Thứ Tư, 27 tháng 12, 2023

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

 Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” là công trình khoa học thể hiện sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong triết học Mác - Lênin. Bài viết phân tích việc Đảng ta vận dụng nghiêm túc và sáng tạo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của học thuyết Mác - Lênin trong xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thể hiện cô đọng trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

 

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Ảnh minh họa: IT

1. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình C.Mác phân tích chủ nghĩa tư bàn và xây dựng nên chủ nghĩa xã hội khoa học

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được C.Mác đặt vấn đề một cách tổng quát trong Hệ tư tưởng Đức và được thể hiện phong phú trong nhiều vấn đề lý luận cũng như quá trình tổng kết thực tiễn cách mạng châu Âu sau năm 1848. C.Mác viết: “Sự sản xuất ra những ý niệm, những quan niệm và ý thức thì lúc đầu là trực tiếp gắn liền mật thiết với hoạt động vật chất và với sự giao tiếp vật chất của con người - ngôn ngữ của cuộc sống hiện thực”(1). Những khuynh hướng duy tâm trong nhận thức mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn được mô tả là: “Chính con người là kẻ sản xuất ra những quan niệm, ý niệm, v.v. của mình... Ý thức... không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức..., và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người”(2). Theo C.Mác, ý thức của con người nảy sinh và hình thành đồng thời với hoạt động của con người. Do vậy, những tư tưởng cách mạng hình thành trong các hoạt động cách mạng, những tư tưởng XHCN hình thành trong phong trào hiện thực xây dựng CNXH của đông đảo quần chúng nhân dân.

C.Mác cho rằng, đời sống xã hội là tổng thể những mối liên hệ phong phú, đa dạng, phức tạp của nhiều chủ thể xã hội. Xã hội công nghiệp hiện đại phát triển từ sự vận động của các chủ thể xã hội tạo nên. Tuy nhiên, trong các xã hội khác nhau, các chủ thể quyết định nhất đến sự phát triển của xã hội là khác nhau. Từ trong lòng chế độ phong kiến, khi người nông dân gia nhập hàng ngũ công nhân làm thuê cho CNTB là họ tham gia vào hình thành một cuộc sống xã hội mới, phát triển hơn. Với chiêu bài kêu gọi dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái, giai cấp tư sản thu hút được sự quan tâm của nông dân. Họ có được sự tự do hơn trong chế độ phong kiến. Nhưng, trên thực tế, khi gia nhập vào phương thức sản xuất TBCN, người công nhân rơi vào tình cảnh “tha hóa của lao động” trong CNTB. C.Mác phân tích bản chất, nguyên nhân, con đường và cách thức diễn ra sự tha hóa trong lao động của người công nhân trong thực tiễn của CNTB. Từ đây, ông bắt đầu hình thành lý luận CNXH khoa học.

Khi đặt nền tảng lý luận cho CNXH khoa học, C.Mác đã tổng kết sâu sắc phong trào công nhân. Năm 1880 (trước khi mất 3 năm), C.Mác đã xuất bản một bộ bảng hỏi với 101 câu hỏi về điều kiện làm việc, tiền lương, giờ làm, ảnh hưởng của chu kỳ thương mại, cũng như về các tổ chức bảo vệ công nhân, đình công, các hình thức đấu tranh khác và kết quả của chúng(3). Bảng hỏi này được xuất bản trên tờ Parisian Revue Sociale không phải để cung cấp số liệu cho cuộc điều tra xã hội học hay là số liệu cho thống kê kinh tế, mà là cách thức để C.Mác thông tin tới công nhân những vấn đề của họ, giúp họ có thể mô tả với đầy đủ kiến thức về những tệ nạn mà họ phải chịu đựng giống như “họ, và không phải bất kỳ vị cứu tinh nào, có thể cung cấp một cách mạnh mẽ các biện pháp khắc phục những căn bệnh xã hội mà họ phải gánh chịu”(4).

Trong CNXH khoa học, C.Mác xây dựng một tập hợp các khái niệm để hiểu rõ hơn về mâu thuẫn giữa lao động và tư bản. Ông nhắc rất nhiều lần rằng, lý thuyết của các ông là lý thuyết mở đối với phong trào của những người lao động. C.Mác nhận định: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”(5). C.Mác nhấn mạnh lý thuyết khoa học về CNCS chỉ có được khi phong trào cộng sản là có thật trong thực tế của CNTB. Bất cứ lý thuyết nào cũng phải hướng đến hiện thực hóa trong thực tế đời sống xã hội, qua đó nó được chính thực tiễn xã hội chứng minh. Trong bộ Tư bản, C.Mác đã phân tích CNTB, những yếu tố tạo động lực thúc đẩy CNTB phát triển, những mâu thuẫn mà CNTB không thể tự giải quyết trong khuôn khổ của hệ thống thể chế kinh tế và chính trị của nó.

2. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

C.Mác đã chỉ ra rằng, lý luận lấy thực tiễn làm mục tiêu, sự phát triển của thực tiễn chính là sự hiện thực hóa, biểu hiện trong thực tiễn sự phát triển của lý luận. Những mô hình thực tiễn thành công là sự hiện thực hóa sâu sắc những vấn đề lý luận. Trong tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, C.Mác cho rằng: “không thể nhận định về một thời đại đảo lộn như thế căn cứ vào ý thức của thời đại ấy. Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội(6). Vì vậy, khi Đảng bônsêvích Nga giành được chính quyền, bắt tay vào xây dựng mô hình Xôviết đã buộc V.I.Lênin phải nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề mà C.Mác đã đề cập như nhà nước, cách mạng, nền chuyên chính vô sản, phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng các quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất... Một loạt tác phẩm V.I.Lênin viết trong thời kỳ này đều thể hiện tinh thần này.

Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn cụ thể: “phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”(7). Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh có những ý rất quan trọng: Tổng kết lý luận để nhận thức chân giá trị khoa học trong lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; dùng kết quả của tổng kết lý luận đó làm công cụ định hướng cho tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của Đảng; dùng kết quả đó để định ra đường lối, phương châm... trong lãnh đạo của Đảng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng: “Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây”(8). Đây chính là sự thấm nhuần nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin và những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi vận dụng trong cách mạng Việt Nam.

 Một là, từ nắm bắt chân giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tổng kết thực tiễn cách mạng, Đảng ta nhận thức rõ hơn về mô hình và con đường xây dựng CNXH ở Việt Nam. Cụ thể như sau:

Nhận thức ngày càng rõ hơn những vấn đề và cách thức để xây dựng “một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(9).

Nhận thức rõ và sâu sắc hơn về sự kiên định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam: “Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa”(10).

Đảng đã ban hành nhiều chủ trương và Nhà nước ban hành những chính sách, pháp luật để chuyển đổi mô hình quản lý nhà nước về các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, phân phối mang nặng tính bình quân sang quan hệ hàng hóa, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, vừa phân phối theo lao động, theo vốn, hiệu quả kinh doanh, vừa theo hướng bảo đảm phúc lợi xã hội và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

Chuyển đổi mô hình quản lý kinh tế của Nhà nước với hai thành phần kinh tế là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể sang quản lý nhà nước về kinh tế với nhiều thành phần kinh tế, đa dạng hình thức sở hữu.

Chuyển đổi mô hình quản lý nhà nước về kinh tế thích ứng với hội nhập kinh tế quốc tế.

Ban hành những chủ trương xây dựng bộ máy nhà nước và ban hành pháp luật để dần hình thành Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, có nhiều những chủ trương, chính sách hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; mở rộng dân chủ cho nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội mà vẫn giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và quản lý của Nhà nước; xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội với những hình thức phong phú, đa dạng, hài hòa các lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân.

 Chính vì vậy, những khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chính là những định hướng lý luận cho tổng kết thực tiễn của Đảng ta: “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”(11). Đây chính là những định hướng rất quan trọng để Đảng và Nhà nước ban hành những chủ trương, chính sách mới nhằm xây dựng nền dân chủ XHCN.

Hai là, sẽ rất nguy hại nếu vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giáo điều về CNXH chi phối

Biểu hiện nghiêm trọng nhất của bệnh giáo điều về CNXH là việc đơn giản hóa những quy luật của sự vận động của lịch sử. Để lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, khái giản hóa lý luận sẽ giúp cho những nhà lãnh đạo, chỉ đạo nắm bắt được những điều căn bản nhất để có thể vận dụng vào thực tiễn. Tuy nhiên, khái giản hóa rất dễ vi phạm nguyên tắc khách quan, lệ thuộc vào yếu tố chủ quan của những nhà lãnh đạo mà bỏ qua những chứng cứ khoa học hay những dữ liệu thực tế.

 Quan điểm giáo điều về CNXH còn thể hiện ở nhận thức về con đường xây dựng CNXH là con đường thẳng, không thấy sự quanh co, phức tạp của quá trình phát triển. Phát triển cần nhiều yếu tố và quan trọng nhất là khai thác tối đa và hiệu quả những yếu tố đó vào phát triển bền vững. C.Mác nhận định rằng: lịch sử bắt đầu từ đâu thì tiến trình tư tưởng cũng cần được bắt đầu từ đó. Bằng suy luận lý thuyết, C.Mác nêu con đường quá độ trực tiếp từ một nước tư bản phát triển lên CNXH; nếu cách mạng vô sản thành công ở những nước tư bản phát triển, giai cấp vô sản chỉ cần xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất, xác lập chế độ công hữu tư liệu sản xuất và thay đổi nhà nước thì nước đó có thể xây dựng CNXH.

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất này là: xóa bỏ chế độ tư hữu”(12). Đây là dự báo của C.Mác từ thực tiễn ở nước TBCN phát triển hơn thời điểm đó. Chúng ta đã từng vận dụng máy móc luận điểm này vào điều kiện Việt Nam khác rất xa so với thực tiễn của những nước đã trải qua CNTB. Hệ quả là đất nước rơi vào tình trạng trì trệ, chậm phát triển, thậm chí có thời đoạn còn lâm vào khủng hoảng trầm trọng về kinh tế - xã hội.

Bệnh giáo điều về CNXH cũng thể hiện ở những mệnh đề lý luận khó vận dụng vào thực tiễn, khó xác định những căn cứ thực tiễn để ban hành chủ trương, chính sách xây dựng CNXH. Theo lý luận của triết học Mác, khi hình thành một phương thức sản xuất, tức cơ sở hạ tầng của xã hội thì có kiểu kiến trúc thượng tầng tương ứng. Trước năm 1986, ở Việt Nam nhiều chủ trương đã sa vào khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của kiến trúc thượng tầng, xây dựng các thiết chế kiến trúc thượng tầng từ các quan hệ sản xuất vượt quá xa so với trình độ của lực lượng sản xuất. Kết quả là các yếu tố của kiến trúc thượng tầng không ăn khớp với các quan hệ kinh tế, không phản ánh các quan hệ kinh tế. Việc thiết lập chế độ sở hữu công về tư liệu sản xuất về cơ bản là xuất phát từ ý chí chủ quan vì muốn nhanh chóng có CNXH, không xuất phát từ thực trạng kinh tế kỹ thuật của nước ta khi đó. Nhiều bất cập và sự không hiệu quả của nền kinh tế đã bị vẻ bề ngoài của kiến trúc thượng tầng che lấp, bảo vệ, nên ẩn chứa nguy cơ của khủng hoảng trầm trọng về kinh tế - xã hội từ bên trong.

Ba là, cần làm phong phú hơn lý luận về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam thông qua tham khảo, tổng kết các khuynh hướng mácxít ở các nước tư bản phát triển

Hiện nay, nhiều trường phái mácxít mới (Neo-Marxism) trở thành hợp phần bên trong của các trường phái triết học phương Tây hiện đại. Các nhà triết học phương Tây tìm thấy ở C.Mác những gợi ý để giải quyết những vấn đề của xã hội công nghiệp hiện đại. Hầu hết những trường phái triết học phương Tây hiện đại đều có một nhánh là triết học mácxít. Các trường phái mácxít mới phát triển học thuyết Mác theo cách thức khác nhau. Có những lý do chủ quan, khách quan để họ lảng tránh đề cập trực diện đến chính trị của CNTB, nhưng không thể phủ nhận những nỗ lực để phát triển triết học Mác của họ trong giới hạn của hệ thống các thể chế kinh tế và chính trị của CNTB. Nghiên cứu, tổng kết lý luận giúp chúng ta tìm kiếm những vấn đề cần bổ sung, hoàn thiện phát triển chủ nghĩa Mác cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ ra sự phát triển của CNTB là: “Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học - công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển,.., đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước..., chủ nghĩa tư bản thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách “tự do mới” trên quy mô toàn cầu; và nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó”(13). Để có thể chỉ ra những mâu thuẫn cơ bản của CNTB, phương thức khá hữu hiệu đó chính là tổng kết lý luận của những trường phái mácxít mới trong lòng CNTB. Những kết quả của tổng kết này gợi ý cho chúng ta những vấn đề lý luận mà C.Mác đã đặt nền tảng để tổng kết CNTB hiện đại, hoàn thiện lý luận về xây dựng CNXH ở Việt Nam.

3. Tiếp tục hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo nguyên tắc lấy thực tiễn làm nền tảng, là cơ sở

Một là, hoàn thiện lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam chính là vì mục tiêu thực tiễn: thúc đẩy quá trình xây dựng CNXH thành hiện thực ở Việt Nam. Mục tiêu của việc hoàn thiện lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH thực chất là vì sự phát triển của thực tiễn, khẳng định tính đúng đắn của con đường đất nước ta đang đi và để con đường đó ngày càng được hoàn thiện hơn, phù hợp với thực tiễn hơn.

Hai là, tổng kết thực tiễn là cách tốt nhất để hoàn thiện lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam

Lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam hiện nay rất cần có những chương trình tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận một cách toàn diện, huy động được đông đảo đội ngũ cán bộ khoa học và cán bộ hoạt động thực tiễn tham gia. Sự phối hợp giữa những cán bộ khoa học của các cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng với đội ngũ cán bộ khoa học ở các trường đại học, các viện nghiên cứu và cán bộ hoạt động thực tiễn là rất cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ này.

Ba là, không phát triển lý luận, không chứng minh được sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ không có sự đổi mới đúng đắn trong thực tiễn xây dựng CNXH

C.Mác là người đã nhiều lần nhấn mạnh rằng: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”(14). V.I.Lênin đã nhắc nhở rằng, “chủ nghĩa Mác không phải là một giáo điều chết cứng, một học thuyết nào đó đã hoàn thành hẳn, có sẵn đâu vào đấy, bất di bất dịch, mà là một kim chỉ nam sinh động cho hành động”(15). Như vậy, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là phương thức để chứng minh được sức sống của nó. Nhiệm vụ hoàn thiện lý luận về con đường đi lên CNXH chính là phương thức tốt nhất để phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin.

Về mặt thực tiễn, tại Đại hội XIII, Đảng ta nhận định rằng: “Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(16). Điều này cho thấy, thành tựu trong thực tiễn phát triển đất nước có được là do Đảng có quan điểm chỉ đạo định hướng đúng đắn. Theo đó, chúng ta đã xác định được tính đúng đắn của những quan điểm lý luận làm nền tảng cho quyết định đúng trong đường lối, chủ trương của Đảng lãnh đạo đổi mới đất nước theo mục tiêu CNXH. Tuy nhiên, yêu cầu đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững theo định hướng XHCN đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới, bổ sung và hoàn thiện lý luận để tiếp tục thúc đẩy quá trình hiện thực hóa mục tiêu đã xác định.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 546 (tháng 8-2023)

Ngày nhận: 26-4-2023; Ngày bình duyệt: 14-7-2023; Ngày duyệt đăng: 24-8-2023.

(1), (2), (5) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.37, 37-38, 51.

(3) https://www.marxists.org/history/etol/newspape/ni/vol04/no12/marx.htm.

(4) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.13, Sđd, tr.15.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.95.

(8), (9), (10), (11), (13) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.23, 24, 29, 28, 18-19.

(12) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.4, Sđd, tr.616.

(15) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.36, Sđd, tr.796.

(16) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.103-104.


ĐỊNH HƯỚNG NHẬN THỨC CHO THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TRƯỚC SỰ CHỐNG PHÁ MỚI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY

 Sự phát triển nhanh chóng của internet, mạng xã hội đã đem lại những lợi ích thiết yếu trong đời sống xã hội, tạo ra môi trường cung cấp, chia sẻ, trao đổi, khai thác sử dụng thông tin và thâm nhập vào cuộc sống của mọi người trên khắp thế giới.

Với đặc điểm nổi trội là tốc độ kết nối nhanh, phạm vi chia sẻ rộng, hiệu quả tác động lớn, internet, mạng xã hội trở thành nhu cầu không thể thiếu đối với đời sống nhân loại, tác động một cách trực tiếp đến nhận thức, hành vi của mỗi con người, cũng như sự phát triển của toàn xã hội. Song, internet, mạng xã hội cũng có những mặt trái tác động tiêu cực kìm hãm sự phát triển của xã hội, nhất là chi phối đến lập trường tư tưởng và khả năng xử lý thông tin của người sử dụng còn có sự bất cập, hạn chế.
Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, lực lượng chống cộng cực đoan ở nước ngoài đã triệt để lợi dụng internet và các trang mạng xã hội để tán phát các tin, bài, video clip có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội với sự gia tăng cả về cấp độ, mật độ, tần suất và lưu lượng tin, bài; bằng những chiêu thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm hiểm nhằm thu hút sự quan tâm, theo dõi của cộng đồng mạng. Những thủ đoạn chúng thường dùng trên mạng xã hội, như: tung tin thất thiệt, lừa bịp, mị dân, thật giả lẫn lộn,… làm cho một bộ phận cư dân mạng mất phương hướng, lầm tưởng đó là sự thật, dẫn đến hoài nghi, thiếu niềm tin với Đảng, Nhà nước và chế độ ta, nghe theo lời kích động để tụ tập đông người, gây rối, chống người thi hành công vụ, hủy hoại tài sản của nhà nước và công dân. Thủ đoạn của chúng là rất nguy hiểm, nổi lên một số hiện tượng sau:
1. Thực hiện Live stream trực tiếp để kêu gọi cộng đồng mạng can thiệp vào nội bộ hoặc tham gia bình luận trái chiều trên mạng xã hội. Đây là thủ đoạn dùng tài khoản Facebook với công cụ Live stream để phát video clip trực tiếp về một sự việc do chúng dựng lên hoặc “lên sóng” trực tiếp trên mạng xã hội để tạo “diễn đàn” kêu gọi mọi người tham gia bình luận về một vấn đề “nóng” được dư luận xã hội quan tâm. Chúng xây dựng “kịch bản” khá công phu, nội dung được quay video phát trực tiếp thường là các vụ việc liên quan đến các cuộc tụ tập đông người, khiếu kiện tại trụ sở các cơ quan công quyền. Chủ đề chúng chọn bình luận thường là các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi thiết thực, vấn đề bức xúc của người dân, như: môi trường, dân sinh, giải phóng mặt bằng, quan hệ ứng xử của cán bộ công chức, lực lượng vũ trang, thực thi công vụ của các lực lượng chức năng, v.v. Thời điểm chúng chọn để Live stream thường vào dịp có các sự kiện chính trị của Đảng, Nhà nước (các kỳ họp, ngày lễ, ngày kỷ niệm, nguyên thủ các nước đến thăm Việt Nam,…), hoặc chúng lồng ghép quan điểm cá nhân, bình luận xuyên tạc, thu hút sự quan tâm của cộng đồng mạng và kêu gọi sự “phù họa” của các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị cùng tham gia, chia sẻ. Mục đích của chúng nhằm: “vẽ ra” trong mắt công chúng một Đảng cầm quyền bất ổn, một nhà nước bị chia rẽ cục bộ, một hình ảnh Quân đội yếu đuối, Công an tham nhũng, v.v. Từ đó, kêu gọi sự can thiệp của dư luận quốc tế và các tổ chức phản động vào chống phá Việt Nam.
2. Sử dụng “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng. Đây là thủ đoạn chúng lợi dụng việc báo chí chính thống trong nước khi đưa tin đều phải qua quá trình tiếp cận thực tế, kiểm định nguồn tin, biên tập, thông qua mới cho đăng tin, bài (thậm chí, để bảo đảm tính chính xác của thông tin và tính toán lợi ích của việc đưa tin, một số vấn đề cụ thể nào đó, có thể bị chậm trễ khi đưa tin). Lợi dụng “khoảng trống thông tin” này, chúng phát tán ồ ạt, trực tiếp những tin, bài xuyên tạc, bóp méo sự thật bằng những tiêu đề “giật gân”, “câu khách” về những gì dư luận đang quan tâm, nhất là các vấn đề liên quan đến nội bộ Đảng, Nhà nước, tham nhũng, tiêu cực dưới các dạng, như: thông tin sự việc, đặt câu hỏi, bỏ ngỏ vấn đề bể bạn đọc suy ngẫm,… với những thông tin trộn lẫn thật giả, kích thích tính hiếu kỳ, tò mò của cộng đồng mạng vào các trang Facebook, Blog và các tờ báo điện tử có nội dung phản động, gây tâm lý hoang mang, bán tín, bán nghi, v.v.
3. Làm mới thông tin cũ, bịa đặt thông tin mới để chống phá Quân đội là thủ đoạn được chúng tiến hành khá “bài bản”. Thông tin cũ được lựa chọn để “làm mới” và “thông tin mới được lựa chọn để bịa đặt” thường là những đoạn video clip hoặc hình ảnh có liên quan đến mối quan hệ cán bộ với chiến sĩ, cán bộ được cho là “hành hung chiến sĩ”, “chiến sĩ cũ đánh chiến sĩ mới”, các vấn đề liên quan đến dân chủ trong Quân đội, quan hệ quân dân,… do chúng tạo dựng lên. Thủ đoạn của chúng là, các vụ việc đã được xử lý, giải quyết từ lâu nhưng đưa ra “làm mới”; hoặc những thông tin mới, mặc dù đã có kết luận của các cơ quan chức năng nhưng chúng bịa đặt, xuyên tạc, đưa ra những bình luận trái chiều làm sai lệch bản chất của vấn đề. Thời điểm tán phát để “làm mới” hoặc bịa đặt thường là trước mùa tuyển chọn, giao nhận quân, quá trình huấn luyện chiến sĩ mới, trước các sự kiện chính trị của đất nước, Quân đội, v.v. Mục đích của việc tán phát các thông tin, hình ảnh, đoạn video clip không thuần túy chỉ là sự phản ánh một vụ việc, một con người cụ thể, mà đằng sau đó là âm mưu và sự toan tính hết sức thâm độc của các thế lực thù địch. Họ muốn đánh vào tâm lý lo lắng, sợ hãi trong nhân dân và thanh niên không muốn nhập ngũ vì sợ vào Quân đội sẽ bị “đánh đập tàn bạo”, sẽ trở thành những “quân oan”, hoặc tâm lý chấp nhận “ma cũ bắt nạt ma mới” trong chiến sĩ, v.v. Từ đó, gây dư luận trái chiều trong xã hội về bản chất của Quân đội ta, kích động thanh niên trốn tránh nghĩa vụ quân sự, làm giảm sức mạnh chiến đấu, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong Quân đội. Qua các thông tin, hình ảnh, video clip tán phát, sẽ gây nghi ngờ, làm mất đi hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, làm giảm niềm tin của nhân dân về môi trường Quân đội, cuối cùng là thực hiện mục tiêu “phi chính trị hóa” Quân đội.
Trước thực trạng đó, cần tạo sức đề kháng, “hệ miễn dịch” trong mỗi quân nhân - thanh niên trước những âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch, góp phần tạo sự thống nhất cao về chính trị, tư tưởng trong thế hệ trẻ nói chung, thanh niên Quân đội nói riêng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Bởi, trong Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng thanh niên rất đông đảo, lực lượng chủ yếu, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Đây cũng là lực lượng rất năng động, giàu hoài bão, dễ tiếp thu các luồng thông tin, nhất là thông tin trên internet và những tư tưởng mới lạ. Tuy nhiên, khả năng phân tích, nhận định, chọn lọc thông tin của đối tượng này còn hạn chế, dễ bị dao động, lôi kéo, kích động dẫn đến những quyết định không chính xác, thậm chí sai lầm. Vì thế, cần định hướng cho thanh niên Quân đội khi tham gia mạng xã hội là vấn đề cấp thiết hiện nay. Theo đó, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp để khắc phục tình trạng này; trong đó, tập trung vào một số giải pháp sau:
Một là, tiếp tục giáo dục mục tiêu, lý tưởng, đạo đức cách mạng, tinh thần tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện kỷ luật của quân nhân. Là lứa tuổi sôi nổi, ham học hỏi, hiểu biết, sáng tạo, khám phá cái mới, mỗi thanh niên Quân đội phải nỗ lực, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao tầm hiểu biết về mục tiêu, lý tưởng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tình cảm gắn bó cán bộ với chiến sĩ, quân với dân, chức trách, nhiệm vụ; không ngừng trau dồi đạo đức, nếp sống văn minh, giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc, thái độ và hành vi ứng xử có văn hóa; xung kích, tích cực đấu tranh phê phán, loại bỏ những thói quen, hành vi thiếu văn hóa trong sinh hoạt và công tác. Yêu cầu đó, đòi hỏi thanh niên Quân đội phải đi sâu vào xây dựng nền nếp chính quy, ý thức chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, tinh thần trách nhiệm cao trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; tự giác học tập, cầu tiến bộ, phấn đấu vươn lên làm chủ khoa học - kỹ thuật quân sự tiên tiến. Đồng thời, nêu cao cảnh giác cách mạng, biết phân biệt đúng - sai, ý thức tự phòng, chống các tác động xấu từ mặt trái kinh tế thị trường và âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” do các thế lực thù địch tiến hành chống phá cách mạng nước ta thông qua không gian mạng.
Hai là, đoàn viên thanh niên trong Quân đội cần được trang bị “vũ khí phòng vệ và phản công” khi tham gia mạng xã hội. Các đơn vị cần đẩy mạnh công tác giáo dục, nâng cao nhận thức cho đoàn viên thanh niên Quân đội về mạng xã hội, cách sử dụng mạng xã hội hợp lý. Tăng cường các hoạt động phổ biến, giáo dục cho đoàn viên, thanh niên tuân thủ Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, quy định của đơn vị. Động viên đoàn viên, thanh niên tự học, tự trang bị các kiến thức, kinh nghiệm sống để nhận diện thông tin xấu độc, hình thành khả năng phân tích trước các thông tin tràn lan trên mạng xã hội. Phát huy vai trò định hướng của cơ quan chính trị, tổ chức Đoàn các cấp và tính tự giác của đoàn viên thanh niên khi tham gia mạng xã hội; đề ra cơ chế kiểm soát thông tin, loại bỏ các nội dung xuyên tạc, gây bất an trong dư luận trên mạng xã hội. Định kỳ tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng công tác Đoàn và phong trào thanh niên trong Quân đội để cán bộ đoàn, đoàn viên thanh niên tham gia đấu tranh chống “Diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; đấu tranh trên không gian mạng, v.v. Coi việc đấu tranh, phòng, chống hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, tạo ra hệ “miễn dịch” đối với mọi thông tin sai trái, xấu độc của các thế lực thù địch là thước đo kết quả xây dựng bản lĩnh chính trị của đoàn viên thanh niên Quân đội.
Ba là, chủ động, tự giác, tích cực tuyên truyền làm cho mọi đoàn viên thanh niên Quân đội thấy rõ tính hai mặt của mạng xã hội. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm, chủ động trong việc giáo dục nâng cao nhận thức cho mọi quân nhân, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục pháp luật, nhất là các quy định trong việc dùng và sử dụng mạng xã hội trong đơn vị. Tăng cường công tác quản lý, sử dụng, khai thác mạng xã hội trong việc học tập, nghiên cứu, sử dụng phải đúng mục đích; nghiêm cấm đưa các hình ảnh phản cảm lên mạng xã hội để chia sẻ. Kịp thời chấn chỉnh, nhắc nhở, xử lý, ngăn chặn những hành vi tán phát các thông tin, hình ảnh có nội dung tiêu cực, phản cảm và các biểu hiện lơ là mất cảnh giác khi tham gia mạng xã hội, không để các thông tin tiêu cực trên mạng xã hội tác động xấu tới tư tưởng, nhận thức của đoàn viên thanh niên.
Bốn là, thường xuyên đổi mới phương thức tuyên truyền để mang lại hiệu quả cao. Các cơ quan, đơn vị tích cực, chủ động đổi mới hình thức, phương pháp tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, ý thức chính trị, nhiệm vụ đấu tranh quan điểm sai trái cho mọi đoàn viên thanh niên. Khi định hướng cho cán bộ, chiến sĩ tham gia đấu tranh trên mạng xã hội cần chú ý: không sử dụng ảnh đại diện của cá nhân mang mặc quân phục, hình ảnh của đơn vị trong huấn luyện, trong sinh hoạt làm ảnh đại diện, cũng như không chia sẻ thông tin, hình ảnh trên, tránh bị các đối tượng lợi dụng làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của quân nhân và Quân đội. Xây dựng ý thức và phong cách ứng xử có văn hóa cho cán bộ, chiến sĩ để khi tham gia mạng xã hội, không làm lộ, lọt thông tin liên quan đến quân sự trên mạng./.
ST

CÂU CHUYỆN VỀ ANH HÙNG LÊ VĂN TÁM VÀ ÂM MƯU XẢO TRÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HÒNG XUYÊN TẠC LỊCH SỬ HÀO HÙNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

 Lịch sử gắn liền với truyền thống, với niềm tin và lòng tự hào dân tộc. Những biểu tượng trong lịch sử đã tạo nên sức mạnh to lớn của mỗi dân tộc. Chiến tranh đã trở thành quá khứ, song "ngọn đuốc sống" Lê Văn Tám vẫn mãi trường tồn với thời gian, với non sông đất nước và trong tim những người con đất Việt. Đất nước hoàn toàn độc lập, nhân dân ta được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no hạnh phúc không bao giờ quên tấm gương lẫm liệt, bất khuất tuy tuổi trẻ nhưng ý trí tinh thần yêu nước ngút trời Lê Văn Tám. Ấy vậy mà trên mạng xã hội lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí các thế lực thù địch lại lạc lõng cố tình bôi nhọ, xuyên tạc lịch sử, hạ bệ thần tượng anh hùng dân tộc.

Họ cho rằng chiến công phá hủy kho của Pháp là có thật nhưng không rõ tên của người chiến sĩ đốt kho. Lê Văn Tám là cái tên đặt ra để tuyên truyền. Tuy nhiên, quan điểm này nhanh chóng bị phản bác với những chứng cứ, nhân chứng xác thực. Cụ thể, Báo Độc Lập, số ra ngày 20-10-1945 đăng tin có nội dung: "Ngày 16, quân ta đốt cháy 2 kho hàng của Pháp thiệt hại tới mấy triệu đồng. Lửa to quá, giặc Pháp không thể cứu được". Báo Cứu Quốc số 71, ra ngày 19-10-1945 đăng bài "Một gương hy sinh dũng cảm oanh liệt" trên trang nhất. Báo La République (Cộng hòa) xuất bản bằng tiếng Pháp ở Hà Nội, số 2, ra ngày 21-10-1945, đăng bài "Sự anh hùng của một chiến sĩ Việt Nam". Bài báo có đoạn viết: "Một người lính Việt Nam đã tẩm dầu vào thân mình và đã thành công trong việc đốt cháy kho Simon Piétri. Đám cháy kéo dài 2 ngày 2 đêm". Trong hồi ký “Đứng lên đáp lời sông núi-tập II” (1995) của Trần Thắng Minh (nguyên Ủy viên Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh) cho biết Lê Văn Tám là bạn trong Đội Thiếu niên ở Đa Kao với ông. Giáo sư Trần Văn Giàu khẳng định trong đoạn hồi ký ở bộ sách “Đứng lên đáp lời sông núi”: “Người tổ chức cho đội viên cảm tử Lê Văn Tám lập chiến công là Lê Văn Châu đã hy sinh năm 1946, tại Ngã ba Cây Thị”. Sự kiện trận đánh ngày 17 tháng 10 năm 1945 với "cây đuốc sống Lê Văn Tám" còn được nêu cụ thể hơn trong tập II bộ sách Mùa Thu rồi ngày hăm ba của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội năm 1996, ở trang 67: "Đêm ngày 17 tháng 10 năm 1945, đội viên cảm tử Lê Văn Tám dũng cảm đốt kho đạn Thị Nghè (người tổ chức cho Lê Văn Tám thực hiện chiến công này là anh Lê Văn Châu đã hy sinh năm 1946 tại Ngã ba Cây Thị). Kho đạn bị phá hủy hoàn toàn".
Những bài viết xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ nhân vật lịch sử là một thủ đoạn gian manh, xảo trá của các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội chính trị hòng hạ bệ thần tượng anh hùng LLVT nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Chúng ta cần phải đấu tranh trực diện để vạch trần những âm mưu, thủ đoạn đó./.
ST

TIẾP TỤC VƯỢT QUA THÁCH THỨC, THỰC HIỆN TỐT NHIỆM VỤ BẢO VỆ AN NINH, TRẬT TỰ NĂM 2024

 Với những kết quả quan trọng đã đạt được, với khí thế, quyết tâm mới, lực lượng Công an nhân dân nhất định hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2024, cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, xây dựng đất nước Việt Nam phát triển vững mạnh, hùng cường, có vai trò, vị trí ngày càng quan trọng trong cả nền kinh tế thế giới, nền chính trị thế giới và nền văn minh nhân loại.

Nhân dịp Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an tổ chức Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 79, Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an có bài viết quan trọng: "Tiếp tục vượt qua thách thức, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự năm 2024". Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an trân trọng giới thiệu bài viết của đồng chí Bộ trưởng.
1. Năm 2023, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến hết sức phức tạp, nhiều vấn đề vượt dự báo, tác động trực tiếp, nhiều mặt đến an ninh, lợi ích của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trong nước, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi rất cơ bản, các thế lực thù địch, phản động, các loại tội phạm ráo riết tiến hành hoạt động chống phá, gia tăng thách thức, áp lực đối với công tác bảo đảm an ninh, trật tự. Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, lực lượng Công an nhân dân tiếp tục gương mẫu đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nỗ lực phấn đấu, phát huy vai trò nòng cốt, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự.
Công tác nắm tình hình, tham mưu, dự báo chiến lược là điểm sáng. Lực lượng Công an cơ bản nắm vững xu hướng vận động trong chính sách và quan hệ giữa các nước lớn, các nước láng giềng, khu vực, các xu hướng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trên thế giới; công nghệ, kinh nghiệm phát triển các lĩnh vực kinh tế mới nổi; tình hình an ninh truyền thống, phi truyền thống…, đã có hàng nghìn báo cáo, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ trương, giải pháp bảo đảm vững chắc an ninh, lợi ích quốc gia, giữ vững thế chủ động chiến lược, tiếp tục nâng cao uy tín, vị thế, tiềm lực kinh tế trong thế giới đầy biến động với sức ép chọn bên và nguy cơ suy thoái kinh tế thế giới gia tăng.
An ninh trên các địa bàn, lĩnh vực tiếp tục được củng cố ngày càng vững chắc, an ninh cơ sở được tăng cường, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Lực lượng Công an đã chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phá hoại, kích động gây rối, gây bạo loạn của các thế lực thù địch, phản động, không để bị động, bất ngờ về chiến lược, không để hình thành tổ chức chính trị đối lập. Giải quyết có hiệu quả nhiều vấn đề phức tạp về an ninh kéo dài nhiều năm; đồng thời phát hiện, xử lý từ sớm, từ cơ sở những yếu tố tiềm ẩn phức tạp, đấu tranh quyết liệt với các đối tượng chống phá trọng điểm, kể cả từ bên ngoài biên giới quốc gia. Bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn các mục tiêu, công trình trọng điểm, hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ở trong và ngoài nước, các sự kiện chính trị, văn hóa quan trọng, các đoàn khách quốc tế đến Việt Nam.
Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy, bảo đảm trật tự an toàn giao thông được triển khai mạnh mẽ, đồng bộ, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”; với mục tiêu cao nhất “xây dựng, củng cố môi trường an ninh, an toàn, lành mạnh, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của Nhân dân” đã đạt nhiều kết quả rất tích cực. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an tiếp tục được triển khai quyết liệt; xác định khâu đột phá, đánh trúng, điều tra làm rõ nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế, nhất là các lĩnh vực nhạy cảm, dư luận bức xúc, thu hồi triệt để tài sản bị chiếm đoạt, tạo lan tỏa với phương châm “xử lý một vụ, cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực”. Công tác quản lý xuất nhập cảnh được đổi mới mạnh mẽ, cấp hộ chiếu điện tử, mở rộng cấp thị thực điện tử cho công dân tất cả các nước, vùng lãnh thổ có quan hệ hợp tác với Việt Nam, tạo đà thúc đẩy du lịch và phát triển kinh tế.
Tập trung các giải pháp xây dựng lực lượng Công an thực sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại theo đúng tinh thần Nghị quyết số 12, ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị, đi đôi với hoàn thiện cơ chế bảo vệ lực lượng Công an. Lần đầu tiên Đảng ủy Công an Trung ương ban hành Nghị quyết về công tác chính trị tư tưởng, Quy định về chế độ học tập thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân; quyết liệt chỉ đạo các giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngay trong nội bộ; hoàn thiện, triển khai cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực và chấn chỉnh thái độ thực thi công vụ của toàn lực lượng; ban hành Đề án, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy bên trong, giảm 300 đầu mối cấp phòng, gần 1.000 đầu mối cấp đội; xây dựng nhiều trụ sở làm việc hiện đại, tạo chuyển biến về chất, tạo nền tảng xây dựng lực lượng Công an tinh, gọn, mạnh, đủ năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Kết quả các mặt công tác bảo đảm an ninh, trật tự năm 2023 cao hơn năm 2022 theo đúng chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Đảng ủy Công an Trung ương tổng kết công tác năm 2022, góp phần quan trọng bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.
2. Năm 2024, trước những tác động từ diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và âm mưu, hoạt động chống phá của các hệ loại đối tượng, những khó khăn, thách thức đối với công tác bảo đảm an ninh, trật tự sẽ tiếp tục gia tăng. Lực lượng Công an nhân dân tiếp tục bám sát các quan điểm, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; gương mẫu, đi đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; lấy “Danh dự là điều thiêng liêng cao quý nhất”; đoàn kết đồng lòng, vượt qua mọi khó khăn, thử thách; nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2024 cao hơn năm 2023 đúng như căn dặn của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Đảng ủy Công an Trung ương tổng kết công tác năm 2023 ngày 20/12 vừa qua. Tập trung một số công tác trọng tâm, sau đây:
Thứ nhất, tập trung các giải pháp tiếp tục xây dựng lực lượng Công an thực sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đề cao vai trò nêu gương, tính tiền phong, gương mẫu của cấp ủy, thủ trưởng Công an các cấp theo phương châm “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”. Tiếp tục lãnh đạo thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Trung ương Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; thường xuyên phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngay trong chính nội bộ lực lượng Công an, “tuyệt đối không chủ quan”, với “bản lĩnh, phương pháp, cách làm đúng” như chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong Công an nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ, chỉ huy đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ gắn liền với đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn bị nhân sự Công an tham gia cấp ủy các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Thứ hai, triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 44 Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới gắn với các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia và các nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh Sáu vùng kinh tế trên cả nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Giữ vững an ninh quốc gia; chủ động xử lý từ sớm, từ xa, từ cơ sở các yếu tố có thể dẫn đến đột biến, bất lợi; tuyệt đối không để xảy ra bị động, bất ngờ, không để xảy ra khủng bố, phá hoại, không để hình thành tổ chức chính trị đối lập, duy trì môi trường hòa bình, ổn định phục vụ đắc lực nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại của đất nước. Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Thúc đẩy hợp tác quốc tế về an ninh với các đối tác, góp phần mở rộng không gian phát triển, tăng cường lợi ích, tiềm lực quốc gia, trong đó có tiềm lực an ninh quốc gia.
Thứ ba, kiên quyết, kiên trì thực hiện mục tiêu kiềm chế gia tăng, kéo giảm tội phạm, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của Nhân dân. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, toàn dân tham gia phòng, chống tội phạm, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ. Tập trung giải quyết nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm ngay từ ban đầu và từ cơ sở; triệt phá các băng, nhóm tội phạm có tổ chức, nguy hiểm, các tụ điểm phức tạp về trật tự xã hội; đấu tranh với tội phạm nổi lên gây bức xúc dư luận, chủ động nhận diện phát hiện, đấu tranh với tội phạm kinh tế, tham nhũng, tiêu cực.
Thứ tư, tiếp tục gương mẫu, đi đầu, phát huy vai trò nòng cốt thúc đẩy c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố quốc gia, góp phần xây dựng Chính phủ điện tử, kinh tế số, xã hội số, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm thiểu tiêu cực, phục vụ tốt nhất cho tổ chức, cá nhân, xây dựng xã hội hiện đại, công khai, minh bạch, công bằng, thúc đẩy mạnh mẽ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội. Trọng tâm là tham mưu, điều phối thúc đẩy triển khai có hiệu quả Đề án số 06/ĐA-CP về “Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư định danh và xác thực điện tử, phục vụ c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030”; khai thác hiệu quả Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến liên thông, thông suốt đến cấp xã, bảo đảm phục vụ tốt nhất cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết các thủ tục hành chính có liên quan.
Thứ năm, tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự; xây dựng, củng cố thế trận an ninh nhân dân, nền an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, nền quốc phòng toàn dân trên cơ sở thế trận lòng dân vững chắc. Thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 25/5/2023 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong tình hình mới. Triển khai đồng bộ các biện pháp kiềm chế cháy, nổ; chủ động lực lượng, phương tiện, phương án và các điều kiện ứng phó khi có cháy, nổ, sự cố, tai nạn, hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và tài sản. Tiếp tục đổi mới công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, huy động cả hệ thống chính trị, toàn dân tích cực tham gia bảo vệ an ninh, trật tự; phối hợp thực hiện chủ trương xây dựng nhà cho hộ nghèo, gia đình chính sách, gia đình khó khăn về nhà ở tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, lấy đây là một trong những giải pháp quan trọng giải quyết từ gốc rễ vấn đề bảo đảm an ninh quốc gia, an ninh con người.
Với những kết quả quan trọng đã đạt được, với khí thế, quyết tâm mới, lực lượng Công an nhân dân nhất định hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2024, cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, xây dựng đất nước Việt Nam phát triển vững mạnh, hùng cường, có vai trò, vị trí ngày càng quan trọng trong cả nền kinh tế thế giới, nền chính trị thế giới và nền văn minh nhân loại./.
ST

Trao giải Cuộc thi trực tuyến “Tìm hiểu Luật Biên phòng Việt Nam”

 Chiều 27-12, Cục Chính trị Bộ đội Biên phòng tổ chức tổng kết và trao giải Cuộc thi trực tuyến “Tìm hiểu Luật Biên phòng Việt Nam”. Trung tướng Nguyễn Anh Tuấn, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Bộ đội Biên phòng chủ trì hội nghị.

Báo cáo tổng kết cuộc thi, Thiếu tướng Văn Ngọc Quế, Phó chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng cho biết: Cuộc thi trực tuyến “Tìm hiểu Luật Biên phòng Việt Nam” được tổ chức theo đúng kế hoạch, đạt mục đích, yêu cầu đề ra. Cuộc thi đã tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội, góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia.
Cuộc thi được phát động vào ngày 27-11; ngay sau khi phát động đã có hàng trăm nghìn lượt đăng ký. Các thí sinh dự thi với nhiều lứa tuổi khác nhau, đến từ nhiều ngành nghề như giáo viên, học sinh, sinh viên, cán bộ, công chức; trong đó đối tượng dự thi nhiều nhất là cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang.
Cuộc thi được tổ chức thành 3 vòng thi tuần và 1 vòng chung kết. Kết thúc 3 vòng thi tuần, với gần 12.330.000 lượt trả lời câu hỏi, Ban tổ chức đã lựa chọn được 35 thí sinh đạt giải Nhất, Nhì của các tuần tham gia thi trực tuyến vòng chung kết. Nội dung thi bao gồm bộ đề gồm 20 câu hỏi trắc nghiệm và 1 câu hỏi tự luận được tập trung vào các quy định của Luật Biên phòng, các văn bản pháp luật có liên quan đến biên giới và Bộ đội Biên phòng Việt Nam.
Tại hội nghị tổng kết và trao giải Cuộc thi “Tìm hiểu Luật Biên phòng Việt Nam”, Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã trao Bằng khen tặng 9 cá nhân đạt giải nhất, nhì, ba và trao chứng nhận tặng 10 cá nhân đạt giải Khuyến khích. Cũng nhân dịp này, Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng trao bằng khen tặng 5 tập thể và 10 cá nhân đạt thành tích xuất sắc trong công tác tổ chức cuộc thi.
Thời gian tới, Ban tổ chức Cuộc thi “Tìm hiểu Luật Biên phòng Việt Nam” tiếp tục duy trì website bdbp.com.vn và ứng dụng Luật Biên phòng Việt Nam để kịp thời cập nhật, cung cấp thông tin, quy định của Luật Biên phòng Việt Nam và các quy định của pháp luật có liên quan đến biên giới và lực lượng Bộ đội Biên phòng cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, các tầng lớp nhân dân, nhất là cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới./.
ST

ĐẤU TRANH ĐẨY LÙI HIỆN TƯỢNG ĐOÀN KẾT XUÔI CHIỀU, HÌNH THỨC

 

Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn:
“Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(1).
Thực hiện lời Di huấn của Bác, hơn 50 năm qua, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tạo thành “sức mạnh vô địch” giành được thắng lợi trước những nhiệm vụ cách mạng đầy khó khăn, gian khổ qua từng thời kỳ.
@ Tuy nhiên, trong sinh hoạt chi bộ hiện nay ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị đã xuất hiện những biến tướng của nguyên tắc đoàn kết thống nhất, đó là tình trạng đoàn kết “xuôi chiều”, “hình thức” với biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau:
1.Thứ nhất, trong sinh hoạt chi bộ, một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện phụ họa theo ý kiến của người đứng đầu, vì sợ va chạm, sợ mất lòng “thủ trưởng” nên không dám thể hiện chính kiến, không trao đổi thẳng thắn, mà cứ “thủ trưởng nghĩ sao thì em theo thế”.
2.Thứ hai, trong cuộc họp, có tình trạng tất cả cán bộ, đảng viên đều thể hiện sự nhất trí cao với ý kiến của người đứng đầu, song sau đó thì lại “lời ra tiếng vào”, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “bằng mặt nhưng không bằng lòng”.
- Những biến tướng đó cần được khắc phục triệt để, bởi đoàn kết “xuôi chiều”, “hình thức” sẽ gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng, làm suy giảm bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, khiến họ “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”, lâu dài sẽ tiềm ẩn hình thành “nhóm lợi ích” để trục lợi. Nếu đoàn kết thống nhất làm nên sức mạnh của Đảng, thì đoàn kết “xuôi chiều”, “hình thức” lại làm chia rẽ, suy yếu Đảng.
- Để đẩy lùi hiện tượng đoàn kết “xuôi chiều”, “hình thức” trong sinh hoạt chi bộ, mỗi cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng, đảng viên cần tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, “Nội dung sinh hoạt chi bộ phải gắn với thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị;... bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, đoàn kết nội bộ;... lắng nghe và giải quyết nguyện vọng chính đáng của đảng viên và nhân dân”(2) theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, “Về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”. Và hơn lúc nào kết, yêu cầu cấp thiết đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng; phát huy hơn nữa trách nhiệm tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các cấp./.
St

PHÒNG, CHỐNG, NGĂN CHẶN NGUY CƠ SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG ĐỘI NGŨ NHÀ BÁO

  Phòng, chống, ngăn chặn nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị trong đội ngũ nhà báo hiện nay

Có nhiều nguyên nhân, cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, song, theo chúng tôi nguyên nhân chủ quan là chủ yếu đó là:
Nguyên nhân từ việc giao quyền tự chủ tài chính cho các cơ quan báo chí là “con dao hai lưỡi” khiến không ít cơ quan báo chí chạy theo lợi ích kinh tế đơn thuần và xa rời tôn chỉ, mục đích, xa rời chính trị. Nguyên nhân từ công tác tuyển dụng, giáo dục và rèn luyện toàn diện đội nhà báo của một số cơ quan báo chí chưa chặt chẽ, nhất chưa quan tâm bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ này. Nguyên nhân chính là do không ít nhà báo vướng vào “chủ nghĩa cá nhân” nên không còn “tâm sáng, lòng trong, bút sắc”, vì lợi ích vị kỷ, vì lợi ích nhóm tiêu cực sẵn sàng “bán mình” nêu bị mua chuộc.
Nhận diện biểu hiện suy thoái về chính trị của đội ngũ nhà báo đã vừa dễ, vừa khó khó, phòng, chống nó còn khó khăn hơn và không đơn giản vì đó là cuộc đấu tranh trong nội bộ ta, đấu tranh phòng, chống với những con người do chính chúng ta đào tạo và sử dụng họ; vì vậy, phải có nguyên tắc, các nguyên tắc cơ bản đó là:
Tránh “vơ đũa cả nắm”: Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong phòng, chống suy thoái về chính trị của đội ngũ nhà báo; theo đó, cần phân biệt rõ, không đánh đồng lập trường chính trị với nhận thức tư tưởng, nhận thức lý luận; nhiều khi do nhận thức chưa sâu sắc, toàn diện mà phạm sai lầm về chính trị thì không nên vội chính trị hóa và quy kết là suy thoái về chính trị của đội ngũ nhà báo.
Phải kết hợp giữa “phòng và chống”: Đây chính là quan điểm được Đảng xác định trong Văn kiện hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) là: “Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách”. Để quan điểm này của Đảng đi vào cuộc sống, nhất là trong trong phòng, chống suy thoái về chính trị của đội ngũ nhà báo đòi hỏi “xây” phải đi liền với “chống”, không chỉ dừng lại ở khâu triển khai lãnh đạo, chỉ đạo, mà từng tổ chức đảng, từng cơ quan, đơn vị, địa phương, đặc biệt là mỗi nhà báo phải thật sự thấm nhuần và thực hiện nghiêm túc.
Phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ nhà báo hiện nay là cấp thiết và đòi hỏi có hệ thống giải pháp đồng bộ để giải quyết được cả những vấn đề cấp bách trước mắt và cả lâu dài; theo chúng tôi, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực báo chí và truyền thông. Theo đó, sự lãnh đạo của Đảng tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt là điều kiện tiên quyết để giữ vững định hướng chính trị của báo chí nói chung, tăng cường tính đảng của các sản phẩm báo chí và phẩm chất, bản lĩnh chính trị của đội ngũ nhà báo nói riêng. hiện nay, trước hết và trên hết phải thực hiện nghiêm Chỉ thị số 43 -CT/TW ngày 08-4-2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam trong tình hình mới.
Đẩy mạnh xây dựng các cơ quan báo chí, tổ chức Hội vững mạnh toàn diện; tiếp tục đổi mới và nâng cao vai trò, uy tín của Hội Nhà báo Việt Nam trong hoạt động báo chí và đời sống xã hội, góp phần xây dựng nền báo chí cách mạng Việt Nam giàu tính chiến đấu, nhân văn, chuyên nghiệp, hiện đại vì lợi ích của đất nước và Nhân dân.
Tiếp tục xây dựng đội ngũ nhà báo “vừa hồng, vừa chuyên”, trong đó tập trung xây dựng đội ngũ người làm báo có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ, gương mẫu về đạo đức nghề nghiệp, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; chú trọng giáo dục chính trị, tư tường, bồi dưỡng đạo đức cách mạng, nhất là đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành báo chí và đội ngũ nhà báo.
Hơn ai hết và không ai khác, đội ngũ nhà báo phải tự rèn luyện bản lĩnh chính trị, trau dồi đạo đức cách mạng. Đây là giải pháp có ý nghĩa quyết định trong phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ nhà báo hiện nay. Theo đó, từ nhà báo và cả đội ngũ nhà báo phải hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của mình. Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại lời của V.I.Lênin và căn dặn: “Về trách nhiệm báo chí, Lênin có nói: Báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung. Vì vậy, nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hoá, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công”./.
ST

SÁNG MÃI TÌNH ĐOÀN KẾT VIỆT NAM - CAMPUCHIA

 Sáng 27/12/2023, tại Thành phố Hồ Chí Minh, diễn ra Kỳ họp lần thứ VI giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam với Hội đồng Quốc gia Mặt trận Đoàn kết phát triển Tổ quốc Campuchia để đánh giá kết quả triển khai thực hiện các Dự án xây dựng, sửa chữa, tu bổ, tôn tạo Đài Hữu nghị Việt Nam - Campuchia tại Campuchia, thống nhất phương hướng phối hợp trong thời gian tiếp theo.

Đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Việt Nam do Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm Trưởng đoàn. Đoàn đại biểu Hội đồng Quốc gia Mặt trận Đoàn kết phát triển Tổ quốc Campuchia do Ngài Nhem Valy, Quốc vụ khanh Bộ Lễ nghi - Tôn giáo, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Quốc gia Mặt trận Đoàn kết phát triển Tổ quốc Campuchia, Chủ tịch Ủy ban sửa chữa, tu bổ, tôn tạo Đài Hữu nghị Việt Nam - Campuchia làm Trưởng đoàn. Dự hội nghị có Thiếu tướng Đặng Văn Lẫm, Phó Tư lệnh Quân khu 7.
Biểu tượng tình đoàn kết hữu nghị
23 Đài Hữu nghị Việt Nam – Campuchia là biểu tượng cho tình đoàn kết, gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam và Campuchia, là minh chứng lịch sử về sự hy sinh xương máu của các thế hệ đi trước để đổi lấy hòa bình và hạnh phúc cho nhân dân Campuchia.
Đài hữu nghị Việt Nam – Campuchia là minh chứng vô cùng sâu sắc và là một phần quan trọng trong mối quan hệ gắn bó tốt đẹp giữa hai nước láng giềng Việt Nam - Campuchia. Đây là di tích lịch sử thể hiện sự hợp tác, đoàn kết giữa nhân dân và quân đội hai nước đã vượt qua mọi khó khăn trong quá trình giành độc lập, hòa bình cho mỗi nước.
Vào năm 2015, Hội đồng Quốc gia Mặt trận Đoàn kết phát triển Tổ quốc Campuchia và Bộ Quốc phòng Việt Nam đã thống nhất thực hiện công tác khảo sát, kiểm tra, lập dự án sửa chữa, tu bổ, tôn tạo các Đài hữu nghị Việt Nam - Campuchia được xây dựng trên lãnh thổ Campuchia.
Dự án tu sửa, tôn tạo các tượng đài Hữu nghị Việt Nam – Campuchia có ý nghĩa to lớn, thể hiện tình cảm đoàn kết, gắn bó hữu nghị giữa quân đội và nhân dân hai nước, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân Campuchia đối với sự hy sinh xương máu của quân tình nguyện Việt Nam cũng như quân đội và nhân dân Campuchia trong thời kỳ những năm 1979, 1980, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng.
Ông Nhem Valy, Quốc vụ khanh Bộ Lễ nghi – Tôn giáo, Phó Chủ tịch thường trực, kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Quốc gia Mặt Trận Đoàn kết Phát triển Tổ quốc Campuchia, Chủ tịch Ủy ban sửa chữa, tu bổ, tôn tạo Đài Hữu nghị Việt Nam – Campuchia chia sẻ: “Chúng ta gìn giữ tình đoàn kết hữu nghị giữa 2 dân tộc giống như gìn giữ con ngươi của mình, nếu chúng ta không có con ngươi thì sẽ không còn thấy ánh sáng cho nên chúng ta phải gìn giữ tình hữu nghị đoàn kết. Chúng ta xây dựng Đài hữu nghị là để ghi nhớ công ơn của quân đội Việt Nam và lực lượng Mặt trận Cứu quốc Campuchia đã hy sinh xương máu của mình để giải phóng nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Pol Pot”.
Tiếp tục chung tay tôn tạo Đài hữu nghị
Tại Kỳ họp lần thứ VI giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam với Hội đồng Quốc gia Mặt trận Đoàn kết phát triển Tổ quốc Campuchia, hai bên đánh giá cao những kết quả đã đạt được theo nội dung Biên bản Kỳ họp lần thứ V, ký ngày 24 tháng 11 năm 2022. Đồng thời khẳng định, Bộ Quốc phòng Việt Nam và Hội đồng Quốc gia Mặt trận Đoàn kết phát triển Tổ quốc Campuchia phối hợp chặt chẽ trong việc khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo vệ các Đài Hữu nghị làm cơ sở nghiên cứu, xây dựng Thỏa thuận giữa hai Chính phủ Việt Nam - Campuchia về việc bảo vệ các công trình Đài Hữu nghị Việt Nam Campuchia; khảo sát, đề xuất phương án xây dựng, sửa chữa, tu bổ, tôn tạo các Đài Hữu nghị Việt Nam - Campuchia tại các tỉnh Pursat, Siem Reap, Mondulkiri, Prey Veng.
Hai bên tiếp tục thực hiện có hiệu quả các nội dung đã ký kết; phối hợp chặt chẽ, chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ những dự án đang xây dựng, triển khai bảo đảm chất lượng, hiệu quả. Hai trưởng đoàn thống nhất: Các Đài Hữu nghị Việt Nam - Campuchia tại Campuchia là công trình lịch sử văn hóa tiêu biểu cho quan hệ hai nước; do vậy, cần được quản lý, bảo vệ chặt chẽ. Chính vì vậy, phối hợp đẩy nhanh tiến độ xây dựng Thỏa thuận cấp Chính phủ về việc bảo vệ các công trình Đài Hữu nghị Việt Nam - Campuchia tại Campuchia.
Trưởng đoàn Việt Nam đề nghị, phía Campuchia tiếp tục rà soát các Đài Hữu nghị Việt Nam - Campuchia đã xây dựng tại Campuchia cần được xây dựng, sửa chữa, tu bổ, tôn tạo báo cáo cấp có thẩm quyền mỗi nước xem xét quyết định, theo đúng nội dung đã thống nhất tại các kỳ họp giữa hai bên; gửi hồ sơ các dự án cho phía Việt Nam thẩm định theo từng đợt; phía Việt Nam sẽ tổ chức đoàn công tác phối hợp với phía Campuchia khảo sát, kiểm tra các Dự án, làm cơ sở cho việc thẩm định, hỗ trợ kinh phí thực hiện bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả.
Thượng tướng Võ Minh Lương nhấn mạnh: “Từ năm 2015 đến nay, phía Việt Nam đã hỗ trợ kinh phí để Campuchia thực hiện 23 Dự án xây dựng, sửa chữa, tu bổ, tôn tạo Đài Hữu nghị Việt Nam - Campuchia và sửa chữa, nâng cấp trụ sở làm việc của Hội đồng Quốc gia Mặt trận Đoàn kết phát triển Tổ quốc Campuchia; trong đó, từ năm 2020 đến tháng 12 năm 2023, phía Việt Nam đã thẩm định và hỗ trợ phía Campuchia thực hiện 7 Dự án xây dựng, sửa chữa, tu bổ, tôn tạo Đài Hữu nghị Việt Nam - Campuchia tại Campuchia; hỗ trợ kinh phí làm đường vào Đài Hữu nghị Việt Nam - Campuchia tại tỉnh Siem Reap; hỗ trợ kinh phí cho Cơ quan Tổng Thư ký Hội đồng Quốc gia Mặt trận Đoàn kết phát triển Tổ quốc Campuchia”.
Với mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài, hai bên tin tưởng sẽ thực hiện thắng lợi chủ trương của hai Chính phủ Việt Nam - Campuchia về việc xây dựng, sửa chữa, tu bổ, tôn tạo các Đài Hữu nghị Việt Nam - Campuchia tại Campuchia./.
ST

NHỮNG CỐNG HIẾN TO LỚN CỦA ĐỒNG CHÍ ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG VÀ DÂN TỘC

 1. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - người cộng sản kiên trung, mẫu mực, nhà lãnh đạo tài năng

Khi còn là một thanh niên ở tuổi 17, được các lớp đàn anh giác ngộ cách mạng, người thanh niên Nguyễn Vịnh đã tham gia đấu tranh chống lại bọn cường hào ở địa phương và sau đó tham gia phong trào đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ những năm 1936 - 1939, được kết nạp và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1937.
Trên cương vị Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên ở tuổi 24, thực hiện chỉ thị của Xứ ủy Trung Kỳ, tháng 9/1938, Đồng chí đã lãnh đạo quần chúng cách mạng đấu tranh làm thất bại dự án tăng thuế của thực dân Pháp và chính quyền Nam triều. Sau cuộc đấu tranh đó, cuối năm 1938, Đồng chí bị bắt lần đầu và được thả, tiếp tục hoạt động, lãnh đạo, chỉ đạo nhiều cuộc mít tinh, biểu tình của Nhân dân đấu tranh ngăn chặn những cuộc đàn áp, khủng bố của thực dân Pháp.
Giữa năm 1939, Đồng chí bị thực dân Pháp bắt và kết án khổ sai, giam ở các nhà lao Thừa Phủ, Lao Bảo, Buôn Ma Thuột. Trong thời gian tù đày, dù bị tra tấn bằng nhiều cực hình dã man nhưng Đồng chí luôn kiên cường, thể hiện tinh thần bất khuất, gan dạ, giữ vững khí tiết của một người cộng sản. Đồng chí cùng các đảng viên cộng sản đã biến tòa án Nam triều thành diễn đàn tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và lên án tội ác của thực dân Pháp và bọn tay sai phản động. Trên cương vị Bí thư Chi bộ trong nhà tù, Đồng chí thể hiện là một chiến sĩ cộng sản kiên trung, một nhà lãnh đạo mẫu mực trong việc tổ chức đấu tranh chống khủng bố, chống tra tấn, chống đánh đập tù nhân, cải thiện đời sống nhà tù, đồng thời, hết sức quan tâm đến công tác giáo dục lý luận chính trị cho các đảng viên trong chi bộ và những người tù chính trị. Ở nhà tù Lao Bảo, Đồng chí lập ra “Tổ chức bí mật” nhằm tập hợp lực lượng, thống nhất hành động, thúc đẩy phong trào cách mạng, bắt liên lạc với tổ chức đảng từ bên ngoài. Cuối năm 1940, tổ chức này đã lãnh đạo thắng lợi cuộc đấu tranh tuyệt thực, tuyệt ẩm của tù nhân chính trị trong nhà tù Lao Bảo.
Tại nhà đày Buôn Ma Thuột, Đồng chí tham gia “Lực lượng trung kiên”, một tổ chức bí mật trong tù đóng vai trò như một chi bộ cộng sản và tiếp tục đấu tranh quyết liệt, ngoan cường. Mặc dù ba lần bị đế quốc bắt giam nhưng mỗi lần vượt ngục hay được thả, Đồng chí lại trở về với cách mạng, với Nhân dân, tiếp tục hoạt động, góp phần xây dựng cơ sở đảng, đẩy mạnh phong trào cách mạng ở tỉnh Thừa Thiên thời kỳ đó.
Trên cương vị Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, Bí thư Phân khu Bình - Trị - Thiên rồi Bí thư Liên khu ủy IV, Đồng chí đã vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng vào thực tiễn chiến trường Thừa Thiên; bình tĩnh, sáng suốt trong đánh giá tình hình, đưa ra những giải pháp về công tác tư tưởng, về chiến tranh nhân dân, chỉ đạo nhiều vấn đề cụ thể về lực lượng vũ trang bám đất, bám dân, phát triển chiến tranh du kích. Với nhãn quan chính trị, quân sự sắc bén, kiên trì quan điểm “dân là gốc”, Đồng chí đã góp phần đưa ra những quyết định táo bạo có ý nghĩa chuyển hướng lãnh đạo, xoay chuyển lại tình thế, tạo ra các bước ngoặt cách mạng, đưa cuộc kháng chiến ở mặt trận Huế dần khôi phục và mở ra một cục diện mới. Nhờ đó, phong trào cách mạng Bình - Trị - Thiên đã vươn lên hòa nhập cùng với phong trào cả nước, góp phần chặn đứng âm mưu chia cắt chiến lược của thực dân Pháp. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến Bình - Trị - Thiên khói lửa, xứng đáng với danh hiệu “Vị tướng du kích” mà Bác Hồ trao tặng.
Ở những bước chuyển của cách mạng, với phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực lãnh đạo, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng trao nhiều trọng trách. Nhận nhiệm vụ Trưởng ban Công tác nông thôn Trung ương - lãnh đạo, chỉ đạo một ngành kinh tế trọng yếu của đất nước, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã thể hiện tư duy của một nhà lãnh đạo trên lĩnh vực kinh tế thông qua tổ chức thực tiễn, bám sát cơ sở, lắng nghe ý kiến các nhà khoa học, dựa vào Nhân dân. Để giải quyết vấn đề hợp tác hóa nông nghiệp, Đồng chí đã đi sâu nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng và xác định phải xây dựng hợp tác xã trên 3 mặt: Cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật và nâng cao đời sống xã viên. Đồng thời, củng cố vai trò chiến lược của hợp tác xã nông nghiệp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, động viên và tổ chức được hàng vạn thanh niên ra tiền tuyến. Mặt trận nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh không chỉ bảo đảm một phần quan trọng về lương thực, thực phẩm cung cấp cho Nhân dân, góp phần xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững chắc, bước đầu chi viện cho cách mạng miền Nam, góp phần vào thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh “Thi đua là yêu nước”, Đồng chí đã lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức hiệu quả nhiều phong trào thi đua; luôn coi thi đua là phương pháp vận động cách mạng, nghệ thuật lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ chính trị. Trên thực tế, những phong trào thi đua như “Cờ Ba nhất” trong lực lượng vũ trang, “Gió Đại phong” trong nông nghiệp đã mang đậm dấu ấn của đồng chí Nguyễn Chí Thanh, cùng với các phong trào thi đua “Sóng Duyên hải” trong công nghiệp, “Trống Bắc lý” trong giáo dục đã trở thành điển hình tiêu biểu cho phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ, động viên được sức mạnh của hàng triệu con người vào sự nghiệp cách mạng.
Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn quyết liệt, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được cử vào miền Nam. Trên cương vị Bí thư Trung ương Cục kiêm Chính ủy quân giải phóng miền Nam, Đồng chí đã góp phần xác định đúng việc chuyển hướng chiến lược của Mỹ từ “Chiến tranh đặc biệt” sang “Chiến tranh cục bộ” (1965 - 1968), đưa ra những đánh giá, phân tích khoa học và biện chứng về thực chất sức mạnh của Mỹ, so sánh lực lượng giữa ta và địch, tìm ra những mâu thuẫn, chỗ yếu của đối phương, từ đó khẳng định quyết tâm đánh Mỹ và niềm tin đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Những quan điểm của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh về chủ nghĩa anh hùng cách mạng được coi như khâu đột phá về tư tưởng cho quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; thể hiện tầm tư duy quân sự của một nhà lãnh đạo tài năng, có uy tín lớn của Đảng. Đại tướng khẳng định:“Chủ nghĩa anh hùng cách mạng của chúng ta mang trong mình nó một tư tưởng lớn của thời đại là không sợ Mỹ, dám đánh Mỹ, quyết đánh Mỹ, đấu tranh vì độc lập, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội”.
Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng và dân tộc ta mãi mãi khắc ghi tư tưởng chỉ đạo tác chiến mang đậm dấu ấn Đại tướng Nguyễn Chí Thanh như “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”, “cứ đánh Mỹ khắc tìm ra cách đánh hay” lập các “vành đai diệt Mỹ”... Những phân tích, nhận định, đánh giá tình hình chiến trường miền Nam của Đại tướng đã góp phần cùng Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đánh giá đúng sức mạnh thật sự của đế quốc Mỹ, sự phát triển của cách mạng miền Nam, từ đó hoạch định đường lối kháng chiến. Nhiều quan điểm, tư tưởng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thể hiện chiến lược tiến công với niềm tin nhất định thắng Mỹ, cùng với những phương châm chỉ đạo tác chiến độc đáo được Ban Chấp hành Trung ương Đảng nghiên cứu, chắt lọc đưa vào các nghị quyết Trung ương như Nghị quyết Trung ương 11 và 12 khóa III, kế hoạch cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Đồng chí luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc gắn liền với giải phòng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động, giải phóng con người. Đồng chí luôn chăm lo, xây dựng mối quan hệ đoàn kết, thống nhất các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới; tăng cường đoàn kết quân dân, củng cố khối liên minh công - nông - trí thức. Nhận thức rõ tầm quan trọng của xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, Đồng chí khẳng định: “Nhiệm vụ trọng đại của chúng ta là đào tạo nên hàng vạn, hàng triệu con người mới” và chỉ rõ con người mới phải gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp, với hiện thực cách mạng Việt Nam, phải có lập trường, tư tưởng kiên định, đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội với những phẩm chất cao đẹp.
Với tác phong sâu sát thực tiễn, gắn bó máu thịt với Nhân dân, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thường xuống cơ sở nghiên cứu tình hình, tìm những hình thức và biện pháp thích hợp thực hiện đường lối của Đảng. Đồng chí đặc biệt coi trọng việc chỉnh đốn các tổ chức của Đảng và phát triển các đoàn thể quần chúng. Từ sáng kiến của Đồng chí, các cơ sở đảng và đoàn thể được sắp xếp lại gọn nhẹ, tăng cường hiệu lực. Các cuộc hội nghị được chuẩn bị và rút ngắn thời gian nhưng hiệu quả. Cán bộ, đảng viên được nâng cao về nhận thức đường lối, sửa đổi lề lối làm việc.
Quá trình hoạt động cách mạng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cho thấy, Đồng chí liên tục có mặt ở những mặt trận khó khăn nhất, trong những thời điểm đầy thử thách, quyết liệt. Vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, một lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Đồng chí nêu cao tinh thần trách nhiệm, cống hiến hết mình cho dân tộc và Tổ quốc. Trên mỗi cương vị và trọng trách của mình, Đồng chí để lại dấu ấn sâu sắc về cả tư duy lãnh đạo và tổ chức thực hiện, tạo ra bước phát triển mới cho phong trào cách mạng trong cả thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội./.
St

NGÔ THỊ TUYỂN, 19 TUỔI, NẶNG 42KG, VÁC 2 THÙNG Đ.ẠN NẶNG 98KG

 

Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Ngô Thị Tuyển sinh năm 1946, người đã đi vào lịch sử như một huyền thoại, với kỳ tích vác 2 hòm đ.ạn nặng hơn gấp đôi trọng lượng cơ thể mình.
Sáng ngày 04/4/1965, Mỹ huy động hàng chục chiếc máy bay, điên cuồng trút b.o.m đạn xuống Hàm Rồng lần nữa. Không ngại nguy hiểm, bà tiếp tục cùng đồng đội gánh cơm cho bộ đội trên tàu và những trận địa trên bờ gần đó.
Cả đêm mùng 3 thức trắng khiến bà thấm mệt, mặc dù được khu đội cho nghỉ nhưng vừa lúc đó, lại có xe ô tô tiếp đ.ạn tới, bà cùng mọi người hối hả vác đ.ạn.
Bất ngờ gặp hai hòm đ.ạn dính vào nhau, mọi người dùng thuổng bật ra nhưng chưa được. Khi đó, đạn pháo 37ly trên tàu gần cạn kiệt, chỉ cần bộ đội ngừng b.ắn trả một phút là cầu Hàm Rồng có thể bị phá hủy.
Tình thế thật cấp bách, cô gái trẻ Ngô Thị Tuyển quả quyết, nhờ đồng đội nâng hai hòm đạn lên vai, rồi vác luôn chúng chạy băng qua hào sâu, dưới mưa b.om để tiếp đạn.
Hồi ấy, bà mới 19 tuổi, cân nặng chỉ có 42 kg. Chính bà cũng không ngờ lúc đó lại vác được hai hòm đ.ạn nặng 98kg, mãi sau này được các anh bộ đội nói lại, bà mới rõ./.
ST