Thứ Tư, 27 tháng 12, 2023

THƯỞNG – PHẠT ĐÚNG NGƯỜI, ĐÚNG TỘI “KHÔNG CÓ VÙNG CẤM”

 

Sự việc ông Lưu Bình Nhưỡng - nguyên Phó trưởng Ban Dân nguyện thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã bị khai trừ ra khỏi Đảng, vì đã vi phạm quy định những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi; vi phạm Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước... Đây chính là hệ quả của quá trình thiếu sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Hình thức kỷ luật mà ông Nhưỡng phải chịu là đúng người, đúng tội - “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”.



Tuy nhiên, trên trang facebook Việt Tân lại tung ngay bài viết sặc mùi phản động với tiêu đề “Đại biểu quốc hội Lưu Bình Nhưỡng bị khai trừ Đảng, khi hết cơn lao tù bi cực thì ông được làm người tự do không còn bị đứng chung hàng cùng bọn hại nước, hại dân nữa”. Bài viết cố tình bóp méo sự thật, adua, bè phái. Chúng muốn nhờ gió bẻ măng, vơ đũa cả nắm, thông qua một con sâu bỏ rầu nồi canh để bôi nhọ, chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Quả đúng, khi xét công và tội của ông Lưu Bình Nhưỡng, chúng ta đều biết, khi ông còn là đại biểu Quốc hội Khóa XIV, ông là người hay có những phát biểu tranh luận "nảy lửa" tại nghị trường, đặc biệt liên quan đến các vấn đề “nóng” của xã hội, có thời điểm, niềm tin của người dân rất kỳ vọng ở ông Nhưỡng. Bởi, một số phát biểu của ông có liên quan về đạo đức, công lý, đứng ra bênh vực người yếu thế ... Song, mặt trái của những phát ngôn ấy lại trở thành “chất liệu” để các đối tượng cố tình định hướng dư luận theo hướng tiêu cực, biến một vụ án hình sự được điều tra như một vụ “tấn công người bảo vệ công lý”, miệt thị rằng “sống dưới chế độ độc tài cộng sản thì không có quyền cất lên tiếng nói tự do ngôn luận”; “lợi dụng pháp luật để áp tội tùy tiện, trù dập những người khiến họ không hài lòng... Ngày 14 - 11 - 2023, ông Nhưỡng bị Công an tỉnh Thái Bình ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét nơi ở, nơi làm việc để điều tra về tội "Cưỡng đoạt tài sản". Đây là hệ quả của một đảng viên thoái hóa, biến chất!

Lợi dụng sự kiện này, các đối tượng tung hô cá nhân vi phạm, miệt thị cơ quan tiến hành tố tụng để chống phá, hạ bệ, bôi nhọ hệ thống pháp luật Việt Nam; làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền, tiến tới quy kết, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam. Những luận điệu trên vốn dĩ không phải là thủ đoạn mới, bởi từ trước đến nay, lợi dụng nhiều đối tượng bị bắt, các tổ chức, hội nhóm phản động như Việt Tân, đã đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh có nội dung xuyên tạc, cố tình công kích Đảng, Nhà nước, các cơ quan chức năng. Do vậy, người dùng mạng xã hội phải thật tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc bởi mạng xã hội là miếng đất màu mỡ để các thế lực thù địch, phản cách mạng, phần tử cơ hội chính trị sử dụng thực hiện những thủ đoạn xấu chống phá Đảng, Nhà nước.

Khởi tố ông Lưu Bình Nhưỡng một lần nữa cho thấy việc xử lý vi phạm không có vùng cấm, dù đó là là ai, người có chức vụ, quyền hạn hay một người dân bình thường, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật Việt Nam "Thưởng - phạt đúng ngường đúng tội, đúng luật pháp của Nhà nước ta. Việc làm đó, đúng theo tinh thân của mà đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chia sẻ khi tiếp xúc với cử tri: không hay ho gì khi phải xử lý cán bộ, đồng chí của mình nhưng vì sự tồn vong của chế độ, của Đảng, đòi hỏi phải làm nghiêm, xử lý nghiêm. Đây cũng là một bài học đắt giá đối với các cán bộ, đảng viên có chức quyền dù to hay nhỏ đều phải sống và làm theo pháp luật. Mọi sai phạm đều sẽ bị xử lý nghiêm, công bằng trước pháp luật, không có ngoại lệ.

Trước sự chống phá ngày càng thâm độc của các thế lực thù địch, đặc biệt chúng luôn lợi dụng khoét sâu. Khi tiếp nhân thông tin, các bạn đọc cần tỉnh táo tiếp nhận để không mắc mưu kẻ phản động. Quá trình tìm hiểu, đánh giá, nhận định, phải hiểu rõ nguồn thông tin, đứng trên lập trường giai cấp công nhân và ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức đúng đắn, công tâm về sự kiện, nhân vật, hình thức khen - phát của Đảng, Nhà nước ta. Đặc biệt, mỗi chúng ta, khi  tiếp cận thông tin trên mạng, cần phải tiếp cận thông tin chính thống, đồng thời luôn luôn đề cao cảnh giác trước các chiêu trò và âm mưu dã tâm của các thế lực thù địch, trong đó, tổ chức Việt Tân là điển hình. Kiên quyết đấu tranh với các phần tử cơ hội, cực đoan, bảo vệ và ủng hộ cái đúng, "đúng người - đúng việc". Qua đó, góp phần làm thất bại âm mưu "Diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, đang tâm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

BT

M Lời Bác dạy: Ngày 05 tháng 11

 

…Giao thông vận tải là mạch máu của tổ chức. Giao thông tốt thì các việc đều dễ dàng. Giao thông xấu thì các việc đình trễ[5].

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Công việc khẩn cấp bây giờ”, Người viết ngày 05 tháng 11 năm 1946.

Đây là thời điểm đất nước ta vừa mới giành được độc lập, công cuộc kiến thiết đất nước đặt ra nhiều “công việc khẩn cấp” phải giải quyết. Trong đó, giao thông vận tải là một trong những “công việc khẩn cấp” cần được quan tâm giải quyết ngay. Câu nói của Bác tuy giản dị, ngắn gọn nhưng rất sâu sắc, không chỉ nhấn mạnh đến vị trí, ý nghĩa, vai trò quan trọng của giao thông vận tải trong công cuộc kiến thiết đất nước mà còn là lời nhắc nhở, chỉ rõ nhiệm vụ và trách nhiệm đối với những người làm công tác giao thông vận tải. Thực hiện lời dạy của Bác, lớp lớp các thế hệ cán bộ, kỹ sư, công nhân lao động ngành giao thông vận tải Việt Nam đã luôn nỗ lực phấn đấu, tích cực, chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, gian khổ, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, lời dạy của Bác năm xưa vẫn còn nguyên giá trị, được các thế hệ cán bộ, kỹ sư, công nhân lao động ngành giao thông vận tải trên khắp mọi miền đất nước quán triệt, học tập và làm theo. Ngành gia thông vận tải đã dồn hết tâm huyết, trí tuệ, công sức vào sự nghiệp phát triển giao thông vận tải để thiết kế và xây dựng nên hệ thống cầu, đường, sân bay và bến cảng hiện đại... làm cho hệ thống hạ tầng giao thông ở nước ta ngày càng hiện đại, ngang tầm với các nước tiến tiến trong khu vực và trên thế giới. Để giao thông vận tải luôn “đi trước một bước”, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, vùng trời của Tổ quốc.

Thấm nhuần lời dạy của Bác, các đơn vị quân đội, trong đó nòng cốt là lực lượng công binh, Binh đoàn Trường Sơn đã không quản ngại khó khăn, hiểm nguy, sẵn sàng chấp nhận hi sinh để mở những con đường chiến lược giúp cho bộ đội hành quân vào mặt trận chiến đấu, chiến thắng kẻ thù xâm lược trong chiến tranh và góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng đất nước ngày nay, lập nên truyền thống “Mở đường thắng lợi”. Hiện nay, nhiều đơn vị quân đội đã phát huy cao độ tiềm năng, lợi thế của mình để tích cực, chủ động tham gia có hiệu quả vào các dự án, công trình xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của đất nước, bảo đảm vừa phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, vừa phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, nhất là ở khu vực vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và các địa bàn trọng yếu, chiến lược. Những việc làm đó đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao, góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng trong thời kỳ mới.

M Lời Bác dạy: Ngày 04 tháng 11


“… Muốn thắng, thì ta phải tích cực, tự động, bí mật, mau chóng, kiên quyết, dẻo dai. Chắc thắng mới đánh. Nhưng tuyệt đối chớ chủ quan khinh địch...”[4].

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi các cán bộ, chiến sĩ chủ lực và dân quân du kích trong Chiến dịch Hòa Bình”Người viết tháng 11 năm 1951.

Đây là thời điểm Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng thị xã Hòa Bình, đập tan phòng tuyến sông Đà và tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ. Đây là sự chỉ đạo sát sao, sự động viên khích lệ của Bác, thể hiện nhãn quan chính trị, quân sự thiên tài nhạy bén của Người đã đánh giá đúng tình hình địch, ta, phán đoán trước được âm mưu, hành động xảo quyệt của những tên đế quốc, thực dân xâm lược. Đó còn là phương châm, tư tưởng, nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của chiến dịch, đồng thời phản ánh rõ nét tư tưởng “đánh chắc thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh - một tư tưởng đã trở thành nguyên tắc chỉ đạo cao nhất, đem lại niềm tin, nguồn sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn để tiếp thêm sức mạnh và ý chí quyết chiến, quyết thắng cho các chiến sĩ ngoài mặt trận.

Quán triệt lời dạy của Người, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng, lập công xuất sắc, đập tan cuộc tiến công lên Hòa Bình cùng với âm mưu lập “Xứ Mường tự trị” của thực dân Pháp. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là thành công của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc chỉ đạo tiến công chiến dịch và đưa quân đội ta có bước tiến mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày trên hai mặt trận rộng lớn và phức tạp; tạo ra cơ hội thuận lợi cho các chiến trường khác đẩy mạnh chiến tranh du kích, liên tục tiến công, tiêu diệt sinh lực địch, phát triển lực lượng kháng chiến và mở rộng thêm nhiều vùng căn cứ làm cho cục diện chiến trường thay đổi ngày càng có lợi cho ta, góp phần cổ vũ, động viên tinh thần chiến đấu của quân và dân ta trên các chiến trường.

Hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” đối với cách mạng nước ta và sẵn sàng can thiệp bằng vũ trang khi cần thiết. Để đánh thắng các thế lực thù địch, Quân đội ta cần chủ động nắm chắc tình hình, đánh giá và dự báo đúng các tình huống phức tạp có thể xảy ra; phát hiện kịp thời âm mưu, hành động của chúng để chuẩn bị lực lượng đủ mạnh và các kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể sẵn sàng ngăn chặn, đẩy lùi từ xa; duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt chẽ biên giới, vùng trời, vùng biển, hải đảo, nhất là các khu vực còn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống. Mỗi cán bộ, chiến sĩ cần xây dựng cho mình bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng đập tan mọi ý đồ xâm lược của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tuyên bố và Chương trình hành động Viên về quyền con người.

 Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (tháng 6-1993) khẳng định tính phổ quát của nhân quyền, nhưng luôn tôn trọng tính đặc thù về dân tộc, khu vực. Hiện nay, dựa vào những thành tựu hành động trong 30 năm qua, cần phải vượt qua những thách thức để tăng cường hợp tác và tôn trọng, hiểu biết sự khác biệt nhằm tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia theo hướng ưu tiên thực thi các điều ước quốc tế và thực hiện hiệu quả các chương trình, chính sách quốc gia nhằm tiếp tục thúc đẩy, bảo vệ quyền con người.

Tuyên bố và Chương trình hành động Viên về quyền con người

Việt Nam tôn trọng, bảo vệ, thực hiện, thúc đẩy các định hướng chính của quyền con người - Ảnh: VNP

1. Nội dung, ý nghĩa của Tuyên bố và Chương trình hành động Viên về quyền con người

Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (Vienna Declaration and Programme of Action -VDPA) được thông qua dựa trên sự đồng thuận của đại diện 171 quốc gia tại Hội nghị thế giới lần hai về nhân quyền ngày 25-6 -1993 tại Viên (Áo). Trong Lời mở đầu, Tuyên bố khẳng định: Việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người (hay nhân quyền) là một vấn đề ưu tiên đối với cộng đồng quốc tế; hội nghị này là cơ hội đặc biệt để tiến hành phân tích toàn diện cơ chế và bộ máy quốc tế bảo vệ quyền con người, nhằm nâng cao và thúc đẩy việc tuân thủ đầy đủ hơn các quyền một cách thực sự và tương xứng với tầm quan trọng của chúng. 

Thứ nhất, những nội dung cốt lõi của Tuyên bố

a) Tính phổ quát của nhân quyền, mặc dù phải luôn ghi nhớ tầm quan trọng của tính đặc thù về dân tộc, khu vực: Lời mở đầu nhấn mạnh rằng, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1948), cần phải đạt được chuẩn mực chung đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia và là cơ sở để Liên hợp quốc thúc đẩy việc xây dựng các quy chuẩn trong các văn kiện quốc tế về quyền con người, nhất là trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (năm 1966). Trong khi phải luôn ghi nhớ tầm quan trọng của tính đặc thù về dân tộc, khu vực cũng như bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo, các quốc gia, không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, đều phải có nghĩa vụ thúc đẩy, bảo vệ tất cả các quyền và tự do cơ bản của con người.

b) Nhân quyền không thể chia cắt, phụ thuộc, liên hệ lẫn nhau: Tuyên bố nhấn mạnh rằng tất cả các quyền con người là bình đẳng về tầm quan trọng và phải theo đuổi mục tiêu chấm dứt sự chia cắt định lượng giữa các quyền dân sự - chính trị và các quyền kinh tế - xã hội - văn hóa đã được thiết lập trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

c) Đói nghèo và quyền con người: Tuyên bố chỉ rõ mối liên hệ trực tiếp giữa đói nghèo và tôn trọng nhân quyền. Nạn nghèo đói cùng cực và việc bị gạt ra ngoài lề của xã hội cấu thành sự vi phạm nhân phẩm con người. Điều cốt yếu đối với các quốc gia là khuyến khích sự tham gia của những người nghèo nhất vào quá trình hoạch định chính sách ở cộng đồng nơi họ sống và nỗ lực đấu tranh chống nạn nghèo đói cùng cực.

d) Dân chủ, phát triển và nhân quyền: Phần I, Điều 8 Tuyên bố khẳng định dân chủ, sự phát triển và việc tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người phụ thuộc lẫn nhau và bổ sung cho nhau. Dân chủ phải được xây dựng trên nền tảng ý chí được bày tỏ một cách tự do của nhân dân khi lựa chọn hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa cho nước mình, dựa trên sự tham gia đầy đủ của nhân dân vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

đ) Quyền phát triển: Các quốc gia cần hợp tác với nhau trong việc bảo đảm sự phát triển và xóa bỏ những trở ngại cho sự phát triển. Để bảo đảm sự tiến bộ bền vững đòi hỏi phải có những chính sách phát triển có hiệu quả ở cấp độ quốc gia, cũng như những quan hệ kinh tế công bằng và một môi trường kinh tế thuận lợi ở cấp độ quốc tế trong việc thực hiện quyền được phát triển.

e) Thách thức đối với nhân quyền: Đó là việc thải trái phép các chất độc hại, nguy hiểm và rác thải là mối đe dọa nghiêm trọng, tiềm tàng đối với quyền được sống và quyền về sức khỏe của tất cả mọi người; hay một số thành tựu khoa học, nhất là trong y sinh và nhân sinh cũng như trong công nghệ thông tin có thể gây tác động tiêu cực đối với tính chính trực, nhân phẩm, các quyền con người. Các hành động, biện pháp và âm mưu khủng bố dưới mọi hình thức và biểu hiện của nó, cũng như mối liên hệ của nó với hoạt động buôn lậu ma túy ở một số nước là nhằm phá hoại các quyền và tự do cơ bản của con người, đe dọa sự toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của các quốc gia, làm mất ổn định các chính phủ hợp pháp. Từ đó, Tuyên bố kêu gọi cộng đồng quốc tế cần tiến hành các bước cần thiết để tăng cường sự hợp tác nhằm ngăn chặn và chống các thách thức này.  

Thứ hai, về ý nghĩa của Tuyên bố

Việc thông qua Tuyên bố cho phép làm mới lại cam kết của cộng đồng quốc tế sau Chiến tranh Lạnh để thúc đẩy, bảo vệ các quyền con người; vạch ra một tầm nhìn mới cho hành động toàn cầu ủng hộ nhân quyền trong thế kỷ tiếp theo. Qua đó, Tuyên bố cung cấp cho cộng đồng quốc tế một khuôn khổ lập kế hoạch, đối thoại và hợp tác mới toàn diện để thúc đẩy, bảo vệ các quyền con người với sự tham gia của các bên liên quan ở tất cả các cấp độ quốc tế, quốc gia và địa phương. Tuyên bố là cơ sở để thành lập Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền theo Nghị quyết 48/121 của Đại hội đồng Liên hợp quốc (tháng 12-1993).  

2. Ba mươi năm hành động vì quyền con người trên thế giới và ở Việt Nam

Dựa vào Tuyên bố, từ năm 1993 đến nay, Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền đưa ra ý kiến độc lập và có thẩm quyền đối với các vấn đề về quyền con người trên thế giới; sẵn sàng can thiệp trong các tình huống khủng hoảng, hỗ trợ bảo vệ các quyền con người và giúp người dân tiến lại gần hơn với các quyền con người. Thông qua các hoạt động tuyên truyền, giám sát và đào tạo, Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền phối hợp với các định chế quốc tế, khu vực và các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã góp phần tích cực vào các cải cách luật pháp và chính sách để thúc đẩy nhân quyền.

Các thành tựu cơ bản có thể kể, như: các quyền con người là thiết yếu để duy trì một thế giới hòa bình, an ninh và phát triển; các tiêu chuẩn mới về quyền con người được dựa trên Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1948) và việc áp dụng phổ quát các công cụ quốc tế về quyền con người đã được cải thiện đáng kể; các hình thức bảo vệ khác được luật quốc tế quy định hiện nay mở rộng ra đối với trẻ em, phụ nữ, nạn nhân bị tra tấn, người khuyết tật và các tổ chức khu vực. Trong trường hợp xảy ra vi phạm, các cá nhân có quyền khiếu nại đến các cơ quan được thành lập theo văn kiện quốc tế về nhân quyền; một khuôn khổ quốc tế được triển khai, như công nhận những khó khăn mà những người di cư và gia đình của họ, cũng như những người dân tại chỗ và dân tộc thiểu số phải đối mặt, đặc biệt là bảo đảm quyền không bị phân biệt đối xử;...

Với chủ trương sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập, hợp tác và phát triển, Việt Nam đã tăng cường đối thoại, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, trên cơ sở bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết những đặc thù riêng của nhau để giải quyết những vấn đề toàn cầu mà Tuyên bố và Chương trình hành động Viên đề ra, trên cơ sở đề cao chủ nghĩa đa phương, tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Việc Việt Nam liên tiếp trúng cử Ủy ban quyền con người Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2001-2003 và Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc các nhiệm kỳ 2014-2016, 2023-2025 với số phiếu cao chính là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với các thành tựu trong công cuộc đổi mới toàn diện nói chung, chính sách, nỗ lực và kết quả tích cực đạt được về nhân quyền, trong đó có việc thực hiện Tuyên bố và Chương trình hành động Viên nói riêng.

Phương châm của Việt Nam trong 30 năm thực hiện Tuyên bố cũng như các điều ước quốc tế về nhân quyền là: “Tôn trọng và hiểu biết. Đối thoại và hợp tác. Tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người”(1).

Với những đóng góp vào Tuyên bố và Chương trình hành động Viên cũng như các điều ước quốc tế về nhân quyền, nên mới đây, khi chúc mừng Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, bà Pauline Tamesis, Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam đã cho đây là cơ hội quan trọng để Việt Nam thể hiện những nỗ lực cụ thể trong việc bảo vệ, thúc đẩy các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và chính trị phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người(2). Thông qua việc thực hiện Tuyên bố này và các điều ước quốc tế khác về nhân quyền, Việt Nam đã đúc kết một số kinh nghiệm về thúc đẩy, bảo vệ quyền con người: 

Thứ nhất, tôn trọng, bảo vệ, thực hiện, thúc đẩy các định hướng chính của quyền con người. Đó là mối quan hệ đúng đắn giữa dân chủ, phát triển và nhân quyền, xóa đói giảm nghèo bền vững, phát triển bao trùm để không bỏ lại ai ở phía sau, theo phương châm: Tôn trọng và hiểu biết, đối thoại và hợp tác nhằm bảo đảm tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người.

Thứ hai, đa dạng hóa các cơ chế để bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền con người, nhất là quyền của các nhóm yếu thế, gồm: (a) Cơ chế mang tính nhà nước: nghị viện, hội đồng địa phương, các cơ quan hành pháp và tư pháp; (b) Cơ chế  mang tính xã hội: Các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp,... (c) Cơ chế thông qua gia đình và các thiết chế tự quản (hương ước, luật tục,...) để bảo đảm nhân quyền trong đời sống hằng ngày;...

Thứ ba, đề cao chủ nghĩa đa phương, tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc và tôn trọng, hiểu biết những đặc thù riêng của nhau để giải quyết những vấn đề toàn cầu nhằm thúc đẩy, bảo vệ quyền con người. Trong quá trình đó, cần tăng cường thực hiện phương thức trong đối thoại có đấu tranh để nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, từng bước thu hẹp bất đồng và những sự hiểu biết khác nhau giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế trong vấn đề dân chủ, nhân quyền; và ngăn chặn một cách hiệu quả các hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi nước thành viên.

3. Tăng cường hợp tác và tôn trọng khác biệt để thúc đẩy quyền con người

Hiện nay, những thành tựu của cộng đồng quốc tế và Việt Nam trong việc thực hiện Tuyên bố và Chương trình hành động Viên nói riêng và các điều ước quốc tế về nhân quyền nói chung, đang vấp phải những thách thức rất gay gắt như: chiến tranh, xung đột, bạo lực, đói nghèo, bất bình đẳng và thiếu công bằng, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, các nguy cơ về an ninh lương thực, an ninh nguồn nước hay những hệ quả của đại dịch Covid -19, suy thoái kinh tế toàn cầu,...

Trước những thách thức trên, Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã bày tỏ lo ngại về tình trạng suy giảm của gắn kết và lòng tin xã hội; từ đó ông đề nghị cộng đồng quốc tế quan tâm hơn nữa đến bảo đảm quyền con người trong bối cảnh tác động của các vấn đề toàn cầu như di cư, biến đổi khí hậu, lạm dụng công nghệ, nạn tin giả,... Cao ủy Nhân quyền thì kêu gọi các nước giảm căng thẳng, tăng cường hợp tác đa khu vực và đoàn kết để xử lý những thách thức hiện nay(3).

Để đẩy mạnh thực hiện Tuyên bố và Chương trình hành động Viên cũng như các điều ước quốc tế về quyền con người khác, Việt Nam đưa ra sáng kiến về việc Kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn Nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên nhằm khẳng định lại những mục tiêu và giá trị to lớn, bao trùm của các tuyên ngôn và tuyên bố trên và cam kết chung của cộng đồng quốc tế vì toàn thể nhân loại(4). Để thực thi sáng kiến này, Việt Nam đã và đang triển khai một số phương hướng sau:

Một là, tăng cường hợp tác quốc tế và ưu tiên thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người trong hệ thống pháp luật quốc gia

Từ kinh nghiệm của mình, cùng với nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam thừa nhận quan điểm chung về quyền con người, được thể hiện trên hai vấn đề: Tầm quan trọng không gì thay thế của nhân quyền đối với mỗi người, mỗi quốc gia - dân tộc, cộng đồng quốc tế và những giá trị phổ quát của quyền con người. Chính vì thế, phải tăng cường hợp tác trong tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người để có thể kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tôn giáo của mỗi quốc gia và khu vực. Trong hợp tác quốc tế về quyền con người, xu thế chung là vừa hợp tác, vừa đấu tranh, để gìn giữ quan hệ tương tác thường xuyên và lợi ích đan xen trong một thế giới ngày càng đa dạng; trong đó không một nước nào có quyền áp đặt cách tiếp cận quyền con người theo mô hình chính trị, kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác.

Khi tham gia thực hiện Tuyên bố và Chương trình hành động Viên cũng như các điều ước quốc tế về quyền con người, Việt Nam chủ động thực hiện những nghĩa vụ của một quốc gia thành viên của điều ước, kể cả cơ chế giám sát do điều ước quy định. Việt Nam hiện đã tham gia 08 công ước và 02 nghị định thư về quyền con người; đã và đang nội luật hóa nội dung của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập vào quá trình xây dựng, thực thi các văn bản pháp luật trong nước.

Để nội luật hóa, một mặt, phải tuân thủ, tôn trọng các nguyên tắc, chuẩn mực, thực hiện các cam kết quốc tế; mặt khác, cần xây dựng các quy phạm pháp luật bảo đảm quyền con người phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể của đất nước. Luật Điều ước quốc tế năm 2016, Khoản 1, Điều 6 quy định: Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp(5). Qua đó cho thấy, Việt Nam luôn tôn trọng và dành vị trí ưu tiên của các điều ước quốc tế về quyền con người mà mình đã ký kết trong hệ thống pháp luật quốc gia.

Hai là, tôn trọng, hiểu biết sự khác biệt của nhau và chia sẻ trong hợp tác vì quyền con người trên thế giới

Do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa, dẫn đến cách tiếp cận về quyền con người ở mỗi quốc gia, khu vực có sự khác nhau, vì vậy, cần có sự tôn trọng, hiểu biết và chia sẻ trong hợp tác vì quyền con người trên thế giới. Chẳng hạn:

Các nước phương Tây, chủ yếu là nhóm G7 và các nước thuộc khu vực Tây Âu, Bắc Mỹ, đều thừa nhận tất cả các nhóm quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và quyền các nhóm xã hội (quyền tập thể), nhưng họ thường theo đuổi việc chia cắt các quyền dân sự, chính trị với các nhóm quyền khác. Đối với Việt Nam và các nước đang phát triển khác, quan điểm nhất quán là tiếp cận một cách toàn diện, bình đẳng tất cả các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và tập thể trong một tổng thể hài hòa không xem nhẹ hay đề cao bất cứ quyền nào, đúng như sự nhấn mạnh của Tuyên bố và Chương trình hành động Viên về tính bình đẳng, không thể chia cắt, phụ thuộc, liên hệ lẫn nhau của tất cả các quyền con người.

Đối với quyền dân tộc tự quyết, các nước đều thừa nhận nội dung đã quy định trong Điều 1 của hai Công ước về các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966. Việt Nam chủ trương bảo vệ quyền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị thống nhất với bảo đảm quyền của tất cả người dân và của các nhóm (cộng đồng) xã hội; trong đó có các cộng đồng dân tộc thiểu số và tôn giáo. Do đó, không thể tách rời việc bảo đảm quyền của người dân và của các cộng đồng xã hội với quyền dân tộc tự quyết, hay ngược lại.

Về quan hệ giữa tự do cá nhân với việc bảo vệ cộng đồng, các nước phương Tây cho rằng, trong vấn đề quyền con người thì chủ quyền quốc gia là một chủ quyền hạn chế; thậm chí có quan điểm tuyệt đối hóa quyền tự do cá nhân đến mức cao hơn hoặc đối lập với quyền của cộng đồng, của quốc gia, dân tộc. Về vấn đề này, Việt Nam chủ trương, quyền gắn liền với nghĩa vụ; quyền và nghĩa vụ cá nhân phải gắn liền và nằm trong quyền, nghĩa vụ của cộng đồng, của quốc gia, dân tộc. Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa quyền cá nhân với quyền của cộng đồng, quốc gia - dân tộc thì quyền của cộng đồng, quốc gia - dân tộc được đề cao hơn.

Về tôn trọng, chia sẻ hiểu biết và cả bảo vệ quyền, nghĩa vụ của các chủ thể ký kết các Điều ước quốc tế về quyền con người: Chẳng hạn đối với Việt Nam, trong nhiều năm qua, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, các thế lực cực đoan trong chính giới ở một số nước ở phương Tây, các tổ chức phản động người Việt ở nước ngoài... thông qua việc ra bản báo cáo phúc trình hằng năm về nhân quyền, thường xuyên vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền Việt Nam. Trong trường hợp có sự phản biện, phê phán như vậy, cơ quan giám sát của các điều ước quốc tế cần có sự tôn trọng, chia sẻ hiểu biết và cả bảo vệ một cách khách quan quyền, nghĩa vụ của các quốc gia thành viên với tư cách là chủ thể ký kết các điều ước này. 

Ba là, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực hiện hiệu quả các chương trình, chính sách quốc gia nhằm thúc đẩy, bảo vệ quyền con người

Thực hiện có hiệu quả các chương trình, chính sách quốc gia liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm các quyền như: quyền thoát nghèo; quyền về sinh kế, việc làm, thu nhập; quyền sở hữu; quyền được chăm sóc y tế, sức khỏe; quyền được học tập, giáo dục; quyền được tham gia vào đời sống văn hóa, trước hết là của các nhóm yếu thế trong xã hội.

Khuyến khích đa dạng hóa nội dung, hình thức và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục quyền con người cho mọi đối tượng trong xã hội, đặc biệt là cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Chú trọng công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại về những thành tựu trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trên các diễn đàn quốc tế.

Chủ động hợp tác quốc tế nhằm thực hiện các chính sách, pháp luật về thúc đẩy, bảo vệ quyền con người. Tăng cường đối thoại, trao đổi, hợp tác để nâng cao sự hiểu biết, đồng thuận, từng bước thu hẹp bất đồng và sự khác biệt giữa Việt Nam với các đối tác trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ quan điểm, lập trường, pháp luật, lợi ích quốc gia - dân tộc về quyền con người của Việt Nam.

Phối hợp với các nước thành viên, tiếp tục thực hiện hiệu quả việc lồng ghép giới trong chiến lược về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050, phù hợp với mục tiêu cam kết của Thủ tướng Chính phủ tại COP26 về đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, trong khuôn khổ “Đề án về những nhiệm vụ, giải pháp triển khai kết quả Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu” theo Quyết định số 888/2022/QĐ-TTg, ngày 25-7-2022 của Thủ tướng Chính phủ. Các phương hướng cụ thể gồm:

(1) Vận dụng cơ sở pháp lý quốc tế về quyền bình đẳng của phụ nữ trong ứng phó với biến đổi khí hậu được thể chế trong Hiến pháp năm 2013 là tối thượng; trong văn bản pháp luật nếu chưa có quy định hoặc quy định chưa phù hợp với pháp luật quốc tế thì ưu tiên bổ sung điều chỉnh cho phù hợp với pháp luật quốc tế.

(2) Xác định nội dung vận dụng cơ sở pháp lý quốc tế và thực hiện hợp tác với các nước thành viên Hội đồng Nhân quyền về quyền bình đẳng của phụ nữ trong ứng phó với biến đổi khí hậu, gồm: (a) Tăng cường nhận thức của các chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ; (b) Xây dựng, thực hiện thể chế trên cơ sở cách tiếp cận giới; (c) Bảo đảm nguồn lực thích đáng; (d) Bảo đảm môi trường chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa có tính đổi mới và cầu thị.

(3) Thực hiện việc thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ trong ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua: (a) Đẩy mạnh chuyển đổi các chuẩn mực văn hóa - xã hội truyền thống sang hướng bình đẳng giới và bao trùm, chẳng hạn tuyên truyền  và thực hiện lồng ghép bình đẳng giới vào các khóa đào tạo, tập huấn cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Trung ương và địa phương. (b) Quyền tham chính bình đẳng của nữ giới cần được đưa vào tất cả các lĩnh vực, giai đoạn của chính sách cùng với việc xúc tiến xây dựng đạo luật thúc đẩy biện pháp đối phó với biến đổi khí hậu phù hợp với yêu cầu về giới và sức khỏe. (c) Xây dựng, thực hiện cơ chế giải trình để bảo đảm thực hiện trách nhiệm của người đứng đầu tại các cơ quan, tổ chức trong việc thúc đẩy thực hiện đại diện của phụ nữ trong công tác lãnh đạo và quản lý; có giải pháp đột phá khi hoạt động của cơ chế này chưa hiệu quả. (d) Cần xem xét một cách nghiêm túc các chính sách, biện pháp thực hiện trên thực tế đối với Luật Bình đẳng giới, đặc biệt là về đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, bồi dưỡng lý luận chính trị, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ.

(4) Tăng cường chia sẻ kinh nghiệm của Việt Nam với các đối tác quốc tế và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, trước hết là các nước thành viên thuộc Hội đồng nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, về nỗ lực của Việt Nam trong quá trình thúc đẩy, bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ khi ứng phó với biến đổi khí hậu.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 544 (tháng 6-2023)

Ngày nhận bài: 13-3-2023; Ngày bình duyệt: 20-6-2023; Ngày duyệt đăng: 26-6-2023.

 

(1) Tố Uyên - Văn Tuấn: Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang phát biểu tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, https://www.vietnamplus.vn/, ngày 27-2-2023.

(2) PV: Khởi động tiến trình Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Việt Nam, https://www.xaydungdang.org.vn/, ngày 13-12-2022.

(3), (4) Hải Minh: Phương châm tham gia Hội đồng Nhân quyền của Việt Nam, https://baochinhphu.vn/,

ngày 27-2-2023.

M Lời Bác dạy Ngày 03 tháng 11


… Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi…[3].

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Lời kêu gọi cả nước tiến lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, đăng Báo Nhân dân, số 5317, ngày 03 tháng 11 năm 1968.

Lời kêu gọi thể hiện sâu sắc ý chí mạnh mẽ và quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta kiên quyết bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc, phản ánh niềm tin vững chắc vào sức mạnh của dân tộc Việt Nam, dù phải chịu nhiều hy sinh gian khổ nhưng không thể lay chuyển ý chí, quyết tâm của toàn thể dân tộc Việt Nam về một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Lời kêu gọi của Người tựa như lời “hịch” đanh thép thúc giục cả dân tộc đồng tâm, nhất trí, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn. Lời kêu gọi còn là một cuộc vận động lớn để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tộc đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, củng cố niềm tin, xiết chặt đội ngũ để đi vào giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại không chỉ của dân tộc Việt Nam mà của cả nhân loại tiến bộ trong thế kỷ XX. Đó là tinh thần kiên quyết tiến công của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta, của toàn quân và toàn dân ta trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng và chiến tranh cách mạng. Tinh thần tiến công đó tiếp tục soi sáng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 

Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực sẽ còn nhiều diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định, bất trắc, khó lường; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biên giới, biển, đảo, đặc biệt là trên Biển Đông tiếp tục diễn ra gay gắt, phức tạp. Trong nước, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại. Các thế lực thù địch đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội. Để thực hiện trọn vẹn lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Nâng cao bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc, đảm bảo lực lượng vũ trang nhân dân luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, thực sự là lực lượng nòng cốt cho toàn dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất và các nhiệm vụ khác được giao.

M Lời Bác dạy Ngày 02 tháng 11


“… chớ nên cái gì tốt thì dành cho mình, xấu để cho người khác[2].

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại hội nghị rút kinh nghiệm công tác quản lý hợp tác xã nông nghiệp toàn miền Bắc, đăng trên Báo Nhân dân, số 2056, ngày 02 tháng 11 năm 1959.Đây là thời điểm miền Bắc nước ta đang trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, các ngành, các cấp ra sức thi đua thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng và Chính phủ về xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, xóa bỏ tư hữu cá nhân về ruộng đất để phục vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Lời dạy của Bác có ý nghĩa rất sâu sắc trong bối cảnh toàn miền Bắc đang thực hiện hợp tác xã nông nghiệp, việc xây dựng cũng như quản lý hợp tác xã còn gặp nhiều khó khăn, chưa có kinh nghiệm. Mặt khác, ở một bộ phận cán bộ quản lý vẫn còn tư tưởng bảo thủ, lạc hậu, cá nhân chủ nghĩa, chỉ muốn nhận cái tốt về mình và đẩy cái xấu, cái chưa tốt cho người khác, làm ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng hợp tác xã nông nghiệp của Đảng và Nhà nước ta. Lời dạy của Bác trong thời điểm này, không những chỉ ra những hạn chế, biện pháp khắc phục mà còn là lời căn dặn, nhắc nhở đối với toàn thể cán bộ làm công tác quản lý nhà nước ta nói chung và quản lý hợp tác xã nông nghiệp nói riêng, kịp thời chấn chỉnh những nhận thức, quan điểm lệch lạc của một số tổ chức và cá nhân trong phương thức làm ăn mới, góp phần vào xây dựng tính tập thể, tình đoàn kết toàn dân thành một khối đại đoàn kết dân tộc, tạo cơ sở cho nông nghiệp miền Bắc phát triển và đi lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, để cho mỗi cá nhân trong tập thể “tự soi, tự sửa”, xây dựng ý thức và hành động của bản thân, mình vì mọi người, tất cả vì miền Nam ruột thịt, góp phần vào thắng lợi của cách mạng miền Nam.

Hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; mắc bệnh “thành tích”, háo danh, phô trương, che dấu khuyết điểm… Học tập và làm theo lời Bác dạy, đòi hỏi mỗi tổ chức, cá nhân phải luôn đề cao tình đồng chí, đồng đội, biết chia sẻ khó khăn, biết trân trọng những thành quả, quyết tâm khắc phục những hạn chế, thiếu sót, không mắc bệnh “thành tích”, không háo danh, phô trương, không tranh công đổ lỗi cho người khác, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm.

Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn nêu cao tinh thần tự giác, tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực; xác định tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, chủ động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện.

M Lời Bác dạy: Ngày 01 tháng 11

 


…Chỉ có sự lãnh đạo của một đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công[1].

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc”, gửi cho báo Pravđa (Liên Xô); Báo Nhân dân, đăng số 4952, ngày 01 tháng 11 năm 1967.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh xem chủ nghĩa Mác - Lênin như kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc và Người luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo “cẩm nang thần kỳ” đó vào thực tiễn cách mạng. Sự khẳng định trên của Bác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định và đánh giá cao bài học kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng, đó là một trong những bài học có tính nguyên tắc và phổ biến, đảm bảo cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức. Thực tiễn chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiếp tục giành những thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn nguyên giá trị, nhất là trong công tác xây dựng Đảng. Theo đó, Đảng ta phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; Đảng phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Đối với Quân đội ta, đó cũng là nguyên tắc, nền tảng tư tưởng để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu cao; xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn cao tinh thần tự giác, tích cực nghiên cứu, học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy đảng; đồng thời biết vận dụng sáng tạo vào hoạt động thực tiễn của đơn vị nhằm thực hiện có hiệu quả chức trách, nhiệm vụ được giao.

HỘI CỦA NHỮNG KẺ “LỐ LĂNG”

 

Theo KCTD - Thời gian qua, trên rất nhiều trang mạng xã hội đã đăng tải những hình ảnh rất phản cảm về một nhóm người gọi là “Hội yêu đồ lính”. Nhưng nếu chỉ gọi là yêu mến một cách bình thường với những cái hay, cái đẹp thì không ai có thể ý kiến bất kỳ một điều gì. Đồng thời, cũng không có gì để nói.

Mấy hôm trước, khi lướt tiktok, có bài viết phản ảnh về những kẻ “yêu đồ lính”. Tác giả đã có nhiều bình luận rất sâu sắc về vấn đề này khiến người đọc cảm thấy đồng tình.


    Tình yêu và niềm đam mê không ai ngăn cấm, nhưng phải là tình yêu với những giá trị văn hóa đạo đức nhân văn, hướng đến cái thiện, thúc đẩy xã hội đi lên. Nhưng một nhóm người lại có những niềm đam mê rất “lố lăng, phản cảm”. Những kẻ được cho là thành viên của “Hội yêu đồ lính” lại có những hành động và niềm đam mê, si mê giống như những kẻ thiểu năng. Họ không thèm quan tâm đến “họ đang yêu cái gì”, “hành động và tình yêu có ảnh hưởng tiêu cực như thế nào đến xã hội”. Họ chỉ biết hành động một cách rất thiếu văn hóa. Tình yêu của họ, niềm đam mê, si mê của họ lại giành cho trang phục của ngụy quân, ngụy quyền ngày xưa – Một chính quyền tay sai, bán nước, đã gây bao đau thương mất mát cho biết bao thế hệ người dân Việt Nam. Những tội ác của họ đã được lịch sử Việt Nam in dấu đậm nét và nó sẽ rất khó phai mờ trong tâm trí người Việt Nam yêu nước.

Những kẻ hàng ngày vẫn khoe và mặc những trang phục kia lại thản nhiên vô tư đến vô cảm. Thậm chí, chúng còn rất tự hào tổ chức các buổi biểu diễn, diễu hành mặc những trang phục kinh tởm này.

Nhân dân Việt Nam rất yêu hòa bình, độc lập, tự do. Nhưng cái giá phải trả rất đắt, không có gì “cân, đong, đo, đếm được”. Bởi đó là mồ hôi, máu và nước mắt của biết bao thế hệ người Việt Nam. Do vậy, việc cố tình gợi lại những nỗi đau của dân tộc Việt Nam thì đó là một tội ác không thể dung thứ. Là những người dân yêu nước, mỗi chúng ta cần phải lên án mạnh mẽ những hành động này. Đồng thời, hy vọng cơ quan chức năng ở các địa phương cần phát hiện và kịp thời xử lý nghiêm minh những kẻ này để răn đe những kẻ khác.

                                                                                                                     BT

VIỆT TÂN LẠI XUYÊN TẠC, KÍCH ĐỘNG, SỰ VIỆC Ở VƯỜN RAU LỘC HƯNG

 

Theo KCTD - Sự việc tại khu vực vườn rau Lộc Hưng như thế nào, tại sao sự việc trở nên phức tạp vậy, mất nhiều thời gian giải quyết như vậy và có đúng sự thực như những gì Việt Tân xuyên tạc không. Xin thưa là không, hoàn toàn không, có chăng sự thực là Việt Tân đã góp công to lớn để sự việc trở nên phức tạp, kéo dài và trở nên khó khăn 


    Những ngày vừa qua, trên trang facebook của Việt Tân có đăng tải nội dung: gồm đoạn clip có một nhóm người căng biểu ngữ, tập tụ bày tỏ sự phản đối đối với chính sách thu hồi đất khu vực vườn rau Lộc Hưng (quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh) kèm theo lời bình: đồng hành cùng bà con vườn rau Lộc Hưng. Mục đích đăng tải đoạn video của Việt Tân là rất rõ ràng. Chúng lợi dụng vào việc thiếu đồng thuận của một bộ phận nhỏ người dân với chính sách thu hồi đất khu vực vườn rau Lộc Hưng để kích động, lôi kéo, xúi giục người dân tụ tập đông người tiến hành các hoạt động gây mất an ninh trật tự, tổ chức khiếu kiện vượt cấp với quan điểm đòi yêu cầu giải quyết theo kiểu phép vua thua lệ…, không theo trình tự, quy định của pháp luật gây khó khăn cho công tác giải quyết. Đây là thủ đoạn quen thuộc của chúng, chúng lôi kéo những đối tượng bất đồng chính kiến và các phần tử cơ hội để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc trong các tầng lớp nhân dân, cản trở việc thực hiện những chủ trương, chính sách thu hồi đất đai, chúng tìm mọi cách kích động, gây tâm lý chống đối, gây khó khăn, cản trở việc đền bù, di rời người dân ra khu vực định cư mới. Ngoài ra, chúng triệt để lợi dụng việc xuyên tạc, bóp méo, khiến người dân hiểu sai lệch về quyền tự do dân chủ, nhân quyền của mình, chúng tích cực lan truyền, chia sẻ các hình ảnh, video có nội dung chống đối chính sách thu hồi đất của Nhà nước. chúng sẵn sàng tài trợ tiền, vật chất để lôi kéo, tập hợp lực lượng tổ chức các hoạt động gây phức tạp, mất ổn định ANTT trên địa bàn theo ý đồ của chúng. Mục đích cuối cùng của chúng là làm suy giảm niềm tin của người dân đối với chính quyền, gây bất ổn, tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng, thể chế chính trị Việt Nam.

          Vậy cụ thể sự việc tại khu vực vườn rau Lộc Hưng như thế nào, tại sao sự việc trở nên phức tạp vậy, mất nhiều thời gian giải quyết như vậy và có đúng sự thực như những gì Việt Tân xuyên tạc không. Xin thưa là không, hoàn toàn không, có chăng sự thực là Việt Tân đã góp công to lớn để sự việc trở nên phức tạp, kéo dài và trở nên khó khăn. Để giúp độc giả hiểu hơn về toàn cảnh thu hồi đất ở khu vực vườn rau Lộc Hưng, về sự nham hiểm của Việt Tân và các thế lực phản động, xin thông tin với độc giả một số nội dung chính như sau:

Khu vườn rau Lộc Hưng rộng 4,8 ha. Theo chính quyền Tân Bình, khu đất này vốn thuộc Nha Viễn thông chính quyền Sài Gòn. Sau năm 1975, nhà nước giao Trung tâm Viễn thông 3 quản lý, làm đài phát tín. Đến 1991, khu đất được bàn giao cho Bưu điện TP HCM quản lý. Năm 2008 UBND TP HCM quyết định thu hồi khu đất công trên, giao quận Tân Bình làm dự án công trình công cộng và chung cư phục vụ tái định cư. Sau đó, cơ quan chức năng điều chỉnh quy hoạch để xây trường học, phần còn lại sẽ làm đường, công viên. Theo chính quyền, khu vườn rau qua các thời kỳ có 134 hộ kê khai sử dụng đất nông nghiệp. Tuy nhiên, nhiều hộ tự ý xây nhà ở, công trình không phép. Hiện, có 112 căn vi phạm về xây dựng, bị lập biên bản. Năm 2019, địa phương tiến hành cưỡng chế, gặp phản ứng của một số hộ dân. Với sự hà hơi, tiếp sức, xúi dục của các thế lực phản động và Việt Tân, sự việc đã trở nên khó khăn và phức tạp bội phần. Bộ phận quần chúng tập trung khiếu kiện 3 vấn đề: đất họ đang canh tác ở khu vườn rau là của Giáo phận TP HCM chứ không phải đất công; việc cưỡng chế hơn trăm công trình là không đúng trình tự thủ tục; kiện UBND phường thực hiện không đúng thủ tục hành chính...Tuy nhiên, Theo UBND quận Tân Bình, đơn khiếu kiện đề ngày 17/1 của 166 người nhưng số chữ ký thực tế là 114, chỉ có 38 hộ liên quan 61 thửa tại khu vườn rau. Có người ký 8 lần, hai người không liên quan nhưng vẫn ký đơn.

Về nguồn gốc pháp lý vườn rau Lộc Hưng, UBND quận Tân Bình cho biết, khu đất rộng 4,8 ha này vốn thuộc Nha Viễn thông chính quyền Sài Gòn. Sau năm 1975, nhà nước trực tiếp quản lý theo Điều 1, Phần IV Quyết định số 111/CP ngày 14/4/1977 của Hội đồng Chính phủ. Khu đất này không thuộc quyền quản lý, cũng như không thuộc tài sản của Tòa Tổng Giám mục từ trên 100 năm nay. Liên quan việc người dân từng nhiều lần khiếu nại về tính pháp lý của khu đất, ngày 27/11/2006, Sở Tài nguyên - Môi trường TP HCM gửi công văn hỏi ý kiến Bộ Tài nguyên - Môi trường để làm cơ sở giải quyết. Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường Đặng Hùng Võ ký văn bản cho biết, thời Pháp thuộc 4,8 ha đất mà các hộ dân đề nghị được xác nhận quá trình sử dụng đất tại phường 6, quận Tân Bình (khu vườn rau) thuộc 6,8 ha đất do Quốc gia Việt Nam và Hội đồng quản trị công giáo địa phận Sài Gòn đứng bộ - được chính quyền Pháp sử dụng làm bãi anten cho đài phát tín. Sau đó, Nha Giám đốc viễn thông (chế độ cũ) trực tiếp quản lý, sử dụng.

Năm 1975, Trung tâm Viễn thông 3 tiếp quản đài phát tín. Năm 1987, Bưu điện thành phố tiếp nhận bãi anten trên theo Quyết định số 578 của Tổng cục Bưu điện. Sau đó, Bưu điện thành phố đã 4 lần có công văn (1988-1991) xin phép giải tỏa vườn rau xung quanh khu đất và xây hàng rào bảo vệ quanh khu bãi anten. Tuy nhiên, việc này không thực hiện được do chưa thống nhất thương lượng bồi thường hoa màu cho người canh tác.

Năm 2001, UBND TP HCM có các quyết định giao khu đất cho Công ty TNHH Sài Thành và Bưu điện thành phố để đầu tư xây dựng hạ tầng khu nhà ở cán bộ công nhân viên bưu điện. Từ thực tế quá trình sử dụng đất như trên, Bộ Tài nguyên – Môi trường cho rằng, các hộ dân trồng rau là tận dụng phần diện tích đất trống giữa các cột anten để canh tác. Khi Bưu điện thành phố yêu cầu ngừng canh tác để trả lại mặt bằng, các hộ dân không đủ điều kiện để được công nhận là người sử dụng đất và không được xem xét giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất với bưu điện. Do đó, về việc đền bù, hỗ trợ di dời khi UBND TP HCM thu hồi đất "người dân chỉ được hỗ trợ theo quy định và mức hỗ trợ tối đa không quá mức bồi thường".

          Sau nhiều tháng kiên trì vận động và kết hợp các biện pháp cưỡng chế đến thới điểm hiện tại đã có Đã có 106 người làm thủ tục kê khai, hoàn chỉnh hồ sơ nhận hỗ trợ. Từ 5/12/2023, quận bắt đầu chi trả cho những trường hợp đồng thuận..Theo ông Thành, Chủ tịch UBND quận Tân Bình, ba trường đạt chuẩn quốc gia sẽ được khởi công trên khu vực vườn rau Lộc Hưng. Trường mầm non có 20 phòng học, trường tiểu học có 30 phòng và trường THCS có 45 phòng. Các công trình hoàn thành dịp 30/4 2025. Thông tin được Chủ tịch UBND quận Tân Bình Nguyễn Bá Thành nói tại buổi tiếp xúc cử tri giữa Đoàn đại biểu quốc hội, HĐND TP HCM về cơ sở vật chất phục vụ giáo dục trên địa bàn, chiều 5/12

          Từ vấn đề trên cho chúng ta thấy, vấn đề khiếu kiện đất đai là vấn đề nhạy cảm, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để kích động chia rẽ, chống đối, gây khó khăn cho thực hiện chính sách của Nhà nước, gây bất ổn về chính trị. Chúng ta cần hết sức cảnh giác, không để mắc mưu, xúi dục, kích động của các thế lực phản động; tích cực đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu của chúng, giữ vững ANCT, TTATXH để phát triển đất nước.

                                                                                                                     BT

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 29 THÁNG 12 NĂM 1966!

“Trong công tác lưu thông phân phối, có hai điều quan trọng phải luôn luôn nhớ:
- Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng,
- Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không theo”!
Ngày 29 tháng 12 năm 1966, tại phiên họp cuối năm của Hội đồng chính phủ, khi đề cập đến khuyết điểm của công tác lưu thông phân phối Bác đã căn dặn những điều trên. Ở đây, Bác đề cập đến “không sợ thiếu”, “không sợ nghèo” không phải là cam tâm chịu nghèo, chịu thiếu. Cách mạng là để cuộc sống con người giàu có hơn, sung sướng hơn. Nhưng trước cái thiếu, cái nghèo còn đang hiện hữu thì phải làm sao thiếu mà được công bằng, nghèo mà lòng dân vẫn yên. Sợ sự không công bằng và sợ lòng dân không theo là biểu thị thái độ, trách nhiệm của người quản lý. Trước đó, năm 1947 để giữ nghiêm pháp luật và kỷ luật Bác đã phải thức trắng đêm để suy nghĩ và đi đến quyết định bác đơn xin ân xá của Đại tá Trần Dụ Châu, nguyên Cục trưởng Cục Quân nhu vì những vi phạm nghiêm trọng về mặt đạo đức, quản lý không tốt, bớt xén của bộ đội để dùng vào việc riêng.

Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Người, đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác phân phối hàng hóa trong hệ thống phân phối của nhà nước đã đề cao trách nhiệm, tận tâm, tận lực hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhất là giai đoạn đất nước còn trong chiến tranh và thực hiện cơ chế bao cấp, góp phần vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Trong Quân đội, mọi chế độ, tiêu chuẩn, chính sách của cán bộ, chiến sĩ được quy định cụ thể trong các văn bản, được phổ biến và niêm yết công khai theo quy định ở từng cấp để mọi quân nhân biết, thực hiện. Hằng tháng, các cơ quan, đơn vị duy trì nghiêm nền nếp Ngày Chính trị văn hóa tinh thần để bộ đội được dân chủ tham gia góp ý trên mọi mặt công tác; qua đó tạo bầu không khí dân chủ, tin cậy đã trực tiếp xây dựng đơn vị có môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện./.
Môi trường ST.

MỐI ĐE DỌA TỪ TRÀO LƯU “HOT TREND”

 

Thời gian qua, trào lưu “phân biệt vùng miền” đang xuất hiện tràn lan trên các nền tảng của facebook, Tiktok của Việt Nam. Điều đáng buồn hơn, “vấn nạn” này nhận được sự hưởng ứng của nhiều người đặc biệt là giới trẻ, nó cũng ngày càng được sử dụng như một trào lưu mới rất “hot trend”.

Để nhận biết trào lưu đang thịnh hành trên các nền tảng trực tuyến này, đó là sự xuất hiện với tần suất ngày càng cao của hai từ “Parky” và “Namrky”. Trong đó, "Parky" thường được sử dụng để chỉ người dân miền Bắc, còn “Namrky” hay “Namkiki” lại gắn liền với hình ảnh của người dân miền Nam.

Mối nguy hại từ trào lưu này đang đe dọa nghiêm trọng khối đại đoàn kết của toàn dân tộc ta. Điều đáng nói hơn, trào lưu xuất phát từ một bộ phận giới trẻ, những người có cái nhìn rất thiển cận và quá non nớt về tư tưởng. Thật sự đáng buồn với tư tưởng của những mầm non tương lai của đất nước.

Chỉ cần những video, hình ảnh có nội dung bày tỏ quan điểm hay lối sống khác biệt, hoặc đơn giản chỉ là nội dung về đời sống hằng ngày, cũng có thể trở thành nơi diễn ra tranh cãi về vấn đề vùng miền. Đằng sau một trào lưu là một mối hiểm họa vô cùng tiềm ẩn, ảnh hưởng trực tiếp tới vận mệnh của dân tộc.


Vấn nạn “phân biệt vùng miền” không phải là một hiện tượng còn mới mẻ gì, đây là một vấn đề phổ biến trong xã hội cả trong nước và quốc tế. Chính vì vậy, mỗi chúng ta hãy cùng nhau chung tay xây dựng và góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc của đất nước. Đừng để, những tư tưởng lệch lạc làm ảnh hưởng tới cả một thế hệ, cả một tương lai tốt đẹp ở phía sau.

CHẤT LƯỢNG PHÓNG VIÊN CÓ ẢNH HƯỞNG LỚN ĐẾN LĨNH VỰC BÁO CHÍ

 

Các vụ việc phóng viên bị bắt vì trục lợi, o ép doanh nghiệp, công ty...thời gian gần đây ngày càng nhiều. Phóng viên không tập trung về chuyên môn mà chỉ tập trung vào tìm kiếm lợi ích trên danh nghĩa phóng viên trở thành một vấn đề rất nguy hiểm.

Trong khi đó, tình trạng mở cửa tuyển dụng phoang viên ồ ạt, thiếu chất lượng, đạo đức nghề nghiệp, cùng với việc chấp nhận phóng viên với trình độ hạn chế, làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng. Việc quá dễ dàng trong việc thành lập một tờ tạp chí, hay một văn phòng báo chí và tuyển chọn phóng viên cần được đánh giá lại để đảm bảo chất lượng nội dung và đạo đức nghề nghiệp.

Để cải thiện chất lượng báo chí, cần thiết lập các tiêu chí chặt chẽ về chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, và khuyến khích nghiên cứu chuyên sâu. Đồng thời, quản lý cần tăng cường giám sát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Chỉ khi có sự chấp nhận và thực hiện các biện pháp này, chúng ta mới có thể hướng tới một báo chí chất lượng và bền vững. Tôi cho rằng cần quyết tâm, quyết liệt hơn về vấn đề này.



TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KHÔNG QUÂN ĐỘI NÀO, KHÔNG KHÍ GIỚI NÀO CÓ THỂ ĐÁNH NGÃ ĐƯỢC TINH THẦN HY SINH CỦA TOÀN THỂ MỘT DÂN TỘC!

     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 77, ngày 29 tháng 10 năm 1945!
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, núp bóng quân Anh, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, rồi đánh chiếm rộng ra cả Nam Bộ, Nam Trung Bộ và phần lớn Campuchia; khống chế vùng nông thôn rộng lớn ở Lào,... từng bước thực hiện dã tâm xâm lược Đông Dương lần thứ hai. Nền độc lập mà dân tộc ta mới giành lại được phải đương đầu với nhiều kẻ thù, bị uy hiếp từ nhiều phía. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư kêu gọi đồng bào Nam Bộ giữ vững tinh thần chiến đấu, quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc; trong đó Người tiếp tục khẳng định tinh thần chiến đấu anh dũng hy sinh của dân tộc ta là sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.
Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần “Quyết tử, để Tổ quốc quyết sinh” là nhân tố bao trùm, tạo nên bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần quả cảm của dân tộc Việt Nam, được hun đúc trong lịch sử và tỏa sáng trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Những giá trị văn hóa ấy, không chỉ có sức mạnh tập hợp, đoàn kết trong suốt hai cuộc trường kỳ kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh mà còn lan xa, thấm đậm trong lòng bạn bè quốc tế, thức tỉnh lương tri nhân loại trên thế giới ủng hộ Việt Nam đánh bại mọi đế quốc, thực dân xâm lược và bè lũ tay sai, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và gặt hái được những thành tựu bước đầu có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Ra đời vào thời điểm đầy gian khó của cách mạng Việt Nam, trong cuộc đấu tranh sống còn của dân tộc chống ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân - phong kiến, Quân đội ta đã được Đảng và Bác Hồ thành lập, tổ chức, giáo dục, rèn luyện; từ 34 cán bộ, chiến sĩ, trang bị vũ khí thô sơ của ngày đầu thành lập, Quân đội ta đã không ngừng phát triển, trưởng thành, lập nên những chiến công chói lọi. Cán bộ, chiến sĩ đã hết lòng, hết sức phục vụ Nhân dân, phụng sự Tổ quốc, sẵn sàng “vì Nhân dân quên mình, vì Nhân dân hy sinh” trong cuộc chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhân dân; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống, giảm nhẹ thiên tai... Với truyền thống vẻ vang và những chiến công vang dội đó, Quân đội ta thật sự là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”./.

Môi trường ST.

MỘT Ý TƯỞNG TUYỆT VỜI ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI DÂN HÀ NỘI ỦNG HỘ

 

Ý tưởng sử dụng công nghệ AI vào hệ thống camera giám sát trên địa bàn thành phố Hà Nội để đảm bảo về an ninh trật tự, và giám sát luôn cả cảnh sát giao thông đã trở thành một chủ đề được cộng đồng đón nhận và chia sẻ. Ý tưởng này nếu được triển khai trong thực tế sẽ mang lại hiệu quả cao và giá trị rất lớn trong đời sống kinh tế xã hội trên địa bàn thủ đô.

Vào chiều 7/12, Trung tướng Nguyễn Hải Trung, Giám đốc Công an TP Hà Nội, đã chia sẻ quan điểm về hệ thống đèn tín hiệu và camera trong việc bảo đảm trật tự, an toàn giao thông tại Thủ đô. Ôngkhẳng định rằng vấn đề giao thông đô thị mà HĐND thành phố nêu ra là đúng và trúng, đặc biệt là với một siêu đô thị như Hà Nội.

Ông Nguyễn Hải Trung đã nhấn mạnh bốn yếu tố chính cần tập trung quản lý, đó là: người tham gia giao thông, phương tiện tham gia giao thông, hạ tầng giao thông, và tổ chức giao thông. Các yếu tố này đóng vai trò then chốt trong việc duy trì trật tự và an toàn trên các tuyến đường đông đúc của Thủ đô.

Nhìn nhận tổng thể, quan điểm về đảm bảo an toàn giao thông của Giám đốc Công an TP Hà Nội là bước quan trọng để Thủ đô ngày càng trở nên thông minh, hiện đại và an ninh. Việc tăng cường hệ thống đèn tín hiệu và camera không chỉ là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của giao thông đô thị mà còn là động lực để xây dựng một môi trường sống tiện lợi và an toàn cho cư dân.