Thứ Tư, 27 tháng 12, 2023

ĐẨY MẠNH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

  

Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức phá hoại, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Trước tình hình đó, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa sống của sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay.

Thời gian qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch đã đạt được những kết quả tích cực. Ban chỉ đạo 35 các cấp được thành lập. Cùng với đó, cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh đã hoạt động hiệu quả, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, trước âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, nham hiểm. Do đó, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, các lực lượng tham gia cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp:

Một là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của các đối tượng thù địch. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng internet, mạng xã hội nhằm chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng. Do đó, thông tin, hình ảnh xuyên tác mà các thế lực thù địch sử dụng được lan truyền rất nhanh chóng trên không gian mạng, phổ quát đến nhiều lớp người trong xã hội.

Hai là, đẩy mạnh tuyên truyền, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tinh thần trong đời sống của nhân dân. Cùng với đó, tăng cường nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm đáp ứng yêu cầu mới của đời sống xã hội, tiếp tục tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam. Hình thức tuyên truyền phù hợp với trình độ, tâm lý của cán bộ, đảng viên và nhân dân nhằm giúp họ nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ba là, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta. Việc kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là bài học thành công của cách mạng nước Việt Nam. Tuy nhiên, “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”. Trong giai đoạn hiện nay chúng ta cần vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam./.

 

         

ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI QUAN ĐIỂM XUYÊN TẠC, SAI TRÁI VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VIỆT NAM HIỆN NAY

 

          Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, chống phá của các thế lực thù địch là yêu cầu cấp thiết trong công tác xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Đại hội lần thứ IX (năm 2001) của Đảng xác định mô hình kinh tế tổng quát của nước ta là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, các thế lực thù địch cho rằng không có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; gán ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường là chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn; nếu bỏ “cái đuôi” định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế đất nước còn phát triển nhanh hơn, đạt được kết quả còn lớn hơn nhiều (?!). Các thế lực thù địch còn cho rằng, phải có sự chuyển hướng, “xoay trục” phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam sang nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Vì kinh tế thị trường vốn là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa và kết hợp với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, với định hướng xã hội chủ nghĩa (?!) Nếu “ghép” định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường thì chẳng khác nào “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, “nước với lửa”, tạo thành “đầu Ngô mình Sở”, chỉ mang đến những thất bại (?!). Từ đó, chúng suy diễn rằng, dường như Việt Nam đã, đang “xoay trục” sang phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa bằng việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, tăng sự điều tiết của thị trường.

Những luận điệu trên thực chất là mưu đồ đen tối, cố tình xuyên tạc đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, ảnh hưởng đến nhận thức, tư tưởng trong Đảng và xã hội. Đây là những luận điệu hết sức phản khoa học, không có cơ sở lý luận và thực tiễn. Nền KTTT định hướng XHCN Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”. Mặt khác, KTTT là sản phẩm của nền văn minh nhân loại chứ không của riêng chủ nghĩa tư bản. Với vai trò như một hình thức phát triển cao của nền kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường đã tồn tại trước CNTB, trong lòng xã hội tư bản và có thể ở những hình thái kinh tế - xã hội sau TBCN.

Có thể thấy, những ưu thế của cơ chế kinh tế thị trường trong phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với hài hòa lợi ích thông qua cạnh tranh, từ đó, tạo nên được những sản phẩm ngày một tốt hơn, chất lượng cao hơn cho xã hội. Cơ chế kinh tế thị trường đã và đang được rất nhiều nước áp dụng theo những định hướng khác nhau, tùy theo mô hình xã hội và điều kiện cụ thể của từng nơi. Qua 35 năm đổi mới, những thành tựu to lớn đánh dấu một bước tiến chưa từng thấy trên con đường xây dựng, phát triển đất nước. Đây là minh chứng thuyết phục cho tính chất ưu việt của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, nền kinh thế thị trường mà nhân dân ta đang xây dựng. Ý nghĩa to lớn của những thành tựu đó đã cải thiện và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Đây còn là niềm tin để khơi dậy khát vọng của nhân dân ta về một xã hội xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc.

 

                                                        

Xây dựng quân đội nhân dân chính quy, tinh nhuệ, hiện đại

Ngày 25.12, tại Hà Nội, Quân ủy T.Ư tổ chức Hội nghị lần thứ 8, nhiệm kỳ 2020 - 2025, đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội năm 2023; xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2024. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy T.Ư, chủ trì hội nghị. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy T.Ư, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, điều hành hội nghị. Các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy T.Ư: Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng; Thủ tướng Phạm Minh Chính; đại tướng Lương Cường, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân VN và các Ủy viên Thường vụ, Ủy viên Quân ủy T.Ư, lãnh đạo chủ chốt các cơ quan Bộ Quốc phòng dự hội nghị… Kết luận tại hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng biểu dương, đánh giá cao những kết quả lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị trong năm 2023 của Quân ủy T.Ư, Bộ Quốc phòng và cán bộ, chiến sĩ toàn quân. Tổng Bí thư yêu cầu Quân ủy T.Ư cần tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chức năng tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng; triển khai chặt chẽ, hiệu quả việc thực hiện Nghị quyết T.Ư 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tổng Bí thư đề nghị triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội; thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Quyết liệt thực hiện việc điều chỉnh tổ chức lực lượng quân đội năm 2024 theo hướng tinh, gọn, mạnh, để đến năm 2025 cơ bản hoàn thành mục tiêu "tinh, gọn, mạnh", tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Quá trình thực hiện phải chặt chẽ, chắc chắn, không chủ quan, nóng vội. Việc điều chỉnh tổ chức phải tạo được niềm tin, khí thế, sức mạnh mới để quân đội hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Tổng Bí thư nhấn mạnh, Quân ủy T.Ư cần đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh; chỉ đạo làm tốt công tác cán bộ ở tất cả các khâu, các bước để chuẩn bị cho đại hội Đảng các cấp; thực hiện nghiêm Quy định của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; thực hiện nghiêm quy chế làm việc của cấp ủy…

 

Tăng cường công tác giáo dục lý luận chính trị gắn với công tác cán bộ nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên

(LLCT) - Để hoàn thành nhiệm vụ vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân; để đủ năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ trước những khó khăn, thách thức, cạm bẫy của cuộc sống cũng như giữ vững và bảo vệ được nền tảng tư tưởng của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức đảng đều phải thực sự trong sạch, vững mạnh, tiền phong, gương mẫu; đều phải không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng. 


Theo Từ điển Tiếng Việt, bản lĩnh  là “tài năng và ý chí”(1). Bản lĩnh chính trị là sự cụ thể hóa bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, mang bản chất giai cấp công nhân, vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người; là sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trung thành với lợi ích của Tổ quốc và nhân dân; là tinh thần, ý chí, quyết tâm phấn đấu, vượt mọi gian khổ và không dao động trước thử thách, áp lực để hoàn thành nhiệm vụ. Đó còn là tinh thần chủ động trong đấu tranh vạch trần, phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động, góp phần làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn của chúng, phòng và chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ…

Với mỗi cán bộ, đảng viên, với Đảng Cộng sản Việt Nam thì bản lĩnh chính trị là sự tổng hợp biện chứng của lập trường chính trị, phẩm chất chính trị và năng lực chính trị và đó là  phẩm chất quan trọng nhất cần phải có. Đó chính là trung thành với lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân; là kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng; là kiên định các nguyên tắc xây dựng, tổ chức và hoạt động của Đảng (nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc tự phê bình và phê bình, đoàn kết thống nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân…); là sự vững vàng, không dao động trước mọi tình huống, trong mọi hoàn cảnh; là sự gương mẫu thực hành đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư để vượt mọi khó khăn, thách thức, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trước những bước ngoặt và tình huống phức tạp về chính trị; không dao động, chùn bước trước gian khổ, khó khăn, kiên quyết thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng đã định, đồng thời chủ động phòng và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

V.I. Lênin từng nói: “Chỉ đảng nào có được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”(2) và “chỉ giai cấp nào đi theo con đường của mình mà không do dự, không chán nản và không sa vào tuyệt vọng trong những bước ngoặt khó khăn nhất, gay go nhất và nguy hiểm nhất, thì mới có thể lãnh đạo được những quần chúng lao động và bị bóc lột. Chúng ta không cần những sự hăm hở điên cuồng. Điều cần thiết cho chúng ta, chính là bước đi nhịp nhàng của những đoàn quân vững như gang thép của giai cấp vô sản”(3)

Cho nên, việc nâng cao bản lĩnh chính trị cho mỗi cán bộ, đảng viên cũng chính là nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng, để toàn Đảng “muôn người như một” đều thấm nhuần sâu sắc mục tiêu, lý tưởng cách mạng, “phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra”(4); để mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nỗ lực và phát huy sức mạnh, tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức trong thực thi công tác nhằm hoàn thành nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó.

Đây chính là yêu cầu vừa bức thiết, vừa thường xuyên và lâu dài trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức cơ sở đảng và toàn Đảng.

Nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên và của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là nhằm nâng cao “trình độ trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp; không dao động trong bất kỳ tình huống nào. Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng. Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả”(5) - nhân tố có tính quyết định hàng đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn luôn “nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân(6); phải “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất… Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc”(7) để từng cá nhân, từng tổ chức đảng không chỉ quyết tâm phấn đấu, vượt qua mọi gian khổ, không dao động trước thử thách, hoàn thành nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó, mà còn phải chủ động, linh hoạt và kiên quyết phòng ngừa và đấu tranh chống các âm mưu, thủ đoạn, chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng; các thế lực thù địch, phản động ngày càng đẩy mạnh thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở trong quản lý kinh tế cũng như sự mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình; cổ xúy cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa và tăng cường sử dụng internet, mạng xã hội để cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị nhằm tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, gieo rắc tư tưởng hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn để đi đến đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam… thì hơn bao giờ hết vấn đề nâng cao bản lĩnh chính trị cho mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức Đảng càng trở nên cần thiết và cấp bách. 

Cần quán triệt sâu sắc những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: (1) “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ

lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị” thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”(8)(2) Phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, trong những cán bộ chủ chốt của Đảng trên tinh thần “phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng”(9). Đó là “học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn”(10). Nâng cao bản lĩnh chính trị cho mỗi cán bộ, đảng viên cũng chính là nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng, để toàn Đảng “muôn người như một” đều thấm nhuần sâu sắc mục tiêu, lý tưởng cách mạng, “phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra”; để mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nỗ lực và phát huy sức mạnh, tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức trong thực thi công tác nhằm hoàn thành nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó.

Cần đặc biệt chú trọng nhiệm vụ bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, mục tiêu, con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nghiên cứu, học tập, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; học tập, quán triệt nghiêm túc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên từ sớm, từ xa… Triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương việc học tập, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; về công tác lý luận; về công tác cán bộ; về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; về phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; về thực hiện nêu gương…

Hơn 93 năm qua, với bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; với đường lối, chủ trương đúng đắn, phù hợp, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh và giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Xuyên suốt và nhất quán trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, tiến hành các cuộc kháng chiến để bảo vệ nền độc lập dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước cũng như trong hơn 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, Đảng luôn coi trọng việc rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn liền với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Qua đó, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên  trong toàn Đảng, để không chỉ kiên định, vững vàng trước mỗi thử thách và nhạy bén trước những diễn biến tình hình phức tạp, mà còn độc lập, sáng tạo trong giải quyết các vấn đề thực tiễn, bảo đảm đúng quy luật vận động của sự vật, hiện tượng, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Trang bị lý luận chính trị để cán bộ, đảng viên không chỉ có ý chí, thái độ kiên quyết, rõ ràng, hành động cụ thể nhằm bảo vệ chính kiến và không dao động, lùi bước trước những trở lực đi ngược quy luật khách quan, mà còn từng bước khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Đồng thời có năng lực chủ động nắm vững tình hình, kịp thời phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng.

Tuy nhiên, Đảng ta đã chỉ rõ còn “một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp”(11) và “một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới; việc quán triệt các nghị quyết của Đảng ở một số nơi chưa kịp thời, sâu sắc”(12). Đồng thời, kết quả quá trình triển khai gắn Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" với Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị khóa XI về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ với Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" những nhiệm kỳ gần đây, cũng như việc gắn thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" với Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"” trong nửa nhiệm kỳ Đại hội XIII cũng cho thấy những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi triệt để.

Cụ thể, ở đâu đó trong từng con người, từng tổ chức; ở vào từng thời điểm cụ thể, vẫn còn đó các biểu hiện: “1) Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 2) Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. 3) Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 4) Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. 5) Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng. 6) Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu…” như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra. 

Đi liền cùng đó, là sự sa ngã trước những cám dỗ vật chất, quyền lực, dẫn đến tham ô, tham nhũng, độc đoán, chuyên quyền; nói không đi đôi vói làm; không dám làm, không dám chịu trách nhiệm; không dám đấu tranh vì lẽ phải và bảo vệ cái tốt, cái đúng. Thực trạng này đã không chỉ làm giảm sút năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên, của mỗi tổ chức đảng mà còn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. 

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó, có những cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, không chỉ phai nhạt lý tưởng cách mạng, mà còn sa vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng dẫn đến tham ô, tham nhũng, mưu lợi cho cá nhân và nhóm lợi ích… bị khai trừ khỏi Đảng và phải chịu sự xử lý nghiêm minh của pháp luật, thì yêu cầu phải nâng cao bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên, cho từng tổ chức đảng càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Trong bối cảnh hiện nay, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo và “các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông; vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, xu hướng già hóa dân số; tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự chống, phá quyết liệt của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động”(13), càng đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, của từng tổ chức đảng.

Hơn bao giờ hết, toàn Đảng cần tiếp tục coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa vấn đề nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, của từng tổ chức Đảng trên cơ sở tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, ban, ngành về vị trí, tầm quan trọng của việc nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Quán triệt tinh thần “tiếp tục nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược; tích cực đấu tranh, phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc, quy định; thực hành dân chủ gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng”(14). Đồng thời, có cơ chế bảo vệ những người “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(15). Từ đó, góp phần phòng, chống, ngăn chặn, từng bước đẩy lùi các nguy cơ suy thoái, biến chất cũng như nâng cao uy tín lãnh đạo của Đảng cầm quyền; chủ động, kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Hai là, tiếp tục nghiên cứu, quán triệt đi liền với đổi mới tư duy lý luận, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Làm cho mỗi cán bộ, đảng viên hiểu sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn nữa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; để không né tránh mà chủ động đấu tranh với quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội, xét lại, hữu khuynh nhằm bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. 

Nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, giáo dục lý luận chính trị, kế thừa nhuần nhuyễn, phát huy những giá trị tiến bộ của văn minh nhân loại phù hợp với truyền thống, điều kiện thực tế của đất nước để mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ hiểu đúng, thực hiện đúng mà còn phải tích cực đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

Ba là, nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, của từng tổ chức Đảng sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác cán bộ theo đúng tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Vì thế, sự phối hợp trong thực hiện quy trình lựa chọn, quy hoạch, bồi dưỡng, luân chuyển và bổ nhiệm cán bộ gắn với việc rèn luyện trong môi trường khắc nghiệt, phức tạp và nhạy cảm về chính trị, về vật chất cũng chính là để thử thách, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, nhân sinh quan cách mạng, năng lực lãnh đạo toàn diện của cán bộ, đảng viên, nhất là với đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ ở cấp chiến lược. Từ trong thử thách gắn với công tác kiểm tra và giám sát của cấp ủy và nhân dân sẽ sàng lọc, loại bỏ những cá nhân, nhóm lợi ích, đức, tài không tương xứng.

Bốn là, việc nâng cao bản lĩnh chính trị giúp cán bộ, đảng viên tránh được “căn bệnh kiêu ngạo cộng sản”- một trong những biểu hiện nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân. Do đó, phải phát huy tính tự giác, thường xuyên rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, của từng tổ chức Đảng để giữ vững tính tiên phong, vai trò gương mẫu của từng cá nhân, từng tổ chức trong tư tưởng và hành động. 

Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên  không chỉ phải luôn tu dưỡng đạo đức mà còn phải kiên định, kiên quyết trong phân biệt giữa đúng với sai, giữa cần phải làm với dám làm và dám chịu trách nhiệm trước cái đúng, cái tốt để dũng cảm đấu tranh loại bỏ sự tiêu cực, cơ hội của bản thân, đồng chí, đồng nghiệp, quần chúng từ sớm, từ xa. Đồng thời, nắm chắc tình hình tư tưởng, tình hình chính trị trong nước, khu vực và thế giới để nhận diện rõ những khó khăn, phức tạp cũng như những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống để kiên định mục tiêu, lý tưởng xã hội xã hội chủ nghĩa, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn, đang và tiếp tục xây dựng.

_________________

Ngày nhận bài: 15-6-2023; Ngày bình duyệt: 20-6-2023; Ngày duyệt đăng: 8-7-2023.

 

(1) Hoàng Phê: Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr.46 

(2) V.I.Lênin: Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.32

(3) V.I.Lênin: Toàn tập, t.43, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr.349

(4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.66

(5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.199 

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.9, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.354

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Sđd, tr.603

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Sđd, tr.280 

(9), (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Sđd, tr.95 và 611.

(11), (12), (13), (14), (15) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.223, 224, 228, 231, 234.

ThS TRƯƠNG THỊ DUYÊN

NCS, ThS HOÀNG THỊ LAN ANH

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

 

Tăng cường tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị ở các trường đại học

(LLCT) - Lý luận chính trị là hệ thống tri thức phản ánh quy luật, bản chất của lĩnh vực chính trị - xã hội. Bài viết làm rõ tính tất yếu và thực trạng tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị tại các trường đại học ở nước ta hiện nay. Từ đó, đề xuất giải pháp nhằm tăng cường tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị ở các trường đại học đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

 

1. Sự cần thiết tăng cường tính thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy các môn lý luận chính trị

Lý luận chính trị là hệ thống tri thức phản ánh những quy luật, bản chất của lĩnh vực chính trị - xã hội, hướng vào việc giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển xã hội. Ở Việt Nam hiện nay, lý luận chính trị hướng trực tiếp vào việc giải quyết những mục tiêu, nhiệm vụ của đổi mới, phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế dưới tác động của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Hiện nay, việc học tập lý luận chính trị là bắt buộc với tất các trình độ đào tạo từ cao đẳng, đại học và sau đại học. Việc học tập này có vị trí, vai trò nền tảng trong việc hình thành, phát triển thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản và phương pháp luận biện chứng cho người học. Đồng thời, tính đảng trong các môn học này giúp người học hình thành, củng cố bản lĩnh chính trị, sự trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trong bối cảnh hiện nay, việc hiểu biết toàn diện, hệ thống, chuyên sâu các môn lý luận chính trị không chỉ giúp học viên bồi dưỡng và nâng cao bản lĩnh chính trị mà còn rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống có văn hóa của xã hội hiện đại, giúp người học lập thân, lập nghiệp.

2. Tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị ở các trường đại học hiện nay

Trong những năm qua, nhất là giai đoạn 2016-2022, chất lượng giảng dạy lý luận chính trị ở nước ta nói chung, giảng dạy lý luận chính trị trong các trường đại học nói riêng được đặc biệt quan tâm, đạt được nhiều kết quả tốt. Nhiệm vụ đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy lý luận chính trị về cơ bản đã được các trường đại học quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đồng thời tạo được những động lực mới từ chính đội ngũ đang trực tiếp giảng dạy.

Tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị ngày càng được chú trọng. Cụ thể là đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật, vấn đề thực tiễn sát với ngành học, của thực tiễn cuộc sống... được cập nhật kịp thời vào nội dung bài giảng, góp phần đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Đồng thời, các môn lý luận chính trị đã chủ động, quyết liệt trong thực hiện đồng bộ, có hiệu quả chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp phát triển đất nước. Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được tích cực triển khai, bước đầu có hiệu quả”(1).

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, chất lượng giảng dạy nói chung, giảng dạy các môn lý luận chính trị nói riêng vẫn còn có khoảng cách khá lớn so với sự biến đổi của tình hình thế giới và trong nước hiện nay. Trong khi: “Tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(2) thì “Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo chưa cao... Nội dung, chương trình giáo dục và đào tạo còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo vẫn thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động. Chưa chú trọng đúng mức đến phát triển phẩm chất và kỹ năng người học”(3).

Tình hình đó cho thấy, tăng cường tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị nhằm đào tạo được nguồn nhân lực có năng lực, trình độ và bản lĩnh là vô cùng cấp bách nhằm thực hiện được chủ trương: “Đổi mới căn bản chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo phương châm khoa học, thực tiễn, sáng tạo và hiện đại”(4).

Hiện nay, tại các trường đại học, không khó để quan sát thấy hiện tượng người học chưa thực sự hứng thú trong học tập các môn lý luận chính trị. Thực trạng này vẫn diễn ra, mặc dù đội ngũ giảng viên đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, nâng cao chất lượng bài giảng gắn với đổi mới phương pháp giảng dạy... Nguyên nhân của thực trạng trên có thể được tiếp cận từ nhiều khía cạnh nhưng cần thiết phải tiếp cận từ góc độ tính thực tiễn trong bài giảng.

Việc gắn kết giữa lý luận và thực tiễn trong các bài giảng lý luận chính trị tuy đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn còn khoảng cách xa so với yêu cầu đổi mới giáo dục - đào tạo và so với chính mong muốn của người học. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới tính tích cực của người học chưa cao, chất lượng giảng dạy các môn học này chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới.

Cơ quan quản lý, người dạy và người học đều hiểu thực tiễn là cơ sở, điểm xuất phát, là động lực cho sự phát triển của lý luận, đồng thời là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý. Đánh giá vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, V.I.Lênin đã khẳng định: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức. Gạt ra bên đường những điều bịa đặt vô tận của triết học kinh viện nhà giáo, quan điểm đó tất nhiên dẫn đến chủ nghĩa duy vật”(5).

Thực tiễn luôn vận động, biến đổi cùng với thời gian và hoàn cảnh của hoạt động đó. Ở những giai đoạn khác nhau, thực tiễn diễn ra cũng khác nhau, do đó cần nắm vững bối cảnh của đất nước trong từng sự kiện quan trọng của Đảng và dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Bây giờ nói đến vấn đề lý luận liên hệ với thực tế. Lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không có kết quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn mạnh: Lý luận phải liên hệ với thực tế. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông. Vì vậy cho nên trong khi nhấn mạnh sự quan trọng của lý luận, đã nhiều lần đồng chí Lênin nhắc đi nhắc lại rằng lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng; và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động. Những người cộng sản các nước phải cụ thể hóa chủ nghĩa Mác - Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc và từng nơi”(6).

Nhận thức là như vậy nhưng việc tăng cường tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị lại nảy sinh hàng loạt vấn đề vướng mắc.

Số giảng viên có kiến thức cơ bản, họ coi giáo trình là cẩm nang duy nhất, ít đưa các yếu tố thực tiễn vào bài giảng để phân tích, định hướng tư tưởng và hướng dẫn hành động cho người học. Có giảng viên lại chưa thực sự quan tâm tìm hiểu về đặc điểm, nhu cầu lợi ích ở đối tượng học nên dù bài giảng có ví dụ thực tiễn nhưng hiệu quả vẫn không cao.

Vấn đề ở đây là con người luôn hành động có mục đích, nhằm thỏa mãn những nhu cầu xác định hay nói cách khác con người luôn quan tâm đến vấn đề lợi ích. “Lợi ích là điều có ích, có lợi cho một đối tượng nào đó trong mối quan hệ với đối tượng ấy”(7). Lợi ích ảnh hưởng lớn đến hiệu quả giảng dạy. Khi người giảng viên lựa chọn được ví dụ thực tiễn sát thực với người học, ngành học, chỉ ra cái lợi ích họ sẽ đạt được thì sẽ hình thành động lực để hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu đó. Ví dụ, trong bài “Vật chất và ý thức”, khi rút ra ý nghĩa phương pháp luận là tôn trọng tính khách quan kết hợp với phát huy tính năng động chủ quan thì sinh viên kinh tế sẽ có sự tiếp nhận khác biệt với học viên trong nhà trường quân đội.

Với sinh viên kinh tế, tôn trọng khách quan phải là tôn trọng các quy luật kinh tế, sự tồn tại và mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế ở Việt Nam hiện nay theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII, là phát huy tính năng động chủ quan trong nhận thức đúng, đủ, chính xác nhu cầu của thị trường trong nước, khu vực, quốc tế để xây dựng, điều chỉnh kế hoạch sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp...

Với học viên quân đội, vận dụng vào nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan trong quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Khi ví dụ sát thực, có giá trị, người học có được lợi ích thì tự họ sẽ hăng hái học tập. Ngược lại, họ sẽ có biểu hiện thờ ơ, không hứng thú tìm hiểu, nhận thức chỉ dừng lại ở mức nhớ/biết chứ không phát triển lên trình độ cao hơn là hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo... như mong muốn của chủ thể đào tạo.

Thực trạng giảng dạy lý luận chính trị hiện nay cho thấy rõ điều đó. Chính vì chưa tìm hiểu kỹ nhu cầu ở đối tượng người học, cùng với kinh nghiệm thực tiễn chưa phong phú nên các vấn đề thực tiễn được lấy làm ví dụ, dẫn chứng chưa sâu sắc, còn theo “đường mòn, lối cũ”, ít có sự sáng tạo hoặc chưa cập nhật như các vấn đề kinh tế mang tính định lượng. Ví dụ khi giảng bài “Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội”, một số giảng viên chỉ dừng lại ở lý luận chung, chưa lấy được ví dụ chính xác, cập nhật về các thành phần kinh tế hiện nay; về hệ thống chính trị Việt Nam đương đại; về vấn đề xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới theo tinh thần Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 9-11-2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII... Chính vì vậy, người học cảm thấy các môn học lý luận chính trị trừu tượng, khó hiểu, khó vận dụng trong thực tiễn.

Bên cạnh đó, nhiều giảng viên chưa đầu tư xây dựng hệ thống câu hỏi khi thiết kế bài giảng, dẫn đến đặt câu hỏi một cách tùy tiện, không phù hợp với đối tượng người học. Các tình huống có vấn đề cũng không được chuẩn bị tỉ mỉ, chu đáo, còn khuôn mẫu hoặc vượt quá khả năng nhận thức của người học. Với đối tượng chỉ nên cung cấp thông tin về thực tiễn sản xuất thì giảng viên lại lấy ví dụ minh họa về thực tiễn chính trị - xã hội hoặc thực tiễn thực nghiệm khoa học. Do đó, dù bài giảng có thực tiễn, cập nhật nhưng lại chưa đáp ứng nhu cầu của người học, khiến cho người học chưa thực sự tích cực học tập, đôi khi còn có biểu hiện học đối phó, hình thức. Đây là vấn đề cần được quan tâm trong việc nâng cao tính thực tiễn của bài giảng lý luận chính trị.

Mặt khác, tuy đã được đổi mới ở các mức độ khác nhau nhưng nhìn chung nội dung giáo dục lý luận chính trị vẫn nặng về lý thuyết, tính ứng dụng còn hạn chế. Tình trạng phổ biến hiện nay là giảng dạy lý luận chính trị chỉ nhằm mục đích thuần túy lý luận, phục vụ thi, kiểm tra, ít gắn với nhận thức và giải quyết các vấn đề thực tiễn. Cuối bài giảng, vấn đề phương pháp luận rút ra chưa được giảng viên chú trọng đúng mức, hoặc nếu có cũng còn giản đơn, chưa làm cho người học thấy hết giá trị thực tiễn của những vấn đề, tính ứng dụng của kiến thức hạn chế nên người học ít cảm nhận được lợi ích thực sự của việc học tập lý luận chính trị.

Hiện nay, nhiều bài giảng đã chú trọng đến cập nhật các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... nhưng một số giảng viên chưa thực sự chuyển tải được cái hay, những quan điểm, chủ trương mới của Đảng, những chính sách, pháp luật mới của Nhà nước; nhiều nội dung giáo dục lý luận chính trị thiếu hấp dẫn, chưa đi vào cuộc sống. Cách giải quyết các tình huống có vấn đề của giảng viên chưa thực sự triệt để nên không phát huy tính độc lập, phản biện và sáng tạo của người học.

Cần khẳng định, chính sự thiếu vắng của thực tiễn, sự chưa phù hợp của thông tin thực tiễn, chưa sát với nhu cầu của người học đã dẫn đến tình trạng một số bài giảng hoặc là khô khan, “xơ cứng” hoặc là “bội thực” thông tin thực tiễn. Kết quả là chất lượng giảng dạy chưa đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Những hạn chế trên xuất phát từ một số nguyên nhân cơ bản sau:

Một là, kinh nghiệm thực tiễn của một số giảng viên lý luận chính trị, trong đó đa số các giảng viên trẻ còn thiếu. Vì vậy, còn tình trạng giảng viên tốt về chuyên môn, có năng lực sư phạm nhưng bài giảng chưa thu hút được người học do chưa đáp ứng đúng nhu của đối tượng người học.

Hai là, một số giảng viên lớn tuổi có vốn sống, có thực tiễn nên về cơ bản giờ giảng của những giảng viên này thuyết phục hơn, có sức sống hơn. Tuy nhiên, vì nhiều lý do mà các ví dụ minh họa thường lặp đi, lặp lại gây nhàm chán cho người học.

Ba là, một số giảng viên chính trị không theo kịp với những biến đổi của tình hình kinh tế - chính trị - xã hội đất nước. Đồng thời, chưa thực sự chú trọng đến đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tăng cường phát triển tư duy phản biện của người học.

Bốn là, công tác quản lý hoạt động giảng dạy của một số trường chưa theo kịp sự biến đổi của yêu cầu đổi mới giáo dục - đào tạo hiện nay. Chưa chú trọng đúng mức việc xây dựng, gắn kết chặt chẽ giữa chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo (PLO), chuẩn đầu ra của học phần (CLO) với bài giảng của giảng viên.

3. Một số khuyến nghị nhằm tăng cường tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị

Để tăng tính thực tiễn trong giảng dạy các bộ môn lý luận chính trị ở các trường đại học hiện nay cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, mỗi giảng viên cần nhận thức đúng tầm quan trọng của việc tăng cường tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Một người học xong đại học, có thể gọi là có trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”(8) và chỉ rõ: “Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên. Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để đem lòe thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích”(9).

Thực tiễn quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay cho thấy, bài giảng có tính thực tiễn cao, phù hợp với đối tượng người học sẽ làm cho các vấn đề lý luận chính trị với đặc trưng có tính khoa học, khái quát hóa, trừu tượng hóa, tính đảng cao trở nên những vấn đề gần gũi, thiết thực, người học mới dễ tiếp thu và vận dụng tốt trong thực tiễn sản xuất, hoạt động chính trị...

Trong điều kiện mới của đất nước, yêu cầu về bản lĩnh, về văn hóa, về sức bền tâm lý đối với nguồn nhân lực ngày càng cao. Vì vậy, tính thực tiễn của bài giảng lý luận chính trị không những phải bảo đảm về số lượng mà sự lựa chọn càng phải kỹ lưỡng hơn, mức độ tinh tế, phù hợp với đối tượng người học càng phải được nâng cao, mới góp phần thực hiện đột phá chiến lược được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo...”(10).

Để nâng cao tính thực tiễn trong mỗi bài giảng, giảng viên phải không ngừng tìm tòi, lựa chọn những vấn đề thực tiễn phù hợp với từng học phần, từng đối tượng để đưa vào giảng dạy cho phù hợp.

Hai là, giảng viên cần nghiên cứu, lựa chọn một cách kỹ càng các vấn đề thực tiễn đưa vào giảng dạy

Hoạt động thực tiễn là hết sức phong phú, đa dạng, diễn ra trên nhiều phương diện của đời sống xã hội từ sản xuất đến chính trị - xã hội và thực nghiệm khoa học. Để giảng dạy lý luận chính trị có hiệu quả, giảng viên cần tăng cường nghiên cứu, khảo sát thực tế, thâm nhập cơ sở nhằm mở rộng tầm nhận thức của mình, lựa chọn được những tri thức thực tế sát với trình độ, nhu cầu của người học, bảo đảm sự liên hệ của bài giảng vừa có tính mới, vừa có giá trị lý luận và thực tiễn đối với người học. Trong quá trình thâm nhập, tổng hợp, phân tích thực tiễn, giảng viên phải có thái độ khách quan, biết rút ra những vấn đề cần nhận thức với độ khái quát cao. Có như vậy, những kết luận rút ra mới có giá trị chỉ đạo thực tiễn.

Giảng viên lựa chọn các vấn đề có tính chất điển hình, phổ biến, chính xác và bảo đảm định hướng chính trị. Đây là điều rất đáng lưu tâm. Rõ ràng là các thông tin thực tiễn trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vô cùng phong phú, đa dạng. Do đó, giảng viên cần đặc biệt coi trọng việc xem, nghe, tổng hợp, phân loại các thông tin thực tiễn mang tính chính thống; các thông tin thực tiễn đã được lựa chọn kỹ lưỡng, cơ bản và đáng tin cậy, vừa có tính khái quát vừa có tính cụ thể. Đây là nguồn thông tin mà khi được đưa vào bài giảng đúng lúc, đúng thời điểm với dung lượng vừa đủ thì sẽ là nguồn năng lượng mới, tạo sức sống mới cho các nội dung lý luận.

Tính đối tượng trong lựa chọn các vấn đề thực tiễn đưa vào giảng dạy các môn học này cũng rất quan trọng. Giảng viên cần chú trọng việc nghiên cứu về sở thích, nhu cầu của từng đối tượng (ngành học, cấp học) để nghiên cứu, xây dựng và quyết định việc đưa vấn đề thực tiễn nào vào bài giảng. Đây là vấn đề không thể làm qua loa, tùy hứng mà phải tiến hành khoa học, thận trọng, phù hợp nhu cầu. Đồng thời, cần tăng cường nghiên cứu các vấn đề đã và đang đặt ra trong thực tiễn đổi mới đất nước để chủ động đưa vào bài giảng với sự luận giải sâu sắc, thuyết phục.

Ba là, nâng cao nhận thức, phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng tham gia vào hoạt động giảng dạy nhằm tăng tính thực tiễn trong giảng dạy các môn lý luận chính trị

Đây là giải pháp quan trọng, chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình tăng cường tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị. Theo đó, lãnh đạo các trường cần thường xuyên quan tâm, quán triệt cho mỗi giảng viên hiểu rõ vai trò, ý nghĩa của việc tăng tính thực tiễn trong giảng dạy đối với việc hình thành, phát triển và hoàn thiện bản lĩnh, tác phong, phương pháp công tác và năng lực của người dạy và người học, đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới đất nước.

Thông tin thực tiễn đưa vào giảng dạy được hình thành từ nhiều cách thức, biện pháp. Do đó, với điều kiện thực tế hiện nay, lãnh đạo các trường cần tăng cường các hoạt động nghiên cứu thực tế trong và ngoài nước, các chương trình tham quan, tập huấn, đồng thời tăng cường các hoạt động giao lưu, hội thảo, trao đổi kinh nghiệm giữa các học viện, nhà trường... tạo cơ hội, điều kiện để giảng viên cập nhật kiến thức thực tiễn mang tính chất hệ thống, khái quát, phục vụ cho công tác giảng dạy.

Các cơ quan quản lý, nhất là các khoa, bộ môn cần tiếp tục làm tốt nội dung xây dựng chuẩn đầu ra cho chương trình đào tạo; chuẩn đầu ra cho từng học phần... Đây là nội dung đang được đẩy mạnh nhưng cần tiến hành có hệ thống, đi vào thực chất nhằm bảo đảm sản phẩm đầu ra đạt được mục tiêu như cam kết. Đối với vấn đề tăng tính thực tiễn trong bài giảng lý luận chính trị, việc xây dựng chuẩn đầu ra đối với các học phần được coi như thước đo để cơ quan quản lý có cơ sở để giám sát chất lượng bài giảng của học phần.

Trong chuẩn đầu ra thường được thiết kế gồm chuẩn về kiến thức, chuẩn về kỹ năng và chuẩn về mức tự chủ và chịu trách nhiệm. Hai chuẩn sau có liên quan trực tiếp đến tính thực tiễn trong bài giảng các môn nói chung và các môn lý luận chính trị nói riêng. Nếu không bảo đảm được tính thực tiễn hoặc không phù hợp thì đồng thời không bảo đảm được các chuẩn này. Chính vì vậy, trong thời gian tới, về phía các cơ quan quản lý cần tăng cường chỉ đạo việc xây dựng, hoàn thiện các chuẩn đầu ra làm căn cứ pháp lý để xây dựng, hoàn thiện bài giảng, bảo đảm tính khoa học, hệ thống và thực tiễn.

Tăng cường tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị trong các trường đại học là một yêu cầu vừa cơ bản, lâu dài vừa cấp bách hiện nay. Đây là một quá trình đòi hỏi sự nhận thức, vào cuộc quyết liệt của các cơ quan quản lý, vừa đòi hỏi sự chủ động, sáng tạo của đội ngũ giảng viên. Quá trình này phải được tiến hành thường xuyên, khoa học và hệ thống. Tăng cường tính thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị cùng với hiệu quả ngày càng cao của đổi mới phương pháp giảng dạy sẽ đóng vai trò quan trọng trong khơi dậy, phát huy tính chủ động, sáng tạo, thái độ tích cực của người học, góp phần “phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”(11).

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 544 (tháng 6-2023)

Ngày nhận bài: 1-6-2023; Ngày bình duyệt: 17-6-2023; Ngày duyệt đăng: 26-6-2023.

 

(1), (2), (3), (4), (10), (11) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.62, 109, 82, 182-183, 203-204, 115-116.

(5) V.I.Lênin: Toàn tập, t.18, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.167.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.94-95.

(7) Viện Ngôn ngữ học: Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2003, tr.587.

(8), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Sđd, tr.275, 275.

TS ĐẶNG TRƯỜNG MINH

Học viện Kỹ thuật Quân sự

NCS PHẠM VĂN PHÚ

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

 

Triển vọng ứng dụng kỹ thuật mô phỏng trong đào tạo lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

TS HOÀNG ANH THAO
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

(LLCT) - Một trong những thành tựu quan trọng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được ứng dụng trong giáo dục đào tạo là kỹ thuật mô phỏng. Ứng dụng kỹ thuật mô phỏng trong đào tạo nói chung, lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nói riêng, tạo nên những thay đổi lớn cả về nội dung, hình thức đào tạo và phương pháp giảng dạy, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới về các nguồn lực phục vụ tổ chức đào tạo.
 


1. Kỹ thuật mô phỏng và những ứng dụng

Kỹ thuật mô phỏng (Simulation) là một phương pháp sử dụng các mô hình thực tế hoặc mô hình ảo để tái hiện một quá trình, hệ thống, hoặc sự kiện, tình huống tương tự như các hoạt động thật sự diễn ra trong môi trường thực tế, tạo cho người dùng trải nghiệm sống động và khả năng tương tác với các yếu tố mô phỏng. Mục tiêu của kỹ thuật mô phỏng là nắm bắt các khía cạnh quan trọng của quá trình/hệ thống, hoặc sự kiện/tình huống và thử nghiệm các giả định, kịch bản, hoặc thử nghiệm quyết định trong một môi trường an toàn và có thể kiểm soát được.

Đặc điểm nổi bật của kỹ thuật mô phỏng là giúp giảm thiểu rủi ro liên quan đến việc thực hiện thử nghiệm hoặc các hoạt động nguy hiểm trong môi trường thực tế. Điều này đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực y tế, hàng không và công nghiệp. Thay vì chỉ đọc hoặc nghe về tình huống hoặc tưởng tượng ra mô hình, hệ thống, quá trình,… người dùng có thể thực hiện các hành động và quyết định trong môi trường ảo. Mô phỏng giúp tối ưu hóa quy trình và lựa chọn quyết định. Người dùng có thể thử nghiệm các tùy chọn khác nhau và xem kết quả trước khi thực hiện chúng trong thực tế. Không những thế, họ có thể thực hiện nhiều lần một mô phỏng cụ thể mà không tốn quá nhiều chi phí như khi tiến hành thử nghiệm thật.

Dựa trên các kết quả và các kinh nghiệm rút ra từ những lần mô phỏng, thông qua việc tự mình tương tác với môi trường mô phỏng và thực hiện các thao tác, người dùng hiểu biết sâu hơn về các quy trình và hiện tượng phức tạp, được rèn luyện kỹ năng một cách hiệu quả, đồng thời có thể tiến hành những điều chỉnh, thử nghiệm các ý tưởng và giải pháp trước khi triển khai chúng trong thực tế.

Kỹ thuật mô phỏng là một công cụ mạnh trong nghiên cứu, đào tạo và giải quyết các vấn đề phức tạp, giúp tiết kiệm thời gian, nguồn lực và giảm rủi ro, đồng thời tăng tính trải nghiệm, cải thiện hiệu suất và tăng tính chính xác của quyết định. Nhờ những ưu điểm nổi bật này mà các ứng dụng của kỹ thuật mô phỏng hết sức đa dạng và đem lại hiệu quả cao, như:

Mô phỏng máy tính (Computer Simulation): sử dụng các phần mềm và máy tính để mô phỏng các tình huống hoặc quá trình. Điều này có thể bao gồm mô phỏng số học, mô phỏng hình ảnh và mô phỏng thời gian thực.

Mô phỏng vật lý (Physical Simulation): sử dụng các thiết bị vật lý để tái hiện hoặc thử nghiệm các tình huống, chẳng hạn sử dụng mô hình hoặc thiết bị để mô phỏng các hiện tượng vật lý như sự đập va, sự trượt, hoặc sự biến đổi của hệ thống cơ học.

Mô phỏng y tế (Medical Simulation): sử dụng các mô hình và thiết bị để đào tạo và đánh giá kỹ năng y tế và quản lý tình huống trong lĩnh vực y học như mô phỏng phẫu thuật, quá trình điều trị bệnh, xử trí tình huống khẩn cấp,…

Mô phỏng hệ thống (System Simulation): Mô phỏng hệ thống tập trung vào mô phỏng các hệ thống phức tạp, chẳng hạn như mạng máy tính, hệ thống giao thông, và quy trình sản xuất, giúp hiểu rõ cách thức các phần tử trong hệ thống tương tác và tác động lẫn nhau.

Mô phỏng xã hội (Social Simulation): sử dụng các mô hình và dữ liệu xã hội để mô phỏng các hiện tượng xã hội và hành vi con người, chẳng hạn như mô phỏng mạng xã hội, mô phỏng hoạt động thị trường, mô phỏng tương tác xã hội,…

Mô phỏng thực tế ảo (Virtual Reality - VR): sử dụng công nghệ VR để tạo ra một môi trường ảo mô phỏng. Người dùng có thể tương tác với môi trường ảo bằng cách sử dụng thiết bị như kính VR hoặc bàn điều khiển tương tác.

Mô phỏng hỗn hợp (Mixed Reality): kết hợp các yếu tố của thực tế vật lý và thực tế ảo. Điều này cho phép người dùng tương tác với các đối tượng thực tế trong môi trường ảo hoặc ngược lại.

Mô phỏng mạng (Network Simulation): tập trung vào việc mô phỏng mạng máy tính và việc truyền thông dữ liệu trong môi trường mạng, giúp ích cho việc thiết kế, kiểm tra và quản lý mạng.

Mô phỏng dự án (Project Simulation): giúp quản lý dự án bằng cách mô phỏng các yếu tố như tiến độ, nguồn lực, và rủi ro trong quá trình dự án.

Mô phỏng phân tích và mô hình (Analytical and Modeling Simulation): Loại mô phỏng này sử dụng công cụ phân tích và mô hình hóa để nghiên cứu và dự đoán hành vi của các hệ thống phức tạp.

Các loại hình mô phỏng này có thể được kết hợp với nhau và tùy chỉnh theo mục đích và nhu cầu cụ thể của người dùng trong từng lĩnh vực, từ giáo dục đến nghiên cứu và thực tế công việc.

2. Khả năng ứng dụng kỹ thuật mô phỏng trong đào tạo lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

Đặc trưng nổi bật của lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn là tìm hiểu và giải thích các khía cạnh trừu tượng và phức tạp của cuộc sống và xã hội. Lĩnh vực này nghiên cứu tập trung vào con người và xã hội, văn hóa, tư duy và hành vi của con người - tức là những đối tượng trừu tượng (tư duy, giá trị, tôn giáo, quan điểm… - những khía cạnh không thể đo lường một cách chính xác).

Khoa học xã hội và nhân văn thường tập trung vào việc phát triển các lý thuyết và phân tích các khía cạnh của con người và xã hội, thường liên quan đến việc đưa ra các quan điểm, giải thích, đánh giá, quan tâm đến các tình huống xã hội cụ thể và sự phát triển lịch sử, nghiên cứu tác động của các sự kiện và quá trình xã hội, từ đó cung cấp những thông tin và giải pháp có thể giúp cải thiện xã hội, tạo ra sự thay đổi tích cực, và đáp ứng các thách thức xã hội.

Khoa học xã hội và nhân văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu linh hoạt, từ nghiên cứu tài liệu, phân tích lý thuyết, nghiên cứu thực địa, nghiên cứu trường hợp, phỏng vấn và quan sát… Đây cũng chính là những cách thức người học tiếp cận kiến thức và tìm hiểu về lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, và kỹ thuật mô phỏng có khả năng trợ giúp hiệu quả cho những hoạt động này để giúp người học hiểu sâu hơn về các khía cạnh xã hội và nhân văn phức tạp.

Bằng phương pháp mô phỏng, người học không chỉ tiếp thu kiến thức một cách sâu sắc mà trong quá trình học họ còn có thể tìm ra cách tiếp cận vấn đề, con đường cách thức để đạt mục tiêu bài học, có thể tạo dựng và điều khiển tại chỗ các đối tượng theo ý muốn, tìm tòi phát hiện một số quan niệm mới cũng như rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp.

Đơn cử như với việc giảng dạy môn lịch sử, kỹ thuật mô phỏng có thể được sử dụng để tái hiện các sự kiện lịch sử quan trọng như chiến tranh thế giới, cách mạng công nghiệp, hoặc các sự kiện lịch sử của một quốc gia cụ thể. Người học có thể tương tác với các tình huống và nhân vật lịch sử để hiểu sâu hơn về bối cảnh và tác động của chúng. Kỹ thuật mô phỏng cũng có thể được sử dụng để tạo ra mô hình không gian vật lý ba chiều hoặc sử dụng phần mềm mô phỏng để tái hiện các địa điểm lịch sử quan trọng như trận chiến, di lích lịch sử… cho phép người học khám phá không gian và tương tác với nó.

Cũng có thể tạo ra các nhân vật lịch sử quan trọng và tạo mô hình của họ, cho phép người học hóa thân thành các nhân vật này để hiểu rõ hơn về cuộc sống, quyết định, và tương tác của họ trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Hoặc sử dụng kỹ thuật mô phỏng để thử nghiệm các giả thuyết về lịch sử, đặt ra các tình huống và sự kiện khác nhau để kiểm tra và đánh giá các giả thuyết này. Hoặc tạo ra môi trường thực địa ảo của các thời kỳ lịch sử khác nhau, giúp người học khám phá và tương tác với các môi trường này để hiểu rõ về cuộc sống và bối cảnh xã hội trong quá khứ.

Kỹ thuật mô phỏng cũng có thể tạo ra một môi trường cho người học thảo luận và phân tích các sự kiện lịch sử, tác động của chúng và hậu quả lịch sử; tạo các tài liệu lịch sử quan trọng như tư liệu văn bản, hình ảnh, bản ghi âm và người học có thể truy cập và nghiên cứu các tài liệu này để hiểu sâu hơn về bối cảnh lịch sử…

Mối quan hệ giữa “lượng” (quantity) và “chất” (quality) đã được đề cập trong triết học từ thời cổ đại và tiếp tục là một chủ đề quan trọng trong triết học hiện đại. Có thể ứng dụng kỹ thuật mô phỏng để khám phá mối quan hệ này một cách thú vị. Chẳng hạn muốn nghiên cứu cách thay đổi “lượng” của một yếu tố cụ thể ảnh hưởng đến “chất” của một hệ thống hoặc hiện tượng, cần thiết lập mô hình mô phỏng với các biến số “lượng” và “chất” trong hệ thống hoặc hiện tượng mà chúng ta quan tâm, thiết lập quan hệ giữa chúng. Mô phỏng sẽ cung cấp dữ liệu về cách thay đổi “lượng” ảnh hưởng đến “chất” trong hoàn cảnh cụ thể, tái hiện các tình huống và quá trình trong nghiên cứu khi từng biến số “lượng” và “chất” có sự thay đổi theo thời gian hoặc theo các biến số khác. Các dữ liệu thu thập được qua quá trình trải nghiệm bằng mô phỏng là dữ liệu đầu vào để tiếp tục tiến hành các phương pháp phân tích thích hợp, từ đó rút ra kết luận về cách chúng tương tác và tác động lẫn nhau, giúp hiểu rõ mối quan hệ giữa “lượng” và “chất”.

Ứng dụng kỹ thuật mô phỏng trong đào tạo nói chung, đào tạo lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nói riêng cho thấy một số ưu điểm nổi bật sau:

Một là, tạo cho người học cơ hội học tập qua trải nghiệm để hiểu sâu và tăng sự hứng thú với việc học tập, nhất là với những môn học, ngành học mang tính lý thuyết, trừu tượng và phức tạp.

Kỹ thuật mô phỏng giúp người học được học tập qua trải nghiệm thay vì chỉ học lý thuyết. Sự tham gia của các yếu tố hình ảnh tĩnh và động, âm thanh, cùng với khả năng tùy chỉnh và điều khiển các yếu tố này theo năng lực và sở thích, kinh nghiệm mang tính cá nhân người học có thể giúp họ tự trải nghiệm về đối tượng. Họ có thể thực hiện các thao tác, tham gia vào các tình huống thực tế, tương tác với các yếu tố trong mô phỏng, áp dụng kiến thức và kỹ năng trong môi trường an toàn và không có rủi ro và theo dõi kết quả những hoạt động của mình.

Tùy thuộc vào kỹ năng thao tác, điều khiển của người học mà họ có thể trải nghiệm những trạng thái, cảm xúc hồi hộp, vui sướng, lo âu, sợ hãi, choáng ngợp… Mô phỏng đòi hỏi người trải nghiệm phải huy động tất cả các giác quan để cảm nhận, kết hợp với hoạt động tích cực của tư duy để phân tích, xử lý, biến những dữ liệu vô nghĩa thành thông tin, phục vụ cho việc ra quyết định. Trải nghiệm này giúp người học có được những kinh nghiệm cụ thể về nhận thức, tư duy, về hành vi, về thái độ ứng xử - điều mà không một bộ phim hay một hình ảnh, âm thanh riêng lẻ nào có thể tạo nên.

Khái quát về khả năng nắm bắt và tiếp nhận thông tin, các nhà sư phạm đã khẳng định: nghe thì quên, nhìn thì nhớ, làm thì hiểu. Do đó, mô phỏng có khả năng cung cấp kiến thức tổng hợp và sâu sắc hơn so với việc giảng giải, thuyết trình lý thuyết hay quan sát hoạt động làm mẫu của giảng viên như các cách giảng dạy thông thường.

Hai là, phù hợp với cá nhân hóa việc học tập trong bối cảnh học tập thường xuyên, học suốt đời. Mô phỏng cho phép người học tự chọn nội dung học tập và phong cách học tập, tùy chỉnh môi trường trải nghiệm học tập để phù hợp với nhu cầu và mục tiêu học tập của từng cá nhân, tức là tạo ra trải nghiệm học tập cá nhân hóa. Chủ thể học tập có thể tự quản lý quá trình học và luyện tập, quản lý thời gian học tập theo lịch trình linh hoạt của mình, tự học và kiểm tra kiến thức và kỹ năng, phát huy tính chủ động, tích cực và tự giác, tham gia học tập từ bất kỳ nơi đâu có kết nối internet - điều này rất thuận lợi trong triển khai đào tạo từ xa phục vụ xã hội học tập ngày nay.

Ba là, phát triển kỹ năng quyết định của người học. Mô phỏng giúp học viên phát triển kỹ năng quyết định và giải quyết vấn đề thông qua việc đối mặt với các tình huống phức tạp và thực hành đưa ra quyết định. Người học có khả năng lặp lại các tình huống để cải thiện hiệu suất và thử nghiệm các phương pháp khác, lựa chọn khác để tăng tính trải nghiệm và phân tích, học hỏi từ kinh nghiệm, lựa chọn quyết định mang tính tối ưu.

Bốn là, bản thân giảng viên cũng có thể phát huy tối đa khả năng làm việc sáng tạo để tìm kiếm các giải pháp thay thế cho việc giảng dạy lý thuyết, thuyết trình một cách đơn điệu, chuyển tải nội dung, mục tiêu học tập theo những cách thức độc đáo, giúp cho hoạt động học tập trở nên tích cực và hấp dẫn hơn. Vai trò của giảng viên chuyển sang vai trò của người hướng dẫn, dẫn dắt người học tự khám phá, chiếm lĩnh và làm chủ nội dung học tập.

Năm là, hạn chế rủi ro và chi phí. Mô phỏng cung cấp những kinh nghiệm gián tiếp trước khi sinh viên thực hành thực tế, nhất là thao tác, những thử nghiệm có thể gây mất an toàn cho con người. Nhờ kỹ thuật mô phỏng, người học có thể lặp đi lặp lại thao tác nhiều lần để trở nên thuần thục, tự mình rút kinh nghiệm và điều chỉnh trước khi tiến hành thao tác đó trong thực tiễn, nắm vững các nguyên tắc, qui trình. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro liên quan đến việc học tập trong các môi trường thực tế và giảm chi phí đào tạo, bao gồm cả chi phí di chuyển và nguồn nhân lực...

3. Điều kiện ứng dụng kỹ thuật mô phỏng trong đào tạo lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

Để thực hiện kỹ thuật mô phỏng trong đào tạo nói chung, đào tạo lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nói riêng, cần những điều kiện bảo đảm nhất định, trong đó cần quan tâm đến những vấn đề sau:

Một là, cần có cơ sở hạ tầng kỹ thuật đủ mạnh để hỗ trợ quá trình mô phỏng trong đào tạo. Đó là hệ thống máy tính và các thiết bị kỹ thuật phù hợp, bao gồm máy tính cá nhân hoặc máy tính xách tay, máy tính bảng, điện thoại thông minh, máy chiếu, màn hình cảm ứng, và bất kỳ thiết bị nào cần thiết để thực hiện các hoạt động mô phỏng.

Cùng với đó là phần mềm mô phỏng phù hợp với lĩnh vực và mục tiêu đào tạo, có thể bao gồm phần mềm đồ họa 3D, phần mềm mô phỏng hệ thống, phần mềm mô phỏng cuộc sống thực, hoặc các ứng dụng đa phương tiện phục vụ cho mục tiêu đào tạo cụ thể. Để tải về và cập nhật phần mềm mô phỏng, chia sẻ tài liệu và tương tác trực tuyến, cần phải có đường truyền hỗ trợ truy cập internet ổn định và nhanh chóng. Trong trường hợp thực hiện mô phỏng từ xa, cần phải sử dụng nền tảng học trực tuyến. Hệ thống quản lý học tập trực tuyến (LMS) giúp quản lý nội dung, quản lý người học, theo dõi tiến trình học tập, và cung cấp tài liệu đào tạo. Các thiết bị ngoại vi như máy ảnh, máy quay video, máy ghi âm, microphone, loa,… cần thiết để tạo nội dung mô phỏng, tương tác âm thanh và hình ảnh.

Để tạo ra trải nghiệm tương tác, có thể cần tới các thiết bị như bảng trắng tương tác, bút điều khiển từ xa hoặc các thiết bị tương tác khác. Để bảo đảm an toàn cho dữ liệu đào tạo và nội dung mô phỏng, cần có hệ thống sao lưu và phục hồi dữ liệu định kỳ và đội ngũ kỹ thuật, giúp giải quyết các vấn đề kỹ thuật và hỗ trợ cho người học và người hướng dẫn khi cần thiết.

Hai là, đội ngũ giảng viên - người hướng dẫn có kiến thức và kỹ năng về kỹ thuật mô phỏng và cách sử dụng nó trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

Giảng viên vừa phải am hiểu chuyên sâu về nội dung đào tạo, vừa phải biết cách xây dựng, điều chỉnh và thực hiện mô phỏng, sau đó sử dụng mô phỏng phục vụ mục đích sư phạm như một phương tiện nhận thức, giúp người học hiểu rõ một khái niệm, một quá trình, một hệ thống… trong nội dung học tập.

Bằng việc mô phỏng và dẫn dắt người học xử lý các tình huống mô phỏng, giảng viên giúp nội dung học tập trở nên hấp dẫn hơn, đặt người học vào quá trình tự tiếp cận, khám phá, làm chủ tri thức, kỹ năng, thay đổi thái độ và hành vi. Vì vậy, giảng viên phải có khả năng thiết kế nội dung mô phỏng liên quan trực tiếp đến mục tiêu học tập và kỹ năng mà người học cần phải phát triển để bảo đảm rằng mô phỏng đóng góp vào quá trình đào tạo.

Ba là, tài liệu học tập và nội dung mô phỏng phù hợp với lĩnh vực và mục tiêu đào tạo.

Mô phỏng cần phản ánh các tình huống thực tế hoặc các tình huống gần gũi với lĩnh vực đào tạo để có thể giúp người học áp dụng kiến thức và kỹ năng vào thực tế. Nội dung mô phỏng nên có tính thách thức với người học, đòi hỏi họ phải suy nghĩ, phân tích, liên hệ, đánh giá, vận dụng và đưa ra quyết định, thúc đẩy tư duy phản biện và khuyến khích sự đa dạng trong việc giải quyết vấn đề.

Mặt khác, nội dung mô phỏng nên có khả năng tùy chỉnh để phản ánh sự đa dạng của người học và mục tiêu đào tạo cụ thể, phù hợp với nhiều bối cảnh đào tạo, đồng thời cần có khả năng đánh giá hiệu suất của người học thông qua các nhiệm vụ trong chính tình huống mô phỏng hoặc bài kiểm tra để đo lường sự tiến triển về kiến thức và kỹ năng của họ.

Kỹ thuật mô phỏng tạo ra môi trường học tập ảo, giúp người học được học tập thông qua trải nghiệm và thực hành, tạo cơ hội tương tác và thảo luận, phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề, gia tăng sự hứng thú với người học, đồng thời tiết kiệm thời gian và các nguồn lực… Những lợi thế nổi bật của kỹ thuật mô phỏng mở ra khả năng ứng dụng kỹ thuật này không chỉ trong đào tạo các ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật mà cả với khoa học xã hội và nhân văn, nhất là trong phát triển hình thức đào tạo từ xa, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời của xã hội học tập trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay.

_________________

Ngày nhận bài: 02-11-2023; Ngày bình duyệt: 5- 11-2-2023; Ngày duyệt đăng: 8-11-2023

1. Lê Huy Tùng, Lương Thúy Hạnh: Ứng dụng kỹ thuật mô phỏng trong dạy họcTạp chí giáo dục, số 316, kỳ 2-8/2013.

2. Carol M.Huttar: Virtual Reality and Computer Simulation in Social Work Education: A Systematic ReviewJournal of Social Work Education, Volume 56, 2020-Issue 1.

3. Asmeret Naugle, Adam Russell, Kiran Lakkaraju, Laura Swiler, Stephen Verzi: Vicente Romero1The Ground Truth program: simulations as test beds for social science research methodsComputational and Mathematical Organization Theory, 2023, 29:1–19 (https://doi.org/10.1007/s10588-021-09346-9)