Sức
mạnh của Đảng sẽ mất, nếu tách khỏi cơ sở xã hội - chính trị là nhân dân. Đó
chính là pháp lý được ghi trong Hiến pháp, trong vị thế “vừa là người lãnh đạo,
vừa là người đày tớ thật trung thành của Nhân dân” và đạo lý sống được thừa
nhận trong xã hội, với tư cách là “đứa con nòi của giai cấp lao động” của Đảng.
Chúng âm mưu đánh sập đạo lý của Đảng chúng ta với nhân dân, phủ nhận sự chính
danh, chính pháp giữa Đảng với Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Các luận điệu đó, cốt chia rẽ, âm mưu kích động đối lập Đảng với nhân dân, tạo
sự xa cách, oán thán, thù ghét, tẩy trừ cán bộ và đảng viên của Đảng, dưới mọi
hình thức. Chúng cổ xúy cho bảo trợ và tham gia các tổ chức “xã hội dân sự” tự
phát. Chúng ngụy tạo, tô vẽ, thổi phồng những biểu hiện riêng lẻ, những khuyết
điểm để thổi phồng quy kết thành bản chất của một đảng cầm quyền và đã làm phân
tâm không ít bộ phận dân cư.
Để trí thức hoá
đội ngũ công nhân thì phải bắt đầu từ sự thay đổi mạnh mẽ trong hệ thống giáo
dục phổ thông và đào tạo nghề để từ đó làm cơ sở cho việc đào tạo bậc đại học
chuyên ngành và lao động chất lượng cao theo yêu cầu hiện đại phù hợp với những
đòi hỏi của nền kinh tế tri thức. Nền kinh tế tri thức không chỉ đòi hỏi người
công nhân phải làm chủ công nghệ mới, không chỉ biết nắm vững công nghệ đã có
hay đã chín muồi, mà còn đòi hỏi người công nhân phải biết sáng tạo ra công
nghệ mới, đề xuất cái mới. Vai trò của giai cấp công nhân trí thức hoá không
những không suy giảm mà trái lại còn tăng lên cùng với sự phát triển của kinh
tế tri thức. Với trình độ tri thức ngày càng cao thì sự giác ngộ giai cấp, ý
thức về vị trí, vai trò, khả năng và sức mạnh của giai cấp công nhân cũng như
tính tổ chức, kỷ luật của công nhân trí thức sẽ được nâng lên tương xứng.Để thực hiện được sứ mạng là giai cấp lãnh đạo xã hội
thì giai cấp công nhân phải tự trang bị cho đội ngũ của mình cả sự giác ngộ
giai cấp lẫn ý thức chính trị, tính tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp. Cần
thực hiện đồng bộ các giải pháp, sớm đưa tất cả các công nhân vào các tổ chức
Công đoàn; làm tốt công tác phát triển đảng trong công nhân, qua đó hướng dẫn,
chỉ đạo, tiến hành các biện pháp giáo dục tư tưởng; tiến hành các biện pháp tạo
việc làm, nâng cao mọi mặt đời sống; hết sức quan tâm nâng cao học vấn, trình
độ nghề nghiệp; đẩy nhanh quá trình trí thức hoá công nhân, phục vụ tốt nhất
cho việc từng bước đưa đất nước vào nền kinh tế tri thức nhằm mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Nhanh chóng cải
cách nội dung, phương pháp đào tạo theo hướng công nhân giỏi một nghề, biết
thêm một vài nghề khác, lý luận gắn với thực hành, tạo điều kiện để học sinh
làm quen với sản xuất công nghiệp, với đời sống công nhân, với các lĩnh vực
kinh tế - xã hội của đất nước.Mạnh
dạn và khẩn trương đào tạo đội ngũ giám đốc trẻ, giỏi nghề, năng động, sáng tạo
xuất thân từ công nhân, hoặc đã trực tiếp là công nhân và định kỳ nâng cao
nghiệp vụ sản xuất, kinh doanh, tay nghề đạt tiêu chuẩn quốc tế, đi đôi với
việc đào tạo đội ngũ thợ trẻ, lành nghề (bằng con đường đào tạo trong nước và
gửi đi học ở nước ngoài) vừa trẻ hoá, vừa nâng cao tri thức và khả năng sáng
tạo cho đội ngũ công nhân; tổ chức tốt việc đào tạo lại khi chuyển đổi công
nghệ mới.Chú trọng công tác đào tạo và
phát triển lực lượng công nhân trong các dân tộc thiểu số, coi đó là một nhiệm
vụ chính trị quan trọng. Chú trọng cả số lượng và chất lượng. Kết hợp đúng đắn,
có hiệu quả chính sách kinh tế với chính sách xã hội và chính sách dân tộc.
Công
nhân và con em công nhân cần được xem là đối tượng ưu tiên để tiến hành phổ cập
giáo dục. Có thể và cần phổ cập giáo dục phổ thông trung học cho công nhân trẻ
và con em công nhân. Khuyến khích và tạo điều kiện cho công nhân tham gia học ở
cấp học giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Có chính sách hợp lý để tuyển
chọn được một bộ phận thanh niên ưu tú, nhất là con em công nhân nhiều đời vào
các trường dạy nghề. Chỉ có như vậy, trong tương lai chúng ta mới có một đội
ngũ công nhân giỏi. Và, từ trong số ấy mới tuyển chọn và đào tạo được những cán
bộ quản lý, lãnh đạo giỏi xuất thân từ công nhân.
Trình độ công
nghệ, thiết bị hiện nay của nước ta, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập quốc
tế toàn diện, sâu, rộng, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong sản xuất kinh
doanh, liên doanh đòi hỏi phải coi trọng việc đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng
cao trình độ học vấn, năng lực trí tuệ, tay nghề, chuyên môn, nghiệp vụ, văn
hoá, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, cho công nhân. Để từ đó họ nhanh
chóng có điều kiện tiếp thu, làm chủ công nghệ mới, có cơ hội tìm được việc
làm, để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất
kinh doanh, đủ sức cạnh tranh với thị trường trong và ngoài nước. Trong bối
cảnh thế giới đã bước vào thời kỳ khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão
của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, vấn đề này là một đòi hỏi khách quan,
cấp thiết. Đầu tư vào công tác đào tạo công nhân là một hướng đầu tư vào chiều
sâu cơ bản và có hiệu quả nhất, cả về kinh tế, xã hội, chính trị. Yêu cầu của
nền sản xuất hiện đại đòi hỏi phải có một đội ngũ công nhân vững vàng cả về lý
thuyết lẫn tay nghề, nắm vững công nghệ hiện đại.
Trong cơ chế mới
và trong điều kiện đổi mới thiết bị, đưa quy trình công nghệ mới, tiên tiến,
hiện đại vào sản xuất, cũng như từ yêu cầu, đòi hỏi của quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng thì công tác
đào tạo công nhân cần được hết sức coi trọng. Cần phải đặc biệt coi trọng xây
dựng và trọng dụng một đội ngũ công nhân lành nghề, những nhà kinh doanh có
tài, những nhà quản lý giỏi và các nhà khoa học, kỹ thuật có trình độ cao. Đi
đôi với đào tạo mới, cần chú trọng đào tạo lại để có những công nhân, cán bộ có
đủ điều kiện tiếp cận với cơ chế thị trường trong điều kiện hội nhập quốc tế
toàn diện, ngày càng sâu rộng, đáp ứng được yêu cầu đổi mới công nghệ, thiết
bị, nâng cao trình độ công nghệ của các cơ sở sản xuất, hiện đại hoá công nghệ
truyền thống. Đó là đòi hỏi bức thiết, khách quan của nền kinh tế nước ta hiện
nay.
Thành phố Hà Nội công bố 10 sự kiện tiêu biểu của Thủ đô năm 2023, trong đó có việc kinh tế duy trì mức tăng trưởng khá; khởi công dự án đường Vành đai 4 sớm hơn dự kiến; hoàn thiện dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi)...
Hội nghị lần thứ mười bốn Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội.1. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền và hệ thống chính trị; tăng cường kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm giải quyết công việc; nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên
Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thành phố tiếp tục có nhiều đổi mới và đạt được những kết quả nổi bật, trong đó: Phát huy tinh thần đoàn kết, đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng khoa học, dân chủ, bám sát yêu cầu thực tiễn với tinh thần “Kỷ cương, trách nhiệm, hành động, sáng tạo, phát triển”; bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ; quyết liệt, khẩn trương, linh hoạt trong chỉ đạo, điều hành triển khai thực hiện nhiệm vụ với phương châm “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả”; nêu cao tinh thần gương mẫu, trách nhiệm người đứng đầu; lấy chất lượng công việc và sự hài lòng của người dân là “thước đo” để đánh giá năng lực của cán bộ, đảng viên, của cấp ủy, chính quyền. Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành và chỉ đạo triển khai, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 24-CT/TU ngày 7-8-2023 về “Tăng cường kỷ cương, kỷ luật và trách nhiệm giải quyết công việc trong hệ thống chính trị thành phố Hà Nội”, qua đó thể hiện quyết tâm tạo chuyển biến căn bản từ nhận thức đến hành động của mỗi cấp ủy Đảng, chính quyền, từng cán bộ, đảng viên. Tập trung rà soát, tinh gọn tổ chức, bộ máy, đồng thời thực hiện tốt công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ nguồn, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Công tác kết nạp, quản lý đảng viên, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ có nhiều chuyển biến tích cực. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng, quyết liệt chỉ đạo thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành, tác nghiệp, ứng dụng số hóa trong nghiên cứu, học tập nghị quyết, triển khai hiệu quả 2 phần mềm “Sổ tay đảng viên điện tử” và “Điều hành tác nghiệp quản lý đảng viên”, được cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng đánh giá cao. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp; công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được tập trung chỉ đạo và đạt được những kết quả tích cực. Vai trò của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ngày càng được phát huy theo hướng thiết thực, hiệu quả, gắn với cơ sở, tích cực trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. 2. Cải cách hành chính được đẩy mạnh; kỷ luật, kỷ cương hành chính, phân cấp, ủy quyền được tăng cường Hà Nội tích cực trong thực hiện phân cấp, ủy quyền, qua đó góp phần nâng cao chỉ số cải cách hành chính PAR-Index (tăng 7 bậc). Sau 1 năm triển khai thực hiện Đề án phân cấp quản lý nhà nước, ủy quyền, về cơ bản, việc thực hiện phân cấp, ủy quyền trong các ngành, lĩnh vực đảm bảo nền nếp, vận hành thông suốt; tiếp tục sắp xếp tổ chức, bộ máy, thí điểm thành lập các đơn vị dịch vụ công; rà soát, bổ sung lại chức năng của các sở, ngành, cơ quan chuyên môn; đẩy mạnh xây dựng đơn giá định mức các dịch vụ công: Y tế, giáo dục - đào tạo, văn hóa - xã hội, vệ sinh môi trường…, từ đó góp phần tạo quyền chủ động cho chính quyền quận, huyện, thị xã, giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính, giải phóng hiệu quả nguồn lực cho các địa phương, đơn vị. 3. Kinh tế duy trì mức tăng trưởng khá - cao hơn mức bình quân chung cả nước; các chính sách an sinh - xã hội được đảm bảo Vượt qua những khó khăn, thách thức của tình hình kinh tế thế giới và trong nước, thành phố đã thực hiện đầy đủ các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp; tích cực tháo gỡ vướng mắc cho các dự án chậm triển khai; kinh tế Thủ đô đạt được những kết quả khá toàn diện và tích cực: GRDP đạt 6,27% (cao hơn mức bình quân chung cả nước); thu ngân sách trên địa bàn đạt 405.252 tỷ đồng (đạt 114,8% dự toán, tăng 23,8% so với cùng kỳ năm 2022)… Những thành tựu, kết quả của Hà Nội góp phần cùng cả nước thực hiện được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thành phố luôn quan tâm thực hiện tốt các chính sách đảm bảo an sinh xã hội, đặc biệt là người có công với cách mạng. Công tác giảm nghèo đạt kết quả tích cực, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được đảm bảo. Chính sách bảo hiểm được duy trì thực hiện tốt. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 93,5%. 4. Phối hợp với các cơ quan Trung ương hoàn thiện dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) - giải pháp cấp thiết để xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành Thành phố “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại” Cùng với việc đẩy nhanh tiến độ triển khai các đề án, kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 5-5-2022 của Bộ Chính trị, Chương trình hành động số 16-CTr/TU của Thành ủy về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, năm 2023, thành phố tập trung cho công tác đánh giá kết quả thi hành Luật Thủ đô năm 2012 - nghiên cứu, đề xuất chính sách, lập hồ sơ đề nghị và tham gia xây dựng Luật Thủ đô (sửa đổi) trình Quốc hội cho ý kiến vào ngày 10-11-2023. Quá trình xây dựng dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) được thành phố Hà Nội phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan chuẩn bị công phu, nghiêm túc, chất lượng. Luật Thủ đô (sửa đổi) sau khi được Quốc hội thông qua sẽ tạo ra những cơ chế, chính sách vượt trội để Hà Nội phát huy lợi thế, phát triển nhanh và bền vững với tầm vóc và vị thế mới, xứng đáng là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trái tim của cả nước, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế; sớm trở thành đô thị thông minh, xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn, văn hiến, văn minh, hiện đại, có sức lan tỏa để thúc đẩy, tạo động lực, lan tỏa để vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ cùng phát triển. 5. Đẩy nhanh tiến độ một số dự án, công trình giao thông trọng điểm; khởi công Dự án đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội sớm hơn dự kiến Hà Nội huy động nguồn lực để sớm hoàn thành các dự án, công trình giao thông trọng điểm như: Đường Huỳnh Thúc Kháng kéo dài, cầu Vĩnh Tuy giai đoạn 2 và cầu vượt nút giao Chùa Bộc - Phạm Ngọc Thạch; khởi công Dự án tuyến đường kết nối đường Pháp Vân - Cầu Giẽ và đường Vành đai 3... Đặc biệt, thành phố tập trung đẩy nhanh triển khai các thủ tục đầu tư, công tác giải phóng mặt bằng để khởi công Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô vào ngày 25-6-2023. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng đạt hơn 96%. Các nhà thầu đã triển khai thi công các gói thầu đảm bảo theo tiến độ đề ra. Việc sớm hoàn thành Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô sẽ mở rộng không gian và khai thác thêm nhiều nguồn lực để Thủ đô và vùng Đồng bằng sông Hồng phát triển. 6. Sự nghiệp phát triển văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh được quan tâm, đẩy mạnh, trở thành nguồn lực mới cho phát triển bền vững Thủ đô; khơi dậy tinh thần “Thành phố sáng tạo” Quan điểm đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và hành động thiết thực, sáng tạo, hiệu quả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện phát triển văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh tiếp tục được nâng lên rõ rệt, thúc đẩy tư duy hành động của cấp ủy và hệ thống chính trị các cấp, lan tỏa rộng rãi tới quần chúng nhân dân, thu hút sự quan tâm, đồng hành của toàn xã hội. Những thay đổi tích cực về cơ chế, chính sách trong đầu tư xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nhân văn, sáng tạo; tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa; cải thiện chế độ đãi ngộ, hỗ trợ đối với nghệ sĩ, nghệ nhân… chính là những quyết sách quan trọng, góp phần tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển sự nghiệp văn hóa, xây dựng con người Thủ đô trong thời kỳ mới. Đặc biệt, việc thực hiện Nghị quyết về phát triển công nghiệp văn hóa với tầm nhìn đến năm 2045 đã có chuyển động tích cực, đạt những kết quả đáng ghi nhận, nổi bật là các ngành: Du lịch văn hóa; thủ công mỹ nghệ; nghệ thuật biểu diễn… và tổ chức thành công nhiều sự kiện, lễ hội văn hóa nghệ thuật tầm cỡ khu vực và quốc tế, điểm nhấn ấn tượng là Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội năm 2023 với chủ đề “Dòng chảy” mang thông điệp kết nối, tôn vinh các giá trị văn hóa, với nhiều hoạt động văn hóa, sáng tạo, tạo nên bản sắc riêng của Hà Nội - đó là lưu giữ truyền thống, định hình hiện tại và hướng tới tương lai. Qua đó, thúc đẩy tài nguyên văn hóa, con người Hà Nội thực sự trở thành nguồn lực mới quan trọng, khơi dậy và lan tỏa tình yêu Hà Nội, tinh thần xây dựng “Thành phố sáng tạo”, khát vọng vươn lên của mỗi cán bộ, đảng viên, người dân trong thực hiện “mục tiêu kép” vừa gìn giữ, phát huy giá trị văn hiến nghìn năm, vừa đưa công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp ngày càng nhiều vào sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phồn vinh, hạnh phúc và bền vững của Thủ đô Văn hiến - Văn minh - Hiện đại. 7. Đẩy mạnh phong trào xây dựng xã hội học tập; tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, dẫn đầu cả nước trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế Ngày 16-11-2023, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TU về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trên địa bàn thành phố Hà Nội từ nay đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Thủ đô Hà Nội phấn đấu gia nhập vào mạng lưới “Thành phố học tập” của UNESCO trong thời gian sớm nhất. Năm 2023, toàn ngành Giáo dục đã tập trung đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá; chất lượng dạy học ngày càng được nâng lên và luôn dẫn đầu cả nước về tỷ lệ học sinh khá, giỏi và tỷ lệ học sinh có hạnh kiểm tốt. Điểm bình quân các môn thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT toàn thành phố tăng. Đặc biệt, tỷ lệ tốt nghiệp THPT chung của toàn thành phố đạt 99,56%, tăng 11 bậc so với năm 2022 - là kết quả cao nhất trong 10 năm qua. Hà Nội còn là địa phương có nhiều điểm 10 thi tốt nghiệp THPT nhất cả nước với 1.232 điểm 10, tăng 3,35 lần so với năm 2022. Tỷ lệ trường công lập đạt chuẩn quốc gia toàn thành phố là 74,2%; phấn đấu đạt tỷ lệ 80-85% trường chuẩn quốc gia vào năm 2025; đang triển khai công tác xây dựng 7 trường liên cấp tiên tiến, hiện đại có diện tích 5ha trở lên trên địa bàn thành phố. Năm học 2022-2023, học sinh thành phố đạt 141 giải thưởng trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia, 12 học sinh đạt giải trong các kỳ thi cấp quốc tế. Đáng chú ý, trong năm qua, đã có 92 học sinh được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng. Ngành Giáo dục thành phố cũng có chiến lược đào tạo mũi nhọn và mở rộng quan hệ hợp tác với các nước phát triển trên thế giới. 8. Hà Nội hoàn thành trước 1 năm mục tiêu xây dựng huyện nông thôn mới Hà Nội luôn xác định Chương trình xây dựng nông thôn mới có tầm quan trọng, ý nghĩa to lớn. Phát huy những kết quả đạt được, Hà Nội đẩy mạnh thực hiện Chương trình số 04-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội (khóa XVII) đặt mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới vào năm 2025. Đến nay, tiến độ thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới của thành phố Hà Nội đạt được nhiều kết quả khả quan, đồng thời nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp để hoàn thành mục tiêu đề ra. Hà Nội là một trong những địa phương có số lượng lớn đơn vị hành chính cấp huyện, xã. Với sự quan tâm, tập trung chỉ đạo, huy động mọi nguồn lực, tính đến ngày 5-12-2023, 100% huyện, thị xã của Hà Nội được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn nông thôn mới và hoàn thành trước 1 năm mục tiêu xây dựng huyện nông thôn mới. Đến nay, 382/382 xã đạt chuẩn nông thôn mới; 183 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 68 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Bốn huyện Đan Phượng, Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao năm 2023. 9. Lần thứ hai liên tiếp Hà Nội nhận giải thưởng “Điểm đến du lịch thành phố hàng đầu thế giới cho kỳ nghỉ ngắn ngày năm 2023” Với sự tập trung chỉ đạo của thành phố, năm 2023, ngành Du lịch Hà Nội đạt được những giải thưởng rất quan trọng: Điểm đến du lịch hàng đầu châu Á; Điểm đến thành phố golf tốt nhất thế giới; Điểm đến du lịch thành phố hàng đầu châu Á cho kỳ nghỉ ngắn ngày; Hà Nội có đại diện nhà hàng được gắn sao Michelin - Giải thưởng danh giá trong ngành ẩm thực thế giới; Sở Du lịch thành phố Hà Nội được trao tặng danh hiệu “Cơ quan quản lý du lịch thành phố hàng đầu châu Á”... Từ đó, Hà Nội tiếp tục trở thành “Điểm đến du lịch thành phố hàng đầu thế giới cho kỳ nghỉ ngắn ngày năm 2023”. Tổng lượng khách du lịch đến Hà Nội trong năm 2023 đạt 24 triệu lượt (tăng 27% so với năm 2022), trong đó: 4 triệu lượt khách quốc tế (tăng 138,1% so với năm 2022) và 20 triệu lượt khách nội địa (tăng 16% so với năm 2022); tổng thu từ khách du lịch ước đạt 85,7 nghìn tỷ đồng (tăng 43% so với năm 2022). 10. Công tác quốc phòng, an ninh và đối ngoại được tăng cường; Hà Nội tiếp tục là “Điểm đến bình yên, hấp dẫn và thân thiện” Công tác quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; bảo đảm an toàn tuyệt đối các hoạt động kỷ niệm, các ngày lễ quan trọng của Thủ đô và đất nước, các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các mục tiêu và địa bàn trọng điểm và gần 2.000 sự kiện chính trị, ngoại giao quan trọng diễn ra trên địa bàn Thủ đô, góp phần vào thành công nổi bật của đối ngoại Việt Nam năm 2023. Thành phố chỉ đạo tổ chức thành công diễn tập khu vực phòng thủ cho các quận, huyện, sở, cụm phía Tây Nam và cụm phía Đông thành phố. Hình ảnh Thủ đô bình yên, thân thiện ngày càng in đậm trong lòng bạn bè quốc tế. Năm 2023, Hà Nội đón tiếp gần 90 đoàn khách quốc tế đến làm việc, trao đổi về hoạt động, dự án hợp tác với thành phố trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, Hà Nội đã tổ chức thành công Hội nghị hợp tác giữa các địa phương Việt Nam - Cộng hòa Pháp lần thứ 12 có quy mô lớn nhất từ trước đến nay với sự tham dự của gần 1.000 đại biểu trong và ngoài nước đến từ 50 địa phương của Việt Nam và 12 địa phương của Cộng hòa Pháp, cùng nhiều tổ chức quốc tế. Việc Hà Nội phát huy tốt vai trò đăng cai tổ chức hội nghị có ý nghĩa quan trọng không chỉ với công tác đối ngoại của Thủ đô, mà còn góp phần thúc đẩy quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam - Cộng hòa Pháp; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam với quốc tế.
Phải tiến hành giáo dục bằng tổng hợp các biện pháp: Kinh tế, chính
trị, pháp luật, hành chính, tư tưởng... với những hình thức phong phú, sinh
động, tế nhị, có nghệ thuật, khoa học, phù hợp với từng đối tượng công nhân
trong mỗi loại hình doanh nghiệp trong các thành phần, đơn vị kinh tế. Cần đặc
biệt coi trọng hình thức giáo dục bằng các loại hình văn học - nghệ thuật, các
hoạt động văn hoá, xã hội, các ấn phẩm văn hóa có tác dụng giáo dục. Muốn vậy,
phải nâng cao kiến thức văn hoá cho công nhân và tạo ra những điều kiện thuận
lợi về vật chất, thời gian,... để công nhân có thể thưởng thức các tác phẩm văn
học - nghệ thuật, các ấn phẩm văn hóa có giá trị, có tác dụng giáo dục sâu sắc,
để họ có thể tham gia các hoạt động văn hoá, nghệ thuật. Thông qua thực tiễn
lao động sản xuất kinh doanh, tổ chức tốt đời sống vật chất, tinh thần và hoạt
động của các tổ chức, đoàn thể xã hội mà giáo dục, rèn luyện đội ngũ công nhân.
Tổ chức, quản lý lao động một cách khoa học, chặt chẽ, bảo đảm đủ việc làm, cải
thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho công nhân sẽ có tác dụng
rất lớn đến việc giáo dục, xây dựng giai cấp công nhân. Công tác giáo dục công
nhân chỉ thực sự có hiệu quả khi biết tôn trọng và bằng những việc làm thực tế
thể hiện sự tôn trọng quyền, lợi ích, nhân cách của người công nhân với tư cách
là một con người và với vị trí xã hội của họ: là thành viên của một giai cấp
tiên phong, giai cấp lãnh đạo cách mạng. Để công tác giáo dục có hiệu quả, cần
xây dựng nội dung, giáo trình bồi dưỡng sát hợp với từng đối tượng công nhân.
Đối với những công nhân có trình độ học vấn cao, công nhân - trí thức, phải
nâng cao trình độ lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho họ với chương
trình và hình thức học tập thích hợp. Với những người giữ cương vị lãnh đạo,
quản lý trong các doanh nghiệp, công ty, phải quan tâm việc bồi dưỡng kiến thức
pháp luật, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, lý luận cơ
bản, năng lực quản lý, tư duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo.
Để làm tốt nhiệm
vụ tuyên truyền, giáo dục công nhân trong điều kiện hiện nay, phải bồi dưỡng,
đào tạo được một đội ngũ những người làm công tác giáo dục có tài năng, hùng
biện, hiểu biết sâu rộng về lý luận và thực tiễn, về công nhân và phong trào
công nhân. Nhưng điều quan trọng hơn, có ý nghĩa quyết định là phải bằng những
việc làm thực tế của Đảng và Nhà nước mang lại quyền lợi thiết thực về vật chất
và tinh thần cho công nhân, chứng tỏ trên thực tế tính ưu của chủ nghĩa xã hội
hiện thực ở Việt Nam về mọi phương diện trong việc chăm lo đến cuộc sống hằng
ngày của công nhân và quần chúng lao động. Công tác giáo dục sẽ không có hiệu
quả khi mà cuộc sống hằng ngày của quần chúng lao động vẫn còn nhiều khó khăn,
tiêu cực; tham nhũng hoành hành; bất công xã hội ngày càng nhiều; an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội không được bảo đảm, một bộ phận không nhỏ cán bộ,
đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, thoái hoá, biến chất, sống xa dân,
hư hỏng về đạo đức, lối sống, ...
Trong tình hình
hiện nay, cần thường xuyên tăng cường giáo dục giác ngộ giai cấp, nâng cao ý
thức tự lực, tự cường, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức cảnh giác cách mạng,
bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, tin tưởng
vào Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Kiên quyết không chấp nhận đa nguyên, đa đảng
đối lập. Ngăn ngừa ảnh hưởng của tư tưởng tiểu tư sản, lối sống thực dụng, tư
tưởng phong kiến, nhất là ở các đơn vị sản xuất khu vực kinh tế ngoài nhà nước.
Trong tình hình
hiện nay, cần coi trọng giáo dục lập trường, quan điểm giai cấp, nhưng không
phải bằng những bài lý luận chung chung, mà phải trên cơ sở thông tin, giáo
dục, hướng dẫn khoa học để xây dựng niềm tin khoa học vững chắc cho công nhân.
Cần giúp cho công nhân hiểu sự thật về chủ nghĩa tư bản hiện đại, cả mặt phải
và trái của nó. Cách tuyên truyền theo kiểu “bôi đen” hoàn toàn, phủ định sạch
trơn, hoặc “tô hồng”, ca ngợi chủ nghĩa tư bản hiện đại hết lời, đều không khoa
học, phản tác dụng trong công tác tuyên truyền, giáo dục.
Xây dựng niềm
tin khoa học cho công nhân về tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở
giáo dục bằng những nội dung, hình thức, phương pháp khoa học, bằng thực tế
trong nước và thế giới. Trang bị cho công nhân phương pháp xem xét khách quan,
toàn diện, khoa học.
"Với cơ chế tìm chọn hiền tài đúng đắn, tiến bộ, phù hợp thực tiễn hiện nay, chắc chắn chúng ta sẽ loại bỏ được những kẻ kém đức, kém tài, cơ hội, đồng thời tìm chọn được những cán bộ có đủ đức, tài...". Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã nhấn mạnh như vậy trong bài viết "Tìm chọn hiền tài"!
Những bài học từ lịch sử
Tiến sĩ Thân Nhân Trung, khi được Vua Lê Thánh Tông giao soạn bài văn bia cho bia Tiến sĩ đầu tiên khoa Nhâm Tuất (1442) đã viết: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết...”.
Những lời ấy đã được đục khắc vào bia đá, để lại cho muôn đời con cháu noi theo mà thực hiện.
Các triều đại nối nhau trong lịch sử nước ta đều coi việc tìm chọn hiền tài là việc hệ trọng của quốc gia. Nhà Lý cho ra đời Quốc Tử giám, trường “đại học” đầu tiên của nước ta để mở khoa thi đầu tiên đào tạo nhân tài. Viên quan văn võ song toàn Tô Hiến Thành ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc chính là trong thời nhà Lý. Năm 1253, nhà Trần lập Quốc Học viện, ban hành thể lệ thi cử rất nghiêm khắc để tránh chuyện con nhà giàu chạy chọt đỗ đạt. Chế độ thi cử đó đã phát hiện và bồi dưỡng ra những danh nhân văn hóa như Nguyễn Hiền đỗ Trạng nguyên năm 13 tuổi, Mạc Đĩnh Chi, vị quan liêm khiết, vị sứ thần thông minh, hiểu biết sâu rộng, tài năng khí phách, hay nhà sử học Lê Văn Hưu, người biên soạn bộ Quốc sử đầu tiên của nước ta. Nhà Hồ chỉ trị vì trong một thời gian rất ngắn nhưng qua tuyển cử đã phát hiện những bậc kiệt hiệt như Nguyễn Trãi, sau này là nhà văn hóa lớn của dân tộc... Đến thời Hậu Lê, Vua Lê Lợi ngay năm đầu ở ngôi đã hạ chiếu nói lời thiết tha: “Muốn thịnh trị phải được người hiền tài, muốn được người hiền tài thì phải do tiến cử. Cho nên người đứng đầu thiên hạ phải lo việc ấy trước tiên”.
Minh Mạng, vị vua thứ hai triều Nguyễn đã biến việc cầu người hiền tài thành một chính sách nhất quán của triều đình khi ấy. Sách Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ của nội các triều Nguyễn ghi lại có tới 11 lần Vua Minh Mạng ban dụ để cầu người hiền tài tham gia vào bộ máy hành chính nhà nước.
Vua Quang Trung ngay sau khi đánh tan quân Thanh đã giao cho Ngô Thì Nhậm thay mình viết Chiếu cầu hiền, hoặc kiên nhẫn ba lần viết thư mời La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp ra giúp rập cho nhà Tây Sơn, là những tấm gương điển hình cho việc chiêu hiền đãi sĩ tìm chọn người tài của cha ông ta.
“Chiếu cầu hiền” khi cách mạng thành công
Thời nay, một con người kiệt xuất luôn coi trọng việc thu phục và sử dụng người tài đức là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, cuối năm 1945, Hồ Chủ tịch đã hai lần viết thư mời cụ Huỳnh Thúc Kháng, một nhà chí sĩ yêu nước ra giúp việc cho Chính phủ. Rồi trong những ngày dầu sôi lửa bỏng năm 1946, trước khi sang Pháp thực hiện chuyến công du nước ngoài lâu ngày, Bác Hồ đã ký sắc lệnh ủy nhiệm cụ Huỳnh Thúc Kháng, một nhân sĩ ngoài Đảng Cộng sản, làm quyền Chủ tịch nước với lời dặn dò gan ruột: “Dĩ bất biến ứng vạn biến!”. Cụ Huỳnh đã đảm nhiệm công việc này một cách trọn vẹn.
Từ nước Pháp trở về, Bác đã đi cùng với 4 trí thức Việt kiều yêu nước là kỹ sư luyện kim Võ Quý Huân, bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư mỏ Võ Đình Quỳnh và nhà khoa học Phạm Quang Lễ (giáo sư Trần Đại Nghĩa ). Tiếp sau đó, những trí thức lớn khác ở Pháp như Nguyễn Khắc Viện, Phạm Huy Thông, Trần Đức Thảo... cũng về Việt Nam. Trong bối cảnh muôn vàn thiếu thốn, các trí thức này đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc kháng chiến và sau này là kiến quốc của toàn dân tộc.
Chỉ một thời gian ngắn sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước, ngày 20-11-1946, trên Báo Cứu quốc xuất hiện một bài báo, nói đúng hơn là một thông báo, dưới ký tên “Chủ tịch Chính phủ Việt Nam - Hồ Chí Minh”, viết: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận. Nay muốn sửa đổi điều đó, và trọng dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết”.
Đây chính là một dạng “Chiếu cầu hiền” của người đứng đầu Chính phủ nước Việt Nam non trẻ lúc bấy giờ.
Những bài học đau xót
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ”.
Như thế, có thể thấy vận mệnh của đất nước, của chế độ tùy thuộc vào cái cách mà chúng ta lựa chọn đội ngũ cán bộ các cấp, trong đó có cấp chiến lược, những người đảm trách công việc nặng nề là chèo lái con thuyền quốc gia. Điều đó đòi hỏi sự trong sáng, tinh thần trách nhiệm cao cả vì sự nghiệp chung của những cán bộ lớp trước trong việc giới thiệu với cơ quan có thẩm quyền tuyển chọn những người xứng đáng.
Chúng ta đã có những bài học đau xót về việc giới thiệu cán bộ không đủ phẩm chất và năng lực nhưng là cánh hẩu, là họ hàng, là đổi chác (tôi nâng đỡ con anh thì anh nâng đỡ con tôi, hoặc tôi nâng đỡ người của anh thì anh nâng đỡ người của tôi…) và cũng không loại trừ việc đút lót tiền bạc, của cải để được vào các vị trí trọng yếu.
Cho đến nay, mặc dù công tác cán bộ đã được đổi mới nhiều, nhưng trên thực tế vẫn không tránh khỏi còn những sai sót nghiêm trọng là kẽ hở để những kẻ tham lam, cơ hội, kém đức kém tài chui vào bộ máy, tạo dựng bè cánh, gây nên những tác hại nghiêm trọng, dẫn đến sự bất bình to lớn trong nhân dân và đặt sinh mệnh chính trị của Đảng, của chế độ vào thế bất lợi.
Không thể để những kẻ kém đức kém tài, vô liêm sỉ, “chạy chức chạy quyền”, có nguồn tài sản bất minh, nâng đỡ người thân, gia đình, họ hàng, là cánh hẩu, bị xã hội và báo chí lên án, lại vẫn có thể biện bạch thách thức dư luận hay lên giọng rao giảng đạo đức. Không thể để một ông cán bộ cấp cao phát ngôn bừa bãi, đề ra những chính sách gây thiệt hại cho đất nước và nhân dân có thể tiếp tục nhơn nhơn tại vị. Lại càng không để cho những quan tham, dù ở cấp nào, có thể trốn tránh trách nhiệm và “hạ cánh an toàn”.
Càng là người của tổ chức, của Đảng, lại càng phải chịu trách nhiệm nặng nề hơn trước sự nghiêm minh của pháp luật, sự giám sát của nhân dân.
Rà soát lại “quy trình”
Làm thế nào để có thể hạn chế tối đa những sai sót trong công tác lựa chọn cán bộ, đặc biệt là ở cấp chiến lược?
Câu trả lời ở đây là cơ chế trách nhiệm.
Quy trình tuyển chọn, đề bạt cán bộ là của tập thể, nhưng công việc giới thiệu cần được cá nhân hóa để thuận tiện cho việc vận hành cơ chế trách nhiệm.
Cá nhân người giới thiệu có trách nhiệm bảo vệ sự tiến cử của mình trước các cơ quan chức năng. Người cán bộ được tiến cử có thành tích và tiến bộ thì cá nhân người giới thiệu và tập thể giới thiệu được khen thưởng xứng đáng; nếu người được tiến cử vi phạm những tiêu chuẩn về chuyên môn, đạo đức trong công việc, người giới thiệu và những thành viên nào trong tập thể tán thành giới thiệu bổ nhiệm nhân sự sai lầm cũng phải chịu trách nhiệm và bị xử lý kỷ luật tương xứng.
Người cán bộ được giới thiệu để tuyển chọn phải có trách nhiệm trình bày rõ trước cơ quan tuyển chọn về những thành quả nổi bật đã làm, được cơ quan, đơn vị, nhân dân thừa nhận và phải trình bày những công việc mình sẽ làm trên cương vị công tác mới. Các cơ quan chức năng và nhân dân sẽ đánh giá quá trình “thi tuyển” này thông qua các cơ chế giám sát, qua báo chí và dư luận quần chúng.
Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định bổ nhiệm cán bộ vào các vị trí trong hệ thống chính trị phải chịu trách nhiệm nếu kết quả bổ nhiệm nhân sự ấy lại là người kém đức kém tài; đồng thời cơ quan ra quyết định cũng phải có đủ thẩm quyền và có trách nhiệm xử lý nhanh chóng những trường hợp cán bộ sai phạm trong công tác. Ở các quốc gia văn minh, chỉ cần một Bộ trưởng lỡ lời là đủ để cho Chính phủ buộc người đó thôi chức để giữ uy tín cho Đảng cầm quyền. Còn ở ta, một quốc gia có nền văn hiến hàng nghìn năm rực rỡ, sao lại không thể làm như vậy?
Chúng ta đã có cả một hệ thống các quy định khá chặt chẽ của Đảng cho đến các quy định của Nhà nước, nhưng vẫn xảy ra tình trạng “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên trong bộ máy công quyền các cấp thoái hóa, biến chất, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật, trong đó có những trường hợp hết sức nghiêm trọng và kéo dài. Thực tế đó cho thấy cần phải rà soát lại toàn bộ “quy trình” tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, khắc phục những hạn chế, yếu kém đã bộc lộ, đồng thời cũng phải rà soát lại quy trình xử lý cán bộ sai phạm theo hướng kiên quyết, nhanh gọn hơn, không thua kém gì các quốc gia văn minh.
Với cơ chế tìm chọn hiền tài đúng đắn, tiến bộ, phù hợp thực tiễn hiện nay, chắc chắn chúng ta sẽ loại bỏ được những kẻ kém đức, kém tài, cơ hội, chui sâu leo cao, đồng thời tìm chọn được những cán bộ có đủ đức tài làm rường cột quốc gia, đáp ứng được sự mong mỏi của nhân dân.
Dù ở hoàn cảnh nào thì đức hy sinh, khát vọng cống hiến cho Tổ quốc luôn là những giá trị bất biến của hiền tài.
Mối liên hệ hữu cơ giữa “nguyên khí quốc gia” - những người hiền tài - với vận mệnh quốc gia, dân tộc là điều đã được chứng minh qua lịch sử mấy ngàn năm của đất nước. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, khi nhờ có hai gia tướng tài năng đức độ Dã Tượng và Yết Kiêu mà thoát khỏi vòng vây quân thù đã thốt lên rằng: “Chim hồng hộc sở dĩ bay cao được là nhờ ở sáu trụ xương cánh cứng rắn”. Ngày nay, những cán bộ liêm chính, đức tài vẹn toàn được lựa chọn đảm nhiệm các trọng trách, sẽ là những trụ xương cánh cứng rắn để Đảng cầm quyền và bộ máy chính quyền vững mạnh, phục vụ nhân dân một cách hiệu quả, đưa đất nước tiến lên vững chắc trên con đường hội nhập và phát triển.
Thời cơ và thách thức nằm ngay trong chính chúng ta./.
Họ bài xích Đảng, với các mánh lới và
giọng điệu vừa tinh vi, vừa trắng trợn: 1- Đảng tự cho mình đứng trên tất cả,
nghị quyết của Đảng cao hơn và bất chấp Hiến pháp, chỉ cần Hiến pháp không cần
Đảng; 2- Độc đảng tất yếu sẽ là chế độ toàn trị, cần phải đa đảng mới hy vọng
có dân chủ, mới có chế độ dân chủ; 3- Cần lập các trường phái trong Đảng mới
thực sự dân chủ, nếu Đảng muốn xây dựng nền dân chủ đích thực của đất nước; 4-
Đảng tự cho mình quyền lãnh đạo đất nước, xưa nay có Đảng đâu mà dân tộc vẫn
tồn tại và phát triển; 5- Đa thành phần kinh tế nhất định sẽ dẫn tới đa đảng
chính trị; 6- Cần “phi chính trị hóa” và tôn trọng tính độc lập của các lực
lượng vũ trang, không cần sự lãnh đạo của Đảng; 7- Giai cấp công nhân đã hết
vai trò, tới lượt và chỉ có trí thức mới là lực lượng dẫn dắt xã hội thay vì
giai cấp công nhân, trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; 7- Đảng Cộng
sản Việt Nam cầm quyền phi chính đáng, phi chính danh...v.v. và v.v.. Vô vàn
các giọng điệu hằn học, bôi nhọ, phủ nhận, xuyên tạc bất chấp mọi lý lẽ thông
thường. Với những luận điệu trên chúng ta cần kịch liệt lên án, tích cực đấu
tranh, phủ nhận những quan điểm trên
Đây là
“tử huyệt” mà các luận điệu thù địch tập trung sức công phá, ở nhiều mức độ:
nhẹ thì tung hỏa mù, đánh lạc hướng, gây nên tình trạng nghi ngờ, mất phương
hướng hành động; nặng thì không từ mọi chiêu bài, thủ đoạn nhằm phủ nhận tính
cách mạng, cơ sở khoa học và bôi nhọ thực tiễn lịch sử cách mạng nhằm xuyên tạc
và phủ nhận đường lối chính trị của Đảng. Trong rất nhiều phương diện
chung quanh vấn đề này, xin nhấn mạnh mấy loại luận điệu tập trung công kích
trụ cột đường lối chính trị và thể chế chính trị Việt Nam: 1- Bài xích, phủ
nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, 2- Cổ xúy đa nguyên chính
trị, đòi “tam quyền phân lập”, vu khống chế độ toàn trị, dựng lên và thổi phồng
“lỗi hệ thống”... nhằm xóa bỏ thể chế hiện tồn, 3- Tán dương và cái gọi là
“khuyến nghị” thực thi phát triển “xã hội dân sự”; 4- Lợi dụng việc sửa đổi
Hiến pháp và các luật nhằm làm sai lệch những vấn đề cơ bản nhất về chế độ sở
hữu, về quyền con người, quyền dân tộc,...
Chuyển hóa đường lối chính trị, thông qua việc chia rẽ, mua chuộc đội ngũ các
nhà chính trị hoạch định đường lối, và là con đường ngắn nhất chuyển hóa chế
độ. Lợi dụng “lợi ích nhóm” và các “nhóm lợi ích”, họ tán dương và dùng mọi
giọng điệu để bôi nhọ, khoét sâu những vấn đề này nhằm phân hóa từ trong nội bộ
Đảng, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, phá nát chiến lược cán bộ, tạo sự
gây hấn, phân hóa giữa các loại cán bộ trong hệ thống chính trị của chúng
ta.
Với đủ giọng điệu nhiều cung bậc, họ
phê phán, công kích trực diện vào chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lê-nin... hòng làm
phân tâm, gây hoài nghi trong những người hoạch định chiến lược, bôi nhọ và
cuối cùng đánh sập nền tảng chính trị và cơ sở tư tưởng của đường lối chính trị
của Đảng. Đây là thủ đoạn hết sức thâm độc và có sức công phá lớn, nhằm thẳng
vào nền tảng chính trị tư tưởng của Đảng và tác họa khôn lường, nhằm lật đổ
Đảng từ những vấn đề căn bản, có ý nghĩa cốt tử. Chung quanh vấn này, nổi bật
mấy loại chủ yếu: Tiếp tục công kích vào các loại vấn đề cơ bản thuộc hình thái
kinh tế - xã hội, phương thức sản xuất, động lực phát triển xã hội, vai trò và
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, phương pháp tư duy và phương pháp cách
mạng,... Thủ đoạn mới là, họ chuyển từ sự bôi nhọ cái gọi là “du nhập ngoại
lại” sang đánh tráo khái niệm, thay thế các khái niệm... nhằm cổ xúy cho cái
gọi là “đảo lộn” tư duy, gây rối loạn về phương pháp luận. Thổi phồng những cái
gọi là “chủ thuyết phát triển nhân loại mới”, đem đối lập C. Mác với V.I.
Lê-nin; đối lập Hồ Chí Minh với V.I. Lê-nin, thổi phồng một cách cực đoan tư
tưởng Hồ Chí Minh,... cốt phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vô hình hạ bệ tư
tưởng Hồ Chí Minh, rốt cuộc nhằm phủ nhận, công phá và đánh sập nền tảng chính
trị tư tưởng của Đảng.
Và, họ đánh lừa được không ít người. Có không ít loại ý kiến theo đuôi và phụ
họa của những người non kém về chính trị, bạc nhược về tư tưởng.
Văn kiện đại hội XII khẳng định: “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các
thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái,
.... bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững
chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ
vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước”. Đấu
tranh bảo vệ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến
tranh, quân đội, bảo vệ
tổ quốc. Bảo vệ thế giới quan, phương pháp luận cách mạng, khoa học về chiến
tranh, quân đội. Bảo vệ hệ thống khái niệm, nguyên lý, quy luật, phạm trù về
chiến tranh, quân đội. Bảo vệ kết quả vận dụng, phát triển lý luận chủ nghĩa
Mác - Lênin về chiến tranh, quân đội, bảo vệ tổ quốc trong cách mạng Việt Nam. Bảo vệ tư
tưởng tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội, bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đấu tranh bảo
vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động
của các tổ chức chính trị- xã hội về quốc phòng, quân sự và bảo vệ tổ quốc. Bảo vệ đường
lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về mục tiêu, lực
lượng, phương thức bảo
vệ tổ quốc.. Bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước về xây dựng nền quốc phòng toàn dân.Tập trung bảo vệ
quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng
tiềm lực quốc phòng, xây
dựng lực lượng quốc
phòng, xây dựng thế trận quốc
phòng, lãnh đạo và quản lý quốc phòng. Bảo vệ quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước về xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân. Bảo vệ chính sách Quốc phòng. Bảo vệ tổ chức
và hoạt động của các tổ chức chính trị- xã hội, quyền làm chủ của Nhân dân về quốc phòng, quân sự. Xây
dựng "thế trận lòng dân" vững chắc. Đấu tranh chống suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; "tự diễn biến", "tự chuyển
hóa" trong nội bộ ta.
Thứ nhất:
Khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể, phát triển, thực tiễn;
Thứ hai:
Kiên định về nguyên tắc lý luận chính tri, tư tưởng, đồng thời linh hoạt, sáng
tạo trong tư tưởng, quan điểm cụ thể.
Thứ ba: Bình tĩnh, thận trọng, vững chắc; kết hợp chặt chẽ giữa giáo
dục, thuyết phục, phòng ngừa, phê phán với kiên quyết đấu tranh với quan điểm
sai trái, phản diện
Thứ tư: Sát thực tế nhiệm vụ chính trị, phát huy sức mạnh tổng hợp,
chủ động, sáng tạo, linh loạt trong các hình thức, biện pháp và phương thức đấu
tranh.
Nền kinh tế số của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực Đông Nam Á, với tổng giá trị hàng hóa (GMV) tăng 28%, từ 18 tỷ USD trong năm 2021 lên 23 tỷ USD năm 2022, nhờ sự tăng trưởng 26% của thương mại điện tử năm 2022 so với cùng kỳ năm 2021(1). Tuy nhiên, Việt Nam đã và đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức trong quá trình phát triển kinh tế số, như môi trường thể chế và pháp lý cho phát triển kinh tế số chưa đồng bộ, minh bạch và mang tính kiến tạo; việc xây dựng cơ sở dữ liệu và kết nối dữ liệu còn manh mún, thiếu sự kết nối liên thông; nguồn nhân lực công nghệ - thông tin chưa đáp ứng yêu cầu; việc bảo đảm an ninh mạng, bảo mật, an toàn thông tin chưa tốt... Việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế để góp phần tìm kiếm giải pháp khắc phục những hạn chế trên có ý nghĩa quan trọng trong phát triển nền kinh tế số của Việt Nam thời gian tới.
Kinh nghiệm phát triển kinh tế số của một số quốc gia
Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức
Đức là quốc gia triển khai phát triển nền kinh tế số bằng chiến lược tổng thể, bài bản ở cả cấp độ quốc gia, ngành và doanh nghiệp. Đức đã thành lập Phòng Công nghiệp 4.0 ở Bộ Kinh tế và Năng lượng, chịu trách nhiệm tham mưu và tổ chức triển khai chuyển đổi số, phát triển kinh tế số trong toàn quốc; thiết lập các tổ công tác đặc trách, như: tổ về xây dựng tiêu chuẩn, tổ về đào tạo - việc làm, tổ về an ninh mạng, tổ về xây dựng mô hình... để quản lý, điều hành từng lĩnh vực cụ thể.Chính phủ Đức cũng đề ra chiến lược phát triển kinh tế số tập trung vào một số lĩnh vực: 1- Ứng dụng kỹ thuật số trong các ngành công nghiệp mới, như: robot thế hệ mới, phương tiện thông minh (xe tự lái, tàu điện tự lái, tàu ngầm tự lái, máy bay tự lái...), vật liệu thông minh, năng lượng thông minh.2- Chuyển đổi mô hình đào tạo nhân lực theo hướng đề cao tính linh hoạt, tính mở, tính tự chủ của các cơ sở đào tạo dựa trên đối thoại giữa nhà trường với doanh nghiệp nhằm thích ứng với sự thay đổi của cơ cấu ngành nghề trong nền kinh tế số và tập trung đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật các kỹ năng số cho người lao động thông qua nhiều hình thức khác nhau. 3- Phát triển hệ thống sản xuất thông minh, nhà máy thông minh bằng cách sử dụng IoT và công nghệ sản xuất tự động. Trong hệ thống sản xuất thông minh của Đức, các nhà máy thông minh, các hàng hóa, dịch vụ bên trong, bên ngoài nhà máy, các khâu của quá trình sản xuất như các chuỗi giá trị sản phẩm, thiết kế cơ sở sản xuất, sản xuất, bảo trì… được tiêu chuẩn hóa và liên kết với nhau. Với sự liên kết này, cả khu vực sản xuất của Đức sẽ hoạt động như một nhà máy thông minh lớn (2).
Chính phủ Đức đề ra chiến lược phát triển kinh tế số tập trung vào một số lĩnh vực như phát triển hệ thống sản xuất thông minh bằng cách sử dụng IoT và công nghệ sản xuất tự động_Nguồn: shutterstock.com
Kinh nghiệm của Estonia
Một biện pháp quan trọng mà Estonia áp dụng thành công trong phát triển kinh tế số là “Hạ tầng băng thông rộng của Estonia - Dự án Network” (EstWin), do Bộ Kinh tế Estonia khởi động vào năm 2009 với mục đích cung cấp 6.600km cáp quang ở các vùng nông thôn và các khu có ít hơn 10.000 dân. Đến năm 2020, 98% số hộ gia đình, doanh nghiệp và tổ chức không được cách Estwin quá 1,5km và tất cả các nút mạng hiện có đều được kết nối với hệ thống mạng lõi. 85% số chi phí của Estwin được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khu vực châu Âu (ERDF), trong khi phần còn lại 15% số chi phí xây dựng mạng được đồng tài trợ bởi các nhà khai thác mạng hỗ trợ. Cùng với đó, Estonia còn có những chương trình, như Chương trình Nghị sự kỹ thuật số 2020 cho Estonia (Digital Agenda 2020 for Estonia), Chiến lược học tập suốt đời của Estonia năm 2020 (Estonian Lifelong Learning Strategy 2020) đã tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế số và chuyển đổi số của Estonia. Chính phủ Estonia đã thực hiện chương trình sử dụng thẻ điện tử nhằm hỗ trợ cho người dân, tạo kết cấu hạ tầng thông tin kỹ thuật số X-road, từ đó người dân có thể truy cập bằng E-ID của họ. Hằng năm, các dữ liệu dân cư được cho phép thêm vào bởi các thiết lập mở. Hệ thống thông tin được cung cấp đầy đủ, như bảo hiểm, đăng ký xe, căn cước..., cho phép người dân sử dụng các dịch vụ, như: bỏ phiếu điện tử, thuế trực tuyến, y tế trực tuyến..., giúp tiết kiệm thời gian, tiền bạc thay vì đăng ký và kê khai các dịch vụ trên giấy. Ngoài ra, Estonia luôn chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Năm 1995, ý tưởng “Bước nhảy của hổ” đã mang lại sự phát triển về giáo dục cho Estonia. Năm 2018, nhân lực của Estonia đứng thứ 10, hoạt động tốt hơn mức trung bình của EU. Các chương trình “The Digital Agenda 2020 for Estonia”, “Estonian Lifelong Learning Strategy 2020” của Estonia đã mang lại hiệu quả rất lớn trong việc phổ cập kỹ năng số cho người dân với chiến lược học tập suốt đời là: “Tập trung kỹ thuật số vào học tập suốt đời” là ưu tiên hàng đầu vì chúng là tiền đề của thị trường lao động toàn diện, cải thiện năng suất, tăng trưởng kinh tế bền vững.
Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản đã áp dụng thành công chiến lược đầu tư nhằm tăng năng suất của nền kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh phát triển kinh tế số. Chiến lược này tập trung vào các nội dung: Tái cơ cấu các ngành kinh tế và việc làm để thích ứng với kinh tế số, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; bảo đảm hạ tầng an ninh thông tin để tăng cường an ninh mạng; thúc đẩy việc sử dụng công nghệ thông tin trong các ngành, lĩnh vực kinh tế. Để xây dựng, thực hiện mục tiêu trở thành quốc gia công nghệ thông tin tiên tiến nhất thế giới, Nhật Bản xác định công nghệ thông tin là trụ cột của chiến lược tăng trưởng, là giải pháp giúp vượt qua tình trạng trì trệ và thúc đẩy phục hồi kinh tế. Tiếp đến là chiến lược về an ninh mạng, trong đó, tập trung vào ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực để tăng cường khả năng phát hiện, chống lại các cuộc tấn công mạng. Chiến lược này nhằm tăng cường việc bảo đảm an ninh mạng, an ninh thông tin cho nền kinh tế Nhật Bản thông qua việc phát triển các hệ thống IoT an toàn, tạo ra một xã hội an toàn cho người dân.
Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trong định hướng chính sách phát triển kinh tế số, Trung Quốc thực hiện việc bảo hộ thị trường công nghệ số trong nước để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước phát triển, khẳng định vị thế độc quyền. Các doanh nghiệp trong nước được hỗ trợ để chiếm lĩnh thị trường công nghệ số trong nước trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Trung Quốc có chính sách hỗ trợ, đầu tư phát triển mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực, ngành công nghệ số. Hiện nay, Trung Quốc nằm trong top ba thế giới về đầu tư vốn mạo hiểm vào các loại công nghệ kỹ thuật số quan trọng, bao gồm thực tế ảo, xe tự hành, in 3-D, robot, máy bay không người lái và trí tuệ nhân tạo (AI)... Về chính sách quy hoạch, định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực công nghệ số, trước hết, Trung Quốc tập trung vào những lĩnh vực công nghệ số đòi hỏi công nghệ vừa phải, như thương mại điện tử, sau đó mới tiến tới phát triển những lĩnh vực công nghệ số khó hơn, như trí tuệ nhân tạo, robot,...
Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc cũng tạo điều kiện và không gian để các doanh nghiệp số thử nghiệm, đồng thời vừa là nhà đầu tư, vừa là người tiêu dùng các công nghệ số khi chú trọng việc phát triển, chuyển đổi các phương thức, giao dịch trong nền kinh tế sang sử dụng công nghệ số, tập trung vào việc phát triển chính phủ điện tử, ngân hàng điện tử, giao dịch điển tử và thương mại điện tử. Ngay từ năm 2010, Trung Quốc đã chủ trương thành lập chính phủ điện tử bằng việc phát triển chữ ký điện tử, yêu cầu các cơ quan nhà nước ở trung ương, địa phương phải thiết lập trang web riêng, cung cấp nhiều dịch vụ trực tuyến tạo thuận lợi cho công việc và đời sống của người dân. Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt đang dần được thay thế bằng các phương thức thanh toán điện tử hiện đại như quét mã QR, thanh toán bằng ví điện tử. Đến nay, hai ứng dụng thanh toán điện tử phổ biến nhất hằng ngày tại Trung Quốc là WeChat Pay (Tenpay) của Tencent và Alipay của Alibaba thông qua điện thoại di động và đòi hỏi người dùng phải đăng ký bằng tên thật, kết nối với tài khoản ngân hàng (3).
Kinh nghiệm của Malaysia
Malaysia là quốc gia đầu tiên của Đông Nam Á ban hành và thông qua Luật Bảo vệ dữ liệu (Data Protection Act). Chính phủ Malaysia cũng đề ra một số kế hoạch và dự án nhằm nâng cao hạ tầng kinh tế số của quốc gia này, như: dự án High Speed Broadband (HSBB) giai đoạn 2020 - 2025; Sub - Urban Broadband (SUBB) giai đoạn 2015 - 2020; Rural Broadband (RBB) năm 2020. Theo đó, Dự án HSBB 1 đã cung cấp hơn 1 triệu cổng kết nối với tốc độ 10Mb/s; dự án HSBB 2 cung cấp 390.000 cổng mới cho các thủ phủ của tiểu bang, thị trấn và các khu vực tăng trưởng cao sử dụng FTTH, ETTH và VDSL lên đến 100Mbps; dự án RBB mở rộng dịch vụ băng thông rộng tại nông thôn; dự án SUBB cung cấp 420.000 cổng mới từ 421 sàn giao dịch và nâng cấp các đường dây đồng hiện có cung cấp băng thông rộng ở các vùng ngoại ô và nông thôn bên ngoài khu vực HSBB và HSBB2 với tốc độ 20Mbps.
Chương trình: “MSC Malaysia” (MSC) với mục tiêu hỗ trợ công ty công nghệ địa phương phát triển, thu hút vốn trong và ngoài nước đã mang lại thành quả rõ rệt. Chương trình “Doanh nhân công nghệ Malaysia” (MTEP - Malaysia Tech Entrepreneur Programme) là chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khá rõ nét của Malaysia. Điều đặc biệt của chương trình này là hỗ trợ các thành viên, các doanh nghiệp tham gia được hưởng những ưu đãi về thuế, cụ thể: 70%- 100% số thuế thu nhập của doanh nghiệp sẽ được cắt giảm trong vòng 5 - 10 năm nếu tuân thủ đầy đủ những điều kiện mà chương trình đưa ra. Ngoài ra, MSC còn thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế số thông qua những tiện ích nhằm hội tụ không chỉ các doanh nghiệp mà cả những sinh viên, học viên và các chuyên gia trong lĩnh vực thành những khối gắn với mục tiêu khuyến khích sự chia sẻ nguồn lực, hợp tác và tiếp cận các phương pháp hiệu quả.
Bên cạnh đó, Malaysia xây dựng “Chương trình Doanh nhân Công nghệ Malaysia” (MTEP - Malaysia Tech Entrepreneur Programme) nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. MTEP có thể trao cơ hội cho những doanh nhân mong muốn xây dựng các dự án kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ bằng cách cấp thị thực 1 năm đối với người chưa có kinh nghiệm điều hành doanh nghiệp và 5 năm cho những người đã có kinh nghiệm. Trong kế hoạch tổng thể về kinh tế số, Malaysia nhấn mạnh vào phát triển thương mại điện tử bởi vì Malaysia xác định đó là hướng phát triển phù hợp trong bối cảnh các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP) đi vào thực hiện. Cùng với phát triển thương mại điện tử, Malaysia cũng thúc đẩy mạnh việc chuyển đổi số trong lĩnh vực dịch vụ công. Quốc gia này thành lập Bộ phận quản lý và hiện đại hóa hành chính Malaysia (MAMPU) trực thuộc Văn phòng Thủ tướng để chuyển đổi hoạt động cung cấp dịch vụ công thông qua đẩy nhanh việc áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông. Mục tiêu chính của MAMPU là phát triển dữ liệu số, đám mây và an ninh mạng trong việc cung cấp các dịch vụ công.
Malaysia có các chương trình bồi dưỡng nguồn nhân lực kỹ thuật số, như eUshawan với số lượng người tham gia trong các năm 2020, 2021 và 2022 lần lượt là 3.108; 51.203 và 102.269 người. Đây là chương trình đào tạo với mục đích truyền tải những giá trị, kiến thức về kinh doanh kỹ thuật số đến những người kinh doanh trẻ ở khu vực nông thôn, giúp họ ứng dụng kỹ năng về truyền thông, quảng cáo để tăng doanh số bán hàng và cải thiện thu nhập. Đồng thời, với nền tảng “eRezeki”, Chính phủ Malaysia cũng tạo nhiều cơ hội việc làm cho người dân Malaysia, từ những người thợ sửa ống nước đến những người phụ nữ nội trợ. Thông qua đây, họ có thể đăng ký để trở thành những công nhân kỹ thuật số, làm những nhiệm vụ dựa trên các kỹ năng kỹ thuật số đơn giản và kiếm thêm thu nhập mà không phải ra khỏi nhà(4).
Hàm ý chính sách cho Việt Nam
Xu hướng phát triển kinh tế số đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Những năm gần đây, các hoạt động kinh tế số đã có sự tăng trưởng nhanh chóng và được Chính phủ quan tâm, ưu tiên phát triển. Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019, của Bộ Chính trị, về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đề ra mục tiêu đến năm 2025, kinh tế số chiếm tỷ lệ 20% GDP. Quyết định số 505/QĐ-TTg, ngày 22-4-2022, của Thủ tướng Chính phủ, lấy ngày 10-10 hằng năm là Ngày Chuyển đổi số quốc gia. Theo đó, Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, mở rộng.
Thanh niên bán hàng trực tuyến các sản phẩm OCOP tại Diễn đàn Chuyển đổi số trong truyền thông quảng bá sản phẩm OCOP của thanh niên với nội dung "Khai thác tiềm năng kinh tế số trong xúc tiến quảng bá sản phẩm OCOP"_Ảnh: TTXVN
Chương trình Chuyển đổi số quốc gia nhằm mục tiêu kép là vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu, với một số chỉ số cơ bản cụ thể, như: Chuyển đổi Số Quốc gia (NCSI – National Digitalization Score): Đây là một chỉ số kết hợp bao gồm: Đo lường mức độ phát triển của chuyển đổi số ở một quốc gia dựa trên các chỉ số con, như: hạ tầng kỹ thuật, môi trường kinh doanh và sự tham gia của người dân. Chuyển đổi Kỹ thuật số (DCI – Digital Readiness Index): Đánh giá khả năng của một quốc gia thích nghi với cuộc cách mạng số hóa. Nó tập trung vào yếu tố hạ tầng kỹ thuật số, sự thúc đẩy và môi trường kinh doanh. Phát triển Kỹ thuật số Thế giới (GDI – Global Digital Development Index): Chỉ số này đo lường mức độ phát triển kỹ thuật số ở các quốc gia dựa trên các yếu tố kỹ thuật số, kinh tế số và xã hội số. Kết nối toàn cầu (GCI – Global Connectivity Index): Chỉ số này tập trung vào mức độ kết nối mạng và hạ tầng kỹ thuật số của các quốc gia. Đổi mới kỹ thuật số (DMI – Digital Maturity Index): Đánh giá mức độ phát triển kỹ thuật số dựa trên khả năng vận dụng và thích nghi với các công nghệ số hóa trong nhiều lĩnh vực kinh tế và xã hội. Các chỉ số này giúp cung cấp cho cơ quan nhà nước và Chính phủ cái nhìn tổng quan về tình hình chuyển đổi số ở quốc gia và thúc đẩy sự cải thiện trong các lĩnh vực liên quan đến cuộc cách mạng số hóa.
Từ việc phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia châu Âu (Đức, Estonia), châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia) về phát triển kinh tế số (chiến lược, chính sách) trên đây, một số hàm ý chính sách có thể áp dụng cho Việt Nam trong giai đoạn 2023 - 2030 nhằm phát triển kinh tế số.
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách về phát triển kinh tế số
Việt Nam cần chú trọng trước hết đến việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm tạo khuôn khổ cho phát triển kinh tế số trên địa bàn tỉnh, thành. Việc hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển kinh tế số giúp các địa phương nâng cao năng lực thu hút đầu tư công nghệ số trong các lĩnh vực đầu tư mạo hiểm theo hướng tạo thuận lợi tối đa cho các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, mua, bán, sáp nhập doanh nghiệp công nghệ số. Điều này bao gồm cả các chính sách tác động thuận lợi tới môi trường kinh tế kỹ thuật số, cũng như các chính sách thúc đẩy tiếp cận kết cấu hạ tầng và dịch vụ kỹ thuật số với chi phí hợp lý. Cải cách chính sách thuế và quy định sẽ giúp thu hút đầu tư vào nền kinh tế kỹ thuật số, hỗ trợ quá trình chuyển đổi ngành do kết quả của các mô hình kinh doanh mới.
Song song với hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển kinh tế số, Việt Nam cần xây dựng các kế hoạch, hướng dẫn rất cụ thể về chuyển đổi số cho các doanh nghiệp; các kế hoạch này cần gắn liền với các nguồn tài chính, kinh phí hằng năm để nhằm tạo sự thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận với kinh tế số.
Thứ hai, xác định rõ ngành, lĩnh vực đột phá để phát triển kinh tế số
Việt Nam cần căn cứ vào thế mạnh và đặc điểm của từng địa phương để xác định rõ những ngành, lĩnh vực đột phá để phát triển kinh tế số. Trước mắt, các tỉnh, thành phố nên tập trung phát triển các lĩnh vực kinh tế số giúp mở rộng thị trường, thúc đẩy tiêu dùng vì những lĩnh vực này giúp các địa phương tận dụng được những cơ hội của hội nhập quốc tế, đặc biệt là những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đã ký kết (CPTPP, EVFTA, EVIPA) nhưng cũng không đòi hỏi trình độ công nghệ cao. Đồng thời, các tỉnh, thành phố nên phát triển những lĩnh vực nền tảng của kinh tế số, như hạ tầng số, tài nguyên số, dịch vụ số, thị trường số và có kế hoạch, chiến lược bài bản để tiếp cận, làm chủ những công nghệ quan trọng, cốt lõi của kinh tế số thông qua các chính sách hỗ trợ và trong hợp tác, thu hút đầu tư nước ngoài.
Thứ ba, tuyên truyền nâng cao nhận thức toàn xã hội về nền kinh tế số
Việt Nam cần chú trọng hoạt động tuyên truyền nhằm tăng cường nhận thức của người dân và doanh nghiệp về kinh tế số, các lợi ích và thách thức đi kèm, với các nội dung cụ thể theo từng ngành, lĩnh vực, đặc biệt thông qua các cơ quan, doanh nghiệp và trường học. Đồng thời, các cơ quan báo chí, truyền thông cần định hướng dư luận, giúp cho các doanh nghiệp, người dân và toàn xã hội có nhận thức đúng về nền kinh tế số, qua đó có sự chuẩn bị tốt nhất cho thích ứng xu hướng phát triển trên. Biện pháp này cũng đồng thời giúp tăng cường trách nhiệm của Chính phủ, doanh nghiệp và người dân trong xây dựng kinh tế số.
Thứ tư, chú trọng phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế số
Vấn đề này đã được các quốc gia phát triển chú trọng từ lâu, nhưng đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế số vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Do đó, Việt Nam cần dành nhiều nguồn lực hơn cho phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế số. Trong đó, nên tập trung phát triển, thu hút các chuyên gia về công nghệ số, các doanh nhân số thông qua các chính sách phù hợp. Đồng thời, cần định hướng phát triển giáo dục - đào tạo ở địa phương gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, sản xuất thông minh của nền kinh tế tri thức; đổi mới, hiện đại hóa chương trình đào tạo đại học, đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh, thành phố, chuyển mạnh từ đào tạo theo khả năng sang đào tạo theo nhu cầu xã hội.
Thứ năm, tập trung đầu tư cơ sở vật chất trong quá trình phát triển kinh tế số
Cơ sở vật chất là nền tảng của quá trình phát triển kinh tế số. Do đó, Việt Nam cần quan tâm hơn nữa đến việc đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, kỹ thuật theo hướng làm chủ công nghệ lõi. Trung ương cần phối hợp với tỉnh, thành phố nhằm phát triển hạ tầng số quốc gia đồng bộ, rộng khắp bảo đảm đáp ứng yêu cầu kết nối, lưu trữ, xử lý dữ liệu, thông tin và các chức năng về giám sát, bảo đảm an ninh, an toàn mạng. Trong đó, cần tiếp tục đẩy mạnh hoạt động xây dựng, phát triển hạ tầng băng thông rộng chất lượng cao. Nâng cấp mạng di động 4G, phát triển mạng di động 5G để có thể theo kịp xu hướng thế giới. Bảo đảm mọi tổ chức, cá nhân dễ dàng tiếp cận với internet tốc độ cao. Chiến lược cung cấp kết nối phải bao trùm nhất có thể, phổ cập internet cáp quang băng thông rộng tốc độ cao tới mỗi hộ gia đình, phổ cập dịch vụ điện toán đám mây tới mỗi cơ quan, doanh nghiệp, phổ cập công nghệ 4G, 5G tới mỗi người dân. Để có đủ nguồn lực cho phát triển kết cấu hạ tầng số, cần khuyến khích mọi thành phần kinh tế có đủ năng lực tham gia đầu tư nhưng có cân nhắc với các phạm vi nhạy cảm liên quan đến an ninh quốc gia(5).
Cần nhanh chóng nâng cấp và hoàn thiện nền tảng số phục vụ việc đơn giản hoá thủ tục hành chính. Người dân, doanh nghiệp có thể sử dụng dịch vụ số để làm các thủ tục trực tuyến một cách thuận tiện, nhanh chóng, không cần sự hiện diện nếu pháp luật không yêu cầu. Xây dựng chính quyền điện tử sẽ giúp tăng hiệu quả dịch vụ công, đồng thời mở rộng thị trường cho sự phát triển của ngành dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông. Ngoài ra, cần chú trọng vấn đề bảo đảm an ninh mạng và hoạt động mạng bằng cách gia tăng số lượng máy chủ an toàn và phát triển khả năng bảo mật không gian mạng để giám sát các mối đe dọa trực tuyến. Các địa phương cần tăng cường hợp tác quốc tế về các luồng dữ liệu, bảo mật, giảm các rào cản đối với thương mại trực tuyến trong và ngoài nước cũng như các quyền và sự đòi hỏi của công dân liên quan đến quyền riêng tư và lưu trữ dữ liệu./.
Huy động mọi lực lượng, mọi cấp, mọi ngành tham gia vào đấu
tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên
lĩnh vực chính trị, tư tưởng đê tạo nên sức mạnh tổng hợp hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đấu
tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên
lĩnh vực chính trị, tư tưởng.Gắn kết chặt chẽ các hoạt động, các
lực lượng tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn nhất trongđấu
tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.Phát huy vai trò làm nòng cốt vững chắc của lực lượng vũ trang, Quân đội, công
an nhân dân trong đấu tranh quốc phòngbảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực
chính trị, tư tưởng.Đấu
tranh quốc phòngbảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng
phải gắn chặt với đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại
giao... về mục tiêu, lực lượng, phương thức, chương trình, kế hoạch..Bảo đảm thống
nhất về lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện.Bảo đảm phát huy vai trò năng động,
sáng tạo, thế mạnh của mỗi lĩnh vực.Không chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ của mỗi lĩnh vực.
“Đại bác của bọn đế quốc không thể át tiếng nói yêu nước của nhân dân Việt Nam”!
Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay, viết vào tháng 1-1959, trong bối cảnh đất nước Việt Nam bị đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai dùng bom đạn để đàn áp, giết hại nhân dân Việt Nam, Người chỉ rõ: Bọn vua quan và phong kiến đê tiện và hèn nhát đầu hàng và cấu kết với bọn đế quốc để tiếp tục nô dịch nhân dân Việt Nam nhiều hơn, khiến nhân dân Việt Nam khổ cực không kể xiết. Nhưng đại bác của bọn đế quốc không thể át tiếng nói yêu nước của nhân dân Việt Nam. Trong suốt gần một thế kỷ thống trị của thực dân Pháp, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ trước ngã, người sau đứng dậy”.
Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một sự khẳng định truyền thống yêu nước của dân tộc, ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin, Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 là cơ sở để Đảng ta hoạch định đúng đắn đường lối, chủ trương cách mạng - nhân tố quyết định đến những thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Lời của Người đầu năm 1959 đã khích lệ, cố vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phát huy truyền thống yêu nước, vượt qua khó khăn, thử thách, đoàn kết đồng khởi, quyết tâm đấu tranh diệt ác, trừ gian, phá thế kìm kẹp, giành chính quyền, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công mạnh mẽ, hình thành một cao trào cách mạng đồng khởi vũ trang của quần chúng rộng khắp, tạo tiền đề đẩy nhanh thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; song lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào năm ấy đến hôm nay vẫn đang lan tỏa sức mạnh, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phát huy truyền thống yêu nước, kiên quyết, kiên trì, sáng tạo đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực phản động, thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng nòng cốt cùng toàn dân thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, luôn ghi sâu lời Bác, kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, gắn bó máu thịt với nhân dân, làm cho quân đội ta luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới./.
Để làm tốt nhiệm
vụ tuyên truyền, giáo dục công nhân trong điều kiện hiện nay, phải bồi dưỡng,
đào tạo được một đội ngũ những người làm công tác giáo dục có tài năng, hùng
biện, hiểu biết sâu rộng về lý luận và thực tiễn, về công nhân và phong trào
công nhân. Nhưng điều quan trọng hơn, có ý nghĩa quyết định là phải bằng những
việc làm thực tế của Đảng và Nhà nước mang lại quyền lợi thiết thực về vật chất
và tinh thần cho công nhân, chứng tỏ trên thực tế tính ưu của chủ nghĩa xã hội
hiện thực ở Việt Nam về mọi phương diện trong việc chăm lo đến cuộc sống hằng
ngày của công nhân và quần chúng lao động. Công tác giáo dục sẽ không có hiệu
quả khi mà cuộc sống hằng ngày của quần chúng lao động vẫn còn nhiều khó khăn,
tiêu cực; tham nhũng hoành hành; bất công xã hội ngày càng nhiều; an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội không được bảo đảm, một bộ phận không nhỏ cán bộ,
đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, thoái hoá, biến chất, sống xa dân,
hư hỏng về đạo đức, lối sống, ...