên ban chỉ đạo 35, của các nhóm chuyên gia; xây dựng chương trình trọng tâm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch theo định hướng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng phù hợp với đặc điểm, tình hình từng địa phương. Ban chỉ đạo 35 các địa phương tập trung nắm chắc tình hình dư luận xã hội, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; báo cáo cơ quan thường trực để tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác định hướng thông tin, tuyên truyền; bám sát sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương, tăng cường phối hợp giữa các đơn vị nhằm chủ động đấu tranh ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trên địa bàn.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các tổ chức thành viên tích cực tuyên truyền sâu rộng để các tầng lớp nhân dân nhận rõ bản chất âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đồng thuận xã hội, bảo đảm sự thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng, hành động; huy động sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân vào cuộc đấu tranh chống các luận điệu sai trái, thù địch, phản động.

Mặc dù đạt nhiều kết quả quan trọng, nhưng công tác bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế, yếu kém. Một số cấp ủy đảng, người đứng đầu đơn vị vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công tác trên, nên lãnh đạo, chỉ đạo chưa sát sao, kịp thời, dẫn đến sự phối hợp giữa các lực lượng đấu tranh chưa thực sự đồng bộ, gắn kết chặt chẽ và hiệu quả. Còn thiếu chương trình khoa học cấp nhà nước mang tầm quốc gia về vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Nhiều bài viết đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh còn thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao, thiếu thuyết phục người đọc... Bên cạnh đó, cuộc đấu tranh trên không gian mạng vẫn rất gay go, phức tạp; do tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường, cùng sự suy thoái, “tự diễn biến” của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay... đã và đang làm hạn chế hiệu quả công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay

 uộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác tư tưởng chính trị, công tác lý luận của Đảng, đòi hỏi phải ngày càng toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay.

Lắng nghe lời Bác dạy _Tranh Tư liệu