Thứ Tư, 27 tháng 12, 2023

 

Trường Chính trị thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách

TS BÙI NGỌC HIỀN
Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh

(LLCT) - Nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn là chức năng, nhiệm vụ của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo Quy định số 09-Qđi/TW. Chức năng, nhiệm vụ này vừa là sự khẳng định vai trò quan trọng của trường chính trị nhưng cũng đặt ra những thách thức lớn đối với các trường chính trị. Từ thực tiễn tổ chức các hoạt động nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách của các trường chính trị nói chung và Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong thời gian qua, bài viết làm rõ thực trạng, những vấn đề đặt ra và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác này.
 


1. Chức năng nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Theo Quy định số 09-Qđi/TW ngày 13 - 11 - 2018 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trường chính trị có chức năng: “tham gia tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương”(1). Theo quy định, ngoài nhiệm vụ tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ giảng dạy, học tập, trường chính trị tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học để tham gia tổng kết thực tiễn ở địa phương, cơ sở.

So với Quyết định số 184-QĐ/TW ngày 03 - 9 - 2008 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thì chức năng, nhiệm vụ về tổng kết thực tiễn của trường chính trị được quy định rõ hơn. Đây vừa là sự ghi nhận, khẳng định vai trò quan trọng của trường chính trị nhưng cũng đặt ra những thách thức, áp lực lớn đối với các trường chính trị trong tham gia cũng như chủ động tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách tại địa phương.

Chức năng, nhiệm vụ tham gia tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách của trường chính trị thể hiện trên các hoạt động cụ thể sau:

1) Nghiên cứu, tổng kết thực tiễn về xây dựng Đảng: thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng tại địa phương, cơ sở; xây dựng và thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh, thành phố và cấp ủy các cấp tại địa phương; đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng tại địa phương;

2) Nghiên cứu, tổng kết thực tiễn về các hoạt động lãnh đạo, quản lý cụ thể của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương;

3) Nghiên cứu, tổng kết thực tiễn về hoạt động lãnh đạo, quản lý, tổ chức phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương;

4) Nghiên cứu, tổng kết thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị của địa phương;

5) Nghiên cứu, đề xuất, tư vấn cơ chế, chính sách mới, đáp ứng yêu cầu phát triển hiệu quả, bền vững kinh tế - xã hội; cơ chế, phương thức, mô hình lãnh đạo, quản lý mới nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương…

 Việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách của trường chính trị khẳng định vai trò, song cũng đặt ra nhiều thách thức đối với các trường chính trị trong tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ này. Từ thực tiễn của các trường chính trị thời gian qua cho thấy, có 3 vấn đề đặt ra:

Một là, về tiềm lực nghiên cứu khoa học của các trường chính trị, để đáp ứng yêu cầu tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách là một thách thức lớn đối với nhiều trường. Bởi hiện nay, đội ngũ cán bộ, giảng viên của các trường còn mỏng, đặc biệt số cán bộ có năng lực nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách càng ít ỏi. Thực tế này đòi hỏi các trường chính trị phải có kế hoạch, lộ trình và giải pháp khả thi, hiệu quả để xây dựng tiềm lực nghiên cứu khoa học, đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ trên.

Hai là, môi trường và thói quen nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên các trường chính trị cũng đang là một trở ngại để tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học hướng tới tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách tại địa phương. Trường chính trị là cơ sở giáo dục mang tính đặc thù, khác với các cơ sở giáo dục đại học (nơi diễn ra nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học khác nhau) hay các tổ chức nghiên cứu (nơi có kinh nghiệm về tổ chức, triển khai các hoạt động nghiên cứu chuyên sâu), đó là: đặc thù về đối tượng người học (cán bộ, công chức, viên chức); đặc thù về chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị (chương trình, giáo trình do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn); nghiệp vụ, kỹ năng theo ngạch công chức, viên chức (trong đó, chương trình, tài liệu do Học viện Hành chính quốc gia, Bộ Nội vụ biên soạn)… Cùng với đó, giảng viên các trường chính trị còn thực hiện nhiều hoạt động mang tính tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các hoạt động này được tính điểm nghiên cứu khoa học của giảng viên.

Do vậy, đội ngũ giảng viên các trường chính trị thường ít có điều kiện tham gia xây dựng, phát triển chương trình; công bố khoa học trong và ngoài nước; tích lũy công trình để xét phong giáo sư, phó giáo sư…) và không đầu tư nhiều cho các hoạt động nghiên cứu chuyên sâu, tìm kiếm ý tưởng mới - những thói quen phù hợp với yêu cầu của hoạt động nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách.

Ba là, do quy mô tổ chức và lực lượng mỏng nên việc chủ động kết nối, phối hợp tổ chức các hoạt động nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách của các trường chính trị gặp khó khăn. Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu khoa học của trường chính trị còn rất hạn chế, chủ yếu tập trung cho các hoạt động nghiên cứu phục vụ giảng dạy, học tập.

2. Thực tiễn triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách của Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh

Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định số 1878/QĐ-TTg ngày 15 - 10 - 2014 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở nâng cấp Trường Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của trường chính trị, Học viện còn thực hiện chức năng đào tạo đại học, sau đại học, góp phần xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao của Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương trong cả nước.

Chiến lược phát triển Học viện đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định mục tiêu phát triển Học viện đến năm 2050, trong đó có nội dung: “Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, tham gia tư vấn chính sách phù hợp, hiệu quả phát triển Thành phố; khẳng định vai trò chủ lực của Học viện trong nghiên cứu khoa học, cung cấp cơ sở lý luận, tổng kết thực tiễn; đề xuất những giải pháp giải quyết những phát sinh từ thực tiễn trong quá trình triển khai thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước”(2).

Là trường chính trị, hằng năm Học viện xác định các định hướng nghiên cứu cơ bản, trong đó trọng tâm là tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách. Trong kế hoạch nghiên cứu khoa học, tập trung vào (1) nâng cao hiệu quả thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, của Thành ủy; chính sách, pháp luật của Nhà nước, cơ chế, chính sách của chính quyền Thành phố; (2) nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý của cấp ủy, chính quyền các cấp; (3) đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý, tổ chức phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố...

Tổ chức các hội thảo, tọa đàm khoa học hướng đến tổng kết thực tiễn và tư vấn chính sách

Từ năm 2020 đến nay, Học viện đã phối hợp với các cơ quan, quận, huyện; các tổ chức nghiên cứu; các trường chính trị, trường đại học tổ chức nhiều hội thảo, tọa đàm khoa học. Chỉ tính riêng từ năm 2022 đến nay, ngoài việc phối hợp với các ban xây dựng Đảng tham mưu Thường trực Thành ủy tổ chức 01 tọa đàm, 03 hội thảo; Học viện đã tổ chức và phối hợp với các cơ quan, tổ chức; các quận, huyện; các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học tổ chức 24 hội thảo khoa học. Sau mỗi hội thảo, tọa đàm khoa học, Học viện đều có văn bản báo cáo Thường trực Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy về kết quả tổ chức hội thảo, tọa đàm, trong đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp, nhiệm vụ để nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý và tổ chức phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tùy theo từng hội thảo, tọa đàm khoa học, các kiến nghị, đề xuất này còn được gửi đến Thường trực Ủy ban nhân dân Thành phố, Thường trực Hội đồng nhân dân Thành phố; các sở, ban, ngành và quận, huyện, thành phố trực thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.

Thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp hướng vào tổng kết thực tiễn và tư vấn chính sách

Từ năm 2020 đến nay, Học viện đã và đang thực hiện 44 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp. Trong đó, có 05 đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ (04 đề tài đã nghiệm thu, 01 đề tài đang chuẩn bị nghiệm thu cấp bộ) nghiên cứu về: Công tác tôn giáo của hệ thống chính trị Thành phố; Công tác dân vận chính quyền ở các quận, huyện của Thành phố Hồ Chí Minh; Phong cách, phương pháp và kỹ năng giao tiếp với người dân của cán bộ làm công tác tiếp dân tại các cơ quan, đơn vị hành chính trên địa bàn Thành phố; Xây dựng chính quyền số; Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh các trường đại học tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch trong tình hình mới; 01 đề án khoa học cấp Thành phố về xác định nhiệm vụ, quyền hạn của tập thể Ủy ban nhân dân và của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; 01 đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh về công tác dân vận trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Đa số các đề tài nghiên cứu khoa học do cán bộ, giảng viên Học viện thực hiện hướng vào nghiên cứu, đánh giá và khuyến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý của các tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị; nâng cao hiệu quả quản lý, phát triển kinh tế - xã hội trong các lĩnh vực cụ thể...

Trong đánh giá, nghiệm thu các đề tài nghiên cứu liên quan đến thực tiễn Thành phố, Học viện đều mời lãnh đạo các sở, ban, ngành; quận, huyện, thành phố trực thuộc Thành phố; các cơ quan, tổ chức liên quan đến đề tài tham gia phản biện, đánh giá cùng với các chuyên gia, nhà khoa học đang trực tiếp nghiên cứu, giảng dạy về lĩnh vực nghiên cứu của đề tài. Qua đó, chất lượng nghiên cứu các đề tài từng bước được nâng lên, đóng góp cả về lý luận và thực tiễn, góp phần tổng kết thực tiễn lãnh đạo, quản lý của cấp ủy đảng, chính quyền; thực tiễn tổ chức phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời tư vấn chủ trương, chính sách phát triển bền vững Thành phố Hồ Chí Minh. Cách tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong thực hiện các đề tài phù hợp với mục tiêu nghiên cứu đề ra. Bên cạnh đó, cán bộ, giảng viên Học viện còn tích cực tham gia thực hiện các đề án, nhiệm vụ của Thành phố, như: xây dựng chính quyền đô thị; thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh; tổng kết 40 năm đổi mới…

Nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn là chức năng, nhiệm vụ của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo Quy định số 09-Qđi/TW. Là trường chính trị, hằng năm Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh xác định các định hướng nghiên cứu cơ bản, trong đó trọng tâm là tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách, tập trung vào (1) nâng cao hiệu quả thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, của Thành ủy; chính sách, pháp luật của Nhà nước, cơ chế, chính sách của chính quyền Thành phố; (2) nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý của cấp ủy, chính quyền các cấp; (3) đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý, tổ chức phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố...

Ngoài ra, hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Học viện từ năm 2020 đến nay cũng đạt được nhiều kết quả (năm 2020, có 02 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên; năm 2021, có 13 đề tài; năm 2022 có 12 đề tài). Đa số các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên đã hướng vào các vấn đề thực tiễn của Thành phố, như: xây dựng đô thị thông minh; nhận thức về khởi nghiệp của sinh viên Thành phố; phát triển du lịch thông minh, kinh tế số, thu hút FDI trên địa bàn Thành phố, phát triển trí tuệ nhân tạo, kinh tế tuần hoàn...

Năm 2020, có 05 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên Học viện vào vòng bán kết, 01 đề tài đạt giải Khuyến khích Giải thưởng Euréka. Năm 2021, có 09 đề tài vào vòng bán kết, 01 đề tài đạt giải Nhì và 01 đề tài đạt giải Khuyến khích Giải thưởng Euréka. Năm 2022, có 07 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên Học viện vào vòng bán kết, 01 đề tài đạt giải Nhì, 02 đề tài đạt giải Khuyến khích Giải thưởng Euréka. Năm 2023, đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên Học viện tham gia 02 bảng trong Hội thi sinh viên nghiên cứu khoa học của Khối thi đua 22 và đạt 02 giải Nhất; 01 đề tài lọt vào vòng Chung kết Giải thưởng Euréka; 01 đề tài đạt Giải Khuyến khích Giải thưởng Khoa học và Công nghệ dành cho sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách của trường chính trị

Từ kinh nghiệm thực tiễn của Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách của trường chính trị:

Thứ nhất, xây dựng chiến lược nghiên cứu khoa học, trong đó xác định trọng tâm là hướng vào tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách tại địa phương

Xác định nhất quán quan điểm, mục tiêu đầu tư phát triển và tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học của trường chính trị nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách, trở thành hướng chủ đạo trong nghiên cứu khoa học của trường chính trị.

Bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; mục tiêu, định hướng, chủ trương, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Đảng bộ, chính quyền tỉnh, thành phố; các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương để chủ động tổ chức các hoạt động nghiên cứu theo hướng cung cấp các luận cứ khoa học để đề xuất, kiến nghị các giải pháp tổ chức thực hiện hiệu quả trên thực tiễn hoặc tư vấn hoàn thiện hệ thống chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; định hướng, mục tiêu và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Huy động các nguồn lực cho hoạt động nghiên cứu khoa học của trường chính trị nói chung và các hoạt động tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách nói riêng…

Thứ hai, chuẩn hóa công tác quản lý các hoạt động nghiên cứu khoa học của trường chính trị

Xây dựng và ban hành quy chế, quy định về nghiên cứu khoa học của trường trên cơ sở thực hiện Quyết định số 6468-QĐ/HVCTQG ngày 21 - 12 - 2021 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh về việc ban hành Quy chế quản lý đào tạo, bồi dưỡng của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các quy định, hướng dẫn của Nhà nước và Đảng bộ, chính quyền tỉnh, thành phố. Trong đó, các trường quy định cụ thể quy trình, thủ tục và trách nhiệm của các bên liên quan trong thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học nói chung và các hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách nói riêng.

Công khai, minh bạch quy trình, thủ tục, chế độ, chính sách liên quan đến nghiên cứu khoa học. Công khai quy trình, thủ tục, biểu mẫu phục vụ các hoạt động nghiên cứu khoa học cũng như thông tin đặt hàng, mời đăng ký thực hiện các nhiệm vụ khoa học tới toàn thể viên chức.

Thắt chặt mối quan hệ với các ban Đảng của tỉnh ủy, thành ủy; các sở, ngành; các cấp ủy đảng và chính quyền các cấp trong kết nối, chia sẻ nhu cầu cũng như hợp tác trong tổ chức các hoạt động nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và tư vấn chính sách.

Bảo đảm các chế độ, chính sách khuyến khích viên chức tham gia nghiên cứu khoa học và công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước. Đổi mới các hoạt động quản lý nghiên cứu khoa học theo hướng chuyển đổi số.

Thứ ba, xây dựng tiềm lực nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách của trường chính trị

Xây dựng cơ chế khuyến khích đội ngũ cán bộ, giảng viên thực hiện các hoạt động nghiên cứu thực tiễn lãnh đạo, quản lý của cấp ủy đảng và chính quyền các cấp; thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội trên các lĩnh vực.

Tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học, chú trọng bồi dưỡng kỹ năng, phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng để đáp ứng yêu cầu gia tăng hàm lượng thực tiễn trong các công trình nghiên cứu. Khuyến khích và cử giảng viên tham gia các lớp tập huấn về nghiên cứu khoa học do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức; các lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học do các tổ chức nghiên cứu, các cơ sở giáo dục đại học tổ chức.

Xây dựng các nhóm nghiên cứu để bảo đảm tính chủ động trong nghiên cứu; sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu theo yêu cầu, chỉ đạo của tỉnh ủy, thành ủy và đặt hàng của các cơ quan, tổ chức.

Phát huy vai trò của đơn vị tham mưu quản lý khoa học trong tư vấn, hỗ trợ giảng viên tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học. Phát huy vai trò của các khoa và từng giảng viên trong tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học cũng như tự bồi dưỡng, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học.

Bảo đảm nguồn lực tài chính cho các hoạt động nghiên cứu khoa học của trường nói chung và các hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách nói riêng.

Tranh thủ sự quan tâm của tỉnh ủy, thành ủy đối với trường chính trị, trong đó có hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách. Kết nối với các các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị; các tổ chức nghiên cứu và các cơ sở giáo dục đại học, các trường chính trị khác trong tổ chức thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách.

Từng bước hình thành và phát huy các kênh để nắm bắt các vấn đề kinh tế - xã hội, nhu cầu nghiên cứu trên các lĩnh vực cụ thể để tổ chức và phối hợp tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học sát với nhu cầu thực tiễn của địa phương.

Thực hiện Đề án xây dựng trường chính trị chuẩn để nâng cao tiềm lực; đổi mới và nâng cao hiệu quả thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học của trường.

Bối cảnh mới đang đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học của các trường chính trị trong tham gia tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách tại địa phương. Để thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ này, các trường chính trị cần chủ động xây dựng chiến lược nghiên cứu khoa học, trong đó xác định hướng chủ đạo là nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tư vấn chính sách tại địa phương. Đồng thời, xác định và thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp để nâng cao tiềm lực và bảo đảm các điều kiện để tổ chức thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ này.

_________________

Ngày nhận bài: 22-11-2023; Ngày bình duyệt: 25-11-2023; Ngày duyệt đăng: 12-12-2023.

(1) Quyết định số 184-QĐ/TW, ngày 3-9-2008 của Ban Bí thư “Về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”.

(2) Quyết định số 595-QĐ/HVCB, ngày 2-8-2022 của Giám đốc Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh, phê duyệt Chiến lược phát triển Học viện Cán bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

(1) Quy định số 09-QĐi/TW, ngày 13-11-2018 của Ban Bí thư “Về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”.

(2) Quy định số 11-QĐ/TW, ngày 19-5-2021 của Ban Bí thư “Về trường chính trị chuẩn”.

(3) Quyết định số 6468-QĐ/HVCTQG ngày 21-12-2021 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh “Về việc ban hành Quy chế quản lý đào tạo, bồi dưỡng của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”.

 

Công tác thanh tra góp phần thực hiện kỷ luật, kỷ cương trong đào tạo tại Học viện

TS TRẦN VĂN THẮNG
Ban Thanh tra,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
 

(LLCT) - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học lý luận chính trị của hệ thống chính trị. Để thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình, Học viện đã rất quan tâm các khâu trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trong đó có công tác thanh tra giáo dục đào tạo. Công tác thanh tra giáo dục luôn được Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện quan tâm. Bài viết khái quát hoạt động thanh tra giáo dục đào tạo và khẳng định vai trò của hoạt động này, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2023, do TS Trần Văn Thắng làm chủ nhiệm.
 


Thanh tra Học viện có chức năng, nhiệm vụ tham mưu Ban Giám đốc thanh tra trên các lĩnh vực: Đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, kinh tế - xã hội, công vụ, hợp tác quốc tế; việc thực hiện các quy định pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng của các đơn vị, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý của Giám đốc Học viện và Giám đốc các Học viện trực thuộc. Trong đó, hoạt động thanh tra giáo dục đào tạo là một trong những nội dung thanh tra quan trọng góp phần vào thực hiện kỷ cương, kỷ luật của cán bộ, viên chức, người lao động và của học viên, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của Học viện.

1. Công tác thanh tra giáo dục đào tạo luôn được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện. Giám đốc Học viện đã ban hành các quy định, quy chế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động giáo dục đào tạo của Học viện như: Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ ban hành kèm theo Quyết định số 4350-QĐ/HVCTQG ngày 17-9-2021 của Giám đốc Học viện; bộ Quy chế quản lý đào tạo, bồi dưỡng của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành kèm theo Quyết định số 6468-QĐ/HVCTQG ngày 21-12-2021 của Giám đốc Học viện; Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ thạc sĩ ban hành kèm theo Quyết định số 8488-QĐ/HVCTQG ngày 23-3-2022 của Giám đốc Học viện; Quy chế tuyển sinh và đào tạo cao cấp lý luận chính trị ban hành kèm theo Quyết định số 10145-QĐ/HVCTQG ngày 30-6-2022 của Giám đốc Học viện…

Bên cạnh đó, công tác thanh tra giáo dục đào tạo còn nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện của các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan của Học viện và các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Với sự chỉ đạo trực tiếp, sát sao của cấp ủy, lãnh đạo Ban Thanh tra và sự nỗ lực, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, công chức Ban Thanh tra trong công tác thanh tra giáo dục đào tạo… đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Học viện trong hoạt động giáo dục đào tạo.

2. Hoạt động thanh tra giáo dục, đào tạo được tiến hành theo hai hình thức, đó là: Thường xuyên, theo kế hoạch và thanh tra đột xuất với nội dung hoạt động rất đa dạng, thể hiện ở tất cả các khâu trong quá trình đào tạo, như: Thanh tra việc thực hiện nội quy, quy chế đào tạo (việc giảng dạy lên lớp của giảng viên và việc học tập của học viên); thanh tra tuyển sinh sau đại học; thanh tra hồ sơ mở lớp, hồ sơ học viên các loại hình đào tạo (cử nhân, cao cấp lý luận chính trị, sau đại học) ở các hệ đào tạo (tập trung và không tập trung); thanh tra việc tổ chức học lại, học bổ sung; thi lại, thi bổ sung; thanh tra các kỳ thi tốt nghiệp, bảo vệ luận văn, luận án, đề án; thanh tra thi (công tác ra đề thi, đáp án đề thi, làm phách, chấm thi, lên điểm, lưu giữ bài thi) v.v..

Thứ nhất, hoạt động thanh tra giáo dục, đào tạo được diễn ra thường xuyên là thanh tra việc thực hiện nội quy, quy chế đào tạo tại các hệ lớp tại Trung tâm Học viện và các Học viện trực thuộc. Trong 5 năm qua, Thanh tra Học viện đã tiến hành 897 lượt thanh tra thường xuyên đối với các hệ lớp, trong đó, có 617 lượt thanh tra công tác thi, kiểm tra (tự luận đóng, mở; trắc nghiệm; vấn đáp) và 280 lượt thanh tra việc thực hiện quy định về giảng dạy, học tập của các lớp(1). Thanh tra các Học viện trực thuộc tiến hành thanh tra, kiểm tra thường xuyên việc thực hiện nội quy, quy chế đào tạo tại các Học viện trực thuộc. Ngoài việc tiến hành các đoàn thanh tra, kiểm tra trực tiếp tại lớp, Thanh tra thực hiện giám sát lớp học qua hệ thống camera truyền hình giảng đường, phối hợp kiểm tra, giám sát điểm danh bằng vân tay, nhận diện khuôn mặt đối với các lớp đặt tại Học viện và một số lớp đặt tại địa phương. Đặc biệt, trong thời gian diễn ra dịch Covid -19, Thanh tra Học viện đã tiến hành 1.781 lượt giám sát trực tuyến qua phần mềm Microsoft Team(2). Hoạt động thanh tra thường xuyên đã có tác động đến ý thức học tập của học viên, giảng dạy của giảng viên, giúp điều chỉnh, bổ sung những vấn đề sai sót trong đề thi hết môn, chấn chỉnh kịp thời đối với những trường hợp vi phạm nội quy, quy chế đào tạo.

Thời gian qua, công tác thanh tra giáo dục đào tạo tại Học viện được triển khai một cách toàn diện, đồng bộ, hệ thống. Các đơn vị Thanh tra đã phối hợp chặt chẽ với đơn vị quản lý đào tạo, viện, khoa chuyên ngành, Trung tâm Ứng dụng công nghệ thông tin trong giám sát việc thực hiện kế hoạch giảng dạy, học tập của giảng viên và học viên các hệ lớp do Học viện mở, bảo đảm nghiêm túc, khách quan, độc lập. Các hình thức thanh tra được triển khai, vận dụng một cách linh hoạt, khoa học. Các văn bản, quy định, quy chế là căn cứ thanh tra giáo dục đào tạo được cập nhật, rà soát, sửa đổi, bổ sung thường xuyên, phù hợp với tình hình thực tiễn.

Hằng năm, Thanh tra Học viện tiến hành hàng chục đoàn thanh tra theo kế hoạch đối với các hoạt động giáo dục đào tạo. Một trong những hoạt động đào tạo đặc thù tại Học viện là đào tạo cao cấp lý luận chính trị (CCLCCT), do vậy, các đơn vị Thanh tra Học viện đã tập trung các Đoàn thanh tra tốt nghiệp các lớp CCLLCT tập trung và giám sát tốt nghiệp các lớp CCLLCT không tập trung, bao gồm công tác chuẩn bị thi, ra đề thi, chuyển đề thi, in sao, đóng gói, bảo mật đề thi, công tác coi thi, đáp án đề thi, làm phách, chấm thi, đánh giá đề án tốt nghiệp, chấm phúc khảo, tổng hợp lên điểm, công bố kết quả thi).

Bên cạnh thanh tra các lớp CCLLCT học tập tại Trung tâm Học viện, các đơn vị Thanh tra còn tiến hành thanh tra các lớp CCLLCT mở tại các Học viện trực thuộc và các trường chính trị. Trong 5 năm qua, thanh tra hệ thống Học viện đã tiến hành thanh tra, giám sát thi tốt nghiệp 146 lớp CCLLCT tập trung và không tập trung, 11 lớp đại học chính trị các chuyên ngành, tổ chức 19 đoàn thanh tra hồ sơ tuyển sinh và tổ chức kỳ thi tuyển sinh đào tạo trình độ thạc sĩ, giám sát kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học của Học viện Báo chí và Tuyên truyền hằng năm(3).

Thứ hai, thực hiện chỉ đạo của Ban Giám đốc Học viện và theo yêu cầu của hoạt động giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, Thanh tra Học viện đã triển khai các đoàn Thanh tra đột xuất như: việc thực hiện Quy chế đào tạo CCLLCT đối với lớp hoàn chỉnh kiến thức cao cấp lý luận chính trị K68-C08; kiểm tra, rà soát, xác minh văn bằng, chứng chỉ ngoại ngữ của học viên theo Quyết định số 2075/QĐ-HVCTQG ngày 05-4-2018 của Giám đốc Học viện để xử lý vụ việc học viên sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp trong tuyển sinh đầu vào tiến sĩ; Thanh tra việc thực hiện Quy chế đào tạo CCLLCT đối với Lớp hoàn chỉnh chương trình Cao cấp Lý luận chính trị  K69-C01, các Đoàn Thanh tra đột xuất việc thực hiện nội quy, Quy chế đào tạo của Học viện đối với học viên, giảng viên, cá nhân và đơn vị có liên quan đến công tác đào tạo tại các lớp CCLLCT hệ không tập trung do Học viện mở học tại các cơ sở đào tạo bên ngoài Học viện. Đây là điểm đặc thù của công tác thanh tra giáo dục đào tạo ở Học viện, được Thanh tra Chính phủ ghi nhận, biểu dương.

Thực hiện Quy định số 11-QĐ/TW ngày 19-5-2021 quy định về trường chính trị chuẩn và Quy định số 57-QĐ/TW ngày 8-2-2022 quy định về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo lý luận chính trị, Ban Thanh tra đã tiến hành hoạt động thanh tra Bộ quy chế đào tạo, bồi dưỡng tại các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với các nội dung kế hoạch giảng dạy, học tập theo nội dung, chương trình do Học viện biên soạn và việc thực hiện Bộ quy chế quản lý đào tạo và bồi dưỡng các trường chính trị (theo Quyết định 2252 và Quyết định 6468 của Giám đốc Học viện). Trong những năm qua, Thanh tra Học viện đã triển khai thanh tra việc thực hiện Bộ Quy chế quản lý đào tạo tại 17 trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương(4).

Nhìn chung, thời gian qua, công tác thanh tra giáo dục đào tạo tại Học viện được triển khai một cách toàn diện, đồng bộ, hệ thống. Các đơn vị Thanh tra đã phối hợp chặt chẽ với đơn vị quản lý đào tạo, viện, khoa chuyên ngành, Trung tâm Ứng dụng công nghệ thông tin trong giám sát việc thực hiện kế hoạch giảng dạy, học tập của giảng viên và học viên các hệ lớp do Học viện mở, bảo đảm nghiêm túc, khách quan, độc lập. Các hình thức thanh tra được triển khai, vận dụng một cách linh hoạt, khoa học. Các văn bản, quy định, quy chế là căn cứ thanh tra giáo dục đào tạo được cập nhật, rà soát, sửa đổi, bổ sung thường xuyên, phù hợp với tình hình thực tiễn. Các đoàn thanh tra giáo dục đào tạo đã kịp thời phát hiện những thiếu sót trong việc chỉ đạo, điều hành, tổ chức và phối hợp thực hiện công tác giáo dục đào tạo, từ đó kiến nghị Giám đốc Học viện, Giám đốc các Học viện trực thuộc yêu cầu đơn vị quản lý đào tạo, các viện, khoa chuyên ngành, các trường chính trị quán triệt, quản lý học viên, sinh viên thực hiện nghiêm túc các quy định, quy chế đào tạo của Học viện. Các hoạt động thanh tra giáo dục đào tạo đã tác động mạnh mẽ tới ý thức trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân là đối tượng thanh tra, giám sát, qua đó góp phần duy trì kỷ luật, kỷ cương, đấu tranh phòng, chống tiêu cực và nâng cao chất lượng đào tạo tại Học viện.

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong những năm qua, hoạt động thanh tra giáo dục đào tạo còn tồn tại một số bất cập, đó là: hoạt động thanh tra giáo dục đào tạo của các đơn vị thanh tra trong hệ thống Học viện chưa toàn diện, chưa phát huy hết hiệu quả do lực lượng cán bộ thanh tra thiếu; sự phối hợp giữa các đơn vị thanh tra chưa chặt chẽ, đồng bộ; công tác hướng dẫn nghiệp vụ còn chưa mang tính hệ thống, đồng bộ ở các khâu trong hoạt động thanh tra giáo dục đào tạo; một bộ phận cán bộ, học viên, sinh viên tại Học viện chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động thanh tra, kiểm tra nội bộ nói chung, hoạt động thanh tra giáo dục đào tạo nói riêng trong toàn Học viện; hiệu quả hoạt động thanh tra còn có nơi, có lúc chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo ở Học viện...

3. Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển Học viện trong giai đoạn mới, đặc biệt là yêu cầu về nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, công tác thanh tra giáo dục đào tạo của Học viện trong thời gian tới cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau đây:

Một là, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Học viện đối với hoạt động thanh tra giáo dục đào tạo.

Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện quan tâm sâu sát hơn nữa đến hoạt động thanh tra giáo dục đào tạo, coi hoạt động này là công cụ quan trọng thực hiện kỷ cương, kỷ luật, phòng chống tiêu cực và góp phần hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của Học viện. Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện chỉ đạo kịp thời, thường xuyên công tác khen thưởng, kỷ luật trong hoạt động thanh tra giáo dục đào tạo, đặc biệt chú trọng thực hiện kết luận thanh tra để những nội dung chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện phát huy hiệu lực, hiệu quả trong thực tế.

Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện quán triệt và triển khai thực hiện đúng nguyên tắc, quy trình, trình tự, thủ tục giải quyết các vấn đề liên quan đến công tác quản lý hoạt động giảng dạy - học tập, đào tạo, bồi dưỡng các hệ đào tạo, bồi dưỡng...; xây dựng lề lối làm việc khoa học; phát huy vai trò tham mưu của các đơn vị trực thuộc trong công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành tại Học viện. Chú trọng lựa chọn cán bộ có đủ bản lĩnh chính trị, gương mẫu, có uy tín và có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ tốt (ưu tiên các ngành luật, kinh tế, tài chính, quản lý giáo dục) để phân công, bố trí làm công tác thanh tra giáo dục đào tạo.

Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến quy định, quy chế nhằm nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của hoạt động thanh tra giáo dục đào tạo trong Học viện

Hoạt động thanh tra giáo dục đào tạo có mục tiêu là phát huy ưu điểm, chủ động ngăn ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất các sai sót, hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng; góp phần giáo dục cán bộ đảng viên, giảng viên tăng cường kỷ cương, kỷ luật. Do vậy, cần phải tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến để nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức, giảng viên, người lao động, học viên, sinh viên về hoạt động thanh tra giáo dục đào tạo; để toàn hệ thống Học viện hiểu rõ hoạt động thanh tra là hoạt động cần thiết, gắn liền với hoạt động lãnh đạo, quản lý nói chung, của một cơ quan, đơn vị, quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng nói riêng. Theo đó, những người làm công tác thanh tra nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của hoạt động thanh tra; về nội dung, nguyên tắc, nghiệp vụ tổ chức và thực hiện hoạt động thanh tra giáo dục đào tạo. Đối với lãnh đạo Học viện, lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Học viện cần xác định đầy đủ tính chất của hoạt động thanh tra giáo dục đào tạo, từ đó định hướng lãnh đạo, quản lý cho phù hợp, nền nếp, đúng quy định, quy chế...

Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Thanh tra Học viện

Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động của Thanh tra Học viện trên cơ sở quy định, phù hợp với điều kiện của Học viện. Công tác cán bộ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác thanh tra giáo dục, đào tạo. Do đó, tập trung, chú trọng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị và bản lĩnh nghề nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao, tâm huyết với nghề để bố trí cho công tác thanh tra, đồng thời điều động cán bộ không đáp ứng yêu cầu công việc sang làm công tác khác; thực hiện luân chuyển, điều động cán bộ tại các đơn vị trực thuộc về công tác tại Thanh tra Học viện trong khoảng thời gian nhất định; Bố trí đủ biên chế công chức, viên chức làm công tác thanh tra được xác định trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động của đơn vị thanh tra; Đổi mới cách đánh giá, thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng và có chế độ đãi ngộ phù hợp đối với cán bộ làm công tác thanh tra.

Bốn là, đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, nội dung, phương pháp trong công tác thanh tra giáo dục đào tạo

Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Chánh Thanh tra Học viện, Trưởng Ban Thanh tra các Học viện trực thuộc: Đổi mới tư duy lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ theo hướng đề cao tính hiệu quả, chịu trách nhiệm trong hoạt động của đơn vị thanh tra, coi đây là yếu tố then chốt, quyết định trong hoạt động, cũng như trong thực hiện nhiệm vụ của cán bộ thanh tra. Xây dựng tập thể đơn vị thanh tra đoàn kết, thống nhất cao trong thực hiện nhiệm vụ. Tuân thủ trình tự, quy trình nghiệp vụ công tác thanh tra giáo dục đào tạo. Cần xây dựng kế hoạch thanh tra tập trung vào các vấn đề trọng điểm như việc bảo đảm sự phù hợp nội dung đào tạo, bồi dưỡng với mục tiêu, sứ mệnh của Học viện.

 Đổi mới chỉ đạo hoạt động thanh tra theo xu hướng căn cứ vào tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc thanh tra giáo dục đào tạo, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra. Thường xuyên đổi mới cách thức triển khai như: tổ chức tập huấn, thi tìm hiểu; hội thảo chuyên đề, sinh hoạt chuyên đề chi bộ của Thanh tra Học viện.... nhằm phổ biến, triển khai, nắm bắt chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định, quy chế mới của Học viện trong quá trình thực hiện công tác thanh tra giáo dục đào tạo và nâng cao ý thức trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ làm công tác thanh tra giáo dục đào tạo.

Đổi mới lãnh đạo, chỉ đạo trong hoạt động thanh tra bảo đảm nguyên tắc công khai, dân chủ, khách quan, kịp thời và đề cao vai trò, trách nhiệm của Trưởng đoàn thanh tra và các thành viên Đoàn thanh tra. Tổ chức tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm về hoạt động thanh tra giáo dục đào tạo.

Năm là, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan đơn vị, bộ phận, tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm tra giám sát và quản lý hoạt động đào đạo của Học viện.

Thanh tra Học viện phối hợp chặt chẽ giữa với các bộ phận nghiệp vụ, giữa Thanh tra Học viện và các đơn vị trong Học viện, đặc biệt là đơn vị Quản lý đào tạo và mối quan hệ phối hợp với Ủy ban kiểm tra Đảng ủy và Ban Thanh tra nhân dân trong kiểm tra, giám sát tất cả các hoạt động thuộc phạm vi quản lý của Giám đốc Học viện, Giám đốc các Học viện trực thuộc.

Sự phối hợp nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, tạo sự đồng thuận cao, bảo đảm hiệu quả của việc thực hiện kết luận thanh tra giáo dục đào tạo. Thông qua sự phối hợp giữa các đơn vị, cơ quan, tổ chức, nhằm phát hiện những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong chỉ đạo, quản lý, điều hành, tổ chức và phối hợp triển khai thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị, kịp thời chấn chỉnh những sai phạm, thiếu sót nhằm quản lý tốt hơn hoạt động giáo dục đào tạo, nâng cao ý thức chấp hành các quy định, quy chế đào tạo của Học viện, góp phần thực hiện kỷ cương, kỷ luật, phòng chống tiêu cực trong giáo dục đào tạo.

_________________

(1) Ban Thanh tra Học viện: Báo cáo các mặt công tác các năm từ năm 2018 đến năm 2022.

(2) Ban Thanh tra Học viện: Báo cáo các mặt công tác năm 2020, 2021.

(3) Ban Thanh tra Học viện: Báo cáo các mặt công tác các năm từ năm 2018 đến năm 2022.

(4) Trường Chính trị: Nguyễn Chí Thanh (Thừa Thiên Huế), Lê Duẩn (Quảng Trị), Hậu Giang, Châu Văn Đặng (Bạc Liêu), Lê Hồng Phong (Hà Nội), Bắc Kạn, Ninh Thuận, Phú Yên, Hoà Bình, Sơn La, An Giang, Đồng Tháp, Nguyễn Văn Cừ (Quảng Bình), Hải Dương, Thái Nguyên, Kiên Giang, Bến Tre.

Đến năm 2050, Hà Nam trở thành thành phố trực thuộc Trung ương

Ngày 27.12, Văn phòng Chính phủ thông tin, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà vừa ký Quyết định số 1686/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tỉnh Hà Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Mục tiêu đến năm 2030 xây dựng tỉnh Hà Nam giàu đẹp, văn minh, phấn đấu đạt mức phát triển khá của Vùng đồng bằng sông Hồng; trở thành trung tâm công nghiệp - công nghệ cao thân thiện với môi trường, hiệu quả kinh tế - xã hội lớn. Phát triển Hà Nam là trung tâm du lịch văn hóa gắn với du lịch văn hóa tâm linh, nghỉ dưỡng, vui chơi, giải trí, thể thao; phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, sản xuất hàng hóa với năng suất, chất lượng, giá trị cao. Đồng thời, phát triển tỉnh Hà Nam có tốc độ tăng năng suất lao động cao trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng hiệu quả khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng nhân lực. Bên cạnh đó, các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường sinh thái, an sinh xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được đảm bảo và không ngừng nâng cao. Về kinh tế, phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân giai đoạn 2021 - 2030 đạt khoảng 11,2%/năm. Cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 70,5%, ngành dịch vụ chiếm 26%, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 3,5%. GRDP bình quân đầu người đạt trên 230 triệu đồng. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội cả giai đoạn 2021 - 2030 đạt 758 nghìn tỉ đồng; phấn đấu kinh tế số chiếm 25-30% GRDP... Tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nam trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đô thị thông minh, hiện đại; là trung tâm hậu cần về công nghiệp, công nghệ cao, y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục đào tạo, dịch vụ du lịch, thương mại của Vùng đồng bằng sông Hồng. Hà Nam phát triển kinh tế thịnh vượng gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái theo hướng chủ đạo là thông minh, sáng tạo, xanh, sạch, bền vững với các trụ cột tăng trưởng có trình độ phát triển cao và trở thành động lực phát triển quan trọng của Vùng đồng bằng sông Hồng. Đặc biệt, Hà Nam sẽ phát triển các ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến chế tạo, dịch vụ, du lịch văn hóa, tâm linh, sinh thái, thể dục thể thao. Xây dựng môi trường xã hội tỉnh Hà Nam văn minh, hiện đại, dân chủ, con người Hà Nam phát triển toàn diện. Chính trị, quốc phòng, an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Giai đoạn 2021-2025, Hà Nam phát triển công nghiệp - công nghệ cao - đô thị - dịch vụ du lịch thương mại. Giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nam phát triển đô thị - công nghiệp - công nghệ cao - dịch vụ du lịch thương mại. Phát triển công nghiệp theo mô hình kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh, ứng dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử, công nghiệp hỗ trợ, chế biến, chế tạo, sản xuất, lắp ráp ôtô… Tập trung phát triển các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh. Phát triển công nghệ cao, trọng tâm là hoàn thành và thu hút đầu tư phát triển Khu Công nghệ cao Hà Nam, tập trung vào lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, công nghệ điện tử - bán dẫn, tự động hóa, công nghệ sinh học và y dược, công nghệ vật liệu mới. Hà Nam khai thác và phát huy hiệu quả tài nguyên du lịch; tập trung phát triển du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa gắn với du lịch tâm linh, vui chơi giải trí, thể thao, đưa Hà Nam trở thành điểm đến thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế, đặc biệt tập trung phát triển Khu Du lịch quốc gia Tam Chúc được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới.

Ông Lương Quốc Đoàn tái đắc cử Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam

Sáng 27.12, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam khoá VIII, nhiệm kỳ 2023–2028 đã thông báo kết quả họp Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khoá VIII. Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2023–2028 đã bầu ra 111 nhân sự tham gia Ban Chấp hành Trung ương Hội khoá VIII. 111 ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khóa VIII, nhiệm kỳ 2023–2028 là những người có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ để đảm đương nhiệm vụ do Đại hội giao phó. Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khóa VIII đã bầu 18 Ủy viên Ban Thường vụ, bầu Chủ tịch và 4 Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam. Ông Lương Quốc Đoàn – Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khóa VII, tái đắc cử chức danh Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khóa VIII, nhiệm kỳ 2023–2028. 4 ông/bà: Phạm Tiến Nam, Đinh Khắc Đính, Bùi Thị Thơm và Nguyễn Xuân Định tiếp tục được bầu làm Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khóa VIII. Phát biểu trước đại hội, ông Lương Quốc Đoàn - Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam cho biết: "Chúng tôi rất vinh dự và vui mừng được đại hội tín nhiệm bầu vào BCH Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khóa VIII, nhiệm kỳ 2023–2028. Đây là niềm vinh dự, đồng thời cũng là trách nhiệm hết sức nặng nề trước đại hội, cán bộ, hội viên nông dân cả nước". Ông Lương Quốc Đoàn cho biết, sẽ tập trung lãnh đạo thực hiện có hiệu quả 6 nhóm nhiệm vụ giải pháp trọng tâm và 3 đột phá, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác hội và phong trào nông dân trong thời gian tới. Trước đó, tại phiên làm việc chiều 26.12, các đại biểu dự Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân việt Nam khóa VIII (nhiệm kỳ 2023- 2028) với 111 nhân sự đã trúng cử và tham gia BCH khóa mới. Tỉ lệ Ủy viên Ban Chấp hành là nữ khoảng 25%; tỉ lệ Ủy viên Ban Chấp hành là người dân tộc thiểu số chiếm 11%. Cơ cấu về độ tuổi: Tỉ lệ dưới 45 tuổi khoảng 15%, 45 - 55 tuổi khoảng 50% và trên 55 tuổi khoảng 35%... Điểm nổi bật trong cơ cấu Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khóa VIII, là giảm số lượng Ủy viên Ban Chấp hành của Trung ương Hội, tăng cơ cấu doanh nghiệp. Số lượng các doanh nghiệp nông nghiệp và tiêu thụ nông sản sẽ được tăng lên, góp phần tăng cường hợp tác, liên kết để nông dân sản xuất kinh doanh tốt hơn.

Thực hiện nghiêm mục tiêu tinh giản biên chế, hoàn thiện vị trí việc làm

Bộ Chính trị yêu cầu thực hiện nghiêm chủ trương, mục tiêu tinh giản biên chế giai đoạn 2021-2026; tiếp tục hoàn thiện vị trí việc làm gắn với biên chế của khu vực công, tiết kiệm ngân sách nhà nước chi cho bộ máy, con người. Thay mặt Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trương Thị Mai - Trưởng Ban Tổ chức Trung ương - vừa ký ban hành Chỉ thị số 27-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Theo đó, để đẩy mạnh công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Trong đó, quán triệt, nâng cao nhận thức, tổ chức thực hiện nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương phải xây dựng kế hoạch, chương trình cụ thể, nêu cao trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí gắn với thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải gương mẫu, vận động gia đình, Nhân dân tích cực tham gia thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Chỉ thị nêu rõ yêu cầu sửa đổi, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá, chế độ chi tiêu công làm căn cứ để giảm hao phí trong sử dụng vốn, tài sản, tài nguyên, lao động, thời gian lao động, nâng cao hiệu quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Xây dựng và tổ chức triển khai có hiệu quả chiến lược và chương trình quốc gia về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 5 năm, hằng năm bảo đảm toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng các lĩnh vực then chốt như năng lượng, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, ngân sách nhà nước, tài sản công. Các cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện nghiêm quy định về mua sắm công, xây dựng và sử dụng trụ sở, tổ chức hội nghị, lễ kỷ niệm, tiếp khách, đi công tác, đi nước ngoài bảo đảm thiết thực, hiệu quả, không lãng phí, phô trương. Tăng cường công tác quản lý nhà nước, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các nguồn lực quốc gia. Giải quyết dứt điểm tồn tại kéo dài đối với các dự án quan trọng quốc gia Chỉ thị số 27-CT/TW cũng nhấn mạnh yêu cầu có phương án giải quyết dứt điểm tồn tại kéo dài đối với các dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm, dự án sử dụng vốn ODA, dự án BOT, BT hiệu quả thấp, gây thất thoát, lãng phí lớn; các ngân hàng thương mại yếu kém; các dự án ngừng triển khai theo kết luận của các cơ quan chức năng, sớm đưa các tài sản này vào phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội. Khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bền vững đối với đất đai, tài nguyên, khoáng sản, giảm thiểu thất thoát, lãng phí, tác động tiêu cực đến môi trường. Tăng cường công khai, minh bạch việc sử dụng ngân sách nhà nước, tài sản công, nguồn lực quốc gia…; nêu cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước, người đứng đầu đối với việc gây thất thoát, lãng phí ngân sách, tài sản công. Đẩy mạnh sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; thực hiện nghiêm chủ trương, mục tiêu tinh giản biên chế giai đoạn 2021 - 2026; tiếp tục hoàn thiện vị trí việc làm gắn với biên chế của khu vực công, tiết kiệm ngân sách nhà nước chi cho bộ máy, con người. Tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, cải cách hành chính, xã hội hoá cung ứng dịch vụ sự nghiệp công. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm toán việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tập trung lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra lãng phí, tiêu cực, nơi có nhiều đơn, thư, khiếu nại, tố cáo, dư luận xã hội quan tâm, bức xúc. Kịp thời phát hiện, phòng ngừa, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân vi phạm, gây thất thoát, lãng phí nguồn lực; thực hiện nghiêm kết luận, kiến nghị của các cơ quan chức năng, thu hồi tiền, tài sản cho Nhà nước. Chỉ thị số 27-CT/TW cũng nêu rõ yêu cầu phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng và Nhân dân...

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 79

Sáng 27.12.2023, tại Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 79. Theo thông tin từ Bộ Công an, phát biểu khai mạc hội nghị, Bộ trưởng Tô Lâm nêu rõ, năm 2023, lực lượng công an nhân dân đã bám sát sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, với sự quyết tâm chính trị rất cao, nỗ lực rất lớn, hành động quyết liệt, đổi mới cách làm theo phương châm bám sát thực tiễn, giải quyết các vấn đề từ thực tiễn đặt ra ngay từ cơ sở. Đồng thời, lực lượng công an đã thực hiện thắng lợi mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ công tác đã đề ra là giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội góp phần tích cực bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích của đất nước, tạo môi trường an ninh, an toàn, lành mạnh phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng quan hệ đối ngoại. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm và các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Bộ Công an Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm và các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Bộ Công an Những kết quả mà lực lượng công an đạt được đã được lãnh đạo Đảng, Nhà nước đánh giá, khẳng định và Nhân dân đồng tình, ủng hộ, đó là “năm sau cao hơn năm trước, năm 2023 tốt hơn, cao hơn năm 2022”. Bộ trưởng Tô Lâm nhấn mạnh, năm 2024 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng - là năm “thứ tư”, năm “tăng tốc” để tạo tiền đề năm 2025 “về đích” thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Công an Trung ương lần thứ VII và cũng là năm khởi đầu cho công tác chuẩn bị Đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Bên cạnh đó, năm 2024, tình hình thế giới, khu vực được dự báo sẽ tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp…; những yếu tố là nguyên nhân, điều kiện làm nảy sinh tội phạm vẫn chưa thể giải quyết một cách triệt để. Tình hình đó đang đặt ra những khó khăn, thách thức và yêu cầu hết sức nặng nề, khẩn trương đối với nhiệm vụ của lực lượng công an nhân dân… Theo Bộ trưởng Tô Lâm, hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 79 có nhiệm vụ kiểm điểm, đánh giá đúng tình hình, những kết quả đạt được, chưa đạt được và làm rõ những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế trên các lĩnh vực công tác. Từ đó, hội nghị rút ra những kinh nghiệm trong năm 2023 để làm tiền đề, cơ sở xác định phương hướng công tác công an năm 2024, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Trên tinh thần đó, Bộ trưởng Tô Lâm đề nghị các đại biểu nhận định, phân tích, dự báo sát xu hướng diễn biến của tình hình, nhận thức đầy đủ những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đặt ra đối với nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời xây dựng lực lượng công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; tập trung thảo luận thống nhất các chủ trương, giải pháp để quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ công tác trong năm 2024.

Thứ Ba, 26 tháng 12, 2023

THỤY ĐIỂN PHẢN ỨNG TRƯỚC “ĐÈN XANH” CỦA THỔ NHĨ KỲ VỀ GIA NHẬP NATO!

     Sau khoảng 4 giờ tranh luận, Ủy ban đối ngoại Quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ, do Đảng AK cầm quyền của Tổng thống Tayyip Erdogan kiểm soát, đã bỏ phiếu ủng hộ nỗ lực mà Thụy Điển đưa ra hồi năm ngoái về việc gia nhập NATO. Thụy Điển hoan nghênh động thái này.

Ủy ban đối ngoại Quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ hôm qua đã thông qua đơn gia nhập NATO của Thụy Điển - bước đi quan trọng trong nỗ lực mở rộng khối quân sự này, sau 19 tháng trì hoãn do Thổ Nhĩ Kỳ yêu cầu Thụy Điển đưa ra nhiều nhượng bộ trong vấn đề an ninh. Việc được Thổ Nhĩ Kỳ “bật đèn xanh” đã giúp Thụy Điển tiến gần hơn với việc trở thành thành viên thứ 32 của liên minh.

Bước tiếp theo là bỏ phiếu tại phiên họp toàn thể Quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ, trước khi được Tổng thống Erdogan ký thành luật. Người đứng đầu ủy ban Fuat Oktay tuy hạ thấp kỳ vọng về một cuộc bỏ phiếu nhanh chóng tại đại hội đồng khi khẳng định với báo giới rằng chủ tịch quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ sẽ ấn định thời gian tổ chức phiên toàn thể để bỏ phiếu, nhưng nhấn mạnh thêm rằng những bước đi mà chính quyền Thụy Điển đã thực hiện cho đến ngày hôm nay và những cam kết mà nước này đưa ra là “đáng hài lòng”.

Phản ứng trước động thái mới nhất của Ủy ban đối ngoại Quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ, Ngoại trưởng Thụy Điển Tobias Billstrom cho biết nước này hoan nghênh bước đi tích cực nói trên và mong muốn sớm được gia nhập NATO.

Trong khi đó, Trợ lý Tổng thư ký NATO về các vấn đề chính trị và chính sách an ninh Boris Ruge cũng có dòng trạng thái trên nền tảng mạng xã hội X rằng sự chấp thuận của ủy ban đối ngoại Quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ là “tin tức tuyệt vời”.

Nếu Thụy Điển gia nhập NATO, tầm ảnh hưởng của tổ chức này sẽ mở rộng đáng kể tới cả khu vực Bắc Âu, đồng thời sẽ mang lại sức mạnh mới mẻ cho NATO nhờ vào vị trí đáng kể của nước này trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng. Điều đó không chỉ cung cấp thêm nguồn lực quân sự mạnh mẽ cho NATO, mà còn tăng cường sự thúc đẩy đòn bẩy quân sự trong bối cảnh quan trọng của vị thế địa lý của Thụy Điển.

Nhìn nhận tiềm năng của Thụy Điển khi gia nhập NATO, Ngoại trưởng Pháp Catherine Colonna mới đây kêu gọi việc sớm phê chuẩn tư cách thành viên của nước này, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mở rộng khối: “29 quốc gia đã phê chuẩn quyền ứng cử của Thụy Điển, hai quốc gia vẫn chưa làm điều đó. Vì vậy, chúng tôi hy vọng Thổ Nhĩ Kỳ và Hungary sẽ phê chuẩn tư cách thành viên của Thụy Điển mà không phải chờ đợi lâu hơn nữa. Sức mạnh và độ tin cậy của liên minh chúng ta đang bị đe dọa và chúng ta có thể sẽ không để mất thêm một ngày nào nữa"./.
Yêu nước ST.

ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG - TỰ HÀO TRUYỀN THỐNG, VỮNG BƯỚC TƯƠNG LAI: “CẨM NANG” CHO CHẶNG ĐƯỜNG PHÍA TRƯỚC!

         Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ, trong công cuộc đổi mới phải giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa và kiên trì, vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây cũng là cơ sở lý luận và thực tiễn của Đảng trong sự nghiệp đổi mới nói chung và đường lối đối ngoại nói riêng, trong đó có đối ngoại quốc phòng (ĐNQP)!

Các Đại hội Đảng tiếp theo đã chỉ rõ yêu cầu “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế”, “vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vừa đấu tranh, vừa hợp tác”; tích cực chủ động mở quan hệ với tất cả các châu lục, hình thành thế trận đối ngoại mới, góp phần khắc phục hậu quả bao vây, cấm vận của phương Tây và sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu; củng cố, mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, các nước độc lập dân tộc, các nước lớn, các nước đang phát triển. Cùng với đó, trên tinh thần “khép lại quá khứ hướng tới tương lai”, Việt Nam là bạn, là đối tác của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.

Cũng từ đây, công tác đối ngoại quốc phòng tiếp tục phát triển, đi vào chiều sâu, hiệu quả hơn trước, thể hiện qua việc chú trọng phát triển quan hệ giữa ta và các nước có chung đường biên giới, các nước bạn bè truyền thống, các nước công nghiệp phát triển và các nước phương Tây. Chúng ta cũng thường xuyên tổ chức hội nghị ĐNQP toàn quân hai năm một lần, từ đó rút ra được những kinh nghiệm để chỉ đạo hoạt động ngày càng hiệu quả, không chỉ ở các cơ quan của Bộ Quốc phòng mà còn trong ngành đối ngoại của các quân khu, quân binh chủng.

Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước nói chung và ĐNQP nói riêng. Các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, XI, XII và XIII cùng với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ VIII là những “kim chỉ nam” cho hoạt động ĐNQP trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Nhờ đó, hiệu quả công tác ĐNQP ngày càng được nâng cao trên bình diện cả song phương và đa phương.

Trong quá trình đổi mới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã tổ chức nhiều hội nghị quan trọng, đáng chú ý là hội nghị tổng kết những năm đầu đổi mới của hoạt động ĐNQP toàn quân và rút ra những bài học quan trọng:

Một là, phải nắm vững đường lối đối ngoại của Đảng và nhiệm vụ quân sự-quốc phòng. Đây là những kinh nghiệm quý báu, có giá trị sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn. Trong quá trình hoạt động phải luôn tuyệt đối trung thành với sự nghiệp và đường lối đối ngoại của Đảng; vận dụng sáng tạo quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng, giữ vững nguyên tắc “độc lập, tự chủ, tự lực tự cường”, gắn với sức mạnh thời đại, đấu tranh bảo vệ hòa bình, bảo vệ lợi ích dân tộc chân chính, chống chiến tranh xâm lược, kết hợp chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.

Hai là, độc lập, tự chủ, sáng tạo trong tham mưu, đề xuất, tổ chức hoạt động ĐNQP. Có thể nói, đây là vấn đề mang tính quy luật và là nghệ thuật trong lĩnh vực ĐNQP nhằm hoàn thành các mục tiêu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, đó là: Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, củng cố môi trường hòa bình để xây dựng phát triển đất nước; nâng cao vai trò, vị thế của đất nước trên trường quốc tế...

Ba là, nhạy bén, linh hoạt trong xử lý các mối quan hệ về quốc phòng, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Đây cũng là một trong những kinh nghiệm quan trọng của ĐNQP, đúng như Bác Hồ đã dạy “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, hay như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng đề cập qua cụm từ “ngoại giao cây tre”.

Bốn là, kết hợp chặt chẽ hoạt động ĐNQP với hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân trong một thể thống nhất, từ đó tạo nên sức mạnh đối ngoại tổng hợp, phục vụ cho mục tiêu đối ngoại mà Đảng và Nhà nước đề ra.

Năm là, thường xuyên sơ kết, tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm, dự báo tình hình, đề ra chủ trương, giải pháp thực tế liên quan tới công tác ĐNQP. Trong sơ kết, tổng kết quan trọng là đánh giá đúng, thực sự khách quan, cầu thị để từ đó đề xuất các chủ trương, biện pháp, phương án, đối sách quan hệ, bảo đảm đúng quan điểm đường lối, mục tiêu, nhiệm vụ, không để bị động, bất ngờ về chiến lược.

Sáu là, chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách về ĐNQP, làm tốt chính sách hậu phương Quân đội; nâng cao chất lượng bảo đảm trang thiết bị công tác... Bởi, đây là những nhân tố quyết định đến hiệu quả của hoạt động ĐNQP.

Những kinh nghiệm đúc rút từ thực tiễn nói trên là “cẩm nang” không thể thiếu đối với lực lượng làm công tác ĐNQP, đồng thời là hành trang không thể thiếu của Quân đội và đất nước trên chặng đường phát triển tiếp theo./.

Yêu nước ST.

Bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nội vụ Vương quốc Campuchia Samdech Krolahorm Sar Kheng dự Hội nghị Hợp tác và phát triển các tỉnh biên giới Việt Nam-Campuchia lần thứ 12, tháng 4/2023 

Với truyền thống là một quốc gia yêu chuộng hòa bình, Việt Nam luôn kiên quyết, kiên trì giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Công cuộc xây dựng, bảo vệ các đường biên giới, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, các quyền và lợi ích của quốc gia gắn với các đường biên giới, chủ quyền lãnh thổ có vai trò trọng yếu đối với việc duy trì môi trường hòa bình và ổn định, giữ vững quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng trên bộ, trên biển, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Bám sát những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta, Bộ Ngoại giao đã nỗ lực cùng các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý và bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, qua đó duy trì môi trường hòa bình, ổn định, đồng thời thúc đẩy quan hệ hợp tác với các nước láng giềng, đạt được nhiều kết quả tích cực. Cụ thể là:

Về công tác quản lý, bảo vệ biên giới, biển đảo

Bộ Ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương biên giới, các cơ quan, lực lượng liên quan của các nước láng giềng triển khai toàn diện công tác phối hợp quản lý biên giới theo các văn kiện pháp lý về biên giới giữa Việt Nam và các nước. Các vụ việc phát sinh trong công tác quản lý biên giới được xử lý thỏa đáng, không làm ảnh hưởng đến quan hệ giữa Việt Nam và các nước cũng như giữa các địa phương biên giới. Tình hình trên toàn tuyến biên giới đất liền cơ bản ổn định, đường biên giới và hệ thống mốc quốc giới, chủ quyền quốc gia được giữ vững; trật tự, an toàn xã hội khu vực biên giới được đảm bảo, tạo thuận lợi cho công tác đàm phán, quản lý cũng như phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh biên giới và cả nước nói chung.

Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 15 (10/2023) 

Trên biển, tình hình Biển Đông diễn biến nhanh, phức tạp và khó lường hơn, làm tăng nguy cơ cọ xát, tác động trực tiếp đến môi trường hoà bình và thịnh vượng của khu vực nói chung, công tác bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích trên biển của ta nói riêng. Trước tình hình đó, Bộ Ngoại giao đã chủ động theo dõi sát tình hình, tích cực phối hợp với các bộ, ngành, các lực lượng chức năng kịp thời đề xuất, tham mưu các biện pháp đấu tranh để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của ta trên Biển Đông từ sớm, từ xa; có các biện pháp thích hợp đấu tranh với các hành vi vi phạm quyền lợi của ta ở Biển Đông. Nhờ đó, các hoạt động hợp tác thăm dò, khai thác tài nguyên và đánh bắt thủy hải sản được bảo đảm diễn ra bình thường trên thềm lục địa và các vùng biển Việt Nam.

Về công tác đàm phán giải quyết các vấn đề biên giới

Về một số vấn đề tranh chấp còn tồn đọng, thời gian qua Bộ Ngoại giao tiếp tục duy trì, thúc đẩy các cơ chế đàm phán với các nước liên quan, đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Đối với 16% đường biên giới chưa hoàn thành phân giới cắm mốc trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam-Campuchia, Bộ Ngoại giao cũng đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan tích cực, chủ động thúc đẩy đàm phán với phía Campuchia để tìm kiếm giải pháp thỏa đáng.

Thứ trưởng Thường trực Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ cùng Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Tôn Vệ Đông tiến hành cuộc gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam-Trung Quốc (11/2023) 

Với việc giữ vững nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, kiên trì phấn đấu nhằm đạt được giải pháp cơ bản, lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982, chúng ta đã duy trì và thúc đẩy nhiều cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển với các nước như cơ chế đàm phán với Trung Quốc trong khuôn khổ Nhóm công tác về hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm, Nhóm công tác ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, cơ chế đàm phán biển với Indonesia, Philippines, Malaysia. Bên cạnh đó, Việt Nam cùng các nước ASEAN duy trì lập trường thống nhất của khối về Biển Đông, cùng các nước ASEAN và Trung Quốc tích cực triển khai hiệu quả và đầy đủ Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thúc đẩy đàm phán, xây dựng nội dung Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Về công tác phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu biên giới và hợp tác quốc tế

Bên cạnh việc nỗ lực giải quyết các vấn đề biên giới, một trong những điểm sáng là Bộ Ngoại giao đã có những đóng góp tích cực, hiệu quả vào công tác quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 được Quốc hội thông qua năm 2023, góp phần định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là các khu vực biên giới, biển đảo.

Cùng với đó, Bộ Ngoại giao thường xuyên phối hợp chặt chẽ cùng các bộ, ban, ngành hỗ trợ các địa phương biên giới trong công tác mở/công nhận/nâng cấp cửa khẩu, đường chuyên dụng vận chuyển hàng hóa, phát triển cơ sở hạ tầng, kết nối giao thông ở khu vực biên giới; nhanh chóng tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho hoạt động thông quan hàng hóa, xuất khẩu các mặt hàng nông sản… Công tác hiện đại hóa quản lý và phát triển biên giới, cùng với việc đưa vào vận hành cửa khẩu số, nghiên cứu hợp tác thí điểm xây dựng cửa khẩu thông minh bước đầu đã đem lại hiệu quả cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới. Trong lĩnh vực phát triển du lịch biên giới, một trong những dấu ấn nổi bật thời gian qua phải kể đến sự kiện Việt Nam và Trung Quốc chính thức vận hành thí điểm khu cảnh quan thác Bản Giốc (Việt Nam) - Đức Thiên (Trung Quốc) ngày 15/9/2023, góp phần thúc đẩy hợp tác du lịch, tăng cường giao lưu hữu nghị giữa nhân dân hai nước, thúc đẩy quan hệ Việt - Trung phát triển và đi vào chiều sâu.

Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia Nguyễn Minh Vũ chủ trì Hội thảo quốc tế về pháp luật biên giới lãnh thổ tại Hà Nội (9/2023)  

Trên biển, thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ta đã tích cực trao đổi và mở rộng hợp tác quốc tế về biển với các nước trong và ngoài khu vực có cùng quan tâm như Ấn Độ, Pháp, Australia… trên nhiều lĩnh vực, đóng góp tích cực vào việc bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước. Bên cạnh đó, ta tích cực tham gia các diễn đàn khu vực và quốc tế về biển và đại dương; chủ động nghiên cứu tham gia điều ước quốc tế về biển, ký kết các dự án, chương trình hợp tác về biển. Qua đó, thúc đẩy kinh tế biển phát triển, củng cố hơn nữa quan hệ hữu nghị, tăng cường xây dựng lòng tin, xây dựng cơ chế phối hợp tích cực trong hợp tác quản lý, bảo đảm an toàn, an ninh trên biển, tạo môi trường thuận lợi để sớm hoàn thành mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia giàu, mạnh về biển.

Về công tác thông tin, tuyên truyền

Với nhiều nỗ lực trong công tác thông tin, tuyên truyền bằng nhiều hình thức mới đa dạng, phong phú, các cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân trong và ngoài nước đã có được nhận thức đúng đắn đối với đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ. Lập trường chính nghĩa của ta được đông đảo đối tác, bạn bè quốc tế ủng hộ. Nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biên giới lãnh thổ, tập huấn nâng cao năng lực quản lý biên giới được Bộ Ngoại giao chú trọng đẩy mạnh đã góp phần làm sâu sắc hơn hiểu biết và nhận thức của người dân về công tác xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới lãnh thổ, trong đó phải kể đến Hội nghị tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật cho các già làng, trưởng bản tiêu biểu hai bên biên giới Việt Nam - Lào (12/2022), các hội thảo quốc tế tuyên truyền kỷ niệm 40 năm ký kết UNCLOS 1982, 10 năm ban hành Luật Biển Việt Nam, 20 năm ban hành Luật Biên giới quốc gia...

Có thể nói, từ sau Hội nghị Ngoại giao 31 đến nay, công tác biên giới lãnh thổ tiếp tục có nhiều đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy quan hệ hữu nghị, thực chất với các nước; qua đó thực hiện hiệu quả đường lối đối ngoại được đề ra tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng; nâng cao rõ rệt vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ phát biểu tham luận tại Hội nghị tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật cho các Trưởng bản tiêu biểu hai bên biên giới Việt Nam-Lào (12/2022)  

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực còn nhiều bất ổn, thách thức, để tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ biên giới lãnh thổ cũng như phát huy tốt tiềm năng để phát triển ở các vùng biên giới, biển đảo, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành, địa phương thời gian tới cần làm tốt một số nhiệm vụ: (i) quán triệt, thực hiện nghiêm túc quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về biên giới, lãnh thổ quốc gia; phát huy hiệu quả các cơ chế phối hợp quản lý biên giới; (ii) kịp thời giải quyết các vụ việc phát sinh trên biên giới; (iii) ứng phó hiệu quả, sáng tạo, linh hoạt với những vấn đề, thách thức mới nổi tại khu vực biên giới cũng như trên biển; (iv) tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý quản lý đường biên giới; (iv) đẩy mạnh hơn nữa giao lưu hữu nghị và hợp tác cùng có lợi giữa các địa phương biên giới của ta với các địa phương các nước láng giềng tiếp giáp; (v) làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền nhằm củng cố vững chắc lòng tin của người dân đối với Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai đường lối, chính sách về biên giới lãnh thổ.

Để sớm đạt được những mục tiêu này, điều quan trọng là cần thúc đẩy sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan, lực lượng làm công tác biên giới, bám sát các nguyên tắc chỉ đạo và mục tiêu cụ thể đã đề ra tại Đại hội XIII, tận dụng điều kiện thuận lợi để thúc đẩy giải quyết, xử lý vấn đề biên giới lãnh thổ và thúc đẩy hợp tác phát triển kinh tế - xã hội.

Các tổ chức quần chúng Cục Huấn luyện – Đào tạo, Học viện Quốc phòng giao lưu với các cháu trường mầm non Quam Hoa, Cầu Giấy, Hà Nội

 Sáng 22/12/2023, các Tổ chức Quần chúng Cục Huấn luyện - Đào tạo, Học viện Quốc phòng phối hợp cùng Trường mầm non Quan Hoa, Cầu Giấy, Hà Nội tổ chức buổi giao lưu với chủ đề “Em yêu Tổ quốc Việt Nam”.

Buổi giao lưu được tổ chức nhằm kỷ niệm 79 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2023) và 34 năm “Ngày hội Quốc phòng toàn dân” (22/12/1989 – 22/12/2023).

Đại diện các tổ chức Quần chúng Cục Huấn luyện - Đào tạo, Học viện Quốc phòng tham dự buổi giao lưu

Tham dự buổi giao lưu, về phía Học viện Quốc phòng có Trung tá QNCN Trần Nam Thắng, Chủ tịch Công đoàn Cơ sở; Đại úy Nguyễn Thành Trung, Ủy viên Chi đoàn Cơ sở Cục Huấn luyện – Đào tạo. Về phía trường mầm non Quan Hoa, có cô Vũ Thị Kiều Nga, Hiệu trưởng nhà trường cùng toàn thể cán bộ, giáo viên, học sinh nhà trường.

Trong buổi giao lưu, Đại úy Bạch Công Tới, Đại úy Nguyễn Thành Trung đã giới thiệu tới cô và trò trường mầm non Quan Hoa về chủ đề: Những đồ dùng cần thiết của các chú bộ đội, đồng thời tham gia giao lưu văn nghệ và tổ chức tặng quà cho các cháu học sinh.

Đại úy Nguyễn Thành Trung giao lưu với các cháu học sinh trường mầm non Quan Hoa

          Cô Vũ Thị Kiều Nga, Hiệu trưởng nhà trường cho biết: Trong tháng, nhà trường và giáo viên đã lồng ghép trong chương trình học của các bé, giới thiệu về hình ảnh chú bộ đội và truyền thống Quân đội nhân dânViệt Nam. Tùy theo lứa tuổi, các cô sẽ chọn lọc thông tin, hình ảnh thể hiện sao cho phù hợp. Cô và trò đã cùng nhau luyện tập văn nghệ và tự tay vẽ tranh, làm bưu thiếp tặng các chú bộ đội.

Món quà của cô trò dành tặng cho chú bộ đội

Buổi giao lưu đã kết thúc tốt đẹp, để lại ấn tượng tốt với cô và trò trường mầm non Quan Hoa. Đây là hoạt độngthực tế rất có ý nghĩa, giúp các bé hiểu thêm về hình ảnh bộ đội Cụ Hồ, về truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam. Qua đó, giáo dục các em lòng yêu nước và tinh thần tự hào về truyền thống tốt đẹp của đất nước./. 

Tin: Nam Thắng, Ảnh: Thành Trung - Công Tới