Thứ Ba, 2 tháng 1, 2024

Phát huy dân chủ trong Đảng làm trung tâm để thực hiên dân chủ ngoài xã hội.

 


Đảng cẩn tiếp tục đổi mới công tác lý luận, tư tưởng, tổ chức cán bộ, kiểm tra. phương thức lãnh đạo theo hướng mở rộng dân chủ hơn nữa. Đảng phải thường xuyên coi trọng việc xây dựng, cũng cố Đảng về tổ chức, chăm lo công tác cán bộ; nâng cao trinh độ tri tuệ và chất lượng công tác lý luận với sức sáng tạo cao. Đường lối, chủ trương, chính sách phải luôn luôn xuất phát từ lợi ích của nhân dân. Không giáo điều, báo thủ.

Đảng phi thật sự thm nhuần dân là gốc, dân là chủ và dân làm chủ: tránh dân chủ hình thức. Đảng phái giành thắng lợi trong cuộc đẩu tranh lảm trong sạch Đảng vả chống tham nhũng, lãng phí. Hiện nay, đang có những biểu hiện tiêu cực xuất hiện trong đội ngũ cán bộ. đảng viên ngày càng nhiều, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, phá hoại quan hệ máu thịt giữa Đàng vả nhân dân

Cùng với việc chủ động nâng cao đạo đức trong Đng, phải rất coi trọng việc nâng cao trình độ trí tuệ của Đàng và thu hút được nhiều nhân tài vảo Đảng; đề phòng tính kiêu ngạo cộng sản, biết lắng nghe ý kiến kế cả những ý kiến trái tai.

Thực hiện tốt Di chúc cùa Chủ tịch Hồ Chí Minh: ‘"Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế vả văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sng của nhân dần. Đây là điểm mấu chốt để tăng cường quan hệ máu thịt giữa Đảng vả nhân dân.

 

 

 

 

 

 



 

 

 

 

Nâng cao nhân thức cho toàn thể xã hội trong thực hiện dân chủ hiện nay

 


Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Trước hết, nhân dân cần hiểu (nhận thức được) mình có những quyền gì cả ở tầm tổng quát, lâu dài, lẫn quyền cụ thể. Đó mới là thông tin về chủ thể. Để có dân chủ, còn cần có thông tin về khách thể: đó là cái gì, tình hình gì đã diễn ra, sự biến đổi của tình hình đó, tác động của sự biến đồi ấy tới môi trường xã hội và tự nhiên, những thông tin khác nhau về các vấn đề đó. Đây chính là những thông tin “đầu vào” để chủ thề quyền lực - nhân dân - có thể phân tích, phát hiện tình huống có vấn đề nhằm tham gia giám sát, phản biện, đề xuất giải pháp...

Để dân “hiểu” rõ mọi vấn đề, họ cần có cơ hội tiếp cận thông tin như nhau, bình đẳng về thông tin (trừ những thông tin mật hoặc tuyệt mật) là điều kiện đầu tiên bảo đảm dân chủ khi tranh luận, thảo luận, tham gia vào việc giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Muốn vậy, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước là phải nâng cao dân trí, phải làm cho hoạt động của nhân dân mang tính tự giác ngày càng cao thông qua công tác tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục. Sức mạnh thật sự của chế độ, của Đảng cầm quyền, của Nhà nước thề hiện ở trình độ dân trí cao, xã hội năng động, người dân biết phát huy tối đa năng lực của mình. Tất cả những điều đó chỉ trong chế độ dân chủ mới có khả năng tạo ra được. Không dựa trên cơ chế dân chủ thì không có một thứ pháp luật, đạo đức hay công cụ nào có thể ngăn chặn hữu hiệu sự thao túng của các nhóm lợi ích, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân.

Chất lượng dân chủ của một xã hội phải được đo bằng chuẩn bị thông tin, cung cấp thông tin đầy đủ cho nhân dân đề nhân dân được biết. Khi dân trí được nâng lên, nhân dân sẽ tham gia bàn bạc các công việc của xã hội, đất nước.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “CÓ ANH HÙNG LÀ VÌ CÓ TẬP THỂ ANH HÙNG. CÓ TẬP THỂ ANH HÙNG LÀ VÌ CÓ NHÂN DÂN ANH HÙNG, DÂN TỘC ANH HÙNG, ĐẢNG ANH HÙNG”!

     Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài Phát biểu tại buổi tiếp đại biểu các đơn vị anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước ngày 2-1-1967: “…Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng. Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng, dân tộc anh hùng, Đảng anh hùng”, đăng trên Báo Nhân dân, số 4660, ngày 10-1-1967, trong bối cảnh nhân dân trên hai miền Nam, Bắc phát huy tinh thần yêu nước, không sợ hy sinh, gian khổ, đang gắng sức thi đua xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà!
Trong lời phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận, tôn vinh những cá nhân, tập thể đã cống hiến, hy sinh xương máu vì sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong suốt mấy chục năm; động viên, huấn thị mọi người, mọi tập thể hãy cố gắng hơn nữa, thi đua sản xuất, công tác và chiến đấu, lập nhiều thành tích to lớn, góp phần cùng toàn dân đánh thắng giặc Mỹ xâm lược bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước.
Lời phát biểu năm ấy của Hồ Chí Minh đã lan tỏa tới quốc dân đồng bào, thâm nhập sâu vào quân đội, trở thành động lực thúc đẩy mọi cán bộ, chiến sĩ hăng hái thi đua học tập, công tác, huấn luyện, chiến đấu, lập nên nhiều chiến công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Đến hôm nay, lời phát biểu năm xưa của Người vẫn tỏa hào khí mạnh liệt, đang được mọi cán bộ, chiến sĩ toàn quân khắc ghi, đoàn kết thi đua, nỗ lực thực hiện thắng lợi Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ"; xây dựng và nhân rộng nhiều tập thể, cá nhân Anh hùng lao động, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới và tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến; quan tâm tạo điều kiện để các tập thể, cá nhân anh hùng, điển hình tiên tiến tiếp tục phát huy thành tích cao hơn nữa; phát động, khuyến khích, cổ vũ động viên cán bộ, chiến sĩ toàn quân tích cực học tập, làm theo, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Môi trường ST.

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội

 


Đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng phải góp phần tạo sức mạnh tổng hợp bảo đảm giữ vững độc lập dân tộc, giữ vững chế độ chủ nghĩa xã hội trong mọi tình huống. Sức mạnh vật chất đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng vừa phải dựa trên nền tảng chế độ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, an ninh, đối ngoại…. của dân tộc và kết quả công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội đang xây dựng. Quan điểm xem xét, nhìn nhận, giải quyết các vấn đề, các phương án, kế hoạch đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng... phải trên cơ sở đường lối, quan điểm của Đảng, luật pháp và chính sách của Nhà nước.Luôn kiên định về sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước trong đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong mọi tình huống. Đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng phải luôn quán triệt, thực hiện tốt quan điểm lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất trong đấu tranh quốc phòng. Mọi hoạt động đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đều phải góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định mọi mặt, đặc biệt là ổn định tình hình chính trị, tư tưởng của cán bộ, Nhân dân để tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng phát triển quan hệ đối ngoại của đất nước.

Vai trò của đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận


Đảng, Nhà nước ta khẳng định vai trò quan trọng của đấu tranh quốc phòng trong thời kỳ mới

 Thứ nhất: Góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, "trận địa" tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực quốc phòng, quân sự, trong lực lượng vũ trang, trong quân đội nhân dân Việt Nam. Thứ hai: Bảo vệ vững chắc tư tưởng chính trị, hoạt động chính trị của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thứ ba: Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện, làm nòng cốt vững chắc cho toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống 

Mục tiêu đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng hiện nay

 


 

Đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tương sử dụng nhiều các hình thức khác nhau, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, như: tuyên bố, kêu gọi, công thư, điện đàm, công hàm, hội đàm, báo chí, truyền thông, hội thảo, tuyên truyền, vận động, quảng bá....Mục tiêu đấu tranh quốc phòng nhằm làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đấu tranh có hiệu quả với "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ và các thách thức an ninh phi truyền thống góp phần bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Chủ thể, đối tượng đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng hiện nay

 


Chủ thể đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị tư tưởng là toàn dân, các cấp, các ngành, các địa phương, sức mạnh của cả nước, của các lực lượng vũ trang và cả hệ thống chính trị để đấu tranh toàn diện, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảng cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện về mọi mặt; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giữ vai trò quản lý, điều hành; phát huy vai trò làm chủ của toàn xã hội, của mọi tầng lớp nhân dân; Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là giữ vai trò nòng cốt trong đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng.

Đối tượng của đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng là các âm mưu, hành động, tư tưởng, quan điểm phê phán, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận, phá hoại chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tiêu cực, đi ngược lại công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Vận dụng lý luận đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay

 

       

Vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay ở nước ta là thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển; thực hiện công bằng xã hội chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh.”.7 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp vẫn còn nguyên giá trị. Nhưng trước sự chống phá của các thế lực thù địch, đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu cho thấu đáo, không được tuyệt đối hóa vai trò của đấu tranh giai cấp, nhưng cũng không được mơ hồ, xóa nhòa đi đấu tranh giai cấp. Việc nắm vững các lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin giúp chúng ta nhận diện được các luận điểm phản động, từ đó có những căn cứ và luận chứng sắc bén để đánh bại sự xuyên tạc của kẻ thù, qua đó bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững con đường mà đất nước ta đã lựa chọn.

Phủ nhận quan điểm: Sự vận dụng quan điểm đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là không phù hợp.

 

Các thế lực thù địch, bọn cơ hội chính trị cho rằng do kết cấu giai cấp trong xã hội Việt Nam khác với các nước khác, nên sự vận dụng  quan điểm đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là không phù hợp. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lêninviệc nhận thức và giải quyết vấn đề đấu tranh giai cấp phải phù hợp với tình hình thực tiễn, điều kiện lịch sử - cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan điểm về giai cấp và đấu tranh giai cấp trong việc lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Khi phân tích, so sánh về đấu tranh giai cấp ở phương Đông và phương Tây, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ sự khác biệt do điều kiện kinh tế - xã hội quy định: “Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế không giống với các xã hội phương Tây thời trung cổ hay thời cận đại và đấu tranh ở đó không quyết liệt như ở đây” Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán quan điểm phiến diện, giáo điều về đấu tranh giai cấp ở Việt Nam: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”. Kế thừa quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp thu, vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về đấu tranh giai cấp. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Ðảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ vững lập trường cách mạng, trung thành với quan điểm về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta luôn xác định rằng, hiện nay và trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở nước ta vẫn còn giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đó là một thực tế khách quan. Song quan niệm đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay diễn ra trong điều kiện mới, nội dung và hình thức mới. Trong điều kiện mới hiện nay, không được hiểu sai về nội dung đấu tranh giai cấp, dẫn đến sự rụt rè, không dám đổi mới; đồng thời, không được coi nhẹ, xem thường đấu tranh giai cấp, dẫn đến mơ hồ, mất cảnh giác. Ở nước ta hiện nay, việc xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, đã hình thành kết cấu xã hội - giai cấp đa dạng, phức tạp gồm nhiều giai tầng. Thực chất đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay là cuộc đấu tranh của toàn thể nhân dân lao động do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chống lại các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội, bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chính quyền và lợi ích của nhân dân.

Đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng trong tình hình hiện nay

 


Đấu tranh Quốc phòng bảo vệ tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng tổng thể các biện pháp đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" nhằm giữ vững, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, hệ thống chính trị, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng là một bộ phận quan trọng của đấu tranh quốc phòng bảo vệ tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Là vấn đề quan trọng trong đấu tranh giai cấp hiện nay. Lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp là một trong những nội dung căn bản nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết quả tất yếu của sự vận dụng và mở rộng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào xem xét lĩnh vực xã hội. Lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp đã và đang là cơ sở lý luận, phương pháp luận khoa học để các đảng cộng sản và giai cấp công nhân trên thế giới xác định đường lối chiến lược, sách lược trong cuộc đấu tranh thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, trên những phương diện khác nhau đã xuất hiện không ít những quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có nội dung bác bỏ lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Phủ nhận quan điểm cho rằng: Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu chính là minh chứng cho sự sai lầm của học thuyết Mác - Lênin

 

      

Những kẻ chống đối chủ nghĩa Mác – Lênin còn cho rằng sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu chính là minh chứng cho sự sai lầm của học thuyết Mác - Lênin trong đó có lý luận về đấu tranh giai cấp. Sự tan rã của Liên Xô và Đông Âu nơi được coi là thành trì của chủ nghĩa xã hội hiện thực khiến nhiều người, nhất là giới học giả tư sản phương Tây đã lên tiếng quy chụp nguyên nhân của sự sụp đổ đó là do những sai lầm từ chủ nghĩa Mác. Từ đó, họ lên tiếng chống phá, bác bỏ chủ nghĩa Mác nói chung, bác bỏ quan điểm về giai cấp, đấu tranh giai cấp nói riêng. Các thế lực thù địch cho rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tất yếu lịch sử vì nó bắt nguồn từ “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin”; và bởi “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được” Họ cũng cho rằng, chủ nghĩa khoa học mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã xây dựng chỉ là một học thuyết “viển vông”, “ảo tưởng” nên áp dụng vào thực tiễn chỉ có thể sinh ra những “quái thai của lịch sử”. Mục đích của sự xuyên tạc này là nhằm phủ nhận bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội nói chung và về đấu tranh giai cấp nói riêng. Trước tiên, chúng ta không thể phủ nhận sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một bước lùi lịch sử của của phong trào cộng sản và công nhân toàn thế giới. Sự sụp đổ đó cũng không phải là sự “cáo chung” của chủ nghĩa Mác, nó cũng không phải là do chủ nghĩa Mác đã lạc hậu, lỗi thời mà đó thực sự là do đã hiểu sai, vận dụng sai những quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô “bắt nguồn từ chủ nghĩa giáo điều và xét lại trong đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng cầm quyền, cùng sự phản bội của một số người lãnh đạo cao nhất ở đó đối với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin”. Sự phát triển của các nước theo con đường chủ nghĩa xã hội hiện nay đã chứng minh những luận điệu trên là thiếu tính khoa học, là sự bịa đặt hoang đường. Thực tế cho thấy, các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay vẫn kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trên cơ sở vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đổi mới để tìm kiếm những mô hình phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của quốc gia - dân tộc mình. Trung Quốc với sự cải tổ của mình, ngày càng chứng tỏ được vị thế của họ trên thế giới; công cuộc đổi mới của Việt Nam, Lào, Cuba và một số trào lưu xã hội chủ nghĩa trên thế giới đã minh chứng cho sức sống của chủ nghĩa Mác –Lênin.

Phủ nhận quan điểm cho rằng: Chủ nghĩa Mác - Lênin là “chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan”.


        Các thế lực thù địch, một số học giả tư sản đã cường điệu hóa quan điểm của C. Mác về đấu tranh giai cấp và cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là “chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan”. Họ cho rằng Mác lúc nào cũng chỉ nói đến đấu tranh giai cấp, đến bạo lực cách mạng, như vậy là kích động chiến tranh, cổ vũ cho bạo lực trong xã hội. Cần phải khẳng định, trong nhiều tác phẩm, chủ nghĩa Mác – Lênin luôn cho rằng đấu tranh giai cấp không phải là những cuộc bạo loạn, khủng bố, lật đổ, chỉ có ý nghĩa phá hoại gây chia rẽ, bè phái, gây rối loạn, làm tổn thất cho xã hội mà là một quá trình tất yếu, khách quan của xã hội có áp bức giai cấp, là những cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân lao động chống lại giai cấp thống trị. Nguyên nhân của cuộc đấu tranh giai cấp này bắt nguồn từ những mâu thuẫn về lợi ích, nhất là lợi ích kinh tế không thể điều hòa được giữa các giai cấp. Cuộc đấu tranh này có ý nghĩa cách mạng sâu sắc, nhằm xóa bỏ những cơ sở kinh tế của giai cấp thống trị, xóa bỏ chế độ xã hội cũ lỗi thời, xây dựng chế độ xã hội mới tiến bộ hơn. Do vậy, đấu tranh giai cấp là một động lực thúc đẩy xã hội phát triển, chứ không phải là sự gây rối, phá hoại, chủ nghĩa Mác – Lênin không phải là “chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan”, đây là sự quy chụp vô căn cứ, không dựa trên bất cứ cơ sở khoa học nào.
        Chủ nghĩa Mác-Lênin tuyệt đối không sùng bái bạo lực mà coi bạo lực cách mạng là “bà đỡ” để đưa xã hội mới ra đời trong lòng xã hội cũ. Vấn đề xã hội mới trưởng thành, phát triển như thế nào thì chủ yếu là vấn đề xây dựng. Trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản, sở dĩ dùng bạo lực cách mạng là để chống lại bạo lực phản cách mạng.

Phủ nhận quan điểm: Chủ nghĩa Mác- Lênin tuyệt đối hóa vai trò của đấu tranh giai cấp


Các thế lực thù địch cho rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của sự phát triển lịch sử, là tuyệt đối hóa vai trò của đấu tranh giai cấp. Chủ nghĩa Mác - Lênin không hề tuyệt đối hóa vai trò của đấu tranh giai cấp, các ông luôn cho rằng giai cấp và đấu tranh giai cấp là một phạm trù lịch sử, chỉ xuất hiện trong xã hội có giai cấp. Theo C.Mác, trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị chiếm đoạt lao động của giai cấp bị trị. Giai cấp bị trị không những bị chiếm đoạt kết quả lao động mà họ còn bị áp bức về chính trị, tư tưởng và tinh thần. Giai cấp thống trị bao giờ cũng dùng mọi biện pháp và phương tiện bảo vệ địa vị giai cấp của họ, duy trì củng cố chế độ kinh tế, xã hội cho phép họ được hưởng những đặc quyền, đặc lợi giai cấp. Lợi ích căn bản của giai cấp bị trị đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị - đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới đấu tranh giai cấp. Nguyên nhân sâu xa dẫn tới đấu tranh giai cấp, theo C.Mác là mâu thuẫn giữa trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất đã lỗi thời. Sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến việc xã hội phải xóa bỏ bằng cách này hay cách khác quan hệ sản xuất cũ và thay thế nó bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có... trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất… Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội” đó chính là cách mạng xã hội hay đấu tranh giai cấp. Trong Thư gửi Ioxp Vâyđơmaiơ C.Mác khẳng định: 1) Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất, 2) Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản, 3) Bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp. Chủ nghĩa Mác - Lênin không bao giờ coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất trong xã hội có giai cấp. C.Mác chỉ ra, ngoài đấu tranh giai cấp ra còn nhiều động lực khác như: đạo đức, tư tưởng, văn hóa, giáo dục… vị trí, vai trò của mỗi động lực là khác nhau. Nhận thức được điều này sẽ giúp chúng ta tránh được tư tưởng tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp. 

Đấu tranh quốc phòng trong tình hình mới


Trong những năm tới, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn chính trị, phát triển thành bạo loạn vũ trang, can thiệp quân sự, nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; các mối đe dọa an ninh phi truyền thống có xu hướng gia tăng; chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng diễn ra thường xuyên, với quy mô khác nhau; xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc, xâm chiếm biển, đảo, xâm lấn biên giới bằng biện pháp phi vũ trang hoặc vũ trang; chiến tranh biển, đảo, biên giới và chiến tranh xâm lược quy mô lớn. Để đấu tranh có hiệu quả với các tình huống trên, chúng ta phải dựa vào thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân” vững chắc; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Tuy nhiên, tùy từng tình huống để vận dụng phương thức đấu tranh phù hợp. 

Mục tiêu đấu tranh quốc phòng trong tình hình hiện nay

 


Mục tiêu đấu tranh quốc phòng nhằm phòng ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, đảo của Tổ quốc; ngăn chặn làm thất bại xung đột vũ trang và xâm nhập tiến công mạng, đẩy lùi mọi nguy cơ chiến tranh; làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; ngăn chặn các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống, không để bị động, bất ngờ, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, các bộ, ban, ngành, đoàn thể đã làm tham mưu và trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng tham gia đấu tranh đạt được nhiều kết quả quan trọng, làm thất bại mọi âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Tuy nhiên, nhận thức về đấu tranh quốc phòng của các cấp, các ngành và nhân dân một số nơi chưa đầy đủ, sâu sắc; việc phát huy vai trò đấu tranh của các lực lượng trên các lĩnh vực, kết hợp các hình thức đấu tranh tạo sức mạnh tổng hợp trong xử lý các tình huống phức tạp về quốc phòng, an ninh còn hạn chế, v.v.

ĐỐI TƯỢNG TRONG ĐẤU TRANH QUỐC PHÒNG HIỆN NAY

 


 

Đấu tranh quốc phòng là những hoạt động đấu tranh trong công cuộc giữ nước, được thực hiện bằng tổng thể các hình thức, biện pháp đấu tranh trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, khoa học, công nghệ, quân sự, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, ngoại giao, pháp lý,... do toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị tiến hành, sử dụng phương thức đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu. Hoạt động này đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự chỉ đạo, điều hành tập trung thống nhất của Nhà nước, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, toàn diện của quốc gia, đối phó có hiệu quả với các nguy cơ an ninh truyền thống, phi truyền thống, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đối tượng đấu tranh quốc phòng rất đa dạng, bao gồm đối tượng cơ bản, nguy hiểm, lâu dài là các thế lực thù địch hiếu chiến, đồng minh và tay sai có âm mưu, hành động xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, chuyển hóa, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đối tượng trực tiếp, nguy hiểm, lâu dài là các thế lực nước lớn và đồng minh có tham vọng, hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, xâm hại lợi ích quốc gia - dân tộc. Đối tượng rất nguy hiểm là các tổ chức phản động trong và ngoài nước, lực lượng cơ hội, suy thoái chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, có tư tưởng, hành động chống phá sự nghiệp cách mạng bằng biện pháp vũ trang, phi vũ trang. Chúng câu kết, tiếp tay cho các thế lực thù địch, hiếu chiến và thế lực nước lớn có tham vọng chủ quyền lãnh thổ, đe dọa đến sự tồn vong của chế độ, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

ĐẤU TRANH QUỐC PHÒNG TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG CÓ VỊ TRÍ RẤT QUAN TRỌNG TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY



Đấu tranh quốc phòng là những hoạt động đấu tranh trong công cuộc giữ nước, được thực hiện bằng tổng thể các hình thức, biện pháp đấu tranh trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, khoa học, công nghệ, quân sự, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, ngoại giao, pháp lý,... do toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị tiến hành, sử dụng phương thức đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu. Đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là một vấn đề lớn, quan trọng trong đấu tranh quốc phòng bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Không ngừng tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả của đấu tranh đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng hiện nay là yêu cầu cấp bách, lâu dài nhằm nhằm làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đấu tranh có hiệu quả với "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và các thách thức an ninh phi truyền thống góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, giữ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

 

CẦN CÓ CÁCH HIỂU CÔNG BẰNG VỀ QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG 
VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

Với những thành tựu đạt được sau 37 năm đổi mới của Việt Nam, một số lực lượng thù địch đối lập cố tình hoặc không dám thừa nhận những quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách đúng đắn, nhất quán của Nhà nước Việt Nam về tôn giáo. Bởi vì, trong tiềm thức của họ, chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam; một trong những công cụ, phương thức để tiến hành âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” -  đó là lợi dụng vấn đề Dân tộc, Tôn giáo.

Sau đây, bài viết đưa ra luận cứ góp phần khẳng định những quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách đúng đắn, nhất quán của Nhà nước Việt Nam về Tôn giáo.  

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng cũng như trong lãnh đạo việc quản lý xã hội và điều hành đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến tôn giáo và có chính sách tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Ngay sau khi Cách mạng tháng 8/ 1945 thành công. Năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã khẳng định Quyền tự do tín ngưỡng là một trong năm quyền cơ bản của công dân (Quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài" - Điều 10, Chương II - Nghĩa vụ và quyền lợi công dân). Với việc tuyên bố tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của công dân, Hiến pháp năm 1946 đã tạo ra cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chính sách đối với tôn giáo trong phạm vi cả nước.

Ngày 31-12-1959, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Hiến pháp 1959, trong đó nêu rõ "Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào"(Điều 26, Chương III - Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân). Kế thừa Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã bổ sung: "Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước"…..

Năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Đến năm 1990, Đảng Cộng sản Việt Nam có sự đổi mới trong chính sách đối với tôn giáo qua Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) "Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới". Sau 13 năm thực hiện chính sách đổi mới đối với tôn giáo, tổng kết thực tiễn, đồng thời xem xét những vấn đề mới nẩy sinh, trong bối cảnh trong nước và thế giới có nhiều thay đổi quan trọng, ngày 12-3-2003, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW Về công tác tôn giáo. Văn kiện đã trở thành nền tảng chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo trong thời kỳ đổi mới. Tư tưởng của Nghị quyết 25 được thể hiện qua các nội dung chủ yếu sau:

Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo trong giai đoạn mới phải nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.

 Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Đại đoàn kết toàn dân tộc với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc; thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào các tôn giáo nói riêng.

Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân. Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.

Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và nhiều cấp, nhiều ngành vì cuộc sống tinh thần và vật chất của hàng chục triệu tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của các tôn giáo, phân bố ở mọi vùng, miền, địa phương trong cả nước.

Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật. Việc truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo cũng như bỏ đạo.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4-2006) tiếp tục khẳng định: "Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống "tốt đời, đẹp đạo". Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của đồng bào các tôn giáo. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo. Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân".

Cương lĩnh ghi: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của cỏc tổ chức tôn giáo đó đựơc Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII tiếp tục nhấn mạnh: “ Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời đẹp đạo, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”..

Sau khi có các Nghị quyết về công tác tôn giáo của Đảng trong thời kỳ đổi mới, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã thể chế hóa tư tưởng đổi mới đối với tôn giáo. Trước hết phải kể đến Hiến pháp năm 1992, 2013 - Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, đã kế thừa và phát triển các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, thể hiện tư tưởng đổi mới về tôn giáo của Nhà nước Việt Nam. Hiến pháp đã khẳng định: "Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước"./.

Không để kẻ xấu lợi dụng "bất tuân dân sự" để kích động, chống phá

 

Những năm qua, nhằm thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" đối với Việt Nam, các thế lực thù địch đã sử dụng tổng hợp các phương pháp, cách thức chống phá trên mọi lĩnh vực xã hội, trong đó, chúng triệt để sử dụng phương thức, thủ đoạn mới là "bất tuân dân sự" nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội (ANCT-TTATXH), tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Bản chất "bất tuân dân sự" là coi thường kỷ cương phép nước

Thuật ngữ "bất tuân dân sự" (hay còn gọi là chống đối chính phủ dân sự) lần đầu tiên xuất hiện trong một bài luận với nhan đề "Dân sự bất hợp tác" của nhà văn người Mỹ, Henry David Thoreau vào tháng 5-1849. Nội dung cơ bản của bài luận bàn về mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước. 

Đến thế kỷ 20, quan điểm của Thoreau về "bất tuân dân sự" phát triển thành phương thức đấu tranh bất bạo động và trở thành một mũi tiến công quan trọng trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc nhằm lật đổ chính quyền, thay đổi chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), trong đó có Việt Nam và những nước không cùng phe với họ. “Phương thức hoạt động” này được áp dụng trong cuộc "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở Đông Âu và Liên Xô vào những năm cuối thế kỷ 20; làn sóng "Mùa xuân Ả Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010, phong trào biểu tình nhằm lật đổ chính phủ ở Venezuela (từ năm 2017 đến nay); phong trào chống sửa đổi dự luật dẫn độ tại Hồng Công (Trung Quốc) năm 2019...

Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, "bất tuân dân sự" có mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức “xã hội dân sự”. Với lập luận, “xã hội dân sự” là “đối quyền của quyền lực nhà nước” để tập trung đòi thực hiện trách nhiệm xã hội, chia sẻ quyền lực chính trị cho “xã hội dân sự”; thực chất là cổ vũ tư tưởng coi nhà nước đối lập với “xã hội dân sự”; kích động thái độ vô chính phủ hòng từng bước đưa “xã hội dân sự” thành lực lượng đối trọng với nhà nước; chủ nghĩa đế quốc coi hình thành “xã hội dân sự” là điều kiện, tiền đề cho việc cổ xúy tự do cá nhân, lấy "bất tuân dân sự" làm phương thức cơ bản để lật đổ chính quyền nhà nước.

Bản chất và phương thức của "bất tuân dân sự"

Xét trên phương diện đó, có thể thấy "bất tuân dân sự" có một số đặc điểm cơ bản như sau: 

Là hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý các quy định của pháp luật hoặc cản trở việc thực thi chính sách, pháp luật của nhà nước; gây áp lực buộc nhà nước phải thay đổi chính sách, pháp luật. Những người tham gia “bất tuân dân sự" thể hiện sự phản kháng, không tuân thủ pháp luật thông qua hình thức đấu tranh “ôn hòa, bất bạo động”. Tuy nhiên, tính chất “bất bạo động” có thể chuyển hóa thành bạo động rất nhanh chóng trong những hoàn cảnh cụ thể; khi gặp thời cơ thuận lợi và đủ điều kiện chín muồi. 

Mục đích và hình thức thể hiện: Thông qua việc từ chối tuân theo hay cản trở việc thực thi pháp luật, gây áp lực đối với nhà nước, các đối tượng thực hiện “bất tuân dân sự" nhằm mục đích cuối cùng là vô hiệu hóa hoạt động của chính quyền, tiến tới lật đổ nhà nước, thay thế bằng một chế độ chính trị mới theo mô hình của chủ nghĩa tư bản. Để che giấu mục đích đó, các thế lực thù địch thường che đậy, ngụy trang dưới những vỏ bọc khác nhau, như: Tụ tập, tuần hành nhằm “phản kháng ôn hòa”, “phản kháng bất bạo động”, “biểu tình ôn hòa”. Đối với Việt Nam, chúng triệt để lợi dụng các vấn đề “dân chủ, nhân quyền”,“dân tộc, tôn giáo” hoặc lợi dụng các sự kiện chính trị-xã hội phức tạp, nhạy cảm liên quan đến quyền và lợi ích của con người để lôi kéo, kích động, thu hút đông đảo người dân tham gia các hoạt động, như: Đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, bảo vệ môi trường, phản đối đặt trạm thu phí, bảo vệ chủ quyền biển, đảo... thực chất là để thực hiện “bất tuân dân sự” nhằm chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Chủ thể tiến hành là những cá nhân, tổ chức phản động như: “Việt Tân”, “Hội anh em dân chủ”, “Hội văn đoàn độc lập Việt Nam”, “Hội nhà báo độc lập Việt Nam”, “Mạng lưới Blogger Việt Nam”... giữ vai trò chỉ đạo, tài trợ kinh phí, chỉ đạo đường lối, đào tạo, huấn luyện phương thức hoạt động cho các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, đối tượng hình sự trong nước... trở thành cộm cán thu hút, lôi kéo, tập hợp người dân tham gia các hoạt động “bất tuân dân sự”. Số đối tượng trong nước ráo riết thu thập tình hình, phát triển lực lượng, hình thành các hội nhóm hoạt động “bất bạo động”. Chúng thông qua mạng xã hội, internet, rải truyền đơn, tờ rơi... để tuyên truyền, vận động thu hút, lôi kéo người dân tham gia các hoạt động do chúng chỉ đạo.

Hậu quả của “bất tuân dân sự” để lại rất nặng nề, kéo dài không chỉ về kinh tế-xã hội mà còn gây ảnh hưởng đến ANCT-TTATXH, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của người dân đối với chính quyền. Điển hình như vụ người dân phản đối trạm BOT Cai Lậy (Tiền Giang) năm 2017, vụ người dân tại Bình Thuận, Bình Dương, Đồng Nai... xuống đường phản đối Dự thảo Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc và Luật An ninh mạng năm 2018... các đối tượng đã kích động người dân đập phá trụ sở chính quyền, gây cản trở giao thông, đốt phá tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, làm bị thương nhiều cán bộ thực thi nhiệm vụ, gây ngừng trệ hoạt động của các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và người dân, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của Nhà nước, của công dân và xã hội.

Thực tế ở Việt Nam những năm qua đã cho thấy, để thực hiện “bất tuân dân sự”, các thế lực thù địch ra sức cổ xúy quyền tự do vô giới hạn trong các lĩnh vực xã hội và liên kết hình thành các hội, nhóm “xã hội dân sự” với tên gọi, khẩu hiệu, tôn chỉ... thu hút các tầng lớp xã hội tham gia, như: “Hội phụ nữ nhân quyền”,“Hội nhà báo độc lập”, “Hội anh em dân chủ”… Chúng lợi dụng sơ hở của chính quyền trong thực thi pháp luật để lôi kéo người tham gia phát triển lực lượng hoạt động theo kiểu “bất bạo động” xâm phạm ANCT-TTATXH. Đặc biệt, các đối tượng thù địch tìm cách lôi kéo, mua chuộc cán bộ, đảng viên và người dân tích cực tham gia phản biện chính sách, phản biện xã hội, tác động và gây sức ép đòi thay đổi chính sách, hệ thống pháp luật và lĩnh vực tư pháp nhằm chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Không để kẻ xấu lợi dụng, chống phá

Cần khẳng định rằng, Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền của người dân được bày tỏ quan điểm một cách công khai đối với các chủ thể khác mà đặc biệt là với Nhà nước trên cơ sở pháp luật; đồng thời, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm hoạt động lợi dụng quyền và tự do cơ bản của con người để gây mất ổn định. Mọi công dân đều phải chịu sự quản lý của Nhà nước, không cá nhân nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm và xử lý nghiêm bất kỳ ai tham gia “bất tuân dân sự” cản trở thực thi pháp luật, chống đối chính quyền, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân.

Để đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả với hoạt động này, cần thực hiện các giải pháp trọng tâm sau:

Một là, công tác phòng, chống hoạt động lợi dụng “bất tuân dân sự” xâm phạm ANCT-TTATXH nước ta luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối của Đảng; sự quản lý, điều hành của Nhà nước nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong triển khai công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại âm mưu, hoạt động lợi dụng phương thức này chống phá Việt Nam. Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về bản chất của “bất tuân dân sự”, về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động “bất tuân dân sự” chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội Việt Nam, coi đó là trách nhiệm của các cấp, các ngành và nhân dân để huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác này.

Hai là, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, phân tích, dự báo kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... kích động, lôi kéo nhân dân tham gia "bất tuân dân sự" để triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh. Nắm tình hình tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để tham mưu, đề xuất các cơ quan chức năng giải quyết triệt để, thỏa đáng trên cơ sở pháp luật. Kịp thời phát hiện, phối hợp giải quyết dứt điểm các “điểm nóng” ngay từ cơ sở, không để kéo dài, không lây lan, vượt cấp. Trong xử lý các vấn đề nhạy cảm về dân chủ, nhân quyền phải tính toán, cân nhắc thời điểm phù hợp, bảo đảm yêu cầu đặt ra theo hướng kiên định về nguyên tắc nhưng khôn khéo, linh hoạt về phương pháp, tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế, kiên quyết không làm phức tạp thêm tình hình, không gây sơ hở để địch lợi dụng vu cáo, xuyên tạc.

Ba là, tăng cường công tác quản lý báo chí, xuất bản; kiểm soát chặt chẽ an ninh thông tin, quản lý internet, tích cực đấu tranh ngăn chặn việc tán phát tài liệu, tin tức xuyên tạc, thù địch về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... ở nước ta. Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới, trang bị các phương tiện thiết bị hiện đại nhằm phục vụ hiệu quả công tác quản lý, kiểm duyệt, kiểm tra trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, internet… đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động "bất tuân dân sự".

Bốn là, cần quán triệt tinh thần giải quyết vấn đề tụ tập đông người, biểu tình, đình công theo đúng cơ chế: Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện; chính quyền quản lý, điều hành; lấy vận động thuyết phục là chính, kiên quyết thu hẹp vụ việc, không để lây lan, kéo dài. Khi phát hiện có tuần hành, tụ tập đông người hay biểu tình, đình công, cần nhanh chóng đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân của vụ việc; thực hiện phân hóa số đối tượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo; tuyên truyền vận động, thuyết phục quần chúng giải tán; kiên quyết xử lý theo pháp luật số đối tượng cầm đầu, chủ mưu, cốt cán kích động, lôi kéo người dân tham gia "bất tuân dân sự".

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo… kết hợp với thực hiện công bằng xã hội, nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo nhằm góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích của người dân trên cơ sở pháp luật; tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh bảo đảm ổn định ANCT-TTATXH. Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở bảo đảm thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tăng cường đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Chính quyền các cấp phải nêu cao vai trò, trách nhiệm phục vụ nhân dân, vì nhân dân; tăng cường đối thoại, giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc của nhân dân trên cơ sở pháp luật.

Bất tuân dân sự - một thủ đoạn nguy hiểm

 

Những năm gần đây, để thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thường sử dụng một thủ đoạn mới mang tên "bất tuân dân sự". "Bất tuân dân sự" thể hiện tư tưởng cực đoan, "vô chính phủ", đang được lợi dụng gắn với cái gọi là xã hội dân sự để chống phá Đảng, Nhà nước, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam.

"Bất tuân dân sự" - lịch sử và sự biến tướng

Thuật ngữ "bất tuân dân sự" lần đầu tiên xuất hiện trong tập tiểu luận của Henry David Thoreau-nhà văn, nhà tư tưởng người Mỹ-với nhan đề "Dân sự bất hợp tác", vào tháng 5-1849. Nội dung cơ bản của tập tiểu luận bàn về mối quan hệ giữa cá nhân (hoặc thiểu số công dân) với nhà nước. Theo đó, cá nhân (hoặc thiểu số công dân) có thể không tuân thủ, không phục tùng nhà nước; thậm chí, có thể thực hành chống lại luật pháp của nhà nước nếu cảm thấy những điều luật đó không phù hợp với người dân, kể cả là với thiểu số, bằng phương pháp "cách mạng hòa bình". 

Thực chất đây là quan điểm cực đoan, "vô chính phủ" của một kẻ vốn là phạm nhân (H.D. Thoreau viết tập tiểu luận này nhằm biện minh cho việc ông ta phải ngồi tù ở bang Massachusetts vì tội không đóng thuế). Mặc dù ở thời điểm ra đời, tác phẩm của H.D. Thoreau không gây được sự ảnh hưởng nào, nhưng sang thế kỷ 20, tư tưởng về một cuộc "cách mạng hòa bình" của ông được một số nhà hoạt động chính trị lợi dụng phát triển thành phương pháp đấu tranh bất bạo động như phong trào "Satyagraha" của Mahatma Gandhi đấu tranh giành quyền lợi cho người Ấn Độ ở Nam Phi (năm 1914) và giành độc lập cho Ấn Độ từ thực dân Anh (năm 1947); phong trào đấu tranh dân quyền ở Mỹ của Martin Luther King (thập niên 60 thế kỷ 20); phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc (chủ nghĩa Apartheid) ở Nam Phi của Nelson Mandela...

Đặc biệt, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc ra đời với tư tưởng chủ đạo là chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước XHCN. Từ đó, "bất tuân dân sự" từng bước trở thành một phương thức, thủ đoạn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược "diễn biến hòa bình". Trong các cuộc "cách mạng ca hát", "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở các nước Đông Âu và Liên Xô vào những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21; "Mùa xuân Ả Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010... đều có dấu ấn của phong trào "bất tuân dân sự". Gần đây nhất là phong trào biểu tình nhằm lật đổ Chính phủ Bolivar ở Venezuela (từ năm 2017 đến nay); phong trào “cách mạng dù” của sinh viên Hồng Công (năm 2014 và 2019) đều thể hiện rất rõ thủ đoạn "bất tuân dân sự".

Như vậy, “bất tuân dân sự” khi được sử dụng trong tay chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế đã trở thành một thủ đoạn phản cách mạng nhằm chống phá, lật đổ chính quyền, thay đổi chế độ chính trị ở những nước tiến bộ, không cùng "quỹ đạo" với chúng.

Nhận diện bản chất

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về "bất tuân dân sự" nhưng thực chất “bất tuân dân sự” là các hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức đối với một số  đạo luật  nhất định nhằm cản trở quá trình thực thi chính sách, luật pháp của nhà nước; là hình thức phản kháng bất bạo động, gây áp lực buộc nhà nước phải thay đổi chính sách, luật pháp, thậm chí lật đổ chính quyền; bản chất là hành vi vi phạm pháp luật.

“Bất tuân dân sự" là các hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức đối với một số quy định pháp luật nhất định của nhà nước. Điều này khác hẳn với nguyên tắc phổ biến mà hầu hết các nhà nước pháp quyền trên thế giới đều thực hiện, đó là: Tiểu số phục tùng đa số; lợi ích riêng phải nằm trong lợi ích chung; lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích cộng đồng, xã hội, dân tộc. Vì vậy, "bất tuân dân sự" về cơ bản thể hiện tư tưởng cực đoan, "vô chính phủ", hầu như không được nhà nước pháp quyền nào chấp nhận (ngoại trừ những thế lực muốn lợi dụng nó để chống lại nhà nước pháp quyền).

"Bất tuân dân sự" hình thức phản kháng, không tuân thủ, không phục tùng, không hợp tác cơ bản là ôn hòa, bất bạo động. Tuy nhiên, không phải tất cả hình thức đều là ôn hòa, bất bạo động. Thậm chí, theo những người chủ trương "bất tuân dân sự", hành động vũ trang của kẻ yếu chống lại kẻ mạnh hơn có vũ trang thì được coi là bất bạo động. Điều này thể hiện sự mập mờ về tính chất của các hình thức đấu tranh gọi là bất bạo động; hay nói cách khác, ranh giới giữa bất bạo động và bạo động là khá mong manh, có thể chuyển hóa cho nhau rất nhanh chóng. Thực chất, đây là cách ngụy tạo để biện giải, mở đường cho đấu tranh bạo động khi bất bạo động đã tích lũy đủ điều kiện hay "châm ngòi" thành công.

Hành vi phản kháng, không tuân thủ, không phục tùng những điều luật đã được ban hành; được thực hiện thông qua hình thức bất bạo động thể hiện sự coi thường kỷ cương, pháp luật, trái với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền trong một xã hội văn minh. Hơn nữa, khi hướng tới mục tiêu chính trị, "bất tuân dân sự" là bước khởi đầu của một cuộc "cách mạng mềm" nhằm thay đổi chế độ chính trị đang tồn tại hoặc lực lượng chính trị đang nắm quyền. Vì vậy, trong hầu hết các vụ việc, về bản chất, đây là hành vi vi phạm pháp luật.

Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa bản chất và hiện tượng. Đối với các hiện tượng cụ thể, có thể ở mức độ thấp, không ảnh hưởng xấu nhiều tới cộng đồng, nhưng ở mức độ cao, khi hướng tới mục tiêu chính trị bằng các hình thức đấu tranh trực tiếp gây tác động tiêu cực đến tình hình an ninh trật tự của đất nước, của địa bàn thì cần phải có giải pháp phù hợp.

Đẩy lùi những chiêu trò “bất tuân dân sự” ở Việt Nam

Ở Việt Nam, hoạt động "bất tuân dân sự" đã diễn ra từ nhiều năm trước, có nguy cơ trở thành "phong trào" nguy hại trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nếu không nhận diện và đấu tranh kịp thời...

Những năm gần đây, có một số vụ việc mang bóng dáng "bất tuân dân sự", như: "Bất tuân cưỡng chế" của một số đối tượng khi giải phóng mặt bằng ở Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nội, Đắc Nông, Gia Lai...; "bất tuân" quy định về thành lập hội (nhóm), đòi lập các tổ chức xã hội dân sự (thực chất là phản động trá hình) như "Hội anh em dân chủ", "Hội phụ nữ nhân quyền Việt Nam", "Hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam", "Hội văn đoàn độc lập Việt Nam", "Hội nhà báo độc lập Việt Nam", "Mạng lưới Blogger Việt Nam"...; “bất tuân” để phản đối Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội (năm 2014), Luật An ninh mạng (năm 2018)… Các hình thức như kích động tài xế phản đối trả phí BOT giao thông; từ chối đóng các loại quỹ phúc lợi xã hội; tẩy chay hàng hóa nước ngoài... cũng có nhiều vụ việc bị lợi dụng, biến tướng.

“Bất tuân dân sự" được tổ chức ngày càng chặt chẽ, được một số tổ chức phản động nước ngoài như Việt Tân, Voice công khai giật dây. Chúng lợi dụng các vấn đề dân sinh còn có hạn chế, khuyết điểm khiến người dân bức xúc để làm suy giảm niềm tin, tích tụ thêm mâu thuẫn của người dân đối với chính quyền, với Đảng, Nhà nước. Chúng lợi dụng thông qua đó để tập hợp, xây dựng, phát triển lực lượng, hợp thức hóa, công khai hóa việc chống đối chính quyền. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ giữa "bất tuân dân sự" với "xã hội dân sự", sử dụng các tổ chức "xã hội dân sự" để chỉ đạo, điều hành "bất tuân dân sự". Thủ đoạn chủ yếu là tiếp tục sử dụng các chiêu bài "tự do", "dân chủ", "nhân quyền"; triệt để lợi dụng các vấn đề nhạy cảm về dân tộc, tôn giáo, các sự kiện, vụ việc, những sơ hở, bất cập của ta trong quá trình triển khai các quyết sách phát triển kinh tế-xã hội, đối ngoại... để đẩy mạnh tuyên truyền chống phá; lôi kéo, kích động nhân dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, tạo dựng phong trào phản kháng trong quần chúng; phát triển lực lượng cốt cán, xây dựng "ngọn cờ"; tiến hành tập dượt các kịch bản đấu tranh chuẩn bị cho mục tiêu cao hơn...

Để đấu tranh làm thất bại "bất tuân dân sự", cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau đây:

Tích cực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn hóa "thượng tôn pháp luật" cho mọi công dân. Trong đó, cần chú trọng nâng cao trình độ giác ngộ, niềm tin vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật đối với mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục; làm cho mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đến được với người dân một cách cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ tuân thủ, chấp hành. Coi trọng tuyên truyền, hướng dẫn để người dân nắm vững các quy định về quy trình, thủ tục, phương pháp, cách thức tiến hành phản biện xã hội theo pháp luật; tránh để bị kẻ địch lợi dụng phát động "bất tuân dân sự". Tăng cường đấu tranh vạch rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn sử dụng "bất tuân dân sự" để chống phá Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.

Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; nâng cao chất lượng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính của cơ quan hành chính các cấp, nhất là ở cơ sở. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu quả, trong sạch, vững mạnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là các lĩnh vực quản lý kinh tế, tài chính, tài nguyên, môi trường... Bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức; đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm của cán bộ các cấp, củng cố niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước. Chính quyền các cấp phải nêu cao vai trò, trách nhiệm phục vụ nhân dân, tăng cường đối thoại, giải quyết tốt các vấn đề bức xúc của nhân dân; giải quyết dứt điểm các vấn đề còn tồn đọng về tranh chấp, khiếu kiện, không để âm ỉ, kéo dài…

Các cơ quan, đơn vị, địa phương tiến hành khảo sát kỹ lưỡng thực trạng "bất tuân dân sự" trên địa bàn quản lý; xây dựng kế hoạch phòng, chống chặt chẽ; bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng xử lý. Phối hợp chặt chẽ giữa công an, quân đội, các lực lượng chức năng và cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong việc bám nắm cơ sở, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động trong việc kích động, lôi kéo nhân dân thực hiện "bất tuân dân sự".

Khi xảy ra các vụ việc "bất tuân dân sự", cần hết sức tỉnh táo; nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân; kiên trì, khôn khéo, lấy biện pháp đối thoại, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thực hiện phân hóa lực lượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo… Xử lý nghiêm minh số đối tượng cốt cán, cầm đầu, những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật; có biện pháp phù hợp quản lý, giáo dục, động viên, giúp đỡ những đối tượng bị dụ dỗ, lôi kéo...