Thứ Ba, 26 tháng 12, 2023

Các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc Việt Nam (1954 - 1975) - một số kinh nghiệm rút ra

 Sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp của đế quốc Mỹ, nhân dân Việt Nam bước vào thời kỳ lịch sử đặc biệt. Theo nội dung Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954), nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc, lấy vĩ tuyến 17 dọc sông Bến Hải, thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị là giới tuyến quân sự tạm thời. Ngay sau khi Hiệp định vừa ký kết, đế quốc Mỹ đã thay chân thực dân Pháp, chiếm đóng miền Nam, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, thực hiện chế độ thực dân kiểu mới ở miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam. Thực tiễn lịch sử khắc nghiệt đó đặt ra cho Đảng và nhân dân ta phải đồng thời thực hiện hai chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc với mục tiêu hoàn thành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Hai chiến lược đó có quan hệ mật thiết, quyết định lẫn nhau dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng.

Để thực hiện đồng thời hai chiến lược này, yêu cầu nâng cao vai trò, hiệu quả lãnh đạo của Đảng được đặc biệt coi trọng. Trong nhiều giải pháp, Đảng nhấn mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, với 5 cuộc vận động, chỉnh đốn Đảng lớn được thực hiện ở miền Bắc trong thời kỳ 1954 - 1975:

1- Cuộc vận động chỉnh đốn tổ chức gắn liền cải cách ruộng đất (tháng 12-1954 đến tháng 7-1956). Ngày 7-12-1954, Đảng ban hành Chỉ thị “Về việc chỉnh đốn chi bộ nông thôn trong cải cách ruộng đất”, nhằm mục tiêu xây dựng các chi bộ trở thành hạt nhân lãnh đạo chính trị ở nông thôn, bảo đảm đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh ở nông thôn.

2- Cuộc chỉnh huấn mùa Xuân năm 1961. Ngày 25-2-1961, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW “Về cuộc vận động chỉnh huấn mùa Xuân 1961”, là cuộc chỉnh huấn lớn nhất về tư tưởng từ khi hoà bình lập lại ở miền Bắc. Mục đích nhằm tích cực bồi dưỡng và xây dựng tư tưởng mới cho cán bộ, đảng viên và nhân dân lao động, để trên cơ sở đó khắc phục những tư tưởng sai lầm đang cản trở sự nghiệp cách mạng.

3- Cuộc chỉnh huấn mùa Xuân năm 1965. Ngày 2-1-1965, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 88-CT/TW tiến hành cuộc vận động, chỉnh huấn mùa Xuân năm 1965. Cuộc vận động, chỉnh huấn được tiến hành trong toàn Đảng nhằm nâng cao ý chí phấn đấu, ý thức tổ chức và kỷ luật, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân, khắc phục những tư tưởng lệch lạc, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân.

4- Cuộc vận động xây dựng chi bộ bốn tốt (1962 - 1968). Đầu tháng 6-1962, Ban Bí thư Trung ương Đảng mở cuộc vận động “Xây dựng chi bộ, đảng bộ bốn tốt”. Tiếp đó, ngày 6-7-1965, Ban Bí thư ra Nghị quyết số 122-NQ/TW “Về tăng cường lãnh đạo, đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng chi bộ và đảng bộ cơ sở bốn tốt” trong ba năm (1965 - 1968). Mục tiêu của hai cuộc vận động này nhằm làm cho chi bộ và tổ chức cơ sở đảng trở thành hạt nhân lãnh đạo vững chắc, đủ sức tổ chức và lãnh đạo quần chúng hoàn thành tốt những nhiệm vụ cơ bản đề ra cho từng loại cơ sở, thiết thực đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị của miền Bắc.

5- Cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh (1970 - 1972). Ngày 6-3-1970, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 195-NQ/TW quyết định mở cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh. Mục đích chính của cuộc vận động là giáo dục, bồi dưỡng đảng viên, kết nạp đảng viên bảo đảm chất lượng, đưa những người không đủ tư cách ra khỏi Đảng nhằm tăng cường sức chiến đấu, củng cố sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng, làm cho Đảng luôn trong sạch và vững mạnh.

Từ việc Đảng lãnh đạo tiến hành các cuộc vận động, chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975, có thể rút ra một số kinh nghiệm cho công tác xây dựng Đảng về tư tưởng:

Một là, xây dựng Đảng về tư tưởng phải xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ chính trị.

Thời kỳ 1954 - 1975 là giai đoạn đầy khó khăn, thử thách trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Bám sát yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, ở miền Bắc, các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng đều chú trọng đến việc xây dựng một hệ thống tố chức của Đảng từ Trung ương đến cơ sở phải thật chặt chẽ, vững mạnh, có tính kỷ luật cao; xây dựng các cấp ủy đảng đặc biệt chi bộ, đảng bộ cơ sở; tăng cường số lượng, chất lượng, tính chiến đấu cho đội ngũ đảng viên trở thành nòng cốt cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chiến đấu bảo vệ miền Bắc, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam… Cuộc chỉnh huấn mùa Xuân năm 1961 diễn ra khi miền Bắc thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965). Lúc này, tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên có nhiều diễn biến phức tạp, sự giác ngộ về chủ nghĩa xã hội còn yếu, tư tưởng tiểu tư sản còn nặng, còn có những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, tinh thần phấn đấu cách mạng bị giảm sút, ý thức tổ chức và quan điểm lao động chưa được đề cao tương xứng với tinh thần triệt để của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì thế, Đảng xác định cần phải tiến hành cuộc chỉnh huấn lớn về công tác tư tưởng với mục đích làm cho tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng lao động phù hợp với yêu cầu phát triển của cách mạng và trở thành một lực lượng vật chất mạnh mẽ bảo đảm thi hành Nghị quyết Đại hội III của Đảng, hoàn thành vượt mức kế hoạch nhà nước và thúc đẩy cách mạng phát triển lên những bước mới. Do đó, nội dung của cuộc chỉnh huấn tập trung vào xây dựng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân lao động tinh thần làm chủ Nhà nước, tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa; quan điểm phục vụ sản xuất; quan điểm cần, kiệm xây dựng Tổ quốc; quan điểm tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.

Từ năm 1965, tình hình ở Việt Nam có những thay đổi quan trọng, từ bối cảnh chiến tranh ở phạm vi một nửa quốc gia, đã lan rộng trên phạm vi cả nước. Nhiệm vụ chính trị của miền Bắc lúc này là tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại, tiếp tục thực hiện cao hơn nhiệm vụ là hậu phương lớn cho miền Nam. Nhưng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã xuất hiện tư tưởng ngại gian khổ, sợ hy sinh, thiếu cảnh giác cách mạng, tinh thần trách nhiệm và tính chủ động, sáng tạo trong công tác còn thấp. Trước tình hình đó, Đảng thực hiện cuộc vận động chỉnh huấn mùa Xuân năm 1965 gắn với “chuyển hướng tư tưởng” theo tinh thần Nghị quyết số 11-NQ/TW của Trung ương Đảng. Sau chỉnh huấn, đại đa số các tổ chức của Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên của miền Bắc vững vàng, kiên định về lập trường tư tưởng trong khói lửa của chiến tranh.

Như vậy, các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc thời kỳ 1954 - 1975 được thực hiện trên cơ sở bám sát các nhiệm vụ chính trị. Gắn với điều kiện thực tiễn và yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng mà nội dung các cuộc chỉnh huấn luôn có sự linh hoạt, điều chỉnh. Điều này đã góp phần đưa miền Bắc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, đó là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ miền Bắc và là hậu phương vững chắc để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Hai là, xây dựng Đảng về tư tưởng phải gắn chặt với công tác xây dựng Đảng về chính trị, tổ chức.

Xác định đúng mối quan hệ giữa xây dựng Đảng về tư tưởng với xây dựng Đảng về chính trị và tổ chức, trong quá trình xây dựng Đảng về tư tưởng ở miền Bắc giai đoạn 1954 - 1975, Đảng luôn chú trọng sự gắn kết với xây dựng Đảng về tổ chức. Cuộc chỉnh huấn mùa Xuân năm 1961 và mùa Xuân năm 1965 được triển khai sâu rộng với nội dung đẩy mạnh hoạt động bồi dưỡng lý luận Mác - Lê-nin và tư tưởng vô sản cho cán bộ, đảng viên. Quá trình này tác động tới công tác tổ chức, mà cụ thể là chất lượng các tổ chức đảng. Đơn cử, tại tỉnh Bắc Giang, sau cuộc chỉnh huấn mùa Xuân năm 1961, chất lượng các chi bộ đều có sự chuyển biến, sau xếp loại, đã có có 26 chi bộ kém trở thành chi bộ trung bình, 4 chi bộ từ kém lên khá, 37 chi bộ từ trung bình lên khá (1). Tại Tổng cục Đường sắt, trong cuộc chỉnh huấn, đã tiến hành phân loại được 229 chi bộ, đạt tỷ lệ 60%; mặc dù tiêu chuẩn phân loại chi bộ quy định cao hơn trước nhưng số chi bộ khá và trung bình đều được tăng lên, số chi bộ kém qua mỗi kỳ phân loại thấp dần. Sau cuộc chỉnh huấn, số chi bộ khá chiếm 20%, chi bộ kém chỉ còn 4,3% (2). Sự vững mạnh của chi bộ đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở trong những năm sau này. 

Thực tiễn của cuộc vận động xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở “bốn tốt” đã cho thấy sức gắn kết tự nhiên và cần thiết giữa nội dung, kết quả xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị và xây dựng Đảng về tổ chức. Cuộc vận động xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở “bốn tốt” đều nhằm vào thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị và lấy đó là một tiêu chí quan trọng để đánh giá kết quả cuộc vận động. Quá trình chuyển biến của số đông chi bộ, đảng bộ cơ sở từ trung bình hoặc từ kém trở thành “bốn tốt” chính là quá trình tăng cường, chú trọng công tác tư tưởng, chính trị và kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng, chính trị với công tác tổ chức. Năm 1965, kết quả xếp loại chi bộ ở khu vực nông thôn: Số chi bộ trung bình giảm từ 38,6% xuống còn 33,2%, số chi bộ kém giảm từ 9,8% xuống còn 8,5%; ở khu vực xí nghiệp, số chi bộ trung bình giảm từ 44,5% xuống còn 36,7%, số chi bộ kém giảm từ 3,1% xuống còn 2,2,%(3). Điều này cho thấy, việc làm tốt công tác tư tưởng, chính trị gắn với công tác tổ chức đã tạo nên nhiều chi bộ, đảng bộ cơ sở “bốn tốt”, nâng cao hơn tinh thần phấn đấu cách mạng, ý thức trách nhiệm, sự gương mẫu của người đảng viên, đồng thời góp phần củng cố, kiện toàn các chi bộ đảng.

Ba là, xây dựng Đảng về tư tưởng cần chú trọng đến nguyên tắc tự phê bình và phê bình.

Luôn coi trọng công tác tự phê bình và phê bình theo tinh thần “thật thà, tự nguyện, chân tình, xây dựng”, các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc Việt Nam (1954 - 1975) đã tạo ra không khí cởi mở, dân chủ, khách quan, phê bình đúng người, đúng việc để nhận xét, đánh giá, phân tích, đưa ra ưu điểm và khuyết điểm có lý, có tình. Mỗi cán bộ, đảng viên tiến hành kiểm thảo trên bốn mặt: Nhận thức nhiệm vụ cách mạng; quan điểm lập trường giai cấp; ý thức tư tưởng; tác phong công tác. Trong khi kiểm thảo, các cá nhân thực hiện tự phê bình và phê bình trên tinh thần khách quan, giúp đỡ, không có những hiện tượng phê phán sai trọng tâm hoặc phê phán chụp mũ. Tiến hành phê bình trên cơ sở công việc cụ thể của mỗi người, xác định ưu điểm, khuyết điểm chính và nguyên nhân, tránh lối nêu sự việc chung chung. Thái độ của người được phê bình khiêm tốn, dũng cảm nhận sai lầm và khuyết điểm để sửa chữa. Các cơ quan, đơn vị tiến hành tự phê bình và phê bình với tinh thần tự nguyện, tự giác, qua đó, những tư tưởng sai trái, tự mãn công thần, địa phương, cục bộ, tự do vô kỷ luật, quan liêu mệnh lệnh, ỷ lại, bảo thủ, thiếu trách nhiệm trong cán bộ, đảng viên và quần chúng đã được phê phán sâu sắc. Trong cuộc chỉnh huấn mùa Xuân năm 1961, các cán bộ, đảng viên đã nêu cao tinh thần tự giác, tự phê bình và phê bình, xem xét lại bản thân một cách nghiêm túc, thấy rõ những sai lầm để sửa chữa và ưu điểm để phát huy. Đơn cử, với tinh thần đó, các cơ quan, đơn vị tiến hành kiểm thảo đối với 114 đồng chí của Ban Dân tộc Trung ương. Kết quả: có 80 người tư tưởng suy bì đãi ngộ hưởng thụ, 66 người không yên tâm công tác, 68 người kém đấu tranh nội bộ, 54 người kém tinh thần trách nhiệm, 52 người hoài nghi thiếu tin tưởng ở cán bộ lãnh đạo, 47 người cầu an, ngại khó ngại khổ, 47 người tư tưởng rụt rè, 51 người quan liêu đại khái, 68 người phô trương hình thức, 32 người tư tưởng bảo thủ, 16 người tư tưởng dân tộc lớn, tư tưởng dân tộc địa phương (4)

Trong cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh (1970 - 1972), tại Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá, với tinh thần tự phê bình và phê bình cao, chỉ ra những khuyết điểm và đưa ra cách thức sửa chữa cho mỗi đảng viên, nên sau một thời gian đã đưa tỷ lệ đảng viên tốt tăng từ 51% năm 1969 lên 68,6% năm 1972 (5). Với việc thực hiện tốt công tác tự phê bình và phê bình trong chỉnh huấn, tư tưởng của mọi người có nhiều biến chuyển, nhiệt tình cách mạng và ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân được nâng lên, đoàn kết nội bộ được củng cố, sức chiến đấu của tổ chức đảng được tăng cường. Từ đó, mỗi cán bộ, đảng viên càng nhận rõ trách nhiệm của mình trước tình hình, nhiệm vụ mới, thấy rõ vấn đề quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh sản xuất, trước hết là sản xuất nông nghiệp, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống chủ nghĩa cá nhân, xây dựng tinh thần tập thể, quyết tâm phấn đấu vươn lên trong mọi lĩnh vực công tác để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới của cách mạng. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp có những chuyển biến tốt, nỗ lực phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững được vai trò, vị trí tiền phong gương mẫu, ngày càng nâng cao được năng lực, trình độ tổ chức lãnh đạo quần chúng thực hiện nhiệm vụ cách mạng.

Chi bộ Đại diện Văn phòng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức về nguồn và kết nạp đảng viên mới tại Di tích lịch sử chiến khu Rừng Sác Cần Giờ_Nguồn: baovephapluat.vn

Kinh nghiệm công tác xây dựng Đảng về tư tưởng - nhìn từ các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc Việt Nam (1954 - 1975)

 Trong thực tiễn lãnh đạo từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác xây dựng Đảng về tư tưởng và xác định, đây là lĩnh vực trọng yếu nhằm xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ, tuyên truyền, giáo dục, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng với tinh thần sáng tạo và đạt kết quả cao nhất. Những cuộc vận động chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc thời kỳ 1954 - 1975 - giai đoạn có ý nghĩa lịch sử quan trọng - để lại những bài học kinh nghiệm quý về công tác xây dựng Đảng trong lĩnh vực tư tưởng giai đoạn hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với các học viên dự lớp bồi dưỡng đảng viên mới của Đảng bộ Hà Nội, tháng 5-1966_Nguồn: hochiminh.vn

Ý nghĩa đối với việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh ở Việt Nam hiện nay

 Thấm nhuần tư tưởng của V.I. Lê-nin, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trên cơ sở phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Điều này được cụ thể hóa và thường xuyên được bổ sung, phát triển trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và được thể hiện tập trung trong Kết luận, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 các khóa XI, XII và XIII của Đảng. Nghị quyết của Đảng đã được triển khai thực hiện nghiêm túc, đi vào thực tiễn cuộc sống và tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội; qua đó, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đồng thời tạo sự đoàn kết, nhất trí giữa “ý Đảng, lòng dân” và góp phần tăng cường, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, như “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn diễn biến phức tạp”(22); một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu có biểu hiện phai nhạt lý tưởng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, sa sút ý chí chiến đấu, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật; cơ chế kiểm soát quyền lực ở nhiều lĩnh vực, nhất là đối với những người có chức, có quyền trong Đảng và trong hệ thống chính trị chưa thực sự hiệu quả; hoạt động giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân chưa phát huy đầy đủ, hiệu quả. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”(23).

Thực tế đó cho thấy, những chỉ dẫn của V.I. Lê-nin đến nay còn nguyên giá trị và là vấn đề vô cùng hệ trọng. Do vậy, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị cần được tăng cường theo tư tưởng, chỉ dẫn của V.I. Lê-nin và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với những giải pháp cơ bản sau đây:

Một là, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tuyên truyền, triển khai sâu rộng nội dung Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng.

Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề này, tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””. Để đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống, một mặt, phải coi trọng việc học tập, nghiên cứu, tiếp tục bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay; mặt khác, cấp ủy các cấp, các tổ chức đảng phải nhanh chóng xây dựng kế hoạch tổ chức tuyên truyền, học tập, quán triệt, thực hiện  Nghị quyết, Kết luận đến toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân; qua đó, nhận thức đầy đủ, sâu sắc mục đích, yêu cầu, nội dung của Nghị quyết, Kết luận đồng thời nắm vững những tư tưởng chỉ đạo, những nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện. Đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến từng chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, “dĩ hòa vi quý”.

Hai là, quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng và phương pháp của V.I. Lê-nin để tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Đảng và hệ thống chính trị về tổ chức.

Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị theo tinh thần “thà ít mà tốt”, vì “Chỉ có làm cho bộ máy của chúng ta trong sạch đến tột mức, chỉ có giảm đến mức tối đa những cái không tuyệt đối cần thiết, chúng ta mới có thể đứng vững được”(24).

Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu vừa có đức, vừa có tài, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ gắn bó, hài hòa với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị và với nhân dân.

Ba là, phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và vai trò làm chủ của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

V.I. Lê-nin đã từng chỉ rõ: “Nếu quyền lực chính trị trong nước nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi phù hợp với quyền lợi của đa số, thì mới có thể thực hiện việc điều khiển công việc quốc gia thực sự theo đúng nguyện vọng của đa số”(25). Do vậy, Đảng phải thường xuyên liên hệ gần gũi, hòa mình với quần chúng, thực hành dân chủ rộng rãi, thu hút đông đảo nhân dân tham gia vào việc giám sát hoạt động của Đảng và hệ thống chính trị.

Việc giám sát quyền lực của nhân dân đối với hệ thống chính trị được thực hiện chủ yếu thông qua cơ chế hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Do vậy, “Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, vận động đông đảo nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát huy ngày càng tốt hơn vai trò đại diện quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội; làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước”(26).

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cần chủ động đổi mới phương thức hoạt động nhằm phát huy hiệu quả vai trò của nhân dân trong tham gia vào công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, nhất là giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, tác phong, lối sống và vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị; thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Bốn là, kết hợp giữa nêu gương người tốt, việc tốt với chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh xử lý nghiêm sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực.

Tiếp tục thực hiện tốt Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””, coi đây là công việc thường xuyên, hằng ngày của mỗi tổ chức, cá nhân, đơn vị với nhiều nội dung phong phú và thiết thực, gắn với chức trách, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. Đồng thời, tiếp tục thực hiện tốt Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Theo đó, chú trọng nêu gương người tốt, việc tốt; đổi mới phong cách, lề lối làm việc, nói đi đôi với làm, thực hiện nghiêm túc Quy định số 37-QÐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm”.

Chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị dưới mọi hình thức. Xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, có tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, hoặc lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội... để xuyên tạc, kích động, gây mất đoàn kết nội bộ.

Xây dựng các lực lượng đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vững mạnh, đủ sức phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phản động, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước, qua đó góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Hiện đại hóa các biện pháp kỹ thuật để phục vụ hiệu quả cho công tác đấu tranh; đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho các lực lượng chuyên trách trong công tác này. 

Đồng bào dân tộc Lô Lô ở xóm Khuổi Khon, xã Kim Cúc, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng nghe phổ biến về pháp luật bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026_Ảnh: TTXVN

Năm là, chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực quan trọng, then chốt.

Chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, minh bạch, tạo động lực thúc đẩy đổi mới, sáng tạo. Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ, kiến tạo phát triển, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, hiệu quả.

Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ, nhất là đối với người đứng đầu cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị, đi đôi với chống chạy chức, chạy quyền. Giữ vững kỷ luật, kỷ cương; tăng cường kiểm tra, giám sát, không để lọt những người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; đồng thời, kịp thời phát hiện, bồi dưỡng, bổ sung những cán bộ, đảng viên thực sự có đức, có tài, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết.

Từ những chỉ dẫn của V.I. Lê-nin, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển phù hợp với điều kiện của đất nước nhằm không ngừng tăng cường hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tạo sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng dân” để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc./.

Quan điểm của V.I. Lê-nin về xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh

 Thứ nhất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng - Nhà nước - nhân dân và xã hội.

V.I. Lê-nin khẳng định, khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng là hạt nhân lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội trên mọi phương diện, trong mọi lĩnh vực của đời sống. Đây là vấn đề nguyên tắc, vì “nếu không có sự thống trị của giai cấp vô sản trong nhà nước thì cũng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được”(1). Đảng lãnh đạo Nhà nước, nhân dân và xã hội bằng hệ tư tưởng khoa học và cách mạng - đó là chủ nghĩa Mác, “lý luận cách mạng duy nhất đúng”, một học thuyết hoàn bị vững như đá hoa cương. Trên cơ sở nền tảng lý luận khoa học này, Đảng vạch ra cương lĩnh chính trị, chiến lược, sách lược đúng đắn; đồng thời, vận động, tập hợp, thuyết phục quần chúng đi theo, ủng hộ và tham gia tích cực, vì “trong quần chúng nhân dân, chúng ta chỉ tựa như một giọt nước trong đại dương, và chỉ khi nào biểu hiện được đúng ý nguyện của nhân dân, thì chúng ta mới quản lý nhà nước được. Nếu không, Đảng cộng sản sẽ không lãnh đạo được giai cấp vô sản, giai cấp vô sản sẽ không lôi cuốn được quần chúng theo mình, và tất cả bộ máy sẽ tan rã”(2).

Mặc dù khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, nhưng V.I. Lê-nin cũng nhấn mạnh đến việc phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa hai chủ thể này; trong đó, Đảng tuyệt đối không được lấn sân, làm thay Nhà nước. Do vậy, Người yêu cầu: “cần phân định một cách rõ ràng hơn nữa những nhiệm vụ của Đảng... với nhiệm vụ của Chính quyền Xô-viết; tăng thêm trách nhiệm và tính chủ động cho các cán bộ Xô-viết và các cơ quan Xô-viết, còn về đảng thì dành quyền lãnh đạo chung công tác của tất cả các cơ quan nhà nước gộp chung lại, mà không can thiệp một cách quá thường xuyên, không chính quy và thường là nhỏ nhặt”(3).

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đóng vai trò nòng cốt trong hoạt động quản lý, phục vụ xã hội nhằm hiện thực hóa chủ trương, đường lối, cương lĩnh của Đảng vào cuộc sống thông qua hệ thống của mình từ Trung ương đến các địa phương, thông qua các cơ quan, các tổ chức nhà nước; do vậy, phải thiết lập các cơ quan xô-viết (các tổ chức của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa). V.I. Lê-nin viết: “Chừng nào mà những cơ quan xô-viết còn chưa được thiết lập trên khắp nước Nga, chừng nào mà việc xã hội hóa ruộng đất và việc quốc hữu hóa công xưởng chỉ là những ngoại lệ, thì tất nhiên sự quản lý xã hội đối với nền kinh tế quốc dân chưa thể thoát khỏi (nếu chúng ta xét theo quy mô toàn quốc) cái giai đoạn chuẩn bị sơ bộ với những cuộc tranh luận, thảo luận và giải thích”(4).

Thứ hai, chỉ rõ tác hại của những suy thoái, tiêu cực trong Đảng và trong bộ máy của Nhà nước.

Cùng với việc khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.I. Lê-nin cũng chỉ rõ những bất cập, những tiêu cực trong Đảng và trong Nhà nước cần phải được nhận diện và loại bỏ triệt để, bởi nếu không, chúng sẽ làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ, khiến cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ không thể thành công.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những tệ nạn, tiêu cực xã hội len lỏi vào các cơ quan đảng và bộ máy nhà nước, gây ra những ung nhọt phá hoại uy tín, sức mạnh của Đảng và của Nhà nước, tàn phá xã hội. Những biểu hiện tiêu cực đó rất đa dạng. V.I. Lê-nin tập trung nhận diện những biểu hiện cơ bản sau:

Một là, chủ nghĩa cơ hội, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng. Trong cuộc đấu tranh tư tưởng nhằm bảo vệ bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác, V.I. Lê-nin đã kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân. Biểu hiện của nó là “trên đầu lưỡi thì thừa nhận cách mạng mà trên thực tế thì từ bỏ cách mạng”(5). Đối với học thuyết Mác, “chúng tước hết nội dung của học thuyết cách mạng, tầm thường hóa học thuyết đó và làm cùn khía cạnh sắc bén cách mạng của nó... Chúng lãng quên, chúng xóa nhòa, chúng xuyên tạc khía cạnh cách mạng, tinh thần cách mạng của học thuyết ấy”(6). Điều này vô cùng nguy hiểm, vì chủ nghĩa cơ hội làm nhụt ý chí đấu tranh, gây mơ hồ trong nhận thức lý luận, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, khiến họ “bị chủ nghĩa đế quốc mua chuộc và làm hư hỏng(7). V.I. Lê-nin chỉ rõ rằng, “mọi sự coi nhẹ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, mọi sự xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa đều có nghĩa là tăng cường hệ tư tưởng tư sản”(8). Do vậy, theo V.I. Lê-nin, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội trong Đảng và Nhà nước, rộng hơn là trong phong trào công nhân, không chỉ là vấn đề của riêng nước Nga, mà còn là vấn đề chung của mỗi đảng cộng sản.

Hai là, quan liêu, tham nhũng, suy thoái về đạo đức, lối sống. Theo V.I. Lê-nin, bản chất của quan liêu là tư tưởng đề cao địa vị, bị chi phối bởi chủ nghĩa cá nhân, chạy theo danh lợi, chức quyền: “chủ nghĩa quan liêu có thể dịch ra tiếng Nga bằng danh từ: chủ nghĩa địa vị. Chủ nghĩa quan liêu, tức là đem lợi ích của sự nghiệp phục tùng lợi ích của tư tưởng danh vị, tức là hết sức chú trọng đến địa vị mà không đếm xỉa đến công tác; tức là tranh giành nhau để được bổ tuyển(9). Những kẻ quan liêu chỉ chăm lo cho lợi ích cá nhân mà trở thành những kẻ lười nhác, ích kỷ; thành những kẻ kiêu ngạo, hống hách, những nhân vật có đặc quyền, đặc lợi, thoát ly quần chúng và đứng trên quần chúng. Họ lợi dụng chức quyền, địa vị để thăng quan tiến chức. Trong lĩnh vực quản lý nhà nước, chủ nghĩa quan liêu nặng về giấy tờ hành chính và cán bộ mắc “bệnh quan liêu” thì chỉ biết nghe báo cáo và thường dùng mệnh lệnh để hối thúc công việc, xa rời thực tiễn, độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ, gây mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ; do vậy, muốn tiếp tục công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội có kết quả thì cần phải tiếp tục đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu.

Nguy hiểm hơn, từ quan liêu dẫn đến hối lộ, tham nhũng phát tác, trở thành hiện tượng nhức nhối, thật sự điển hình của nước Nga và là một trong “ba kẻ thù chính đang đứng trước mỗi người, bất kể người đó làm việc gì, ở cương vị nào... kẻ thù thứ nhất - tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa; kẻ thù thứ hai - nạn mù chữ; kẻ thù thứ ba - nạn hối lộ”(10). Nạn hối lộ, tham nhũng không chỉ làm thiệt hại, kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội, mà còn để lại những hậu quả chính trị - xã hội nghiêm trọng và là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội. V.I. Lê-nin phê phán mạnh mẽ tệ nạn này và chỉ rõ: “nếu còn có thể hối lộ được, thì cũng không thể nói đến chính trị được... Trong những điều kiện đó, không thể làm được một thứ chính trị nào hết”(11). Vậy mà, một bộ phận cán bộ, đảng viên “bị tiêm nhiễm, bị hủ hóa bởi bầu không khí đó, dẫn đến suy thoái về đạo đức, lối sống, vi phạm những tính xấu như: tính nhu nhược, tính tản mạn, chủ nghĩa cá nhân, từ lạc quan chuyển sang bi quan”(12), thoái hóa, biến chất, lợi dụng chức quyền, cơ hội để “đục nước béo cò”. Do vậy, ngăn chặn nạn hối lộ, tham nhũng, làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước trở thành nhiệm vụ cấp thiết, đồng thời cũng là cuộc chiến đầy cam go, quyết liệt và hết sức phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm cao của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Ba là, căn bệnh kiêu ngạo cộng sản; vô tổ chức, vô kỷ luật. Theo V.I. Lê-nin, bệnh kiêu ngạo cộng sản thể hiện ở chỗ: “một người ở trong đảng cộng sản, và chưa bị thanh trừng ra khỏi đảng, tưởng rằng chỉ bằng những pháp lệnh cộng sản là có thể giải quyết được tất cả mọi nhiệm vụ của mình” chủ yếu thông qua “công tác giáo dục chính trị. Hoàn toàn không phải thế! Đấy chỉ là tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa mà thôi”(13). Do kiêu ngạo cộng sản, họ thường tự cao, tự đại và khi mắc khuyết điểm, sai lầm thì tìm mọi cách che giấu, lấp liếm, không dám thừa nhận và chính căn bệnh này sẽ khiến cho đảng bị tiêu vong. V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho tới nay, đều bị tiêu vong vì tự cao tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình, và vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình”(14).

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước lạc hậu, sản xuất nhỏ, “những tập tục của xã hội cũ” còn tồn tại dai dẳng, dẫn đến thói vô tổ chức, vô kỷ luật. Biểu hiện của nó trong Đảng và trong bộ máy nhà nước là phủ nhận tính đảng và kỷ luật đảng, mắc những tính xấu của giai cấp tiểu tư sản là tính tản mạn, tính bấp bênh, không thể kiên quyết, đoàn kết, thống nhất hành động được. Những thói hư, tật xấu này tồn tại dai dẳng do “Sức mạnh của tập quán ở hàng triệu và hàng chục triệu người là một sức mạnh ghê gớm nhất”(15). Những biểu hiện tiêu cực này mà lan rộng trong phong trào, thì sẽ “hoàn toàn tước vũ khí của giai cấp vô sản, làm lợi cho giai cấp tư sản”. Đây là một cuộc đấu tranh dai dẳng, phức tạp vì “Chiến thắng bọn đại tư bản tập trung còn nghìn lần dễ hơn là “chiến thắng” hàng triệu và hàng triệu tiểu chủ; mà những người này thì do hoạt động hàng ngày của họ, hoạt động quen thuộc, khó thấy, khó nhận ra, có tác dụng... làm cho giai cấp tư sản phục hồi(16).

Thứ ba, chỉ ra phương thức xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả.

Trên cơ sở nhận diện rõ những biểu hiện tiêu cực trong đội ngũ đảng viên và cán bộ chính quyền, V.I. Lê-nin đã chỉ ra những phương thức cơ bản để xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả. Đó là:

Bảo đảm phương châm “thà ít mà tốt”, tinh gọn, hiệu quả. Thực hiện phương châm này đòi hỏi công tác xây dựng Đảng và đổi mới, cải cách bộ máy nhà nước, nhất là ở các cơ quan trung ương phải coi trọng chất lượng, không chạy đua theo số lượng; do vậy, cần rà soát thực hiện sáp nhập, tinh gọn bộ máy, bảo đảm chất lượng kiểu mẫu và phải hoạt động phù hợp với trình độ khoa học hiện đại. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải được tuyển chọn kỹ lưỡng theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt cả về số lượng và chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, được trang bị lý luận cách mạng, có phẩm chất đạo đức tốt và “những phần tử ưu tú ấy phải không sợ thừa nhận bất cứ một khó khăn nào và không lùi bước trước bất cứ một cuộc đấu tranh nào để đạt được mục đích”(17).

Thực hành nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng. Bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, vì đó là thuộc tính cơ bản của đảng cách mạng đã được V.I. Lê-nin rút ra từ trong thực tiễn cách mạng; theo đó, “chế độ tập trung tuyệt đối và kỷ luật hết sức nghiêm minh của giai cấp vô sản là một trong những điều kiện căn bản để chiến thắng giai cấp tư sản”(18). Yêu cầu đặt ra là phải thực hành kỷ luật đảng hết sức nghiêm minh, duy trì kỷ luật sắt và mỗi cán bộ, đảng viên phải ra sức phấn đấu trau dồi tri thức, rèn luyện tác phong, tăng cường phẩm chất đạo đức cộng sản.

Thực hành nghiêm tự phê bình và phê bình để tạo sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, để Đảng luôn được củng cố và phát triển. Tự phê bình và phê bình phải là một nội dung quan trọng, thường xuyên trong sinh hoạt đảng. V.I. Lê-nin viết: “Công khai thừa nhận sai lầm, tìm ra nguyên nhân sai lầm, phân tích hoàn cảnh đã đẻ ra sai lầm... - đó là dấu hiệu chứng tỏ một đảng nghiêm túc, đó là đảng làm tròn những nghĩa vụ của mình, đó là giáo dục và huấn luyện giai cấp, rồi đến quần chúng(19).

Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, hiệu quả. Công tác này nếu không được thực hiện tốt thì vô cùng nguy hại, vì “Nếu quyền lực chính trị trong nước nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi phù hợp với quyền lợi của đa số, thì mới có thể thực hiện việc điều khiển công việc quốc gia thực sự theo đúng nguyện vọng của đa số. Nhưng nếu quyền lực chính trị nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi khác với quyền lợi của đa số, thì việc điều khiển công việc quốc gia theo nguyện vọng của đa số không khỏi trở thành một sự lừa gạt, hoặc đưa đến chỗ đàn áp đa số ấy”(20).

Để kiểm soát quyền lực, phải xây dựng hệ thống pháp luật khoa học, phù hợp nhằm bảo đảm hoạt động của Đảng và của Nhà nước theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật, đồng thời thực thi dân chủ của nhân dân. Đây là một tất yếu khách quan và là một nhiệm vụ cấp thiết đặt ra. Việc kiểm soát quyền lực còn được thực hiện bằng công tác tổ chức. Đảng kiểu mới, Nhà nước kiểu mới phải được tổ chức chặt chẽ, khoa học, luôn thống nhất về tổ chức, không chấp nhận sự phân tán, ô hợp và bè phái mất đoàn kết nội bộ. V.I. Lê-nin chỉ rõ: “Trong cuộc đấu tranh để giành chính quyền, giai cấp vô sản không có vũ khí nào khác hơn là sự tổ chức... sự thống nhất tư tưởng của giai cấp vô sản dựa trên cơ sở những nguyên lý chủ nghĩa Mác được củng cố bằng sự thống nhất vật chất của tổ chức tập hợp hàng triệu người lao động thành một đạo quân của giai cấp công nhân”(21); đồng thời, phải làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát đối với tổ chức, con người và công việc. Buông lỏng kiểm tra cũng có nghĩa là buông lỏng lãnh đạo và quản lý; từ đó, dẫn đến sự suy yếu tổ chức và bộ máy, sự hư hỏng và thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

Hơn nữa, để kiểm soát tốt quyền lực, cần thực hành dân chủ rộng rãi, gắn bó chặt chẽ với nhân dân và phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Đảng và Nhà nước. Đây là một phương thức hết sức quan trọng, bởi vì sự thành bại của cách mạng phụ thuộc vào niềm tin, vào sự đồng thuận của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.

Đồng thời, Đảng, Nhà nước phải phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị và về đạo đức; thực hành nghiêm chế độ bãi miễn bất cứ lúc nào đối với những người được bầu ra, nhưng thoái hóa, biến chất. Theo V.I. Lê-nin, cần phải đuổi ra khỏi Đảng những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược để làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước.

Để việc tự học, thực học, học tập suốt đời hiệu quả theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới

 Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ một số hạn chế cần nhanh chóng khắc phục để xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Những hạn chế đó là: Một số tổ chức cơ sở đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu, chưa thực sự tôn trọng ý kiến, kiến nghị của nhân dân... Việc đánh giá, xếp loại tổ chức đảng và đảng viên ở một số nơi còn chưa thực chất. Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ...(15). Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân, nhưng một nguyên nhân là do những hạn chế từ quá trình tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nguyên nhân khiến cho việc tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa đạt kết quả như mong muốn là do việc đào tạo, bồi dưỡng còn chạy theo số lượng mà chưa thực sự chú trọng tới chất lượng; còn tình trạng học theo phong trào, sính bằng cấp mà chưa thực sự căn cứ vào đòi hỏi thực tiễn; còn tồn tại tâm lý ngại khó, ngại khổ trong học tập, không chịu đào sâu suy nghĩ để vươn lên chinh phục những đỉnh cao trong khoa học...

Thực tiễn cách mạng đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới của cách mạng nước ta, đòi hỏi cần vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học, thực học và học tập suốt đời để xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ.

Thứ nhấtthực hiện nghiêm việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị. Thời gian qua, công tác này còn một số hạn chế, như Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” chỉ rõ: “Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực”(16). Vì vậy, cần khắc phục những hạn chế còn tồn tại để tuyển dụng được những nhân sự xứng đáng. Muốn vậy, cần tuyển chọn những nhân sự có chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị; thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng qua thực tế công việc, để họ ngày càng trưởng thành. Kiên quyết đấu tranh, chống mọi biểu hiện tiêu cực trong công tác tuyển dụng, nhất là chỉ tuyển chọn người thân, người quen, “nhóm lợi ích” vào cơ quan, đơn vị dù không đáp ứng được yêu cầu công việc. Thực hiện tuyển dụng công khai, minh bạch; làm tốt việc xây dựng hệ thống vị trí việc làm trong cơ quan, đơn vị; xây dựng những tiêu chí cần thiết, phù hợp cho mỗi vị trí việc làm và thực hiện nghiêm túc những quy định có liên quan.

Thứ haiđổi mới công tác đánh giá chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Đánh giá cán bộ qua chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị một cách nghiêm túc, khách quan; qua đó, thúc đẩy cán bộ luôn phải liên tục tìm tòi những cách thức, biện pháp hữu hiệu thường xuyên, để nâng cao chất lượng công việc, hoàn thành nhiệm vụ được giao; phải liên tục học hỏi, tích lũy kiến thức, kỹ năng không ngừng qua thực tế công tác và thực hiện nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị. Đây chính là cơ sở để người cán bộ thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời. Thời gian qua, công tác này còn có một số hạn chế, đã được Nghị quyết số 26-NQ/TW, chỉ rõ: “Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp còn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến”(17).

Đại hội XIII của Đảng nêu định hướng chỉ đạo với công tác đánh giá cán bộ: “Nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế lựa chọn, đánh giá, sàng lọc để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”(18). Cần thực hiện tốt việc tổ chức công việc trong cơ quan, đơn vị theo vị trí việc làm để có căn cứ đánh giá chính xác chất lượng công việc; cụ thể hóa nguyên tắc một việc do một người chịu trách nhiệm chính, đồng thời một việc có thể giao cho nhiều người thực hiện. Điều này giúp nâng cao khả năng làm việc nhóm, thúc đẩy các thành viên trong tập thể giúp nhau hoàn thành nhiệm vụ chung; đồng thời, việc đánh giá chất lượng hoàn thành công việc của từng cá nhân cũng sát hợp và đúng hơn. Cần thực hiện nghiêm nội dung mà Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã chỉ rõ: “... tiếp nhận và kịp thời chỉ đạo giải quyết các vấn đề nhân dân phản ánh, khiếu kiện, nhất là những vấn đề liên quan đến đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Đồng thời, phát hiện, biểu dương, khen thưởng, nhân rộng những điển hình nêu gương sáng, có sức lan toả lớn trong Đảng và xã hội”(19).

Thứ bathắt chặt hơn mối quan hệ giữa cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân, với cơ sở. Đây là một phương sách hữu hiệu để thực hiện tốt việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, những ý kiến xuất phát từ nhu cầu và nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của quần chúng nhân dân chính là những gợi ý tốt cho việc đề ra những giải pháp trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi người cán bộ, đảng viên, mà không sách vở, giáo trình nào có thể đề cập hết được. Kinh nghiệm phong phú của quần chúng nhân dân chính là kho tàng tri thức vô tận và vô giá, cung cấp cho đội ngũ cán bộ những cơ sở để có thể đề ra được những quyết sách đúng đắn trong công việc. Điều đó góp phần khắc phục một trong những hạn chế trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là do: “... thiếu cơ chế phù hợp để cán bộ, đảng viên gắn bó mật thiết với nhân dân; chưa phát huy có hiệu quả vai trò, trách nhiệm của các cơ quan truyền thông, báo chí”(20).

Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân””(21). Đây cũng chính là cơ sở để đội ngũ cán bộ, đảng viên dựa vào nhân dân để thực hiện có hiệu quả việc tự học, thực học và học tập suốt đời theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo đó, cần “đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân; xây dựng chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị định kỳ, thường xuyên đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý. Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là cấp uỷ, thường vụ cấp uỷ, đề cao và thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý””(22). Đội ngũ cán bộ, đảng viên “quan tâm chăm lo đời sống của nhân dân. Thực hiện nghiêm... công tác tiếp dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết những kiến nghị hợp pháp, chính đáng của nhân dân và xử lý kịp thời, dứt điểm các vấn đề bức xúc liên quan đến đời sống nhân dân”(23).

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học, thực học, học tập suốt đời còn vẹn nguyên giá trị thời sự, luôn là kim chỉ nam để mỗi người cán bộ, đảng viên không ngừng tự học, tự rèn nhằm nâng cao đạo đức cách mạng, năng lực, trình độ chuyên môn, xây dựng đội ngũ vững mạnh./.

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học, thực học, học tập suốt đời đối với người cán bộ cách mạng

 Học tập là nhiệm vụ quan trọng của mỗi người cán bộ cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, muốn xây dựng được chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa. Nghĩa là, xã hội mới cần phải có những cán bộ với vai trò là người tổ chức, hướng dẫn và trực tiếp thực thi các khâu trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó có cả việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng những con người xã hội chủ nghĩa.

Vì thế, với người cán bộ cách mạng, yêu cầu trước hết là học để “làm người”, “làm việc” và sau đó mới để “làm cán bộ”(1). Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra lời khuyên này cho mỗi cán bộ cách mạng vào tháng 9-1949, nhân dịp Người đến dự lễ khai giảng khóa đào tạo của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương. Đây chính là yêu cầu đối với người cán bộ cách mạng. Nó chỉ rõ sự khác biệt cơ bản về mục đích của việc học trong chế độ cũ và chế độ mới. Trong khi dưới chế độ cũ, đi học là đặc quyền của một số người và học là để “vinh thân, phì gia” - đem lại lợi ích cho bản thân và gia đình; thì dưới chế độ mới, đi học là quyền lợi của toàn dân; học là để phụng sự, để cống hiến cho Tổ quốc, cho dân tộc.

Người cán bộ cách mạng đi học để làm sao trở thành những “công bộc” của nhân dân mới đúng nghĩa “làm người”, có nghĩa là gột rửa hết được những tàn dư do xã hội cũ để lại. Điều này rất quan trọng, bởi nếu vẫn còn chịu tác động bởi lối suy nghĩ của xã hội cũ thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực, nặng nề đến hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ xây dựng xã hội mới. Học để làm việc có nghĩa là học làm sao để có thể hoàn thành được mọi nhiệm vụ mà Đảng, cách mạng và nhân dân giao phó. Muốn làm cán bộ thì bắt buộc phải học tập, không chỉ học về kiến thức, mà quan trọng hơn cả là học về tư cách người cán bộ cách mạng, để làm sao “phụng sự Đoàn thể,/ phụng sự giai cấp và nhân dân,/ phụng sự Tổ quốc và nhân loại”(2) một cách tốt nhất.

Việc “tự học” đối với người cán bộ

Một mặt, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đa dạng và ngày càng nặng nề của sự nghiệp cách mạng, mỗi người cán bộ phải hiểu rõ mình còn thiếu kiến thức gì trong khi thực hiện nhiệm vụ, để bổ sung kịp thời; mặt khác, vì đòi hỏi của thực tế công việc, nên không phải bất cứ lúc nào người cán bộ có nhu cầu học tập cũng có thể tham gia những lớp học bổ sung kiến thức do đoàn thể đứng ra tổ chức. Vì vậy, phải “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”(3). Ngoài cách truyền thống theo học trường lớp bài bản, chính quy, người cán bộ còn rất nhiều cách học vừa phù hợp với hoàn cảnh cá nhân và thực tiễn cách mạng phong phú, vừa đáp ứng đòi hỏi và nhu cầu chính đáng là thu nhận kiến thức cần thiết để thực hiện nhiệm vụ chính trị ngày càng tốt hơn. Đó chính là, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dânHọc ở sách vở là cách tự học phổ biến nhất, giải quyết được khó khăn về thời gian của người học, khi không có điều kiện đến trường lớp chính quy. Yêu cầu cao nhất của người tự học chính là cách thức học sao cho có hiệu quả thiết thực, cùng với sự đòi hỏi cao về nghị lực. Người cán bộ có thể giúp cho quá trình tự học của đồng nghiệp, người khác có kết quả, bằng cách “tùy theo hoàn cảnh mà bày vẽ cho họ về phương hướng công tác, cách thức công tác, để cho họ phát triển năng lực và sáng kiến của họ, đúng với đường lối của Đảng”(4). Đây chính là cách học từ công việc hằng ngày, học bằng cách tìm tòi kiến thức xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ thường xuyên.

Học lẫn nhau là sự học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau giữa các cá nhân có cùng chung mục đích học tập, có sự liên quan với nhau về kiến thức... Việc học hỏi lẫn nhau đòi hỏi cao về đức tính khiêm tốn, ham học hỏi của cá nhân người tự học. Phải có đức tính khiêm tốn thì mới thấy mình còn thiếu điều gì so với đồng nghiệp, để thực tâm mong học hỏi; đồng thời, cũng phải có sự ham học hỏi cao mới có thể giúp người học dẹp bỏ được tự ái cá nhân để thu nhận kiến thức từ đồng nghiệp. Vì thế, khi thành tâm học lẫn nhau, người cán bộ không những tu dưỡng, rèn luyện có hiệu quả đạo đức cách mạng là khiêm tốn, ham học hỏi, cầu thị trong công việc, hạn chế nguy cơ nảy sinh căn bệnh cá nhân chủ nghĩa, mà còn thắt chặt tình đoàn kết trong tập thể - yếu tố quan trọng tạo thành sức mạnh để hoàn thành các nhiệm vụ chính trị được giao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh, với người tự học nói riêng, người cán bộ cách mạng nói chung không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn. Nói về vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng vô sản, V.I. Lê-nin đã khẳng định, so với quảng đại quần chúng nhân dân, những người cộng sản chỉ là giọt nước trong đại dương mênh mông. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, nhân dân biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra(5). Theo Người, việc tự học của người cán bộ cách mạng muốn thu được kết quả tốt, không thể tách rời thực tiễn phong trào hành động cách mạng của quần chúng nhân dân. Chính trong phong trào đó, nhờ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, người cán bộ cách mạng mới học hỏi được những kiến thức mà chưa có bất cứ nhà trường nào truyền dạy; học hỏi nhân dân từ những vấn đề thực tế hằng ngày, từ đó đúc kết thành những tri thức lý luận để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Vì thế, muốn tự học có kết quả, người cán bộ phải gắn bó mật thiết với nhân dân, thực tâm không ngừng học hỏi nhân dân.

Việc “thực học” đối với người cán bộ

Mục đích học tập của người cán bộ, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là để phụng sự Đoàn thể,/ phụng sự giai cấp và nhân dân,/ phụng sự Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý: “Chúng ta không biết, thì chúng ta phải học, chúng ta không có quyền giấu dốt. Chúng ta phải học cho kỳ được, vì... chúng ta phải thực hiện dân chủ mới để chuẩn bị đi đến chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Những công việc thiết thực đó, không phải chỉ chính trị suông mà làm được”(6). Vì thế, theo Người, mỗi đảng viên phải nắm vững, học thạo một nghề chuyên môn, thuộc mọi ngành, nghề trong xã hội, để có thể lãnh đạo quần chúng nhân dân thực hiện công việc trên mọi lĩnh vực, theo sự phân công của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “... học cốt để mà làm. Học mà không làm được, học mấy cũng vô ích. Vì vậy huấn luyện phải thiết thực, sao cho... về địa phương họ có thể thực hành ngay”(7). Muốn thực học có kết quả, Người yêu cầu người học “phải hiểu, phải nhớ, phải thực hành”(8) những điều mình học. Người cũng phê bình cán bộ mắc “bệnh lý luận suông”, đó là những người thuộc nhiều sách vở, nói chuyện lúc nào cũng dẫn sách nọ, quyển kia, nhưng lại kém trong giải quyết công việc thực tế. Đòi hỏi của người cán bộ cách mạng là không chỉ biết nhiều kiến thức, mà còn phải biết “ra sức thực hành mới thành người biết lý luận”(9). Kết luận lại, Người yêu cầu cán bộ cách mạng “phải gắng học, đồng thời học thì phải hành(10).

“Học tập suốt đời” theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Học tập suốt đời theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là thể hiện thái độ trách nhiệm của tổ chức đảng, cấp ủy các cấp cũng như của mỗi đảng viên đối với việc học tập. Lúc này, học tập là nhiệm vụ của người cách mạng chứ không phải là quyền lợi và sở thích cá nhân nữa. Có nghĩa là, học để phục vụ sự nghiệp cách mạng nên trở thành nhiệm vụ; đồng thời, sự nghiệp đó là vô cùng lâu dài, gian khổ, nên học tập cũng là trách nhiệm phải thực hiện suốt cuộc đời của người cách mạng với thái độ nghiêm túc và ý thức tự giác cao.

Đối với một số hạn chế, yếu kém trong thực hiện trách nhiệm này, về phía tập thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thế mà cứ kêu là thiếu cán bộ. Vì sao? Vì việc huấn luyện còn hữu danh vô thực, làm chỉ cốt nhiều mà không thiết thực chu đáo”(11). Qua đó, có thể thấy, Người nghiêm khắc phê bình việc học tập, huấn luyện không thiết thực. Điều này không chỉ gây ra sự lãng phí cho tập thể về thời gian, mà xa hơn còn gây ra hậu quả xấu cho phong trào cách mạng, do việc đào tạo không chất lượng, nên người cán bộ không được trang bị đầy đủ kiến thức cần thiết, vì thế, khi thực hiện nhiệm vụ sẽ không đạt yêu cầu đề ra.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra một biểu hiện không tốt trong đội ngũ cán bộ, đó là “bệnh khinh lý luận”. Biểu hiện của căn bệnh này chính là đề cao kinh nghiệm bản thân, không chịu học hỏi, mà quên rằng “kinh nghiệm của họ tuy tốt, nhưng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi”; vì thế, Người chỉ rõ, họ “cần phải nghiên cứu thêm lý luận, mới thành người cán bộ hoàn toàn”(12). Người mắc phải “bệnh khinh lý luận” là những người ngại học hỏi, tìm tòi cái mới, bằng lòng với cái đang có, vì thế, không bao giờ thực hiện được yêu cầu phải học tập suốt đời mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra. Do đó, để thực hiện được yêu cầu học tập suốt đời, cần phải chống lại “bệnh khinh lý luận”. Điều này không có gì mâu thuẫn với việc tự học, thực học theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi khi tập thể yêu cầu, khi nhiệm vụ đòi hỏi, người cán bộ cần tham gia học tập nghiêm túc ở trường lớp để thu nhận kiến thức một cách hệ thống, bài bản. Ở đó, người cán bộ được trang bị kiến thức lý luận chuyên sâu, cũng là để khắc phục căn bệnh coi khinh lý luận; đồng thời, quá trình này là sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa việc tự học với việc học tập suốt đời thông qua hình thức đào tạo tập trung.

Chủ tịch Hồ Chí Minh phát hiện ra “bệnh kém tổng kết” phong trào cách mạng, đó là có những nơi, có những phong trào đạt thành tích rất tốt, nhưng vì “chúng ta không biết nghiên cứu đến nơi đến chốn, vì sao mà có thành tích khá?... để mà học kinh nghiệm, để mà đặt ra khuôn phép cho công việc khác. Thành thử những cái tốt, cái hay đều không phát triển được... cán bộ không học được kinh nghiệm gì, mà cũng không tiến bộ được mấy”(13). Đối với những sai lầm, thất bại, cũng tồn tại tình trạng như vậy, vì thế, Người chỉ rõ: “Từ nay, công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ,... rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới(14). Thực hiện tốt những chỉ dẫn nói trên của Người chính là làm cho quá trình tự học tập suốt đời một cách thiết thực, có hiệu quả. Sự nghiệp cách mạng là quá trình lâu dài, luôn xuất hiện những đòi hỏi và yêu cầu mới, ngày càng cao hơn, khó khăn hơn, vì vậy, người cán bộ cách mạng phải không ngừng học hỏi, học tập suốt đời để nâng cao trình độ bản thân.

Cán bộ khuyến nông tỉnh Điện Biên hướng dẫn đồng bào canh tác lúa_Nguồn: nhandan.vn

Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học, thực học, học tập suốt đời và việc vận dụng vào xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay

 Việc thường xuyên học tập để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ có ý nghĩa và vai trò quan trọng đối với người cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học, thực học, học tập suốt đời vẫn còn vẹn nguyên giá trị và là kim chỉ nam cho mỗi cá nhân, đơn vị thường xuyên thực hiện để không ngừng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao tặng bò cho người dân nghèo, có hoàn cảnh khó khăn tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên – Huế_Ảnh: TTXVN