Thứ Tư, 27 tháng 12, 2023

 

Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhìn từ góc độ quan hệ quốc tế

Bài viết phân tích cơ sở chỉ đạo, định hướng chính sách đối ngoại của Việt Nam qua các kỳ đại hội Đảng từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay; làm rõ thành tựu đối ngoại qua năm góc độ: mở rộng đối ngoại song phương; hội nhập và nâng tầm ngoại giao đa phương; thu hút đầu tư nước ngoài; bảo vệ chủ quyền lãnh thổ; đóng góp vào việc gìn giữ hòa bình, ổn định và an ninh khu vực và trên thế giới. Từ đó đúc rút một số bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới theo tinh thần bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2021) và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021- 2026, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.  Trong bài viết này, Tổng Bí thư khẳng định, xã hội XHCN mà Việt Nam xây dựng phải có đặc trưng của “một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(1).

Vậy, một nước Việt Nam XHCN “có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới” là như thế nào trên con đường đi lên CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam? Quan hệ hữu nghị và hợp tác đó đem lại và phục vụ lợi ích gì cho sự phát triển của Việt Nam? Nội dung bài viết sẽ làm sáng tỏ những vấn đề nêu trên.

1. Phương châm chỉ đạo và định hướng chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thành tựu đối ngoại của Việt Nam trong hơn 35 đổi mới được thể hiện trong cả nhận thức và thực tiễn, trong chính sách và triển khai thực hiện. Nhưng trước hết phải là thành tựu về đổi mới tư duy và nhận thức, về xây dựng chính sách, bởi không có tư duy và nhận thức đúng, không có chính sách phù hợp với thực tiễn và thời đại, thì sẽ không thể có thành tựu trong thực tiễn, nhất là trong bối cảnh tình hình phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, an ninh khu vực và thế giới biến động nhanh chóng, khó lường từ cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 thế kỷ XX. Bản thân đường lối đổi mới được thông qua tại Đại hội VI đã là một thành tựu của đổi mới tư duy và nhận thức của Đảng ta về con đường phát triển và đi lên CNXH ở nước ta.

Sự nghiệp xây dựng và con đường đi lên CNXH của nước ta tưởng như khó khăn, trắc trở và thậm chí có nguy cơ phải dừng bước trước tác động của khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng vì những sai lầm nóng vội chủ quan và sự bao vây, cấm vận của các thế lực bên ngoài trong gần hai thập niên sau khi nước ta đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Đặc biệt, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra, con đường đi lên CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng ta đã có lúc bị hồ nghi và phê phán “sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào... Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ đó họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Có người còn phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường xã hội chủ nghĩa!”(2).

Trước những khó khăn ấy, Đảng ta một lần nữa lại thể hiện bản lĩnh vững vàng của một Đảng của dân tộc và vì dân tộc, luôn “vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Ðảng ta không có lợi ích gì khác”, kiên định con đường đi lên CNXN như Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn.

Với tư duy nhạy bén, bằng nhãn quan và tầm nhìn sắc sảo về xu hướng phát triển của thời đại, trên tinh thần cầu thị “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật”, tại Đại hội VI (tháng 12-1986), Đảng ta đã chính thức phát động công cuộc đổi mới toàn diện trên tất cả các mặt, trong đó đổi mới và mở rộng hoạt động đối ngoại được xác định như một mũi tiên phong để phá thế bao vây, cấm vận, “ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại” nhằm tranh thủ mọi nguồn lực để phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước.

Đại hội VI xác định, ngoài việc khẳng định tăng cường quan hệ truyền thống đặc biệt giữa ba nước Đông Dương, quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với các nước trong khối XHCN, Đảng ta bày tỏ sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước, bao gồm cả các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Nghị quyết số 13/NQ-TW ngày 20-5-1988 của Bộ Chính trị “về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới” xác định chiến lược đối ngoại của Việt Nam là “mở rộng quan hệ và đa dạng hóa quan hệ hợp tác quốc tế” với mục tiêu là thúc đẩy hội nhập quốc tế, phá thế bao vây và cấm vận, thu hút sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế cho công cuộc đổi mới đất nước. Từ chủ trương và chiến lược đối ngoại này mà nước ta đã dần thoát ra khỏi thế bao vây và cấm vận, đồng thời từng bước mở rộng quan hệ chính trị, ngoại giao và kinh tế với các nước, tổ chức và định chế quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài để thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới. 

Tại Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng ta long trọng tuyên bố “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Cũng tại Đại hội này, Đảng ta thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó chủ trương “thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước”.

Từ sau Đại hội VIII (tháng 6-1996), Đảng ta tiếp tục khẳng định chính sách đối ngoại nhất quán của ta là “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ”, đồng thời nhấn mạnh tính “chủ động và tích cực” trong hội nhập quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh “thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Đặc biệt, Đại hội XIII (năm 2021) chỉ rõ: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại... Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”(3).

Sự nhạy bén về tư duy và linh hoạt trong thực hiện chính sách đối ngoại qua các kỳ đại hội còn được thể hiện trong nhiều nghị quyết, chỉ thị, chiến lược và văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị và Trung ương Đảng ta nhằm đạt mục tiêu phát triển của đất nước, được xác định cho từng giai đoạn. Trong số những văn bản này, bên cạnh Nghị quyết số 13 có tính bước ngoặt cho hoạt động đối ngoại như đã nêu ở trên, còn có Nghị quyết số 07 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế (năm 2001), Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới (năm 2003), Nghị quyết số 22 về hội nhập quốc tế (năm 2013), Nghị quyết số 28 về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới (năm 2013), Nghị quyết số 06 về hội nhập kinh tế quốc tế (năm 2016), Chỉ thị số 32 về tăng cường và nâng cao hiệu quả quan hệ đối ngoại đảng trong tình hình mới (năm 2018), Chỉ thị số 25 về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030 (năm 2018) và nhiều nghị quyết, chỉ thị liên quan khác. Các văn kiện đại hội và những nghị quyết, chỉ thị này của Đảng là cơ sở chỉ đạo triển khai thực hiện và thu được những thành tựu nổi bật của hoạt động đối ngoại của Việt Nam từ khi đổi mới cho đến nay.

2. Thành tựu đối ngoại trong thực tiễn 35 năm đổi mới

Thành tựu đối ngoại của Việt Nam trong thực tiễn 35 năm đổi mới có thể nhận thấy rõ nét qua từng con số, dấu ấn tham gia của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế, sự nhìn nhận và đánh giá vị thế, vai trò, tiếng nói và ảnh hưởng của Việt Nam từ các đối tác nước ngoài trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Đây là điều không phải quốc gia nào cũng có thể đạt được khi Việt Nam mới thực sự được hưởng hòa bình được hơn 30 năm, chịu bao vây cấm vận gần 20 năm, tiến hành công cuộc đổi mới, mở cửa hội nhập được hơn 35 năm.

- Mở rộng quan hệ đối ngoại song phương

Trong giai đoạn trước đổi mới, ngay cả sau khi chúng ta đã trở thành thành viên chính thức của Liên hợp quốc vào năm 1977, một tổ chức đa phương rộng lớn toàn cầu, quan hệ đối ngoại ở cấp độ song phương của Việt Nam chủ yếu vẫn giới hạn với các nước trong phe XHCN và phong trào không liên kết. Điều này cũng dễ hiểu, vì khi đó chúng ta là thành viên trong phe XHCN và đang bị bao vây cấm vận từ phía Mỹ và các nước phương Tây. Tuy vậy, trong giai đoạn 1976-1986, Việt Nam cũng tìm cách thúc đẩy quan hệ và thiết lập cơ quan ngoại giao ở một số nước tư bản như Nhật Bản, Canađa, Cộng hòa Liên bang Đức, Ôxtrâylia. Tính đến cuối thập niên 1980, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 116 quốc gia, trong đó có một số nước phương Tây là đồng minh của Mỹ, cụ thể gồm: 8 quốc gia Đông Nam Á, 20 quốc gia Đông Á - Nam Á và Trung Cận Đông, 28 quốc gia châu Âu, 16 quốc gia Nam- Bắc Mỹ và Mỹ Latinh, 41 quốc gia châu Phi, và 4 quốc gia khu vực Thái Bình Dương.

Sau 35 năm đổi mới, thực hiện chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa với tinh thần Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, bao gồm cả các nước có thể chế chính trị và chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, cho đến nay, chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189 nước/193 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc, có quan hệ kinh tế - thương mại với hơn 230 nước và vùng lãnh thổ. Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước và đối tác toàn diện với 13 nước. Trong số 5 nước ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với bốn nước (Anh, Nga, Pháp và Trung Quốc) và quan hệ đối tác toàn diện với Mỹ.

Trong khi đặt trọng tâm và không phân biệt quan hệ song phương với tất cả các quốc gia, Việt Nam cũng xác định thứ tự ưu tiên quan hệ với các nước. Theo đó, thứ tự ưu tiên là các nước láng giềng, các nước có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, các nước bạn bè truyền thống và các đối tác quan trọng khác. Có thể nói, quan hệ song phương của Việt Nam với các nước sau 35 năm đổi mới đã tăng cả về lượng và chất, mở rộng phạm vi cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, trong đó có những nước là đối tác có ý nghĩa chiến lược với Việt Nam trong việc ứng phó với những thách thức về an ninh và bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta.

- Tăng cường hội nhập khu vực, quốc tế và nâng tầm đối ngoại đa phương

Thúc đẩy và tăng cường hội nhập khu vực, đặc biệt là gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), là một trong những ưu tiên chiến lược của ngoại giao Việt Nam từ khi đổi mới. Ngay từ tháng 7 - 1986, Bộ Chính trị khóa V đã ra nghị quyết điều chỉnh bước đầu chính sách đối ngoại của Việt Nam, trong đó nhấn mạnh cần chủ động chuyển sang thời kỳ cùng tồn tại hòa bình, góp phần xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình, ổn định và hợp tác.

Quán triệt đường lối từ Đại hội VI cho đến nay, hoạt động đối ngoại đã chủ động, tích cực triển khai mạnh và hiệu quả chủ trương lớn về hội nhập khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế, vai trò, tiếng nói và dẫn dắt của Việt Nam trong các tổ chức khu vực và quốc tế, các diễn đàn đa phương. Điều này được thể hiện cụ thể qua việc Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN (tháng 7-1995) và đến nay đã hai lần đảm nhiệm vai trò chủ tịch luân phiên của tổ chức này (năm 2010 và 2020), chủ động và tích cực có những đóng góp trong quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, tăng cường đoàn kết nội khối và nâng cao vị thế, vai trò của ASEAN trên phạm vi toàn cầu; trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007; tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) năm 1996; gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC)  năm 1998. Đồng thời, Việt Nam vẫn duy trì là thành viên tích cực của Cộng đồng Pháp ngữ và Phong trào không liên kết.

Ở phạm vi toàn cầu, Việt Nam đã chủ động tham gia các cơ chế của Liên hợp quốc như Hội đồng Bảo an, Ủy ban nhân quyền, Hội đồng kinh tế - xã hội của Liên hợp quốc... Đặc biệt, Việt Nam đã hai lần trúng cử là ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 và 2020-2021; trúng cử thành viên Ủy ban pháp luật quốc tế của Liên hợp quốc (2007-2022). Năm 2020, Việt Nam lần đầu tiên đề xuất và bảo vệ thành công Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc về Ngày Quốc tế phòng chống dịch.

Việc tăng cường hội nhập sâu vào khu vực và thế giới, chủ động và tích cực tham gia các cơ chế đa phương ở mọi cấp độ đã nâng cao được vị thế và tiếng nói của Việt Nam trong các vấn đề có lợi ích không chỉ với nước ta mà còn cho khu vực và trên thế giới, thể hiện đúng với chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước, đó là Việt Nam không chỉ là bạn và đối tác tin cậy mà còn là “thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

- Thu hút đầu tư nước ngoài và hội nhập sâu rộng kinh tế quốc tế

Ngoại giao phục vụ xây dựng đất nước, phát triển kinh tế. Đó là yêu cầu và là ưu tiên cao nhất từ khi triển khai đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới. Nghị quyết Trung ương 13 khóa VI (năm 1988) với chủ đề “Giữ vững hòa bình, phát triển kinh tế” xác định một trong những ưu tiên của ngoại giao là phát triển kinh tế. 

Trong hơn 35 năm đổi mới, hoạt động đối ngoại đã có nhiều đóng góp thiết thực vào việc tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Kinh tế Việt Nam trong suốt 35 năm qua luôn tăng trưởng ở mức trung bình khoảng 6,5% năm, trở thành một trong những điểm sáng về tăng trưởng kinh tế và được dự báo là “con hổ” kinh tế Đông Á tiếp theo. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, đạt 342,7 tỷ đôla Mỹ (USD) trong năm 2020, trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người đạt 3.512 USD/năm, tăng gần 17 lần so với trước đổi mới. Từ năm 2008, nước ta đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp.

Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực, mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng tốp đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỷ USD.

Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỷ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỷ USD vào cuối năm 2020. Về cơ cấu nền kinh tế xét trên phương diện quan hệ sở hữu, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam hiện nay gồm khoảng 27% từ kinh tế nhà nước, 4% từ kinh tế tập thể, 30% từ kinh tế hộ, 10% từ kinh tế tư nhân trong nước và 20% từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài(4).

Trong khi đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam phần lớn nhờ tăng cường quan hệ song phương, sự phát triển kinh tế và mở rộng quy mô nền kinh tế của Việt Nam còn hưởng lợi từ việc chúng ta ký kết và gia nhập các hiệp định kinh tế tự do cả ở cấp độ song phương và đa phương. Đến nay, Việt Nam đã ký gần 60 hiệp định thương mại tự do (FTA) cả song phương và đa phương thế hệ mới, chiếm 59% dân số, 61% GDP, 68% thương mại toàn cầu.

Những con số này cho thấy nền kinh tế Việt Nam hiện nay là một trong những nền kinh tế có độ mở lớn nhất thế giới, vừa mang lại nhiều cơ hội song cũng không ít thách thức. Song, điều quan trọng là chính nhờ sự hội nhập sâu rộng này mà ngoại giao giờ đây đóng vai trò kép, vừa phục vụ phát triển, vừa bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa.”

- Bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ

Xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau. Ngoại giao có vai trò và nhiệm vụ to lớn đóng góp vào cả hai nhiệm vụ này, đặc biệt là trong hơn 35 năm đổi mới.

Phát biểu tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ngày 14-12-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có đánh giá tổng quát về vai trò của đối ngoại trong công tác bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ: “đối ngoại đóng vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước”(5).

- Đóng góp vào gìn giữ hòa bình, ổn định và an ninh khu vực và trên thế giới

Các văn kiện đại hội Đảng từ Đại hội XI (năm 2011) cho đến nay đều khẳng định: “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Điều này cho thấy ý thức trách nhiệm của Việt Nam đối với tương lai của nhân loại. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng, thực hiện nghĩa vụ quốc tế, “chia ngọt sẻ bùi” với bạn bè thế giới ngay cả khi Việt Nam ở giai đoạn khó khăn nhất, là truyền thống của nước ta trong suốt chặng đường từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến nay.

Đóng góp thiết thực của Việt Nam vào duy trì hòa bình, ổn định và an ninh khu vực và trên thế giới thể hiện qua lập trường của Việt Nam đối với các vấn đề an ninh và hòa bình ở khu vực và trên thế giới, cách hành xử trong giải quyết tranh chấp chủ quyền và lãnh thổ trên Biển Đông. Những đóng góp này đều được khẳng định, đặc biệt qua hai lần Việt Nam đảm nhiệm vai trò chủ tịch luân phiên của ASEAN và ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Dấu ấn nổi bật về đóng góp của Việt Nam vào gìn giữ hòa bình, ổn định và an ninh khu vực và trên thế giới là sự tham gia của Việt Nam vào lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Từ năm 2014 đến nay, chúng ta đã cử 53 sĩ quan triển khai theo hình thức cá nhân và 126 bác sỹ, nhân viên y tế của Bệnh viện dã chiến cấp 2. Chỉ huy Phái bộ và Liên hợp quốc đánh giá cao kết quả thực hiện nhiệm vụ của cả 2 Bệnh viện dã chiến cấp 2. Phó Tổng thư ký Liên hợp quốc phụ trách hoạt động gìn giữ hòa bình và Cố vấn Quân sự của Tổng thư ký Liên hợp quốc đã gửi thư cảm ơn Chính phủ Việt Nam về sự đóng góp y tế. Năm 2020, ba sĩ quan của Cục gìn giữ hòa bình Việt Nam đã được bổ nhiệm là nhân viên tại cơ quan hoạch định chính sách của Liên hợp quốc và sĩ quan điều phối hoạt động quân sự của Phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và quân đội Cộng hòa Trung Phi tại Cộng hòa Trung Phi. Trong năm 2021, Việt Nam cử Đội công binh số 1 và Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 4 tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Tinh thần và trách nhiệm của Việt Nam với cộng đồng quốc tề còn được thể hiện trong cuộc chiến chống đại dịch Covid -19. Cho đến nay, chúng ta đã tiến hành hỗ trợ và viện trợ trang thiết bị y tế cho 51 nước và tổ chức quốc tế. Tất cả những đóng góp và viện trợ trên trong bối cảnh Việt Nam cũng đang gặp khó khăn và chưa phải là một nước phát triển cao đã góp phần nâng cao hình ảnh và uy tín của Việt Nam, thể hiện rõ tinh thần nhân văn và trách nhiệm của nước ta với cộng đồng thế giới.

3. Bài học kinh nghiệm và một số nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới

Trong 35 năm qua, hoạt động đối ngoại đã góp phần quan trọng vào việc duy trì, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phục vụ thiết thực cho nhiệm vụ phát triển kinh tế, nhất là kinh tế đối ngoại; qua đó góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; góp phần xứng đáng vào nhiệm vụ giữ vững chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước(6).

Thực tiễn đối ngoại trong 35 năm đổi mới đã để lại cho Việt Nam nói chung, ngành ngoại giao nói riêng những bài học quan trọng. Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, 5 bài học quan trọng đó là:

- Bài học về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, hài hòa lợi ích quốc gia dân tộc với trách nhiệm quốc tế. Tình hình thế giới biến chuyển phức tạp, song xu thế lớn và nguyện vọng thiết tha của các dân tộc vẫn là giữ vững hòa bình, mở rộng hợp tác vì sự phát triển. Việt Nam xác định rõ hơn vị trí của mình trong phân công lao động quốc tế, cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị, chuỗi sản xuất và cung ứng khu vực và toàn cầu. Đường lối, chính sách và mục tiêu trước sau như một của chúng ta luôn luôn phù hợp với xu thế lớn đó của tình hình thế giới. Lợi ích quốc gia dân tộc của chúng ta lúc này là bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi để phát triển. Điều đó hoàn toàn phù hợp với lợi ích của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

- Bài học kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược. Nguyên tắc của chúng ta là độc lập dân tộc và CNXH. Sách lược của chúng ta là cơ động, linh hoạt điều chỉnh tùy theo vấn đề, tùy từng thời điểm và tùy theo đối tượng hay đối tác, tuân thủ những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, “thêm bạn bớt thù”, “làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với ai”.

- Bài học về xây dựng sự đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân như căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “sự nghiệp thành công bởi chữ đồng”. Đường lối đối ngoại đúng đắn và sự triển khai hiệu quả các chính sách cụ thể đã góp phần tạo ra sự đồng thuận lớn của toàn bộ hệ thống chính trị. Cơ chế thống nhất quản lý đối ngoại ngày càng hoàn thiện; cơ chế phối hợp ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế với ngoại giao an ninh - quốc phòng, ngoại giao văn hóa đã có nhiều cải tiến, góp phần làm nên sức năng động, hiệu quả cao của hoạt động đối ngoại.

- Bài học về công tác xây dựng ngành và công tác cán bộ. Các thế hệ cán bộ đối ngoại đã hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ của mình trong các giai đoạn lịch sử khác nhau của đất nước, trong đó có đội ngũ cán bộ của Bộ Ngoại giao với chức năng tham mưu và trực tiếp triển khai công tác đối ngoại. “Mang chuông đi đánh xứ người” là một công việc rất khó khăn và vất vả, đòi hỏi những phẩm chất đặc biệt của người làm công tác đối ngoại. Những nỗ lực trên mặt trận đối ngoại thời gian qua đã tạo ra lớp lớp thế hệ cán bộ đối ngoại ngày càng hội đủ tố chất vừa hồng vừa chuyên, bước đầu thể hiện được bản lĩnh, đạo đức, cốt cách của các nhà ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh.

- Cuối cùng, bao trùm tất cả là bài học về sự lãnh đạo thống nhất, tuyệt đối của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước. Các cơ quan lãnh đạo của Đảng, trước hết là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cùng các cơ quan tham mưu đã chứng tỏ sự nhạy bén trong nhận định và nắm bắt tình hình, quyết đoán trong việc đưa ra các biện pháp, chính sách cụ thể. Nhiều chủ trương, giải pháp xử lý những vấn đề phức tạp, trong đó có vấn đề Biển Đông, những tính toán lựa chọn đúng thời điểm tiến hành những hoạt động đối ngoại lớn, trong đó có các sự kiện đón và thực hiện các chuyến thăm cấp cao, đã thực sự đưa đến tác động mạnh mẽ có sức thuyết phục, tạo được sự đồng thuận cao trong toàn Đảng, toàn dân và được dư luận quốc tế đồng tình, ủng hộ.

Trong thời gian tới, theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, xây dựng CNXH là “kiến tạo một xã hội hoàn toàn mới”, vì vậy, nhiệm vụ của chúng ta, trong đó có ngành ngoại giao là phải góp phần cùng “nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn của thế giới và thời đại.” Nếu như không phải ngoại giao là tiên phong thì ai sẽ gánh vác trọng trách này.

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa, khu vực hóa, đó là xu thế không thể đảo ngược. Để xây dựng xã hội XHCN ở Việt Nam không có nghĩa là chúng ta chỉ nghiên cứu thực tiễn của Việt Nam, không có nghĩa là chúng ta đóng cửa, biệt lập, khép kín, vì thế giới này là phẳng và chúng ta phải sẵn sàng học tập kinh nghiệm của các nước khác trên tinh thần chọn lọc, khoa học. Trong bối cảnh đó, nguyên tắc và chủ trương đối ngoại của chúng ta như Đại hội XIII khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”(7).

__________________

(1), (2), (4), (5) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.24, 18, 31, 186.

(3), (7) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.161-163, 161.

(6) Xem Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.178-201.

CĐ,VS (st)

 

Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Đại hội XIII của Đảng định hướng: “Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch...”. Bài viết làm rõ một số vấn đề chung về xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, thực trạng xây dựng nền hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, từ đó đề xuất một số giải pháp xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

1. Những yêu cầu đối với xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”(1). Quan điểm trên được thể hiện xuyên suốt, có tính nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, do đó, xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân là một trong những định hướng (mục tiêu) nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân là nền hành chính vì lợi ích của nhân dân, “lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân... làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”(2). Do vậy, việc xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân cần đáp ứng các yêu cầu:

Thứ nhất, hệ thống thể chế hành chính nhà nước cần được xây dựng, ban hành vì nhân dân, lấy người dân làm trung tâm

Thể chế hành chính nhà nước quy định tổ chức, hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; là cơ sở pháp lý thực hiện chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm sự phát triển xã hội, duy trì trật tự kỷ cương chung... Do đó, trong quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế hành chính nhà nước đòi hỏi tiến hành đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực; gắn hoàn thiện thể chế với nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cá nhân, tổ chức và toàn xã hội... Theo đó, phải bảo đảm các nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch... thu hút sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp nhân dân vào hoạt động xây dựng thể chế; thể chế phải phản ánh được ý chí, tâm tư nguyện vọng của người dân; giải quyết những vấn đề bức xúc trong dân.

Thứ hai, hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương phải được tổ chức tinh gọn, hoạt động hiệu quả vì nhân dân

Cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước được xác lập theo quy định tại Hiến pháp năm 2013, cụ thể hóa tại Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước bảo đảm tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; tinh gọn, năng động, hiệu lực, hiệu quả...; bảo đảm minh bạch, hiện đại hóa; bảo đảm thực hiện một nền hành chính thống nhất, thông suốt, liên tục, dân chủ, hiện đại, phục vụ nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân(3).

Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức phải “có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước”(4).

Yêu cầu trên thể hiện trong các quy định pháp luật về cán bộ, công chức, đòi hỏi trong thực thi công vụ phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; “tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân; Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân...”(5). Trong giao tiếp với nhân dân, cán bộ, công chức phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc; khi thi hành công vụ, không hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân.

Thứ tư, bảo đảm tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức. Xuất phát từ phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đòi hỏi mọi thông tin ngay từ khi xây dựng, ban hành thể chế, đến tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước; nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự, thủ tục và kết quả giải quyết công việc của đội ngũ cán bộ, công chức đều phải công khai, minh bạch. Qua đó, vừa bảo đảm quyền được biết thông tin, vừa bảo đảm quyền giám sát của người dân đối với cơ quan hành chính nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức trong hoạt động thực thi công vụ. Ngoài ra, trách nhiệm giải trình của hệ thống hành chính nhà nước thể hiện trong việc thông tin cho người dân biết về các quyết định, cũng như trách nhiệm về các quyết định đó.

Thứ năm, ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, qua đó, nâng cao chất lượng phục vụ người dân; bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với người dân, tổ chức, doanh nghiệp. Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 của Chính phủ xác định mục tiêu “bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 80% vào năm 2020” và trọng tâm là “nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công”. Thông qua kết quả đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan này sẽ nhận biết các yêu cầu, mong muốn của người dân, tổ chức, từ đó có giải pháp nâng cao chất lượng phục vụ và cung ứng dịch vụ cho người dân, tổ chức(6).

2. Thực tiễn xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020

Những kết quả đạt được

Thứ nhất, công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế hành chính nhà nước đã được các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương quan tâm, chỉ đạo và đạt được những kết quả nhất định. 

Thể chế về các lĩnh vực trong đời sống xã hội tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện. Tính từ năm 2012 đến 2020, tổng số văn bản quy phạm pháp luật do các bộ ban hành là hơn 8.600 văn bản; mỗi năm các bộ trình Chính phủ ban hành hơn 140 nghị định hướng dẫn, đã thiết lập khuôn khổ thể chế cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa(7), qua đó tạo thuận lợi hơn cho người dân; đồng thời tạo lập cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và các cấp chính quyền địa phương. Đặc biệt, thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân tiếp tục được hoàn thiện, bảo đảm quyền, nghĩa vụ của người dân khi tham gia xây dựng Nhà nước. Tính từ năm 2014 đến hết tháng 6-2019, Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phù hợp với Hiến pháp năm 2013(8).

Thứ hai, hệ thống hành chính nhà nước được sắp xếp theo hướng bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Việc phân cấp, phân quyền rõ nét hơn theo hướng phân công theo ngành, lĩnh vực cho các bộ, ngành chủ trì và chịu trách nhiệm; đồng thời bảo đảm sự phối hợp giữa các bộ, ngành trong thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trên mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội. Kết quả triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII cho thấy đã giảm được nhiều đầu mối bên trong các bộ, ngành và địa phương, đặc biệt giảm trên 25% đơn vị sự nghiệp, nhất là ở các địa phương đã giảm 3.980 đơn vị sự nghiệp; thực hiện tích cực việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã (đã giảm 08/713 đơn vị hành chính cấp huyện và 557/11.160 đơn vị hành chính cấp xã; 38.369/98.455 thôn, bản, tổ dân phố, tương ứng giảm 39%)(9).

Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức được đào tạo ngày càng chính quy; tính chủ động, trách nhiệm và tính chuyên nghiệp được nâng cao từng bước, qua đó phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn. Công tác quản lý cán bộ, công chức hiệu quả hơn, đã giảm cấp trung gian, giảm số lượng cán bộ lãnh đạo, giảm biên chế; cơ cấu lại, từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, giảm chi phí hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động(10).

Thứ tư, Chính phủ đã từng bước hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, xây dựng Chính phủ điện tử, đô thị thông minh và khai trương Cổng dịch vụ công quốc gia vào tháng 12-2019. Do đó, tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước đã bảo đảm công khai, minh bạch, người dân tiếp cận thông tin, giám sát hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước thuận lợi hơn. Bên cạnh đó, việc xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần hình thành cơ sở dữ liệu về dân cư, đất đai, tài chính, đăng ký doanh nghiệp... đã phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi trong giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp(11).

Đặc biệt, trong năm 2020, những kết quả đã đạt được trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 là minh chứng rõ nét, với nhiều chính sách bảo vệ sức khỏe, sự an toàn, tính mạng của người dân là “trên hết” và “trước hết”, ưu tiên nguồn lực tài chính cho vắc xin, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong truy vết, khoanh vùng dịch, theo dõi sức khỏe, tư vấn, khám chữa bệnh qua hệ thống Telehealth...

Ngoài ra, từ năm 2017, Bộ Nội vụ đã triển khai toàn quốc bộ Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS). Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương đã tiến hành khảo sát sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với các dịch vụ hành chính công, dịch vụ sự nghiệp công thuộc phạm vi quản lý. Kết quả đánh giá hàng năm đã cho thấy sự chuyển biến tích cực trong tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương, lấy người dân làm trung tâm, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.

Những hạn chế

Một là, về thể chế hành chính nhà nước. Vẫn còn tình trạng nợ văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh đã có hiệu lực pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của các bộ, cơ quan ngang bộ, dẫn đến gây khó khăn trong công tác tổ chức thi hành luật. Tính đến tháng 2-2021, còn 17 văn bản hướng dẫn luật chi tiết có hiệu lực thi hành vẫn chưa được ban hành; trong đó, Bộ Công an nợ 1 văn bản, Bộ Tài chính nợ 2 văn bản; Bộ Nội vụ nợ 5 văn bản, Bộ Giáo dục và Đào tạo nợ 1 văn bản; Bộ Xây dựng nợ 1 văn bản; Bộ Kế hoạch và Đầu tư nợ 4 văn bản; Bộ Tài nguyên và Môi trường nợ 2 văn bản; Bộ Thông tin và Truyền thông còn nợ 2 văn bản(12).

Hai là, hệ thống hành chính nhà nước chưa thật sự tinh gọn, hiệu quả. Việc phân công, phân cấp, phân quyền giữa các ngành, các cấp chưa hợp lý, mạnh mẽ và đồng bộ; năng lực của một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu(13); trong khi sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương thiếu chặt chẽ; thực hiện đổi mới lề lối làm việc, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan nhà nước chưa đi vào thực chất.... Công tác chỉ đạo, tổ chức thi hành pháp luật, cơ chế phối hợp giữa Chính phủ, các bộ, ngành với Ủy ban nhân dân các cấp hiệu quả chưa cao, “trong nhiều trường hợp, việc phối hợp còn tạo thêm nhiều tầng nấc trung gian, mất nhiều thời gian, tạo ra sự đùn đẩy trách nhiệm, ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công việc”(14).

Ba là, vẫn còn một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức thiếu tính chủ động và trách nhiệm chưa cao, còn vi phạm đạo đức công chức; yếu kém về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; “Số lượng cán bộ cấp xã và đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công vẫn còn quá lớn; phẩm chất, năng lực, uy tín còn hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới”(15); phiền hà cho người dân, làm giảm niềm tin của người dân đối với Nhà nước.

Bốn là, việc xử lý, trao đổi thông tin trên môi trường điện tử trong nội bộ, giữa các cơ quan hành chính nhà nước chưa phát huy hiệu quả, chưa đồng bộ. Vẫn còn dịch vụ công trực tuyến được thiết kế chưa thân thiện, chưa lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, do đó, hiệu quả cung cấp dịch vụ công mức độ 3, 4 cho người dân, tổ chức chưa cao. Mặt khác, tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến chưa nhiều nên hoạt động của các cơ quan nhà nước vẫn chủ yếu trên giấy tờ, kết hợp điện tử, dẫn đến sự chưa thống nhất, đồng bộ trong giải quyết các thủ tục hành chính cho người dân.

Hành lang pháp lý cho triển khai Chính phủ điện tử chưa đồng bộ; sự thay đổi tư duy chuyển đổi số trong một bộ phận cán bộ, công chức còn chậm dẫn đến việc sử dụng công nghệ thông tin trong giải quyết công việc cho người dân chưa hiệu quả.

3. Một số giải pháp xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Trong giai đoạn 2021-2030, Đảng ta định hướng: “Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch...”(16). Để thực hiện định hướng trên, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế hành chính nhà nước đồng bộ, hiện đại trên tất cả các lĩnh vực, trọng tâm là thể chế về tổ chức bộ máy, về quản lý cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục hoàn thiện thể chế về kinh tế thị trường định hướng XHCN. Chính phủ sớm trình Quốc hội thông qua Luật Đất đai (sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013); hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác trong tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước; hoàn thiện khung pháp lý là cơ sở xây dựng Chính phủ điện tử tiến tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật theo hướng khoa học, hiện đại, chuyên nghiệp. Nêu cao trách nhiệm người đứng đầu trong xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Khắc phục tình trạng nợ đọng văn bản, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.

Thứ hai, tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả trên cơ sở tổ chức hợp lý các bộ đa ngành, đa lĩnh vực(17); tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật để phân định rõ tổ chức chính quyền đô thị, nông thôn, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Đồng thời, thực hiện kiên trì, kiên quyết, có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ trách nhiệm giữa Chính phủ với các bộ, ngành; giữa Chính phủ, các bộ, ngành với chính quyền địa phương(18); đẩy mạnh các hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật, gắn kết việc xây dựng pháp luật với tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật; xác định rõ cơ chế phân công, trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân và trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác tổ chức thi hành pháp luật.

Thứ ba, tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có tính chuyên nghiệp cao, năng lực sáng tạo, phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng. Theo đó, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, bảo đảm đúng người, đúng vị trí; tiếp tục hoàn thiện chính sách thu hút nhân tài vào làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước, đặc biệt, các cơ quan có thẩm quyền sớm thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng tại Đại hội XIII về cơ chế “khơi dậy tinh thần cống hiến vì đất nước, tạo động lực và áp lực để mọi cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, tận tụy phục vụ nhân dân;... bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”(19).

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ, phát triển chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số nhằm bảo đảm hoạt động của Chính phủ hiệu lực, hiệu quả hơn và là tiền đề nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập quốc tế. Một trong những mục tiêu được xác định tại Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030(20) là cung cấp dịch vụ chất lượng phục vụ xã hội, do đó, các bộ, ngành địa phương cần “phát triển các dịch vụ công trực tuyến dựa trên nhu cầu người dân và theo các sự kiện trong cuộc đời, người dân chỉ cung cấp thông tin một lần”. Do đó, trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Quốc hội, Chính phủ cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý về chính phủ số để bảo đảm tính thống nhất, thông suốt cho việc ứng dụng các nền tảng công nghệ trong các hoạt động của Chính phủ, lấy người dân làm trung tâm, vì nhân dân phục vụ.

__________________

(1), (2), (4), (10), (15), (16), (17), (18), (19)  ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.101, 175, 178, 75-76, 90, 176, 176, 177, 288.

(3) Xem: Điều 5 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và Điều 5 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019)

(5) Điều 8 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

(6) Xem các nội dung và tiêu chí đánh giá... tại Quyết định số 2640/QĐ-BNV ngày 10-10-2017 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ phê duyệt Đề án đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước giai đoạn 2017 - 2020.

(7), (8), (11) Báo cáo số 128/BC-BNV ngày 19-4-2021 về Tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, tr.8, 9, 43.

(9) Phạm Thị Thanh Trà: Tiếp tục xây dựng bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, https://nhandan.vn, ngày 28-4-2021.

(12) Vân Thanh: Còn 17 văn bản hướng dẫn luật chi tiết có hiệu lực thi hành vẫn chưa được ban hành, Xem: https://www.hcmcpv.org.vn/, ngày 16-2-2021.

(13) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t. II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.74.

(14) Xem: https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2516, truy cập 20/6/2021.

(20) Xem: Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15-6-2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.

CĐ,VS (st)

 

Thúc đẩy đổi mới sáng tạo ở đội ngũ trí thức Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

(LLCT) - Đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng và là nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. Với đặc trưng là lao động trí óc, đội ngũ trí thức đóng góp cho sự phát triển xã hội bằng sản phẩm sáng tạo là những tri thức khoa học mới, tạo nên sự thay đổi căn bản theo chiều hướng đi lên của xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, thúc đẩy sức sáng tạo của đội ngũ trí thức trở thành điều kiện cho sự phát triển của Việt Nam. Bài viết góp phần làm rõ lý luận đổi mới sáng tạo và bàn luận về điều kiện thúc đẩy sức đổi mới sáng tạo ở đội ngũ trí thức Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII.

1. Thuật ngữ đổi mới sáng tạo được bàn đến từ khoảng đầu thế kỷ XX trên lĩnh vực kinh tế. Đổi mới sáng tạo được hiểu là quá trình bắt đầu từ sáng chế, qua triển khai sản xuất, đưa ra thị trường và kết thúc bằng thành công thương mại. Hiện nay, khái niệm đổi mới sáng tạo được hiểu trên bình diện rộng hơn. Đổi mới sáng tạo là quá trình biến đổi một ý tưởng thành sản phẩm mới hoặc cải tiến cái hiện có để hình thành sản phẩm mới, quy trình, mô hình hay dịch vụ mới cho xã hội...

Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2013 xác định: đổi mới sáng tạo là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hóa. Đổi mới sáng tạo có hai đặc trưng cơ bản là tính mới và tính giá trị.

Đổi mới sáng tạo biểu hiện trước hết ở những ý tưởng mới tạo nên sự thay đổi. Những ý tưởng này chưa từng tồn tại hoặc chưa từng được biết đến trong giới hạn của một hoạt động, một lĩnh vực hay một quốc gia. Tính mới của đổi mới sáng tạo thể hiện ở việc tạo nên những sản phẩm mới, quá trình mới, phương pháp mới, dịch vụ mới... hoặc cải tiến, thay đổi những cái đã có theo hướng tốt hơn, hiệu quả hơn. Trên bình diện thế giới, đổi mới sáng tạo là những thay đổi hay quá trình thay đổi chưa từng được thực hiện ở bất cứ nơi nào hay quốc gia nào. Tính mới của đổi mới sáng tạo còn thể hiện trên bình diện một ngành, một lĩnh vực cụ thể. Theo thời gian và trong nhận thức xã hội, tính mới của đổi mới sáng tạo trải qua quá trình từ cái mới, cái phổ biến và sẽ trở thành cái lỗi thời. “Tuổi thọ” của đổi mới sáng tạo có thể thay đổi, phụ thuộc vào mức độ của tính mới và của sự phát triển xã hội.

Đổi mới sáng tạo không chỉ đi đến những ý tưởng mới lạ, khác biệt mà ý tưởng ấy còn phải đem lại sự thay đổi tích cực, tiến bộ, đi lên... đem lại lợi ích căn bản cho cộng đồng người, cho xã hội. Có thể hiểu những ý tưởng mới, sản phẩm mới không nhằm đáp ứng nhu cầu và lợi ích của xã hội, đưa đến sự tiến bộ và phát triển xã hội thì không được coi là sản phẩm của hoạt động đổi mới sáng tạo. Tất nhiên, hoạt động đó không được xem là hoạt động đổi mới sáng tạo. Giá trị của đổi mới sáng tạo có thể là giá trị kinh tế (như tạo ra doanh thu, mức độ tiết kiệm chi phí, mức tăng năng suất lao động...) hoặc giá trị xã hội (như sự hài lòng, kinh nghiệm, niềm tin...).

Có thể nói, quá trình đổi mới sáng tạo là quá trình hiện thực hóa giá trị của mỗi tổ chức. Đó có thể là giá trị tăng trưởng hay giá trị phát triển. Giá trị - thuộc tính của đổi mới sáng tạo được xác định không giống nhau bởi những chủ thể và đối tượng khác nhau. Sự khác biệt này là do những yếu tố như thế giới quan, văn hóa, mục tiêu xã hội... khác nhau. Hiện thực hóa giá trị là mục tiêu và là lý do để các chủ thể (cá nhân, tổ chức) tạo ra đổi mới sáng tạo và tham gia vào quá trình đổi mới sáng tạo.

Đổi mới sáng tạo là một hoạt động mang tính chỉnh thể, là quá trình hàm chứa nhiều công đoạn, từ tích lũy kiến thức; xác định ý tưởng, vận dụng kiến thức, phương pháp, phương tiện... nhằm đạt mục tiêu là chuyển ý tưởng thành sản phẩm mới, quy trình mới hoặc dịch vụ mới tốt hơn, hoàn thiện hơn. Đổi mới sáng tạo được xem xét theo hai giai đoạn: sáng tạo trong ý tưởng và sáng tạo trong thực hiện. Đổi mới sáng tạo thực hiện trên nhiều lĩnh vực, bao gồm đổi mới sáng tạo về kỹ thuật, đổi mới sáng tạo về quản lý. Trong mỗi hoạt động, đổi mới sáng tạo được thực hiện bởi cả người lãnh đạo, quản lý và người triển khai thực hiện. Về mức độ, có đổi mới sáng tạo căn bản, đổi mới sáng tạo đột phá (hay triệt để) và đổi mới sáng tạo cải tiến (hay tuần tự). Căn cứ vào nguồn lực huy động, có đổi mới sáng tạo nội bộ và đổi mới sáng tạo hợp tác...

2. Trí thức Việt Nam là đội ngũ đông đảo những người lao động trí óc, đa dạng về nghề nghiệp, chuyên môn, lứa tuổi, dân tộc, tôn giáo và định hướng giá trị. Đội ngũ trí thức có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với các giai tầng xã hội và có vai trò tác động mạnh mẽ, qua lại với các giai tầng xã hội và tác động tổng thể tới sự phát triển xã hội. Với đặc trưng cơ bản là lao động sáng tạo, mà chủ yếu là sáng tạo tinh thần, vai trò đổi mới sáng tạo của đội ngũ trí thức thể hiện ở các phương diện chủ yếu:

Một là, đội ngũ trí thức góp phần xây dựng đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đổi mới sáng tạo và thúc đẩy đổi mới sáng tạo; cung cấp luận cứ khoa học và tham gia tư vấn, phản biện các chính sách, pháp luật của Nhà nước, các giải pháp và cách thức tổ chức thực hiện đường lối, chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Hai là, đội ngũ trí thức Việt Nam là chủ thể trực tiếp tạo ra tri thức khoa học, công nghệ, thực hiện đổi mới sáng tạo. Là lực lượng quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong quá trình nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất và quản lý xã hội. Đây là nhiệm vụ cơ bản của đội ngũ và việc thực hiện nhiệm vụ đó đóng góp quan trọng cho sự phát triển bền vững của quốc gia. Kết quả nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo của đội ngũ trí thức tạo nên nền tảng vững chắc cho hoạt động đổi mới sáng tạo mọi lĩnh vực, mọi cấp độ. Có thể coi hoạt động đổi mới sáng tạo của đội ngũ trí thức Việt Nam đã tạo ra tiền đề, là điều kiện hoạt động đổi mới sáng tạo của xã hội.

Ba là, đội ngũ trí thức là lực lượng cơ bản tiếp thu thành tựu khoa học công nghệ thế giới, chủ động tiếp cận, tiếp nhận và chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ vào Việt Nam. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ trong lĩnh vực khoa học - công nghệ đang tạo cơ hội để Việt Nam bắt nhịp với trình độ phát triển khoa học - công nghệ thế giới. Cơ hội đó chỉ thành hiện thực khi đội ngũ trí thức thể hiện được vai trò chủ động, tích cực trong tiếp thu, kế thừa thành tựu của thế giới, làm chủ công nghệ mới, truyền bá, phổ biến và nhân rộng ở Việt Nam. Việc kế thừa các thành tựu khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo thế giới phải là sự kế thừa có chọn lọc. Quá trình này thực hiện trên cơ sở phát huy trí tuệ và trách nhiệm của đội ngũ trí thức Việt Nam.

Bốn là, thông qua hoạt động phổ biến thông tin, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng... đội ngũ trí thức truyền bá tri thức khoa học, nâng cao trình độ dân trí, xây dựng đội ngũ trí thức kế cận, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài. Có thể coi hoạt động phổ biến thông tin và đào tạo bồi dưỡng của đội ngũ trí thức có vai trò kép, một mặt nhằm nâng cao nhận thức xã hội, mặt khác xác lập và bồi dưỡng, phát triển các phẩm chất và năng lực sáng tạo cho thế hệ tiếp sau. 

Năm là, đội ngũ trí thức có vai trò quan trọng trong việc xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Chúng ta không thể thúc đẩy đổi mới sáng tạo nếu không coi đổi mới sáng tạo là giá trị và đặt giá trị ấy ở thang bậc cao trong bảng sắp xếp giá trị tinh thần xã hội. Đội ngũ trí thức với những phẩm chất, nhân cách của mình góp phần lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo, xây dựng định chuẩn xã hội mới, từng bước tạo lập nên một xã hội tôn vinh tinh thần sáng tạo, tích cực đổi mới và đóng góp cho một xã hội tiến bộ và phát triển.

Như vậy, với vị trí lao động xã hội của mình, đội ngũ trí thức là lực lượng đóng vai trò vừa thiết kế, vừa thực thi đổi mới sáng tạo của quốc gia. Sức đóng góp của họ thể hiện ở hầu khắp các mắt khâu, các lĩnh vực, các mức độ đổi mới sáng tạo: từ việc sáng tạo tri thức - tiền đề cho đổi mới nhận thức xã hội, đến đổi mới kỹ thuật, công nghệ - sáng tạo cách thức cải tạo thế giới; từ đổi mới sáng tạo trong quá trình tác động vào tự nhiên đến đổi mới sáng tạo trong quản lý xã hội và phát huy tiềm năng con người; từ thay đổi căn bản đến những sáng tạo mang tính đột phá; từ đổi mới sáng tạo của chính đội ngũ đến việc tạo ra năng lực đổi mới sáng tạo của mọi người trong xã hội.  

Chúng ta đã có những khởi sắc nhất định trong quá trình phát triển. Những thành tựu nổi bật về khoa học công nghệ, sản xuất - kinh doanh và nhiều lĩnh vực của đời sống. Những thành tựu này có sự đóng góp rất lớn của đội ngũ trí thức. Song có thể thấy, để thúc đẩy việc hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đạt mục tiêu phát triển thì việc phát triển, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam còn nhiều vấn đề: số lượng và chất lượng đội ngũ, phẩm chất và năng lực hoạt động, yêu cầu và khả năng, những vấn đề thuộc về chính đội ngũ và những vấn đề xã hội...

3. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh hiện nay có nhiều thuận lợi cơ bản song cũng có những thách thức to lớn.

Một là, đội ngũ trí thức Việt Nam có nhiều cơ hội thuận lợi trong phát triển, đổi mới sáng tạo. Cụ thể, sự xác định rõ ràng, nhất quán về chủ trương phát triên khoa học - công nghệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong các văn kiện đại hội của Đảng, coi thúc đẩy đổi mới sáng tạo (cùng với/ trên cơ sở phát triển khoa học - công nghệ) là điều kiện, tiền đề cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, quan điểm về phát triển, sử dụng, phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung là đội ngũ trí thức đang tạo ra nhiều thuận lợi cho hoạt động của đội ngũ này.

Các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đất nước vừa đặt ra yêu cầu thúc đẩy đổi mới sáng tạo ở đội ngũ trí thức, vừa tạo động lực để đội ngũ trí thức phát huy vai trò, trách nhiệm của mình.

Các chính sách dành cho khởi nghiệp, chính sách khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chính sách kinh tế - xã hội... hiện nay đang được triển khai là điều kiện thuận lợi cho hoạt động của đội ngũ trí thức Việt Nam.

Quá trình hội nhập diễn ra mạnh mẽ, toàn diện đang đem lại những cơ hội cho sự phát triển của đội ngũ trí thức Việt Nam cũng như điều kiện thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo của đội ngũ này. Sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ thế giới, thành tựu đổi mới sáng tạo của giới trí thức toàn cầu... đem lại tri thức và kinh nghiệm về phương thức đổi mới sáng tạo cho đội ngũ trí thức Việt Nam. Quá trình giao lưu, hợp tác vừa giúp chúng ta huy động được nguồn nhân lực cho sự phát triển của Việt Nam, vừa đưa đội ngũ trí thức Việt Nam hòa nhập cùng đội ngũ trí thức các nước. Đây là điều kiện không chỉ phát triển đội ngũ mà còn thúc đẩy năng lực đổi mới sáng tạo của đội ngũ trí thức Việt Nam.

Đội ngũ trí thức Việt Nam có tính trách nhiệm xã hội cao. Ý thức về xây dựng một nước Việt Nam phồn thịnh luôn thể hiện mạnh mẽ trong giới trí thức. Lịch sử nghìn năm dựng nước đã hun đúc tinh thần tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường... cho đội ngũ trí thức Việt Nam. Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp, với ý thức trách nhiệm của đội ngũ trí thức sẽ tạo nên sức mạnh nội sinh gia tăng sự cống hiến quan trọng của đội ngũ trí thức Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước.

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản trên, quá trình thúc đẩy đổi mới sáng tạo ở đội ngũ trí thức Việt Nam cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Trước hết, vấn đề về yêu cầu thúc đẩy đổi mới sáng tạo phát triển đội ngũ với thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam nhìn chung yếu về năng lực đổi mới sáng tạo.  Sự yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra do nhiều yếu tố, trong đó việc đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đội ngũ là nguyên nhân căn bản.

Hai là, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế cũng là những thách thức cho quá trình thúc đẩy đổi mới sáng tạo của đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay. Đó là sự cạnh tranh gay gắt về sản phẩm khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong quá trình cạnh tranh đó, sự chênh lệch về trình độ, điều kiện phương tiện và kinh phí dẫn đến quá trình đổi mới sáng tạo của đội ngũ trí thức có nhiều khó khăn, bất lợi. Đó là những yêu cầu cao về tính pháp lý của sở hữu trí tuệ, bản quyền, nhãn hiệu...

4. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nhất là hoạt động đổi mới sáng tạo của đội ngũ trí thức là yêu cầu cấp bách của Việt Nam hiện nay. Điều này được khẳng định là điều kiện cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo của đội ngũ trí thức Việt Nam. Cụ thể:

Một là, nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo của đội ngũ trí thức đối với quá trình phát triển Việt Nam. Việc nâng cao nhận thức của lãnh đạo cấp ủy, chính quyền các cấp và nhận thức xã hội về vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức là xuất phát điểm cho các biện pháp tác động xã hội nhằm phát huy sức sáng tạo và cống hiến của đội ngũ trí thức trong bối cảnh hiện nay. Hoạt động đổi mới sáng tạo của đội ngũ trí thức được thực hiện trên nhiều lĩnh vực: nghiên cứu khoa học - công nghệ, sản xuất - kinh doanh và quản lý. Mỗi lĩnh vực hoạt động thực tiễn mà đội ngũ trí thức tham gia có những yêu cầu đặc thù, song đều có những đóng góp nền tảng và to lớn cho sự phát triển bền vững của nước ta.

Hai là, từ mối quan hệ không thể tách rời giữa nghiên cứu khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo và mối quan hệ chỉnh thể của ý tưởng đổi mới sáng tạo và thực hiện đổi mới sáng tạo trong thực tiễn, cần xác định rõ quan điểm thúc đẩy đổi mới sáng tạo của đội ngũ trí thức trong điều kiện hiện nay trên tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Phát triển khoa học - công nghệ là điều kiện của quá trình đổi mới sáng tạo. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo phải trên cơ sở phát triển nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo là thúc đẩy sự hình thành ý tưởng đổi mới sáng tạo và thực hiện đổi mới sáng tạo của đội ngũ trí thức.

Ba là, xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam, thúc đẩy đổi mới sáng tạo của đội ngũ này phải bắt đầu từ việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo nhằm phát triển toàn diện cả số lượng và chất lượng. Triển khai đổi mới giáo dục - đào tạo trên các cấp, các ngành đào tạo, từ đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo để có được đội ngũ trí thức đủ tài, đủ tâm cho đất nước. Đây được coi là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển hiện nay ở nước ta.

Có chính sách hợp lý trong tuyển chọn, sử dụng, đánh giá đội ngũ trí thức. Vị trí, việc làm của đội ngũ trí thức đòi hỏi những yêu cầu đặc thù. Chúng ta chỉ có thể phát huy được sức sáng tạo của đội ngũ khi tuyển chọn, sắp xếp và sử dụng theo nguyên tắc vì việc mà chọn người, sự phù hợp của năng lực với yêu cầu công việc. Trọng dụng trí thức có phẩm chất, năng lực chuyên môn, năng lực quản lý tốt. Có phương thức quản lý và sử dụng hiệu quả đội ngũ trí thức phù hợp với đặc điểm lao động của đội ngũ này.

Công tác đánh giá trí thức khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo có tác động rất lớn đến mức độ phát huy năng lực hoạt động của đội ngũ. Việc đánh giá cán bộ khách quan sẽ tạo động lực to lớn thúc đẩy sức cống hiến của đội ngũ và ngược lại. Đánh giá lao động của đội ngũ trí thức cần bảo đảm các nguyên tắc: coi trọng cống hiến, bảo đảm tính giai đoạn và tính liên tục, đảm bảo tính toàn diện trên các khía cạnh đức và tài, thái độ và trình độ, cá nhân và tập thể, đóng góp ngắn hạn và dài hạn... Trên cơ sở đánh giá, cần có chính sách và chế độ đãi ngộ, khen thưởng thỏa đáng để tạo động lực cho sức sáng tạo và cống hiến của đội ngũ.

Bốn là, bảo đảm các điều kiện về phương tiện làm việc, thông tin tư liệu và kinh phí hoạt động nhằm thúc đẩy lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức. Trong đó, cần tăng khả năng tiếp cận của đội ngũ đối với thông tin khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo của các nước trong khu vực và trên thế giới thông qua việc phát triển hạ tầng thông tin và xây dựng hệ thống thông tin khoa học - công nghệ quốc gia thông suốt, nhanh chóng, hiệu quả trong quá trình chuyển đối số. Tăng cường các hoạt động hợp tác, trao đổi thông tin giữa đội ngũ trí thức Việt Nam với các nước.

Tập trung nguồn lực tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của đội ngũ trí thức theo hướng xác định đầu tư trọng tâm, trọng điểm, vừa cơ bản vừa lâu dài, bảo đảm cho sự phát triển cho các lĩnh vực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo để tồn tại, phát triển trong môi trường có tính toàn cầu, cạnh tranh cao.

Năm là, xây dựng môi trường xã hội nói chung, môi trường làm việc nói riêng lành mạnh, phát huy được sức sáng tạo của đội ngũ trí thức. Muốn phát huy vai trò của đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, cần tạo lập môi trường xã hội, môi trường làm việc thuận lợi. Trong đó, các nhân tố chính trị - xã hội, văn hóa, khoa học... tác động rất mạnh mẽ đến sức cống hiến. Tinh thần dân chủ, tính minh bạch trong quản lý là yêu cầu, điều kiện của sự đổi mới sáng tạo. Tôn trọng, lắng nghe ý kiến, bao gồm cả ý kiến phản biện xã hội, đồng thời có cơ chế chắt lọc, tiếp thu hợp lý những ý kiến phản biện của đội ngũ. Trong bối cảnh hiện nay, cần hoàn thiện khung hành lang pháp lý, hoàn thiện thể chế, hệ thống chính sách để bảo đảm Luật Khoa học và Công nghệ được thực thi hiệu quả, bảo đảm tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo ở Việt Nam.

Sáu là, để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong hoạt động của đội ngũ trí thức Việt Nam cần phát huy cao nhất những nhân tố thuộc về chủ thể đổi mới sáng tạo. “Khơi dậy tinh thần và ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(1). Phát huy nhân tố chủ quan của chủ thể đổi mới sáng tạo chính là phát huy sự vươn lên, học hỏi, tu dưỡng, phấn đấu không ngừng của đội ngũ trí thức Việt Nam về tầm trí tuệ và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp.

Đó là sự không chấp nhận trì trệ, lạc lậu trong lao động, sản xuất, quản lý. Đó là ước muốn, nhu cầu, là khát khao đổi mới sáng tạo. Hơn ai hết, đội ngũ trí thức ý thức được vai trò, trách nhiệm của mình, nỗ lực không ngừng, cống hiến không mệt mỏi cho xã hội. Những yếu tố này làm nên nội lực của chính đội ngũ.

Họ đề cao năng lực tư duy và năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ. Bên cạnh những tác động của xã hội. Đội ngũ trí thức cần coi việc phát triển tư duy và năng lực hoạt động thực tiễn là điều kiện để đổi mới sáng tạo. Do vậy, chính đội ngũ trí thức cần không ngừng rèn luyện tư duy logic, tư duy lý luận khoa học, năng lực quan sát, năng lực chuyên môn, quản lý, năng lực xã hội... Thường xuyên bồi dưỡng, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, mở rộng vốn kiến thức, phát triển các kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng xã hội... Đây là những nhân tố quyết định sức đổi mới sáng tạo của đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay.

__________________

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.46.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. TS Nguyễn Văn Sơn: Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002.

2. Nguyễn Đắc Hưng: Trí thức Việt nam trước yêu cầu phát triển đất nước, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005.

3. Đồng Thị Thu Huyền: Đội ngũ cán bộ trẻ với đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực tiếp cận cách mạng công nghiệp 4.0, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2018.

CĐ,VS (st)

Báo chí tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

 Báo chí là vũ khí sắc bén của Đảng, có đóng góp tích cực trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong những năm qua, “Các cơ quan thông tấn, báo chí đã tích cực vào cuộc, đồng hành cùng Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; vừa tuyên truyền, vừa tích cực đấu tranh, phát hiện tham nhũng, tiêu cực, vừa tích cực đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”(1). Bài viết làm rõ những đóng góp của các cơ quan báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta hiện nay.

 

Báo chí tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Họp Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức Giải báo chí toàn quốc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lần thứ ba năm 2022-2023 - Ảnh: baodantoc.vn

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc chiến đấu khổng lồ, là việc làm có ý nghĩa sống còn, “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã trở thành phong trào, thành xu thế không thể đảo ngược, được đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân đánh giá cao, bạn bè quốc tế ghi nhận”(2), trong đó, sự tham gia của báo chí có vị trí quan trọng, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc.

1. Tham gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là trách nhiệm của báo chí và người làm báo

Theo thống kê, đến nay, cả nước có gần 800 cơ quan báo chí, truyền thông, với trên 40 nghìn người hoạt động trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, trong đó có trên 20 nghìn người được cấp thẻ nhà báo(3).

Vai trò của báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được khẳng định trong các nghị quyết của Đảng và văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Điều 75 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã quy định rất rõ trách nhiệm của các cơ quan báo chí và nhà báo trong việc phòng, chống tham nhũng như sau: “1. Cơ quan báo chí, nhà báo có trách nhiệm đấu tranh chống tham nhũng, đưa tin về hoạt động phòng, chống tham nhũng và vụ việc tham nhũng.

2. Cơ quan báo chí, nhà báo có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền cung cấp thông tin liên quan đến hành vi tham nhũng. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật về báo chí và quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Cơ quan báo chí, nhà báo có trách nhiệm phản ánh khách quan, trung thực và chấp hành các quy định khác của pháp luật về báo chí, quy tắc đạo đức nghề nghiệp khi đưa tin về hoạt động phòng, chống tham nhũng và vụ việc tham nhũng”.

Ngoài ra, Điều 13, 14 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 còn quy định cụ thể về việc họp báo, phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí; quyền yêu cầu cung cấp thông tin...

Những năm qua, báo chí đã cung cấp một lượng lớn thông tin về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên tất cả các loại hình báo chí, từ báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình... Nhiều bài phóng sự điều tra sau khi đăng tải, phát sóng đã tạo được tiếng vang lớn, được dư luận trong nước và quốc tế hoan nghênh, đánh giá cao. Các tuyến bài về chủ đề này đi sâu phân tích, nêu bài học kinh nghiệm, giải pháp, kiến nghị cơ quan chức năng áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo tham nhũng đã tạo những góc nhìn đa chiều về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Báo chí đặt ra và trả lời nhiều câu hỏi lớn mà dư luận quan tâm, như: nguyên nhân tham nhũng, tiêu cực; hậu quả; giải pháp phòng, chống..., từ đó, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

2. Báo chí tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Công tác thông tin tuyên truyền và vận động nhân dân tham gia phòng, chống tham nhũng hiện nay có ý nghĩa hết sức quan trọng đến việc hình thành, phát triển ý thức pháp luật cũng như việc tuân thủ pháp luật.

Hiện nay, báo chí có nhiều hình thức, cách thức tham gia công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng: (1) xuất bản các tác phẩm báo chí về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; (2) đưa tin về những vụ việc tham nhũng, tiêu cực; (3) xuất bản các báo lý luận và thực tiễn về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; (4) sản xuất, phát hành những phim ảnh có nội dung về phòng, chống tham nhũng; (5) đưa các thông tin về hội thảo khoa học, tọa đàm của các chuyên gia, nhà quản lý về công tác phòng, chống tham nhũng; 6) mở các chuyên mục giáo dục và đào tạo về phòng, chống tham nhũng trên báo chí, các cuộc thi tìm hiểu nội dung về phòng, chống tham nhũng; (7) đưa tin về xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật trong việc phòng, chống tham nhũng...

Các cơ quan báo chí đã tập trung tuyên truyền quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng; các nội dung về xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hiện nghiêm quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp, trọng liêm sỉ, danh dự; phê phán, lên án, đấu tranh với các hành vi tham nhũng, tiêu cực. Tuyên truyền các nội dung liên quan đến việc hoàn thiện thể chế phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; trách nhiệm người đứng đầu, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Tuyên truyền các quy định và chế tài xử lý đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực; cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý...

Qua đó, báo chí đã góp phần nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân về đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tăng cường và có nhiều đổi mới; sự giám sát của các cơ quan dân cử; vai trò của Mặt trận Tổ quốc, của nhân dân và báo chí, truyền thông trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được phát huy tốt hơn”(4)...

Như vậy, báo chí có vai trò quan trọng trong việc tạo ra các diễn đàn để nhân dân thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình, phản ánh những ý kiến, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền để sửa đổi những bất cập về chính sách, pháp luật cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống.

Tất cả những phương thức, cách làm đó của báo chí là nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ: “Sức mạnh và động lực to lớn của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là sự đồng tình, ủng hộ, hưởng ứng, tham gia tích cực của nhân dân và cả hệ thống chính trị, báo chí”(5).

3. Báo chí, truyền thông tham gia phát hiện các vụ tham nhũng, tiêu cực

Tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện quy chế, chương trình phối hợp trong công tác thông tin, tuyên truyền về nội chính và phòng, chống tham nhũng giữa các cơ quan: Ban Nội chính Trung ương, Báo Nhân Dân, Ðài Truyền hình Việt Nam, Ðài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam được tổ chức vào cuối năm 2021, đồng chí Phan Ðình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Ðảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã nêu rõ: trong thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam đã có những bước đột phá rất quan trọng nhờ sự hoạt động tích cực của các báo nói chung cũng như sự phối hợp của các cơ quan báo chí nói riêng. Các cơ quan báo chí đã thực hiện tốt vai trò xung kích, đi đầu trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bảo vệ quyền lợi của đất nước và nhân dân; là tai mắt của Ðảng, là cầu nối giữa Ðảng với nhân dân trong công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay.

Các cơ quan báo chí đã đồng hành cùng nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng bằng nhiều hình thức, cách làm, trong đó đáng chú ý là: báo chí phát hiện nhiều vụ việc liên quan đến tham nhũng, sau khi nghiên cứu, thu thập thông tin, điều tra kỹ lưỡng, các cơ quan báo chí, truyền thông đưa tin, sau đó các cơ quan chức năng vào cuộc điều tra, làm rõ sự việc.

Bằng biện pháp nghiệp vụ báo chí, các cơ quan báo chí sử dụng nhiều kênh thông tin để phát hiện những vụ việc tham nhũng, tiêu cực như: thông tin từ bạn đọc gửi đến các phóng viên, cơ quan báo chí; tiếp nhận những thông tin, phản ánh, tố giác của người dân; cơ quan báo chí điều tra, xác minh, chuyển các chứng cứ đến cơ quan công luận cũng như cơ quan tư pháp. Các cơ quan báo chí đã thực hiện các biện pháp điều tra đặc thù của nghiệp vụ báo chí phát hiện những dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực.

4. Báo chí tham gia giám sát việc thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Đánh giá vai trò của báo chí trong giám sát việc thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Các cơ quan thông tấn, báo chí đã tích cực vào cuộc, đồng hành cùng Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; vừa tuyên truyền, vừa tích cực đấu tranh, phát hiện tham nhũng, tiêu cực, vừa tích cực đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”(6).

Cơ quan báo chí tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng; phối hợp với các cơ quan, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; do đó, khi đưa tin, các cơ quan báo chí luôn bảo đảm tính chính xác, trung thực, khách quan cũng như thể hiện rõ trách nhiệm về những nội dung thông tin mà mình đã công bố. Báo chí cũng đã thể hiện rõ vai trò của mình trong việc tạo áp lực, tạo dư luận để các cơ quan, đơn vị chức năng thực hiện tốt nhiệm vụ từ điều tra, thanh tra, kiểm tra, giám sát, truy tố cũng như xét xử những hành vi tiêu cực, tham nhũng. Báo chí đã góp phần vào thực hiện nghiêm phương châm chỉ đạo: không có ngoại lệ, không có vùng cấm.

Báo chí, truyền thông đã phản ánh khách quan, đa chiều, công bằng về những vụ việc liên quan đến tham nhũng, thực hiện tốt sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng phải cổ vũ, động viên sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, huy động sức mạnh của toàn dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, “làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp” như Bác Hồ đã dạy”(7).

Để biểu dương, tôn vinh và khuyến khích, động viên các nhà báo, các cơ quan báo chí tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, Đảng, Nhà nước ta đã tổ chức nhiều giải báo chí phòng, chống tham nhũng, như Giải báo chí toàn quốc “Báo chí với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”, được tổ chức từ năm 2017 do Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam phối hợp tổ chức. Đến nay, đã tổ chức thành công 3 mùa giải, mỗi mùa giải, đều có trên 2.000 tác phẩm tham dự. Điều đó cho thấy sự quan tâm đặc biệt và trách nhiệm của nhà báo trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

5. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của báo chí trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, quản lý đối với báo chí trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Tăng cường quản lý và định hướng hoạt động của các cơ quan báo chí”(8). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Các cơ quan truyền thông cần đăng tin, bài định hướng đúng đắn dư luận xã hội để thấy rõ những kết quả tích cực của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, cũng như những hạn chế, yếu kém, những khó khăn, phức tạp; khẳng định rõ quyết tâm của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị trong việc ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng. Khắc phục tình trạng thông tin một chiều, thông tin không chính xác, mang tính kích động, gây hoang mang hoặc quy kết về tội danh, mức án trước khi xét xử. Bảo vệ, khen thưởng, động viên những người làm báo tích cực, dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng; xử lý nghiêm khắc việc đưa tin sai sự thật, vu cáo, bịa đặt, gây hậu quả xấu. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và các cơ quan chức năng phải chủ động cung cấp một cách kịp thời, đúng pháp luật cho các cơ quan báo chí những thông tin có liên quan đến tham nhũng”(9).

Xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại, nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ phóng viên, biên tập viên, phục vụ công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam. Đồng thời, kiên quyết “xử lý nghiêm theo quy định Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với các cơ quan báo chí, phóng viên đăng tải thông tin chưa được xác minh, kiểm chứng, không có cơ sở, căn cứ, gây ảnh hưởng không tốt đến dư luận xã hội”(10).

Thứ hai, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ phóng viên, biên tập viên. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “tập trung đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý báo chí, phóng viên, biên tập viên có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng và tinh thông nghiệp vụ để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền”(11). Báo chí khi thông tin cần phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng sự thật, phản ánh đúng bản chất vấn đề. Khen ngợi, biểu dương cần đúng mực, không tô hồng, hoặc khi lên án, phê phán cũng không bôi đen.

Thứ ba, tiếp tục phát huy, cổ vũ, lan tỏa những mặt tích cực của báo chí, truyền thông trong đưa tin, bài về tham nhũng. Về vấn đề này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “tăng cường thông tin, tuyên truyền gương người tốt, việc tốt, đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, hành vi tham nhũng, tiêu cực; bảo vệ, khen thưởng, động viên những người làm báo dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”(12).

Báo chí cần thực hiện tốt các nhiệm vụ: “chủ động, kịp thời cung cấp thông tin thiết yếu và tiếp nhận thông tin phản ánh của người dân trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống, các thông tin về tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tệ nạn xã hội; biểu dương nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt”(13). “Kiên quyết đấu tranh loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”(14).

Thực tế chứng minh “phòng, chống tiêu cực mà trọng tâm là phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, tức là trị tận gốc của tham nhũng”(15).

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Một tờ báo có ảnh hưởng trong dân chúng rất mạnh”(16). Báo chí có nhiệm vụ quan trọng là phản ánh trung thực dòng chảy chính của xã hội, lan tỏa năng lượng tích cực, các kinh nghiệm tốt, tạo đồng thuận và niềm tin xã hội, khơi dậy khát vọng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, tạo thành sức mạnh tinh thần để Việt Nam bứt phá vươn lên thành nước phát triển, thực hiện “Đôi cánh cho Việt Nam bay lên thì một bên là sức mạnh tinh thần, một bên là sức mạnh vật chất dựa trên công nghệ”.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 544 (tháng 6-2023) 

Ngày nhận bài: 31-5-2023; Ngày bình duyệt: 17-6-2023; Ngày duyệt đăng: 26-6-2023.

(1), (2), (4), (5), (6), (7), (9), (12), (15) Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 33, 13, 33, 21, 33, 40, 61, 50, 16.

(3) Báo cáo công tác báo chí năm 2020 và đánh giá khái quát giai đoạn 2016-2020, phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năm 2021, Tài liệu Hội Nhà báo Việt Nam.

(3) Thống kê internet Việt Nam 2020, https://vnetwork.vn/, ngày 19-2-2020.

(8), (10), (11), (13) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.234, 234, 234, 142.

(14) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, Sđd, tr.146.

(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.465.