Thứ Tư, 27 tháng 12, 2023

TRÂN QUÝ NÉT VĂN HÓA BỘ ĐỘI CỤ HỒ!

 Từ trong hiểm nguy, gian khổ các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã để lại những biểu tượng cao đẹp, nét văn hóa độc đáo về hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ bằng những tấm gương anh dũng, đức hy sinh thông qua những hành động, việc làm ý nghĩa thiết thực.

Trải qua lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, ở bất cứ thời kỳ nào thì cái thiêng liêng cao cả nhất vẫn là sự quyết tâm giữ vững chủ quyền Tổ quốc, là sự hy sinh của người lính để bảo vệ nhân dân, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc.
Việt Nam vốn đất không rộng, người không đông lại thường xuyên đối mặt với thiên tai, giặc giã. Và mỗi khi đất nước bị xâm lăng hay đồng bào gặp thiên tai hỏa hoạn, những người lính Cụ Hồ luôn sát cánh cùng nhân dân chống kẻ thù chung. Điều này góp phần tạo ra một nét bản sắc của tâm hồn Việt Nam là giàu yêu thương và rất đỗi anh hùng.
Ngày nay, hình tượng Bộ đội Cụ Hồ là sự học tập, kế thừa, kết tinh, phát triển và nâng cao giá trị con người Việt Nam truyền thống từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, đã có không biết bao chiến sĩ sẵn sàng hy sinh thân mình để chiến đấu với kẻ thù, bảo vệ Tổ quốc. Sinh ra từ nhân dân, lớn lên từ khói lửa chiến tranh, thiên tai địch họa, thời nay, Bộ đội Cụ Hồ phát huy cao nhất lý tưởng “Trung với Đảng, hiếu với dân... Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” để luôn là tấm khiên và thanh bảo kiếm bảo vệ Tổ quốc.
Những hành động, việc làm cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ đã để lại trong lòng nhân dân những ấn tượng không bao giờ phai mờ. Đến bây giờ, vượt qua hoạn nạn, rất nhiều người dân luôn xem bộ đội là ân nhân của mình. Bộ đội làm “bà đỡ” bất đắc dĩ trong các khu cách ly giúp công dân “vượt cạn”, bộ đội nhường suất ăn cho công dân… Và còn đó, những tấm gương cán bộ, chiến sĩ quên mình trong tham gia giúp nhân dân phòng, chống dịch đã trở thành biểu tượng cao đẹp về lòng nhân ái, tinh thần quả cảm của Bộ đội Cụ Hồ. “Vì nhân dân phục vụ. Vì nhân dân hy sinh!”. Đấy là mệnh lệnh của trái tim người lính, là lẽ sống, lý tưởng. Đó là văn hóa cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ!
Thiêng liêng danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ, bộ đội của dân, do dân và vì dân. Đó là danh hiệu, danh xưng mà nhân dân tôn vinh; là giá trị văn hóa độc đáo, sáng tạo, tiêu biểu trong dòng chảy văn hóa Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh, gắn liền với truyền thống, chiến công của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng./.
ST

ĐỌC BẢN ĐẢNG VIÊN TỰ KIỂM ĐIỂM TRƯỚC ĐÂY, SUY NGHĨ VỀ ĐẢNG VIÊN TỰ KIỂM ĐIỂM HIỆN NAY

 


Tôi vừa tìm được bản tự kiểm điểm định kỳ trong đợt “chỉnh cán chỉnh cơ” của ông Nguyễn Sinh Chưng - Trưởng ty Thông tin Tuyên truyền tỉnh Quảng Bình, do một cán bộ Trường Đảng tỉnh Quảng Bình cung cấp. Xin thông tin lại cho bạn đọc bản tự kiểm điểm của một đảng viên cách đây 58 năm và suy nghĩ về đảng viên tự kiểm điểm hiện nay.

Bản kiểm điểm của ông có sáu chữ ký xác nhận của sáu cán bộ, đảng viên trong tổ văn hóa giáo dục của tỉnh (gồm các ông: Trung Tâm, Phạm Kim Ngân, Hoàng Trọng Báu, Trần Đình Côn, Nguyễn Đình Nhân và Phạm Minh Chúng).
Sau thắng lợi của chiến dịch Biên Giới, năm 1953 Trung ương Đảng ta quyết định khẩn trương chuẩn bị cho giai đoạn tổng phản công trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Để chuẩn bị tư tưởng cho đảng viên, quân và dân ta bước sang giai đoạn mới, Trung ương Đảng ta đã đề ra phong trào “chỉnh cán, chỉnh quân” (đối với lực lượng quân đội) và “chỉnh cán, chỉnh cơ” (đối với lực lượng cán bộ trong cơ quan ban ngành).
Trong bản tự kiểm điểm định kỳ của ông Nguyễn Sinh Chưng, có 4 phần: Kiểm điểm tư tưởng sợ địch; kiểm điểm quan điểm sợ khó sợ khổ, sợ trường kỳ kháng chiến; kiểm điểm việc “tranh thủ” trong công tác để vì lợi ích riêng tư và kiểm điểm về mặt nhận thức trong sự bóc lột tàn tệ của đế quốc phong kiến đối với nhân dân ta.
Đọc bản tự kiểm điểm này tôi thấy ông nói về ưu điểm của chính mình rất ít. Trong suốt 6 trang viết bằng “giấy bù” nhám và đen của thời ấy, ông Phạm Sinh Chưng chỉ nói về những tồn tại và tự phê phán rất nghiêm khắc những khuyết điểm của bản thân mình ở cả 4 phần của bản tự kiểm điểm.
Trong phần tự kiểm điểm tư tưởng sợ địch có đoạn ông viết: “Ty Thông tin Tuyên truyền tỉnh Quảng Bình đóng ở đồng bằng. Thường bị uy hiếp dưới tầm đạn ca nông và máy bay địch. Một dịp tôi bị thương nhẹ, nhân đó tôi cho cơ quan chuyển về chiến khu vùng miền núi”. Ông tự phê phán: “đó là vì động cơ sợ chết, sợ bị thương. Đó là tư tưởng khiếp sợ địch. Mang động cơ cá nhân, dùng mệnh lệnh làm cho một số cấp dưới thắc mắc, phản đối”. Ông kết luận: “tôi đã không nghĩ đến nhân dân đang kiên trì bám trụ dưới tầm bom đạn của giặc… Người đảng viên trước hết phải rèn luyện tính chịu đựng, phải biết đương đầu với sự sống và cả cái chết để cứu vãn lấy sinh mệnh của đất nước, kể cả sinh mệnh chính trị của bản thân mình”.
Trong phần phê phán tinh thần sợ khó sợ khổ, sợ trường kỳ kháng chiến ông đã kiểm điểm: “tháng 11 năm 1951 tôi đi dự Hội nghị tuyên truyền ở khu về, đáng lẽ tôi phải vào miền nam của tỉnh ngay, nhưng tôi lấy lý do đang đi công tác một số vùng của phía bắc gần nhà, tôi nghỉ thêm một tháng để được vợ con tẩm bổ. Tôi đã vô kỷ luật không làm gương cho anh em nhân viên cấp dưới. Họ cũng học theo tôi vào chậm quá thời hạn công tác. Lần nữa, năm 1952 tôi đi công tác ở miền bắc, bị thương nhẹ tôi lấy cớ xin nghỉ thêm 15 ngày để điều trị. Vì tôi nghĩ vào miền nam hiện nay rất ác liệt, đời sống rất kham khổ lại bị uy hiếp nguy hiểm đến cả tính mạng…” cuối cùng ông tự phê phán: “người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam phải luôn nhớ rằng, lo trước cái lo của dân, phải hưởng thụ sau dân. Phải rèn luyện chịu đựng gian khổ hi sinh, khắc phục tư tưởng cầu an hưởng lạc. Luôn luôn suy nghĩ đến sự cực khổ của nhân dân. Nhân dân là người cùng khổ nhất, phải đặt mức sống của mình ngang hàng với nhân dân. Có như thế mới lãnh đạo được nhân dân, phải luôn chuyên tâm cho sự nghiệp cách mạng”.
Phần kiểm điểm việc “tranh thủ” trong công tác để vì lợi ích riêng tư, ông Nguyễn Sinh Chưng viết: “như tôi đã viết ở phần trước, tôi đã lấy lý do công tác, lấy lý do bị thương để về sống với vợ con gần 2 tháng. Những lần sống thiếu thốn vất vả quá vợ tôi khuyên tôi về đầu hàng giặc... Có lần tôi đã định cắt đứt tình vợ chồng thả vợ về với địch”. Ông đã tự phê phán: “…tôi đã chịu đựng gian khổ trong 7 năm trường kỳ kháng chiến, được vợ chăm sóc đùm bọc nhưng do chỉ một câu nói của vợ thiếu suy nghĩ mà tôi đã vội cho rằng vợ tôi là người phản động. Nếu vợ đã nghe lời tôi thì địch sẽ dựa vào đó để phản tuyên truyền và phá vỡ các cơ sở của ta. Tôi tham gia kháng chiến với tư tưởng ỷ lại, thiếu tinh thần tự lực cánh sinh. Tôi không có tư tưởng cách mạng dứt khoát, thiếu phương pháp tuyên truyền thuyết phục đối với gia đình. Có khi do quá nghèo khổ, khó khăn tôi đã lúng túng thiếu sự sáng suốt quyết đoán của một người đảng viên…”.
Trong phần tự kiểm điểm về nhận thức sự bóc lột tàn tệ của đế quốc phong kiến ông viết: “năm 1951, nhân anh em cán bộ thị xã Đồng Hải cho biết: tôi có một người em họ ở Phú Ninh trong vùng tạm chiếm rất giàu, làm ăn sản xuất rất khá, tôi đã gửi thư xin của cải, đồng hồ, bút máy… Vì tôi nghĩ rằng, trong số ruộng vườn của em họ tôi thừa hưởng có một phần ruộng của mẹ tôi và một mảnh vườn nữa…”. Ông đã tự phê phán: “đó là tư tưởng cầu an hưởng lạc. Nhận quà của người giàu để hưởng lạc cá nhân. Tôi chưa phát huy được tính tự lực cánh sinh, chưa xác định được lao động là vinh quang”.
Cuối cùng ông Nguyễn Sinh Chưng đã đề ra phương pháp tu dưỡng và rèn luyện bản thân như sau:
“- Tự lao động, lao động hóa bản thân và gia đình để tự cải thiện đời sống và cải tạo tư tưởng hưởng lạc cầu an.
- Phải hòa mình với nông dân, đi sâu đi sát nhân dân.
- Đặt mức sống hàng ngày của mình, gia đình mình ngang với mức thấp nhất của người cùng khổ nhất. Không đòi hưởng lạc và sống xa hoa.
- Ghép mình, vợ con mình vào tổ chức kháng chiến.
- Không sợ địch, không sợ chết, không sợ bị thương. Tất cả cho trường kỳ kháng chiến thắng lợi”.
Đọc bản tự kiểm điểm định kỳ của một đảng viên Đảng Lao động Viêt Nam, một cán bộ đầu ngành của tỉnh Quảng Bình trong đợt “chỉnh cán, chỉnh cơ” mà Trung ương Đảng phát động, tôi rất xúc động và cảm phục tư tưởng “tự phê bình và phê bình” mà Bác Hồ đã dạy. Tư tưởng tự phê và phê bình là vũ khí sắc bén để đảng viên từng bước hoàn thiện mình, tu dưỡng sữa chữa những sai lầm thiếu sót của bản thân, nguyện trở thành một đảng viên gương mẫu, một cán bộ tốt. Có như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, chúng ta mới giành được thắng lợi vẻ vang trong việc chuẩn bị cho giai đoạn tổng phản công trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954 và Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954.
Đọc bản tự kiểm điểm định kỳ của ông Nguyễn Sinh Chưng, nguyên Trưởng Ty Thông tin Tuyên truyền, tiền thân của Ty Văn hóa Thông tin, nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Sở Thông tin Truyền thông của tỉnh Quảng Bình, tôi tự liên tưởng ngay đến việc đảng viên viết bản tự kiểm điểm định kỳ hằng năm hiện nay.
Để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp, thiết nghĩ cần nhận thức rõ, hiện nay chúng ta đang trong giai đoạn “bản lề”, chuẩn bị cho cuộc “tổng phản công” để đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Mục tiêu sự nghiệp cách mạng đó có thành công và trở thành hiện thực hay không trước hết phụ thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng và vai trò đầu tàu gương mẫu của mỗi đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Một trong những yếu tố để đảng viên tu dưỡng, rèn luyện là việc tự kiểm điểm định kỳ hằng năm, hay kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương bốn về xây dựng Đảng hiện nay phải thực sự có hiệu quả, biết tự phê bình và phê bình thẳng thắn, biết nhìn thẳng vào sự thật, biết nói đúng sự thật và biết hành động đúng của mỗi đảng viên, tương tự như bản tự kiểm điểm định kỳ của ông Nguyễn Sinh Chưng.
Nhìn lại các bản đảng viên tự kiểm điểm định kỳ hằng năm hiện nay mà các tổ chức đảng đang làm thì thấy không ít nơi làm cho xong chuyện, mang tính hình thức. Chủ yếu bản tự kiểm điểm ấy chỉ nói về ưu điểm của mình, phần khuyết điểm thiếu sót, phần phương hướng khắc phục những khuyết điểm chỉ được viết qua quýt, chiếu lệ. Hơn nữa, mấy năm gần đây, mỗi đảng viên chúng ta viết theo mẫu in sẵn của ban tổ chức. Phần khuyết điểm thiếu sót chỉ có vài ba dòng, phần phương hướng khắc phục cũng vậy. Thậm chí bản tự kiểm điểm định kỳ hằng năm của mỗi đảng viên có thể sao chép cho nhiều đảng viên khác vẫn đúng, hoặc bản tự kiểm điểm định kỳ của năm này có thể sao chép sang cho những năm sau vẫn đúng, vẫn hay. Đó là tình trạng không hiếm thấy. Bản kiểm điểm sao chép đó vẫn được trình bày trước chi bộ Đảng, vẫn được xếp loại đảng viên bằng bỏ phiếu kín đàng hoàng.
Nên chăng, cần có sự đổi mới về mẫu văn bản đảng viên tự kiểm điểm và được thống nhất chung trong toàn Đảng. Bản đảng viên tự kiểm điểm phải được viết tay, viết từ tâm, từ con tim dựa vào các yêu cầu của tổ chức Đảng, phù hợp với tình hình cụ thể hằng năm. Có suy nghĩ trăn trở với những yêu cầu hằng năm của Đảng thì bản viết mới có chất lượng thực sự. Đây cũng chính là một lần tự thức tỉnh mình, tự nghiêm khắc với chính mình. Bản tự kiểm điểm của đồng chí Nguyễn Sinh Chưng cách đây 58 năm, đáng để các thế hệ đảng viên và tổ chức đảng suy nghĩ, học tập và làm theo./.
St

NẮM VỮNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, TẬP TRUNG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI TINH, GỌN, MẠNH, LÀM NỀN TẢNG TIẾN LÊN HIỆN ĐẠI

 Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam và Lãnh tụ Hồ Chí Minh thành lập, giáo dục, rèn luyện. Trong mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn xác định mục tiêu, phương hướng xây dựng Quân đội đáp ứng yêu cầu củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Kế thừa, bổ sung và phát triển quan điểm, đường lối về quân sự, quốc phòng của Đảng qua các kỳ đại hội, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đến năm 2025 cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại. Đây là chủ trương nhất quán, đúng đắn, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng. Thực hiện thắng lợi chủ trương trên là yếu tố quyết định bảo đảm cho Quân đội ta có đủ sức mạnh, hoàn thành tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, trực tiếp là đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cũng như yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, bước đầu đã đạt được kết quả quan trọng. Từ năm 2016 đến nay, toàn quân đã chủ động điều chỉnh tổ chức, giảm biên chế quân số cơ quan cấp chiến lược, chiến dịch, giảm đầu mối trung gian và đơn vị phục vụ, bảo đảm; ưu tiên quân số cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đầu tư thích đáng cho các quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; sắp xếp lại các nhà máy sản xuất, cơ sở sửa chữa quốc phòng; điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế của một số học viện, nhà trường quân đội, v.v. Công tác huấn luyện, giáo dục, đào tạo có nhiều đổi mới theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu ở tất cả các cấp, bảo đảm an toàn khu vực đóng quân và sẵn sàng xử lý các tình huống về quân sự, quốc phòng. Công tác hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng và các mặt công tác khác có bước phát triển mới. Đặc biệt, Quân đội đã nghiên cứu, làm chủ hầu hết vũ khí bộ binh, nhất là một số loại vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại, góp phần tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng. Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng được triển khai tích cực, chủ động, linh hoạt, thực chất và hiệu quả; trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, góp phần xây dựng lòng tin, duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực, nâng cao hình ảnh, vị thế đất nước, Quân đội trong ASEAN và trên trường quốc tế. Kết quả trên là tiền đề rất quan trọng để thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Các nước lớn tăng cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối vào nội bộ nước khác, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ. Các điểm nóng về an ninh có chiều hướng gia tăng, nguy cơ lan rộng; xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới. Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường,… tiếp tục diễn biến phức tạp. Tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột, tác động đến an ninh, an toàn hàng hải, hàng không. Trong nước, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, xuất hiện những vấn đề phức tạp mới. Các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam với âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, công khai và trực diện hơn.
Tình hình trên đặt ra những yêu cầu mới rất cao đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Việc xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại cần quán triệt sâu sắc, thực hiện có hiệu quả những nội dung cơ bản sau:
Một là, tiếp tục quán triệt, nắm vững quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động trong triển khai thực hiện. Các cơ quan, đơn vị và cán bộ, chiến sĩ toàn quân, nhất là cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp phải tổ chức quán triệt thật sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, trọng tâm là Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17/01/2022, của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 02/4/2022, của Quân ủy Trung ương, Kế hoạch số 1228/KH-BQP, ngày 25/4/2022 của Bộ Quốc phòng về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo, v.v.
Quán triệt sâu sắc mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm và nhiệm vụ về tổ chức Quân đội; trên cơ sở đó, tiếp tục xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, thường xuyên nêu cao cảnh giác cách mạng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân cho mọi cán bộ, chiến sĩ. Đặc biệt, các quân chủng, binh chủng, lực lượng được xác định tiến thẳng lên hiện đại phải thực sự nỗ lực rất cao để thực hiện đúng lộ trình hiện đại hóa, đảm bảo đồng bộ cả về tổ chức, con người, vũ khí, trang bị, phương thức và trình độ tác chiến cùng các mặt bảo đảm. Theo đó, từng cấp cần chủ động xây dựng kế hoạch tổng thể, phương pháp tiến hành chặt chẽ, khoa học, với lộ trình, bước đi cụ thể, điều chỉnh tăng, giảm tổ chức, quân số của từng lực lượng phù hợp với đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị, truyền thống Quân đội, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Tập trung xây dựng, điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, có cơ cấu và quân số hợp lý, cân đối giữa các thành phần, lực lượng. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển, bảo đảm Quân đội có đủ khả năng làm nòng cốt cùng toàn dân hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.
Hai là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh tiêu biểu. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng gắn với thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh tiêu biểu cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; lấy vững mạnh về chính trị và chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ” làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu. Bất luận trong điều kiện hoàn cảnh nào, Quân đội cũng luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.
Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, tính tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn quân. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng, lập trường tư tưởng kiên định, vững vàng, xác định rõ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, nhận thức sâu sắc tình hình nhiệm vụ, thấy được hết thuận lợi, khó khăn, quyết tâm hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhiệm vụ của Quân đội và đơn vị; xác định rõ “đối tác”, “đối tượng”; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Tích cực, chủ động đi đầu trong củng cố, giữ vững “trận địa tư tưởng” của Đảng trong Quân đội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW; Chỉ thị số 87-CT/QUTW, ngày 08/7/2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Chỉ thị số 855-CT/QUTW, ngày 12/8/2019 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, v.v.
Ba là, quyết liệt điều chỉnh tổ chức, biên chế, trang bị của từng cơ quan, đơn vị phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và vũ khí, trang bị mới. Các cấp chủ động làm tốt việc rà soát, điều chỉnh, kiện toàn tổ chức, biên chế, trang bị với điều chỉnh thế bố trí lực lượng, bổ sung nhiệm vụ, xây dựng thế trận quốc phòng, quân sự vững chắc, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trước hết, các quân đoàn sẽ được tổ chức lại theo hướng “tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại”, hình thành lực lượng cơ động chiến lược mạnh hơn, có vai trò đặc biệt quan trọng trong tác chiến phòng thủ bảo vệ Tổ quốc. Đối với khối cơ quan cấp chiến dịch, chiến lược, tập trung rà soát, điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng giảm đầu mối trung gian và quân số phục vụ, bảo đảm; tăng cường quân số cho các đơn vị thành lập mới, đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, đơn vị đóng quân trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm, biên giới, biển, đảo. Đối với khối đơn vị chiến đấu, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị để điều chỉnh tổ chức theo hướng tăng cường sức mạnh chiến đấu, khả năng cơ động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Từng cấp chủ động xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chặt chẽ, khoa học, với lộ trình, bước đi phù hợp, điều chỉnh tăng, giảm tổ chức, quân số của từng khối phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị, giữ vững và phát huy truyền thống Quân đội, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Tiếp tục tổ chức một số lực lượng dự bị chiến lược; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, trên các vùng, miền, trên biển, bảo đảm Quân đội có đủ khả năng làm nòng cốt cùng toàn dân hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Quá trình rà soát, điều chỉnh phải bảo đảm toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ của từng loại hình cơ quan, đơn vị và lực lượng, tạo sự thống nhất cao về nhận thức, trách nhiệm và hành động trong quá trình thực hiện; chống các biểu hiện tiêu cực, chủ quan, nóng vội, hoặc trông chờ, thiếu quyết liệt trong tổ chức thực hiện.
Bốn là, gắn việc điều chỉnh tổ chức lực lượng với duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, diễn tập, giáo dục và đào tạo. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần kết hợp chặt chẽ giữa điều chỉnh tổ chức lực lượng, thế bố trí với duy trì nghiêm nền nếp chế độ sẵn sàng chiến đấu; thường xuyên điều chỉnh, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống văn kiện sẵn sàng chiến đấu và tổ chức luyện tập, diễn tập theo các phương án tác chiến đã xác định. Phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới, Kết luận số 64-KL/TW, ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW và Nghị định số 21/2019/NĐ-CP, ngày 22/02/2019 của Chính phủ về khu vực phòng thủ. Tăng cường các biện pháp quản lý chặt chẽ biên giới, nội địa, vùng trời, vùng biển, đảo cũng như chủ quyền không gian mạng của Tổ quốc, chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hiệu quả các tình huống xảy ra, không để bị động, bất ngờ. Chuẩn bị tốt lực lượng, phương tiện, phương án để thực hiện “nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình”: Tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, sự cố môi trường, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn,… là lực lượng nòng cốt, ứng trực, xử lý kịp thời, thắng lợi các tình huống.
Toàn quân tiếp tục đẩy mạnh đột phá đổi mới nâng cao chất lượng huấn luyện theo Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW, ngày 20/12/2022 của Quân ủy Trung ương về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023 - 2030 và những năm tiếp theo. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, phương châm, mối kết hợp và yêu cầu, giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện, nhất là huấn luyện đêm, huấn luyện làm chủ vũ khí, khí tài mới, hiện đại; kết hợp chặt chẽ huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị và rèn luyện thể lực của bộ đội, nâng cao bản lĩnh, ý chí, quyết tâm và khả năng cơ động trong mọi điều kiện, hoàn cảnh; tổ chức huấn luyện, diễn tập ở các cấp bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả, an toàn, sát thực tiễn. Tiếp tục xây dựng nhân tố con người, trực tiếp là nguồn nhân lực chất lượng cao cả về số lượng và cơ cấu theo lộ trình hiện đại hóa vũ khí, trang bị của các quân chủng, binh chủng, lực lượng, bảo đảm nhu cầu sử dụng cả trước mắt và lâu dài.
Trên cơ sở quán triệt Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW, ngày 20/12/2022 của Quân ủy Trung ương về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới, tập trung đầu tư xây dựng một số học viện, nhà trường theo mô hình “Nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”; nâng cao chất lượng công tác bảo đảm huấn luyện đáp ứng yêu cầu “khoa học - hiệu quả - kịp thời”, phù hợp với tổ chức biên chế, vũ khí, trang bị và cách đánh, sát thực tế chiến đấu, với phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, biên soạn, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống giáo trình, tài liệu huấn luyện, đảm bảo phù hợp với từng đối tượng, cấp học, bậc học.
Năm là, tiếp tục xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng đạt trình độ tiên tiến, hiện đại. Quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 26/01/2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo; tiếp tục xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, đạt trình độ khoa học công nghệ tiên tiến; có quy mô, tổ chức, cơ chế quản lý và hoạt động phù hợp, bảo đảm tập trung, thống nhất về quản lý nhà nước; phát huy được vai trò, trách nhiệm và sự tham gia tích cực, hiệu quả của các thành phần kinh tế, góp phần nâng cao tiềm lực, sức mạnh quân sự, quốc phòng của đất nước. Chủ động rà soát, cơ cấu lại các nhà máy theo nhiệm vụ, ngành nghề và vùng, miền, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tăng cường đầu tư vốn và công nghệ cho hoạt động nghiên cứu chế tạo, cải tiến vũ khí, khí tài, trang bị kỹ thuật theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiện đại, công nghệ cao.
Xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, làm nền tảng để tiến lên hiện đại là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta; đồng thời, là mục tiêu, nhiệm vụ trọng yếu, hết sức nặng nề đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị trong tình hình mới. Vì vậy, hơn lúc nào hết, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ toàn quân cần nắm vững quan điểm, chủ trương của Đảng, tiếp tục nỗ lực phấn đấu, đoàn kết tốt, kỷ luật nghiêm, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
ST

"...GIÁO CŨNG NHƯ LƯƠNG, ĐOÀN KẾT KHÁNG CHIẾN ĐỂ TỔ QUỐC ĐƯỢC ĐỘC LẬP, TÔN GIÁO ĐƯỢC TỰ DO"

 

“…Chúng ta toàn dân, giáo cũng như lương, đoàn kết kháng chiến để Tổ quốc được độc lập, tôn giáo được tự do”. Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi đồng bào công giáo nhân dịp Lễ Noel năm 1947.
Đây là thời điểm diễn ra Chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông năm 1947, thực dân Pháp tiến hành kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh”, mở cuộc hành quân Xanh-tuya càn quét vùng tứ giác Tuyên Quang - Thái Nguyên - Phủ Lạng Thương - Việt Trì, nhằm tiêu diệt đầu não kháng chiến của Việt Minh, để hoàn tất việc tái chiếm Đông Dương. Nhưng chúng đã bị các lực lượng của ta, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh bại, buộc Pháp phải rơi vào bẫy “đánh lâu, thắng lâu”, kéo căng lực lượng do Việt Minh đã giăng sẵn và cuối cùng là thất bại hoàn toàn vào ngày 7-5-1954 tại Điện Biên Phủ.
Dù ở nơi chiến khu rừng núi xa xôi, đường sá cách trở, dù phải đối mặt với bao hiểm nguy của cuộc càn quét, tấn công tổng lực của thực dân Pháp, dù bận trăm công nghìn việc của Chính phủ lâm thời... nhưng trước sự kiện trong đại của đồng bào công giáo, Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian để viết thư chúc mừng và động viên. Trong thư, Bác Hồ đã nhắn nhủ đồng bào ta, dù giáo cũng như lương phải đoàn kết để kháng chiến chống lại thực dân xâm lược, bảo vệ độc lập của Tổ quốc và tự do cho các tôn giáo.
Đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng, nhất quán trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta; là truyền thống tốt đẹp ngàn đời của dân tộc ta. Đã là người Việt Nam, dù theo tôn giáo, tín ngưỡng hay không theo tôn giáo, tín ngưỡng nào cũng có chung một dân tộc, đều là con cháu của dòng dõi Lạc Hồng.
Thực hiện chức năng đội quân công tác, các đơn vị quân đội luôn quán triệt sâu sắc và tích cực vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo; sống tốt đời, đẹp đạo, đồng hành cùng dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tôn giáo, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết lương, giáo và truyền bá các tà đạo trái phép; giữ vững và tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt quân-dân./.
ST

CẨM NANG VÔ GIÁ CỦA CÔNG CUỘC XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC

 Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng và là lãnh tụ đặc biệt coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức. Khi định nghĩa “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, Người đã đặt đạo đức lên hàng đầu và coi đạo đức là đặc trưng bản chất của Đảng.

Từ khi xã hội loài người hình thành thì đạo đức xã hội đã xuất hiện nhưng đạo đức mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng là đạo đức mới-đạo đức cách mạng, tức là đạo đức của người cách mạng và đạo đức để phụng sự cách mạng. Với quan niệm “mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”, Hồ Chí Minh đề cập đến vấn đề này trong rất nhiều bài viết và có riêng hai bài viết đều mang tên “Đạo đức cách mạng” (tháng 6-1955 và tháng 12-1958).
Tuy nhiên, tác phẩm “Đạo đức cách mạng” được Người viết dưới bút danh Trần Lực và in lần đầu trên Tạp chí Học tập (nay là Tạp chí Cộng sản) cách đây tròn 65 năm, là tác phẩm tập trung đầy đủ nhất những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng.
Vào thời điểm năm 1958, miền Bắc đang trong giai đoạn cải tạo xã hội chủ nghĩa để chuẩn bị bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội; sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà đang bị Mỹ- Diệm ra sức phá hoại. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng miền Nam-những nhiệm vụ cách mạng vô cùng hệ trọng, liên quan đến sự sống còn của cả dân tộc vào thời điểm đó đều phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thách thức. Tình hình đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải phát huy tinh thần hy sinh, gương mẫu, giữ vững đạo đức cách mạng.
Tuy nhiên, một số cán bộ, đảng viên “lầm tưởng rằng miền Bắc không còn thực dân và phong kiến nữa, thì tức là cách mạng thành công rồi. Do đó mà họ để chủ nghĩa cá nhân chớm nở, họ yêu cầu hưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi”, “không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó cho họ”. Những biểu hiện, diễn biến đó nếu không ngăn chặn sẽ làm Đảng suy yếu, làm nhân dân mất lòng tin vào Đảng và chế độ. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng” để mỗi tổ chức đảng và đảng viên nhìn nhận, soi xét, sửa mình, tu dưỡng, phấn đấu sao cho xứng đáng với tư cách của người cách mạng.
Là người có tư duy hệ thống, Hồ Chí Minh bàn về đạo đức cách mạng một cách rất toàn diện.
Trước hết, Người nhấn mạnh tầm quan trọng của đạo đức cách mạng. Với sự trải nghiệm của một nhà cách mạng lão luyện, Người khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.
Đạo đức cách mạng giúp cho người đảng viên đúng mực trong mọi hoàn cảnh, thắng không kiêu, bại không nản; gặp những thử thách khốc liệt của hoàn cảnh thì sẵn sàng hy sinh thân mình để giữ trọn lòng trung thành với Đảng, với nhân dân và Tổ quốc. Lịch sử của Đảng đầy vinh quang và Đảng thu phục được lòng dân là nhờ có những chiến sĩ cách mạng như thế.
Tuy nhiên, trong mỗi con người, đạo đức cách mạng và chủ nghĩa cá nhân luôn song hành tồn tại; cái nào yếu thì cái đối lập sẽ thắng thế. Nếu đảng viên không giữ được đạo đức cách mạng thì chủ nghĩa cá nhân “sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng” và thải loại người cách mạng khỏi vị trí cao quý của người chiến sĩ tiên phong.
Sự suy thoái không có điểm dừng; khi không còn nhiệt huyết đi đầu, tất yếu họ trở thành những người lừng chừng, chậm tiến và “dần dần họ xa rời Đảng, thậm chí phá hoại chính sách và kỷ luật của Đảng”, trở thành kẻ phản bội lại tổ chức. Ngay cả khi vẫn đi theo Đảng, nếu người cán bộ không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân, bởi nhân dân chỉ tin yêu những người có đạo đức thực sự và đủ sự tinh tường để nhận ra ai có đạo đức thực sự. Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, đạo đức của mỗi cá nhân không còn là “tư đức” mà là vấn đề “công đức” bởi gắn với đó là uy tín của chính thể, lòng tin của dân.
Với tư duy khoa học, Hồ Chí Minh quan niệm: “Ta xây dựng con người cũng phải có ý định rõ ràng như nhà kiến trúc”, tức là phải có định hướng rõ ràng về tiêu chí, chuẩn mực. Chuẩn mực đạo đức cách mạng của đảng viên thực chất là các giá trị đạo đức cộng sản đã được cụ thể hóa vào Việt Nam và trở thành cái để phân biệt người đảng viên với đông đảo quần chúng.
Việc xác định các chuẩn mực đạo đức cách mạng là vấn đề đặc biệt quan trọng bởi đó chính là hình mẫu con người đại diện cho lý tưởng cộng sản, cho chế độ tốt đẹp mà Đảng, Nhà nước đang xây dựng. Để cán bộ, đảng viên có phương hướng phấn đấu, Hồ Chí Minh chỉ ra các biểu hiện cơ bản của đạo đức cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng không phải là “sáo ngữ” mà là những hành động rất cụ thể: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”-đây là điều chủ chốt nhất; là “ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng”; là “đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.
Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”; là “ra sức học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”. Đạo đức cách mạng còn là hòa mình với quần chúng, tin quần chúng, hiểu quần chúng, làm gương cho quần chúng và làm cho quần chúng tin yêu.
Nói một cách ngắn gọn nhất: “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”, là không cúi đầu trước mọi kẻ địch, mọi khó khăn, gian khổ; hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao; toàn tâm, toàn ý phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Đạo đức cách mạng của từng đảng viên làm nên đạo đức của toàn Đảng và uy tín của Đảng trước dân tộc.
Nếu trí tuệ con người ít nhiều có yếu tố bẩm sinh thì đạo đức là một sự lựa chọn giá trị sống. Sự tu dưỡng đạo đức cách mạng hoàn toàn không dễ dàng; ngược lại, quá trình ấy không khác gì “gạo đem vào giã bao đau đớn”. Để giúp các tổ chức đảng và đảng viên có phương hướng thực hiện, Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn ra hệ thống giải pháp nhằm nâng cao đạo đức cách mạng.
Muốn giữ vững đạo đức cách mạng, mỗi tổ chức, mỗi đảng viên phải kiên trì tự giác đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân-thứ “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, thứ căn bệnh “mẹ” đẻ ra “trăm thứ bệnh nguy hiểm”. Hồ Chí Minh kết luận: “Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”. Tuy nhiên, Người luôn nhắc nhở: Chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là “giày xéo” lên cá nhân; ngược lại, phải tạo điều kiện để mỗi con người phát huy hết đặc tính, năng lực của mình và cống hiến nhiều hơn cho cách mạng.
Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng ta sở dĩ tồn tại và phát triển ngày càng mạnh mẽ là do “khéo dùng cái vũ khí sắc bén phê bình và tự phê bình”, đặc biệt là sự phê bình của quần chúng bởi chỉ có quần chúng mới biết rõ, người cán bộ có hành động vì lợi ích của họ hay không. Hồ Chí Minh nói rõ, phê bình và tự phê bình là làm cho “phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi” để giúp người khác tránh được khuyết điểm tương tự và để Đảng đi đến sự thống nhất, đoàn kết hơn nữa.
Ngược lại, những ai chỉ muốn “phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh những cán bộ ngoài Đảng” thì nhất định sẽ rơi vào tình trạng lạc hậu, thoái bộ và bị quần chúng bỏ rơi.
Tu dưỡng đạo đức suốt đời là giải pháp trọng yếu của người cách mạng bởi, một việc tốt, một ngày tốt không làm nên một đời tốt nhưng một đời tốt lại dễ dàng bị hủy hoại bởi một việc xấu, một ngày xấu nếu cái xấu ở mức độ trầm trọng. Hồ Chí Minh đúc kết chân lý: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.
Không ai có thể không khổ luyện mà thành tài; càng không ai có thể không rèn đức mà đức sáng. Nghị lực và ý thức tự giác tu dưỡng đạo đức suốt đời vừa là giải pháp thực thi đạo đức cách mạng, vừa là biểu hiện của đạo đức cách mạng bởi người tốt thực sự sẽ không bao giờ thấy cái tốt của mình là đã đủ để không cần tu dưỡng nữa.
Tác phẩm “Đạo đức cách mạng” thực sự là một “đại tổng kết” về đạo đức cách mạng. Chăm lo cái gốc đạo đức của Đảng là chủ thuyết sâu sắc của Hồ Chí Minh. Vì thế, nhà sử học Trần Văn Giàu từng đúc kết rằng: “Quả có một đạo đức học Hồ Chí Minh”. Với dung lượng 12 trang-đủ để làm một tài liệu học tập trong Đảng, tác phẩm “Đạo đức cách mạng” chứa đựng tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng một Đảng chân chính cách mạng trong điều kiện cầm quyền.
Cảnh báo của Người về sự nguy hại của chủ nghĩa cá nhân, về tình trạng “tự tha hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên từ 65 năm trước, nay đang là những nguy cơ rất lớn trong Đảng. Nếu “một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ” như lời Lênin thì mỗi đảng viên, mỗi tổ chức đảng phải biết tự bảo vệ mình trước sự tha hóa của chính mình.
Đất nước đang bước vào thời kỳ phát triển mới. Trọng trách trước Đảng, trước nhân dân đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ vị trí lãnh đạo phải giữ gìn đạo đức cách mạng như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Bất kể ai, ở vị trí nào, nếu không rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng mà trở nên kiêu ngạo, tự tôn, tự tác, coi mình cao hơn tổ chức thì “cái chết về chính trị” là điều khó thoát, khó tránh. Với trách nhiệm của người sáng lập và rèn luyện Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao truyền lại cho Đảng “vũ khí” hữu hiệu để xây dựng Đảng “từ gốc”.
Mỗi tổ chức đảng, mỗi cá nhân đảng viên phải thực sự “mở lòng” đón nhận từ Người những thông điệp đạo đức cao cả để “giữ mắt cho trong, giữ lòng cho sáng” nhằm đưa dân tộc tiến bước cùng thời đại./.
ST

BỘ ĐỘI CỤ HỒ - MỘT BIỂU TRƯNG VĂN HÓA

 Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ cũng là chuẩn mực, truyền thống của Quân đội được thể hiện trong lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

“Mãi mãi là sao sáng dẫn đường”
Ngược thời gian, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân-tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay-được thành lập theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Gần 80 năm trôi qua nhưng ngắm bức ảnh tư liệu Ngày thành lập Đội vẫn thấy không phôi pha thần thái ngời ánh thép của những chiến sĩ cách mạng anh dũng, kiên cường. Đội quân cách mạng ấy đã nhanh chóng trưởng thành, tiến kịp thời đại, trở thành hình tượng thời đại, hiện lên trong tư thế mới, tạo tác nên “dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ”.
Luận về văn hóa quân sự, văn hóa Bộ đội Cụ Hồ, văn học-nghệ thuật Việt Nam gần 80 năm qua đã tạo tác những tượng đài nghệ thuật bất hủ về Bộ đội Cụ Hồ, như trong “Tây Tiến” của Quang Dũng, “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân, “Bài ca chim chrao” của Thu Bồn, “Sư đoàn” của Nguyễn Đức Mậu...
Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ cũng là chuẩn mực, truyền thống của Quân đội được thể hiện trong lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Khi đất nước giặc giã: “Người lính già tóc bạc/ Kể mãi chuyện Nguyên Phong” (thơ Trần Nhân Tông). Phẩm chất, bản lĩnh của người chiến sĩ trong chiến tranh, với những hy sinh, gian khó đã góp phần làm nên thắng lợi cuối cùng của cuộc cách mạng. Điều đó sẽ không cần bàn thêm, bởi thực tiễn lịch sử đã là minh chứng thuyết phục nhất. Quân đội nhân dân Việt Nam còn là một đội quân văn hóa trong ý nghĩa sâu xa nhất của thực tiễn hình thành, xây dựng và phát triển gần 80 năm qua. Quân đội cũng thực sự là môi trường văn hóa thúc đẩy, giúp ươm mầm nhiều tài năng, mà trong đó, người chiến sĩ là nguồn cảm hứng bất tận để cho ra đời những tác phẩm văn học-nghệ thuật chất lượng, khắc họa nên những biểu trưng văn hóa của thời đại.
Chỉ riêng trong lĩnh vực văn học, sách “Nhà văn Việt Nam hiện đại” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, năm 2020) ghi nhận có 1.623 nhà văn, trong đó có gần 400 nhà văn-chiến sĩ thuộc các thế hệ nhà văn chống Pháp, chống Mỹ, kể cả hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, nhiều nhà văn-chiến sĩ đã ngã xuống trên chiến trường, tên được khắc trên bảng vàng lịch sử dân tộc, như: Trần Đăng, Thâm Tâm, Thôi Hữu, Hoàng Lộc, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân, Lê Vĩnh Hòa, Chu Cẩm Phong, Nguyễn Trọng Định, Bùi Nguyên Khiết, Vũ Đình Văn... Trong số 47 nhà văn vinh dự nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật trên cả nước, có gần 1/3 là nhà văn-chiến sĩ: Chính Hữu, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thi, Phan Tứ, Thu Bồn, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Hồ Phương, Đỗ Chu, Lê Văn Thảo, Xuân Thiều, Hữu Mai, Xuân Đức... Trên đây chỉ là một trong rất nhiều “con số biết nói” khi nhắc tới lực lượng nhà văn Quân đội mà thôi.
Nhân vật trung tâm thời đại
Tôi từng bị hấp dẫn bởi cuốn tiểu thuyết nhan đề “Mạnh hơn nguyên tử” của một nhà văn Xô viết, một tác phẩm gợi mở cho chúng ta thông điệp có tính triết học-văn hóa-nhân sinh-nhân văn hữu ích. Trong đó, nhà văn đã dùng phép “khuếch đại thẩm mỹ” để viết nên tác phẩm văn chương thú vị. Hình ảnh những chiến sĩ Hồng quân Liên Xô làm chủ các phương tiện kỹ thuật chiến tranh hiện đại khiến thế hệ chúng tôi “tâm phục khẩu phục” về một quân đội anh em hùng mạnh. Giờ đây, chúng ta sẽ không cần tưởng tượng qua tiểu thuyết nữa khi được chứng kiến chính Quân đội ta đang từng bước lớn mạnh, phát triển theo phương châm tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó, ngoài yếu tố chuyên môn kỹ thuật, huấn luyện, thì văn hóa quân sự, văn hóa Bộ đội Cụ Hồ vẫn là yếu tố gốc, xuyên suốt, được mỗi người lính không ngừng bồi đắp và phát huy.
Có người đặt câu hỏi: “Bộ đội Cụ Hồ trong cơ chế thị trường sẽ thế nào?”. Tưởng khó hóa ra không khó trả lời. Vì, trước hết, anh là con người bình thường, bằng xương bằng thịt nên nói như C.Mác: “Tất cả những gì gần gũi với con người đều không xa lạ với tôi”. Tuy nhiên, Bộ đội Cụ Hồ hôm nay được tiếp nối, bồi đắp những giá trị để hội tụ trong mình các phẩm chất tuyệt vời của truyền thống dân tộc và Quân đội, bản sắc văn hóa quân sự và tinh thần, tố chất, sắc màu thời đại, bản lĩnh, trí tuệ, làm chủ khoa học kỹ thuật tối tân.
Trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới” đã khái quát 5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới. Trong đó nhấn mạnh tới nhiều yếu tố, mà trước hết là tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; về đạo đức cách mạng; huấn luyện, học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ mọi mặt và đấu tranh chống biểu hiện tiêu cực; tinh thần đoàn kết tập thể, gắn bó máu thịt với nhân dân; tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, dám đương đầu với khó khăn, thử thách...
Những đặc trưng cơ bản được khái quát đã làm sâu sắc hơn những phẩm chất vốn có của Bộ đội Cụ Hồ, đồng thời từ thực tiễn và yêu cầu cách mạng đúc rút nên những đặc trưng mới, có tính thời sự và cấp thiết, chẳng hạn như: “Tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”, “kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí”... Điều này cũng cho thấy, những đòi hỏi, yêu cầu ngày càng cao cũng như vị trí, vai trò của cán bộ, chiến sĩ trong tu dưỡng, rèn luyện và gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới-vấn đề được Đảng ta quan tâm.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã viết: “Con người ta phải biết sống như một người anh hùng và biết sống như một con người bình thường”. Đó cũng chính là hai mặt của một tờ giấy-bản lĩnh và nhân cách của con người chân chính nói chung, người chiến sĩ nói riêng. Anh có thể là một người anh hùng trong chiến trận, chiến thắng kẻ thù nơi chiến trường và trước sau vẫn là người dám đương đầu với những khó khăn, thử thách gay cấn nhất trong cuộc sống đương đại.
Nhiều người vẫn tranh luận sôi nổi và thú vị về “nhân vật trung tâm thời đại” trong văn học-nghệ thuật. Thiết nghĩ, nhân vật nào biểu trưng được các giá trị nhân cách, văn hóa Việt nam thì đó là điểm độc sáng, phát sáng của tấm gương nghệ thuật có khả năng phản chiếu xã hội đang đổi mới và phát triển dưới ánh sáng của “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Hình tượng người chiến sĩ với bản lĩnh, đức hy sinh đã là biểu trưng của con người văn hóa Việt Nam trong quá khứ. Bản lĩnh và nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới vẫn đang là chủ đề trung tâm của sáng tác văn học-nghệ thuật hiện tại và chắc chắn cả trong tương lai./.
St

BA NỘI DUNG TRỌNG TÂM GẮN VỚI THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG

 Thời gian qua, nhiều chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về ưu đãi đối với người có công với cách mạng đã được ban hành. Đối tượng hưởng chính sách ưu đãi được mở rộng, các chế độ ưu đãi người có công từng bước được bổ sung, hoàn thiện, thể hiện sự trân trọng, biết ơn, chăm lo của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Ưu đãi người có công với cách mạng là một chính sách đặc biệt của Đảng, Nhà nước nhằm tri ân, tôn vinh người có công với cách mạng. Đây là chính sách đặc thù gắn liền với quá trình đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là trách nhiệm, là tình cảm của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với những người đã không tiếc thân mình hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt 76 năm qua, nhất là trong hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng và tổ chức vận động toàn dân tích cực tham gia các phong trào "Đền ơn đáp nghĩa", "Toàn dân chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng".
Nhiều chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về ưu đãi đối với người có công đã được ban hành; đối tượng hưởng chính sách ưu đãi được mở rộng, các chế độ ưu đãi từng bước được bổ sung, hoàn thiện, thể hiện sự trân trọng, biết ơn, chăm lo của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong đó, có một số nội dung trọng tâm gắn với thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng dưới đây.
Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về ưu đãi người có công
Theo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, chính sách, pháp luật về ưu đãi người có công tiếp tục được hoàn thiện để chăm sóc toàn diện người có công với cách mạng
Kể từ Sắc lệnh số 20/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 16/2/1947 về “chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”, ưu đãi người có công với cách mạng là nguyên tắc Hiến định, được thể hiện xuyên suốt trong các bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và hiện nay là Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 19/7/2017 của Ban Bí thư về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng, tính từ năm 1994 đến năm 2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành 10 văn bản và Pháp lệnh; Chính phủ đã ban hành 19 nghị định, Thủ tướng Chính phủ ban hành 4 quyết định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng.
Đến nay, tại Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 Ưu đãi người có công với cách mạng; Nghị định số 131/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, Nghị định số 55/2023/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2021/NĐ-CP quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, các chính sách ưu đãi người có công với cách mạng đã ngày càng phù hợp yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt đã chuẩn hóa các điều kiện, tiêu chuẩn xem xét, công nhận người có công với cách mạng theo đúng nguyên tắc chặt chẽ, thật sự xứng đáng, tôn vinh đúng đối tượng.
Mới đây nhất, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 55/2023 ngày 21/7/2023 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2021/NĐ-CP quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng.
Theo đó, văn bản đã điều chỉnh nâng mức chuẩn trợ cấp ưu đãi tăng từ 1.624.000 đồng lên 2.055.000 đồng, tăng 26,54%, với ngân sách bảo đảm khoảng 33 nghìn tỷ đồng. Chính sách này được thực hiện từ ngày 1/7/2023.
Ưu tiên hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở
Cũng theo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, cùng với việc thực hiện đồng bộ, toàn diện các chính sách ưu đãi khác đối với người có công với cách mạng như: hỗ trợ y tế, giáo dục, trang cấp dụng cụ chỉnh hình, phục hồi chức năng, tạo việc làm, miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất, vay vốn kinh doanh và miễn hoặc giảm thuế…, ưu tiên thực hiện chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở đã góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao đời sống người có công với cách mạng.
Sau 10 năm thực hiện Đề án hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ, cả nước đã thực hiện việc hỗ trợ cải thiện nhà ở đối với 393.707 hộ (gồm 184.695 hộ xây mới và 209.012 hộ sửa chữa) với kinh phí khoảng 10.654 tỷ đồng.
Hiện nay, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đang phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các địa phương trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định về mức hỗ trợ xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở đối với người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ và tỷ lệ phân bổ vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, tỷ lệ đối ứng vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương giai đoạn 2023-2025.
Theo đó, mức hỗ trợ cải tạo, sửa chữa nhà ở cho người có công dự kiến là 30 triệu đồng, mức hỗ trợ xây mới dự kiến là 60 triệu đồng.
Nâng cao chất lượng các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cho biết, sẽ tiếp tục triển khai nhiều giải pháp nâng cao chất lượng các cơ sở nuôi dưỡng điều dưỡng để chăm sóc toàn diện người có công với cách mạng.
Nhằm nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1007/QĐ-TTg ngày 30/8/2023 phê duyệt Quy hoạch hệ thống cơ sở xã hội nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (sau đây gọi tắt là Quy hoạch).
Mục tiêu của Quy hoạch này nhằm hình thành hệ thống cơ sở có đủ quy mô, năng lực đáp ứng yêu cầu nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công; bảo đảm người có công được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc toàn diện cả về thể chất và tinh thần.
Một trong những quan điểm được nhấn mạnh trong Quy hoạch là bảo đảm phù hợp khả năng đầu tư của Nhà nước và khả năng huy động nguồn lực xã hội; bảo đảm linh hoạt trong chuyển đổi mô hình, chức năng của các cơ sở xã hội nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng phù hợp tình hình, nhu cầu thực tế của các vùng, địa phương.
Đồng thời, Quy hoạch theo hướng mở và linh hoạt. Tùy thuộc vào tình hình, nhu cầu thực tế của các vùng, địa phương để xác định số lượng, quy mô của các cơ sở trên từng địa bàn bảo đảm phù hợp, đáp ứng tốt nhất nhu cầu nuôi dưỡng, điều dưỡng đối với người có công với cách mạng.
Về mục tiêu đến năm 2030, Quy hoạch trên cơ sở hiện trạng, bảo đảm phát triển hệ thống cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng phù hợp, đủ quy mô, năng lực, đáp ứng yêu cầu nuôi dưỡng, điều dưỡng, tạo thuận lợi để người có công được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc toàn diện về thể chất và tinh thần.
Quy hoạch là cơ sở để xây dựng lộ trình và triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn trên địa bàn cả nước thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về ưu đãi người có công bảo đảm khách quan, khoa học, minh bạch và hiệu quả.
Đến năm 2025, phát triển mới 5 cơ sở điều dưỡng người có công với cách mạng với quy mô khoảng 400 giường; xây dựng, nâng cấp 2 cơ sở điều dưỡng với quy mô khoảng 180 giường; đưa ra khỏi Quy hoạch một số cơ sở; sáp nhập, rà soát, điều chỉnh linh hoạt mô hình hoạt động của các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng phù hợp tình hình thực tế.
Đến năm 2030, phát triển mới 3 cơ sở điều dưỡng người có công với cách mạng với quy mô khoảng 240 giường; xây dựng, cải tạo, nâng cấp 4 cơ sở điều dưỡng với quy mô khoảng 400 giường; chuyển đổi linh hoạt mô hình hoạt động của các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng phù hợp tình hình thực tế.
Về tầm nhìn đến năm 2050, hệ thống cơ sở xã hội nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng được duy trì và đáp ứng ngày càng cao nhu cầu nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng. Từ đó, góp phần thực hiện chính sách đền ơn, đáp nghĩa, chăm lo đời sống người có công với cách mạng.
Định hướng phát triển cấu trúc hệ thống cơ sở xã hội nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, gồm 70 cơ sở công lập với quy mô khoảng 7.400 giường./.
ST

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU “QUÂN ĐỘI THAM GIA HOẠT ĐỘNG GÌN GIỮ HÒA BÌNH LIÊN HỢP QUỐC LÀ KHÔNG PHÙ HỢP”

 Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam cử lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Với trách nhiệm cao, việc làm thiết thực, các đơn vị Quân đội đã không ngừng tỏa sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, mang tới bạn bè, nhân dân thế giới hình ảnh rất đẹp về Việt Nam, giúp tăng cường đoàn kết, sự ủng hộ quốc tế đối với Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn những luận điệu xuyên tạc, hòng phủ nhận ý nghĩa của hoạt động cao cả này, cần đấu tranh bác bỏ.

Đối ngoại quốc phòng là một trong những chủ trương, nhiệm vụ quan trọng, trụ cột trong công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa. Thực hiện chủ trương này, từ tháng 6/2014, Quân đội nhân dân Việt Nam đã cử lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc với hình thức cá nhân và đơn vị tại các phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi (MINUSCA), Phái bộ UNISFA (khu vực Abyei) và trụ sở Liên hợp quốc (Hoa Kỳ), trên các lĩnh vực: tham mưu, y tế, công binh, v.v.
Hình ảnh những chiến sĩ “mũ nồi xanh” của Quân đội nhân dân Việt Nam tại các phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là đại diện cho trách nhiệm, tấm lòng của nhân dân Việt Nam, một dân tộc thấu hiểu hơn ai hết nỗi đau chiến tranh, muốn góp sức để gìn giữ hòa bình và cũng là thể hiện nghĩa tình, tri ân nhân loại tiến bộ trên thế giới dành cho Việt Nam trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây. Những đóng góp to lớn của lực lượng “mũ nồi xanh” Việt Nam được cộng đồng quốc tế, đặc biệt là nhân dân nước sở tại ghi nhận, đánh giá cao với tình cảm trân trọng đặc biệt đã góp phần tô thắm tinh thần quốc tế cao cả, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động lại ra sức xuyên tạc, hạ thấp vai trò lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Họ cho rằng: Quân đội tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là không phù hợp, không mang lại lợi ích gì cho đất nước; gây tốn kém ngân sách, rủi ro cho lực lượng vũ trang; thậm chí có kẻ còn lớn tiếng rằng, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình là tham gia liên minh quân sự, đi xâm lược nước khác, v.v. Cần khẳng định rằng, đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, xuyên tạc về hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Mục đích của những luận điệu đó là nhằm chống phá đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta; làm tổn thương hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, sai lệch bản chất và truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam, làm mất lòng tin, giảm uy tín của Việt Nam trong mắt cộng đồng quốc tế. Đồng thời, nó gây ra sự nghi ngờ, bất an và thiếu trách nhiệm đối với một số người dân, tác động không nhỏ tới tâm tư, tình cảm của gia đình, người thân các quân nhân tham gia hoạt động giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc.
Chúng ta biết, cả về lý luận và thực tiễn tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc của Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định, đây là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, với những minh chứng sau:
Việt Nam đã tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc một cách thận trọng và theo từng giai đoạn, dựa trên khả năng triển khai lực lượng, quản lý rủi ro và tiết kiệm tối đa chi phí trên cơ sở chủ trương, đường lối, chính sách được nghiên cứu, hoạch định và chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ. Về công tác chuẩn bị pháp lý, Việt Nam đã cử các đoàn công tác liên ngành tìm hiểu, khảo sát thực tế tại Liên hợp quốc và các cơ quan gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; từ đó, đề ra chủ trương, quy định pháp luật, làm cơ sở thực hiện. Điều 89, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “… Hội đồng quốc phòng và an ninh quyết định việc lực lượng vũ trang nhân dân tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở Việt Nam, khu vực và thế giới”; Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số 130/2020/QH14 về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại kỳ họp thứ 10. Đó là ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện truyền thống yêu chuộng hòa bình, trách nhiệm với thế giới. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã thành lập Tổ công tác liên ngành, Bộ Quốc phòng thành lập Ban Chỉ đạo; thành lập Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam (năm 2014) và nay là Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam để triển khai nhiệm vụ tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Như vậy, việc tham gia hoạt động này là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta; có lộ trình, kế hoạch cụ thể, phù hợp với lĩnh vực mà Việt Nam có đủ điều kiện, năng lực và nguồn lực để đảm bảo triển khai thành công. Bên cạnh đó, việc triển khai lực lượng gìn giữ hòa bình là thực thi theo Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đặt dưới sự chỉ huy, chỉ đạo của Liên hợp quốc, các quốc gia thành viên phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đóng góp cho hoạt động gìn giữ hòa bình, được Liên hợp quốc bảo đảm, hỗ trợ và có sự hỗ trợ của quốc tế, đã góp phần giảm đáng kể việc chi ngân sách Nhà nước cho hoạt động này. Do vậy, luận điệu cho rằng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc gây tốn kém ngân sách, gây rủi ro cho lực lượng vũ trang là hoàn toàn lạc lõng, sai trái.
Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam là một thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, do đó việc tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình, nhân đạo và duy trì an ninh quốc tế theo chương trình của Liên hợp quốc là khẳng định nghĩa vụ và trách nhiệm quốc tế cao cả của Việt Nam. Các lực lượng của Việt Nam tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc chỉ tập trung vào các hoạt động vì mục đích hòa bình, nhân đạo và tái thiết, góp phần xây dựng hòa bình ở các quốc gia, khu vực, như: Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi (MINUSCA), Phái bộ UNISFA (khu vực Abyei) đang gặp rất nhiều khó khăn do nội chiến và nạn đói triền miên. Việc này không chỉ là một nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam, mà là một trong những minh chứng cam kết thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ quốc tế của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Mặt khác, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc cũng góp phần nâng cao khả năng ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống; nâng cao hình ảnh, vị thế, tạo sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với Quân đội, đất nước và nhân dân Việt Nam. Vì vậy, luận điệu cho rằng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc chỉ là “vác tù và hàng tổng, việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng” là cách tiếp cận thiên kiến, phiến diện, không đúng sự thật, chỉ với dụng ý xấu mà thôi.
Việt Nam luôn nhất quán tuân thủ đường lối, chính sách đối ngoại: không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác và luôn tôn trọng nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, như đã được ghi trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019: “Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”. Việt Nam đã từng là nạn nhân của chiến tranh xâm lược và hiểu rõ những hậu quả và đau thương của chiến tranh. Do đó, Việt Nam luôn đề cao giá trị hòa bình, tuân thủ các nguyên tắc quốc tế; những hoạt động của các chiến sĩ “mũ nồi xanh” Việt Nam thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc hoàn toàn phù hợp với các quy định của Liên hợp quốc, luật pháp Việt Nam và không có mục đích gì khác.
Thực tế đã minh chứng, từ khi chính thức tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam đã đóng góp tích cực và hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Một trong những đóng góp quan trọng nhất của Quân đội ta trong hoạt động này là tham gia tích cực vào các nhiệm vụ tái thiết, duy trì hòa bình và hỗ trợ nhân đạo. Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi các đơn vị: bệnh viện dã chiến, đội công binh đến tham gia vào các nhiệm vụ khắc phục hậu quả xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình của Liên hợp quốc tại nhiều khu vực ở Châu Phi còn nhiều khó khăn, bất ổn. Các đơn vị y tế của Quân đội nhân dân Việt Nam đã thực hiện nhiều chương trình y tế nhân đạo, cứu trợ thiên tai, cứu hộ, hỗ trợ người dân vùng nông thôn nghèo khó và các trẻ em mồ côi, tàn tật; đồng thời, tham gia vào các dự án phát triển cộng đồng cho nhân dân bản địa, giúp giảm bớt nghèo đói, cải thiện điều kiện sống và góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, bình đẳng và công bằng. Sự đóng góp của những chiến sĩ “mũ nồi xanh” Quân đội nhân dân Việt Nam được Liên hợp quốc ghi nhận, đánh giá cao, “là hình mẫu” cho nhiều nước khác. Tỷ lệ sĩ quan Việt Nam đạt xuất sắc và đặc biệt xuất sắc là trên 30%, trong khi đó tỷ lệ bình quân của Liên hợp quốc chỉ là 01% - 02%. Phó Tổng thư ký Liên hợp quốc phụ trách các hoạt động hòa bình - Jean Pierre Lacroix đã phát biểu: “Những hoạt động Việt Nam tiến hành gần đây nhằm củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động gìn giữ hòa bình rất đáng làm hình mẫu cho nhiều nước khác bởi Việt Nam đã tích cực hợp tác với các đối tác liên quan để đào tạo quân sự; đồng thời, tìm ra những phương thức tốt hơn để có thể đảm bảo hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình của mình đạt hiệu quả tốt nhất”. Tại phái bộ MINUSCA, Trung tướng Daniel Traore, Chỉ huy trưởng lực lượng quân sự Phái bộ khi trao tặng giấy khen cho Trung tá Nguyễn Thị Liên đã nói: “Lòng nhân từ, bác ái và thiện chí của cô thể hiện những giá trị cốt lõi của Liên hợp quốc. Cô xứng đáng là Đại sứ tuyệt vời của Việt Nam”. Sự thực trên bác bỏ mọi luận điệu sai trái, phản khoa học, không có căn cứ của các thế lực thù địch, nhằm cố tình hạ thấp uy tín của Quân đội, xuyên tạc đường lối đối ngoại quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta.
Trong tình hình quốc tế hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia lực lượng giữ gìn hòa bình Liên hợp quốc không chỉ thúc đẩy, tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam với các nước, mà còn đóng góp hiệu quả, thiết thực cho hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước; khẳng định một Việt Nam có trách nhiệm, nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình và có ý thức về nghĩa vụ cao cả, khát vọng của mọi người dân trên toàn thế giới được sống trong hòa bình, ổn định, an toàn và thịnh vượng. Đồng thời, là cách để chúng ta phản bác lại các quan điểm sai lệch hoặc cố tình “bóp méo” đường lối, chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước cũng như chính sách quốc phòng của Việt Nam./.
ST