Thứ Ba, 2 tháng 1, 2024

Phát huy dân chủ trong xây dựng giai cấp công nhân

 


Thực hiện trong cuộc sống quyền làm chủ thực sự của công nhân, thực hiện dân chủ, công khai, công bằng xã hội; đấu tranh khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi trong bộ máy Đảng và Nhà nước, trong các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, trọng tâm là các doanh nghiệp thuộc khu vực Nhà nước quản lý. Dân chủ và công bằng xã hội là bản chất ưu việt của Chủ nghĩa xã hội, là động lực tinh thần khuyến khích mọi người lao động sáng tạo xây dựng cuộc sống mới. Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội.Có đấu tranh thực hiện dân chủ và công bằng xã hội, khắc phục tệ nạn quan liêu, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi thì mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với giai cấp công nhân mới được củng cố, tăng cường, củng cố và nâng cao lòng tin của giai cấp công nhân với Đảng và Nhà nước, bảo đảm cho công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội đi đến thắng lợi. Phải tạo điều kiện để nâng cao trình độ cho công nhân một cách toàn diện: trình độ chính trị, nghề nghiệp, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, kiến thức quản lý kinh tế, tổ chức sản xuất, hiểu biết về kinh doanh.

Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công nhân

 

  

 

 

 

 

 

Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công nhân; khẩn trương giải quyết có hiệu quả vấn đề việc làm, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần - văn hoá, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân, NLĐ; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân. Đảng, Nhà nước cần tập trung từng bước giải quyết những vấn đề bức xúc đang đặt ra đối với giai cấp công nhân thông qua việc hoàn thiện các chính sách xã hội, quan tâm đúng mức, giải quyết thỏa đáng các lợi ích chính đáng, hợp pháp của công nhân, bảo đảm hài hoà lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần - văn hoá, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích doanh nghiệp và lợi ích toàn xã hội. Chú trọng kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện các chính sách bảo đảm an sinh xã hội với các chính sách khuyến khích xã hội để hai chính sách này tác động, bổ sung cho nhau tạo động lực mạnh mẽ khuyến khích mọi người, mọi tập thể công nhân trong các thành phần kinh tế phát triển, từng bước phục hồi truyền thống gia đình công nhân nhiều đời và đào tạo thế hệ công nhân hiện đại. Xây dựng chiến lược quốc gia về xây dựng, phát triển giai cấp công nhân gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; giải quyết hài hoà và có hiệu quả các mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá và chăm lo đời sống, nâng cao thể chất người Việt Nam nói chung, công nhân nói riêng.

Nâng cao chất lượng pháp luật trong xây dựng giai cấp công nhân

 


 Tổ chức thực hiện tốt pháp luật lao động. Đổi mới, hoàn thiện nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách, pháp luật. Kiên quyết xử lý nghiêm những vi phạm chính sách, pháp luật, nhất là chính sách, pháp luật liên quan đến quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công nhân, lập lại kỷ cương pháp luật, xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa, ổn định. Khẩn trương xây dựng, ban hành và thực hiện tốt Luật Kinh tế, Luật Cạnh tranh, Luật Phá sản, Luật về sức khỏe, Luật Giám đốc,… Thực hiện trong cuộc sống quyền làm chủ thực sự của công nhân, thực hiện dân chủ, công khai, công bằng xã hội; đấu tranh khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi trong bộ máy Đảng và Nhà nước, trong các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, trọng tâm là các doanh nghiệp thuộc khu vực Nhà nước quản lý.

Xây dựng, hoàn thiện chính sách nhà ở, phúc lợi xã hội

 


Xây dựng, hoàn thiện chính sách nhà ở, phúc lợi xã hội và chính sách khuyến khích đẩy mạnh đầu tư phát triển nhà ở cho công nhân, theo hướng: Nhà nước miễn giảm thuế đất cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân, các doanh nghiệp đầu tư xây nhà ở cho công nhân được phép tính vào giá trị đầu tư. Nhà nước và doanh nghiệp cùng góp vốn, huy động thêm vốn của công nhân để xây dựng nhà bán trả góp cho công nhân hoặc cho công nhân thuê. Đồng thời, nghiên cứu chính sách hỗ trợ về nhà ở cho những gia đình công nhân nghèo, chính sách xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng các thiết chế văn hoá ở các khu tập thể gia đình công nhân, bảo đảm cho công nhân có nơi ở ổn định, an toàn, có điều kiện thuận lợi khám chữa bệnh, có nhà trẻ, mẫu giáo, trường học thuận lợi cho con em công nhân. Triển khai thực hiện chính sách xã hội hoá quá trình xây dựng và hoàn thiện môi trường văn hoá - xã hội, xây dựng môi trường sống lành mạnh và đời sống văn hoá trong công nhân. Bảo đảm quyền lợi của công nhân trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài đầu tư, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. Quan tâm chăm sóc và thực hiện đúng chính sách đối với những công nhân đã về hưu, nghỉ mất sức.

Cải thiện điều kiện làm việc, cổ phần hóa cho công nhân hiện nay

 


Lãnh đạo hoàn thiện chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện nghiêm chính sách chăm lo, cải thiện điều kiện lao động cho công nhân, có biện pháp phòng, chống có hiệu quả tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, nhất là đối với nữ công nhân, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra an toàn lao động, bảo vệ môi trường sinh thái trong lao động công nghiệp. Giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo hộ lao động. Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, chăm sóc sức khỏe công nhân, nhất là đối với những công nhân làm việc nặng nhọc, trong môi trường độc hại. Thực hiện nghiêm chỉnh quy định về sử dụng nữ công nhân. Phát triển và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh ở các cơ sở y tế, ngành, nghề, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp... Hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế áp dụng đối với tất cả công nhân trong các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Tiếp tục hoàn thiện chính sách cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để số đông công nhân có cổ phần ở doanh nghiệp và có điều kiện, cơ hội phát huy dân chủ thực sự ở cơ quan, doanh nghiệp, bảo đảm quyền làm chủ trên thực tế của công nhân.

Giải quyết vấn đề việc làm cho giai cấp công nhân

 


 Tập trung giải quyết một cách cơ bản, có hiệu quả vấn đề việc làm, nâng cao đời sống, quyền dân chủ, làm chủ của công nhân và thực hiện công bằng xã hội, thực hiện tốt các chính sách Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động, cải thiện điều kiện làm việc, ăn, ở, vui chơi, giải trí và tăng cường chăm sóc sức khoẻ cho công nhân. Bảo đảm việc làm đầy đủ cho công nhân là một trong những mục tiêu hàng đầu của các giải pháp kinh tế cả trước mắt và lâu dài. Nó vừa là vấn đề kinh tế, vừa là vấn đề nhân văn - xã hội, đồng thời còn là vấn đề chính trị. Tiếp tục nghiên cứu bổ sung, cải cách, hoàn thiện chính sách tiền lương, nâng lương tối thiểu, xây dựng thang bảng lương và công tác tổ chức tiền lương trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế bảo đảm lương thực tế của công nhân đủ trang trải những nhu cầu thiết yếu, cơ bản của người công nhân và gia đình họ để tái sản xuất sức lao động, thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động và phân phối theo sự đóng góp của mỗi người, để nâng cao đời sống cho công nhân và gia đình họ.

Giải pháp nâng cao trình độ học vấn và trình độ nghề nghiệp chuyên môn, trí thức hoá đội ngũ công nhân phải được tiến hành với tốc độ nhanh hơn.

 

Giải pháp nâng cao trình độ học vấn và trình độ nghề nghiệp chuyên môn, trí thức hoá đội ngũ công nhân phải được tiến hành với tốc độ nhanh hơn. Bản thân giai cấp công nhân phải vươn lên làm chủ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới, tự mình trí thức hoá mình. Giải pháp trí thức hoá này không chỉ quan trọng đối với đội ngũ công nhân hiện có; mà còn quan trọng hơn rất nhiều đối với những người sắp gia nhập hàng ngũ công nhân trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong điều kiện của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, khoa học, kỹ thuật và công nghệ phát triển mạnh mẽ và thay đổi từng ngày thì việc trang bị tri thức và kỹ năng, việc đào tạo nghề kiểu cũ theo quy trình của những năm cuối thế kỷ XX tỏ ra không còn phù hợp. Một khi khoa học, kỹ thuật và công nghệ thay đổi nhanh thì cũng đòi hỏi người công nhân phải biết thay đổi và biết thích nghi nhanh. Khả năng thích nghi nhanh là đòi hỏi bắt buộc đối với công nhân trong điều kiện nền sản xuất hiện đại liên tục thay đổi quy trình công nghệ trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Nếu người công nhân không có tri thức vững vàng, không có phương pháp tư duy mềm dẻo thì sẽ là một trở ngại rất lớn trong việc tiếp cận các công nghệ mới, hiện đại, khó thích ứng với sự thay đổi nhanh của nghề nghiệp và yêu cầu của công việc mới, của nghề nghiệp mới.

Hệ thống chính sách, công tác hướng nghiệp cho giai cấp công nhân

 


Hệ thống chính sách, công tác hướng nghiệp ở phổ thông, các hoạt động văn hoá và nghệ thuật phải giúp cho thanh niên học sinh định hướng đúng đắn và hiểu rõ được ý nghĩa trọng đại của việc gia nhập đội ngũ công nhân. Ban hành chính sách huy động các cơ sở sản xuất thuộc tất cả các thành phần kinh tế đều phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đầu tư vào công tác đào tạo và bồi dưỡng công nhân - khâu quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất. Phải xã hội hoá công tác đào tạo, nâng cao trình độ học vấn và tay nghề cho công nhân, trí thức hoá đội ngũ công nhân. Các ngành, các địa phương, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải dành ngân sách và đóng góp vào quỹ dạy nghề, đào tạo công nhân; tổ chức tốt việc bổ túc văn hoá và đào tạo nghề trong phạm vi doanh nghiệp, công ty, cơ sở sản xuất… Đổi mới chương trình và hiện đại hoá công tác đào tạo của các trường và các trung tâm dạy nghề. Nâng cao chất lượng đào tạo, chuẩn bị cho học sinh trở thành những NLĐ sáng tạo ngay từ cấp học phổ thông. Có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho công nhân tự học tập nâng cao trình độ học vấn, tay nghề, trình độ ngoại ngữ và khả năng tiếp thị; khuyến khích những công nhân giỏi một nghề, biết nhiều nghề, thợ bậc cao, thợ giỏi, bằng những chế độ, quy định, chính sách cụ thể về vật chất và tinh thần. Nhanh chóng quy hoạch lại các trường dạy nghề, đào tạo công nhân theo chiến lược kinh tế - xã hội và cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý mới. Kế hoạch hoá dạy nghề một cách tổng hợp, đồng bộ nhằm thực hiện sự cân đối trong nội bộ hệ thống giáo dục cũng như giữa hệ thống đào tạo và hệ thống kinh tế, giữa đào tạo và sử dụng. Coi trọng và quan tâm hơn nữa đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các trường dạy nghề, chăm lo đời sống của cán bộ, giáo viên và học sinh trong các trường dạy nghề.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về đấu tranh về quốc phòng bảo vệ tổ quốc trên lĩnh tư tưởng, lý luận

 


Đây là giải pháp quan trọng, phản ánh khả năng, sức mạnh của nền quốc phòng Việt Nam trong nắm bắt, tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để góp phần nhân lên sức mạnh nội lực tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh bại kẻ thù. Xác định rõ, quán triệt và cụ thể hóa mục tiêu của hợp tác quốc tế về đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong thời kỳ mới tới các lực lượng tham gia đấu tranh quốc phòng, tới toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Xác định toàn diện, cụ thể và triển khai thực hiện thắng lợi các nội dung trong hợp tác quốc tế về đấu tranh quốc phòng; Đa dạng hóa các hình thức, phương pháp hợp tác về đấu tranh quốc phòng trong quan hệ đối ngoại; Phát huy cao độ nội lực, kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh nội lực với ngoại lực để thực hiện tốt nhiệm vụ đấu tranh quốc phòng. Căn cứ vào mục tiêu hội nhập quốc tế, mục tiêu chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, mục tiêu hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng được xác định trong Nghị quyết số 22 - NQ/TW ngày 10/4/ 2013 của Bộ Chính trị, khóa XI "về hội nhập quốc tế", Nghị quyết số 28 - NQ/TW ngày 25/10/2013 tại Hội nghị lần thứ Tám, khóa XI về "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới", Nghị quyết 86 - NQ/QUTW ngày 31/12/2013 " Về nhiệm vụ, giải pháp hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến 2020 và những năm tiếp theo"... Trên cơ sở thực tiễn thế giới, khu vực, trong nước và kết quả hợp tác quốc tế về đấu tranh quốc phòng những năm qua, xác định mục tiêu hợp tác về đấu tranh quốc phòng trong thời kỳ mới. Theo đó, đấu tranh quốc phòng trong hội nhập quốc tế phải nhằm tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để nâng cao nguồn nội lực, kết hợp chặt chẽ nguồn nội lực với ngoại lực để triển khai các kế hoạch, phương án đấu tranh quốc phòng nhằm ngăn chặn, đánh bại âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình”,  tạo điều kiện thuận lợi cho các lĩnh vực khác hội nhập quốc tế để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các cấp, ngành, địa phương, đơn vị lực lượng vũ trang phải tổ chức tuyên truyền, giáo dục, học tập để quán triệt sâu rộng mục tiêu, chủ trương, nội dung, biện pháp hợp tác về đấu tranh quốc phòng trong hội nhập quốc tế đến mọi cán bộ, đảng viên, mọi tầng lớp nhân dân, các lực lượng vũ trang. Đẩy mạnh việc cụ thể hóa mục tiêu hợp tác về đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong hội nhập quốc tế thành các kế hoạch, biện pháp cụ thể trong hợp tác quốc tế. Nghiên cứu cụ thể tình hình quốc tế, khu vực, trong nước để xác định toàn diện, cụ thể các nội dung chủ yếu về hợp tác đấu tranh quốc phòng trong hợp tác, hội nhập quốc tế.

 

Phát huy vai trò làm nòng cốt của lực lượng vũ trang trong đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng

 


 Lực lượng vũ trang làm tốt việc tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước các chủ trương, biện pháp đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, lý luận. Vận động, phối hợp tham gia cùng nhân dân, các tổ chức, đoàn thể đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, lý luận.

Quân đội nhân dân phải đi đầu trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.

Đổi mới các hình thức đấu tranh; kết hợp chặt chẽ đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng với đấu tranh kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao...

 


Tập trung vào một số hình thức phổ biến: báo chí, truyền thông, hội nghị, hội thảo, thảo luận trên các kênh chính thức và không chính thức; của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội và tổ chức xã hội, nghề nghiệp... trong nhân dân.Nghiên cứu, vận dụng những hình thức đấu tranh quốc phòng mới như đấu tranh mạng, tác chiến điện tử... Đây là những hình thức đấu tranh quốc phòng phù hợp trong điều kiện phát triển của cách mạng khoa học công nghệ và chiến tranh công nghệ cao hiện nay và trong tương lai. Nghiên cứu kỹ tính chất, nội dung từng hoạt động, từng nhiệm vụ để xác định phạm vi kết hợp các hình thức đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị, đấu tranh kinh tế, đấu tranh văn hóa, đấu tranh ngoại giao… Xây dựng mô hình điểm về kết hợp chính trị, đấu tranh kinh tế, đấu tranh văn hóa, đấu tranh ngoại giao… trong những hoạt động trọng yếu, giải quyết các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Thông qua thực tiễn ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại để đánh giá cụ thể hiệu quả kết hợp chính trị, đấu tranh kinh tế, đấu tranh văn hóa, đấu tranh ngoại giao… Điều chỉnh kịp thời những bất hợp lý trong các kế hoạch, phương án kết hợp giữa các hình thức đấu tranh. Nghiên cứu, vận dụng, phát triển sáng tạo kinh nghiệm, nghệ thuật của cha ông, của thế giới trong sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính, thương mại, ngoại giao, văn hóa, khoa học... để đấu tranh với các đối tượng của cách mạng nhằm bảo vệ đất nước, chế độ, lợi ích quốc gia, dân tộc. Nghiên cứu, vận dụng sáng tạo về biện pháp đấu tranh phi vũ trang của thế giới hiện nay vào đấu tranh quốc phòng của cách mạng nước ta.

Nâng cao chất lượng đấu tranh tư tưởng trong Đảng bộ Quân đội hiện nay

 


Việc phối hợp đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận cần được cụ thể hóa thành các quy chế, chương trình, kế hoạch phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan làm công tác tư tưởng, lý luận với tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở. Từng bước bổ sung và nâng cao chất lượng việc thể chế hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng về sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân Việt Nam. Phổ biến, quán triệt để mọi người hiểu rõ, Đảng Cộng sản Việt Nam, mà trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt đối với quân đội. Luôn bảo đảm để hệ thống tổ chức đảng trong Quân đội được tổ chức chặt chẽ từ Quân ủy Trung ương đến cơ sở. Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng trong quân đội hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách theo chức trách, nhiệm vụ. Trên cơ sở giữ vững sự lãnh đạo vững chắc, toàn diện, xuyên suốt của các tổ chức đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính uỷ, chính trị viên, tăng cường công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội.

Tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại... thành luật pháp, chính sách, Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định cụ thể. Hiện nay và những năm tiếp theo, tập trung bổ sung, hoàn thiện thể chế hóa việc đẩy mạnh xây dựng quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho quân đội thực sự là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực sự là công cụ bạo lực sắc bén, trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và của nhân dân.

 Kịp thời ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, hướng dẫn, chính sách, luật pháp để định hướng và quản lý chặt chẽ hoạt động đấu tranh quốc phòng. Cụ thể hóa các Nghị quyết, Chỉ thị, hướng dẫn, chính sách, luật pháp thành các phương án, kế hoạch đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Nâng cao khả năng bám sát thực tiễn đối tượng, đối tác, xu thế khu vực, quốc tế, khả năng lực lượng, thế trận của ta trong kế hoạch, phương án đấu tranh với kẻ địch.

Đẩy mạnh việc xây dựng, triển khai nội dung chương trình chuyên sâu về đấu tranh quốc phòng để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ về đấu tranh quốc phòng cho đội ngũ cán bộ trực tiếp tham gia lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đấu tranh quốc phòng đáp ứng yêu cầu mới của thực tiễn hiện nay. Từng bước tiến tới chuẩn hóa và áp dụng rộng rãi các chương trình này đối với những đối tượng liên quan.

Đưa đội ngũ cán bộ, đảng viên vào rèn luyện trong nhiệm vụ đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Đặt ra các yêu cầu cao về tư duy, năng lực hoạt động thực tiễn về đấu tranh quốc phòng đối với đội ngũ cán bộ nói chung, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quân sự, chính trị cấp chiến lược trong lực lượng vũ trang và cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, thành phố. Tạo các điều kiện thuận lợi về cơ chế lãnh đạo, chỉ huy, điều kiện về cơ sở vật chất, phương tiện, lực lượng... để đội ngũ cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Thường xuyên kiểm tra việc chấp hành của các bộ, ngành, địa phương về nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn, chính sách, luật pháp của Đảng, Nhà nước về đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng; tình hình và kết quả triển khai cụ thể các kế hoạch, phương án đấu tranh quốc phòng để kịp thời phát hiện, bổ sung, giải quyết những bất cập, phổ biến kịp thời những nghiệm tốt và nhân rộng các đơn vị thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh quốc phòng. Kiên quyết xử lý nghiêm khắc với những hành vi vi phạm Nghị quyết, Chỉ thị, hướng dẫn, chính sách, luật pháp của Đảng, Nhà nước về đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.

 Đánh giá lại hiệu quả các chính sách hiện hành về huy động, phát huy sức mạnh các tầng lớp nhân dân tham gia đấu tranh quốc phòng. Tiếp tục xây dựng mới, bổ sung, điều chỉnh kịp thời những bất cập trong các chính sách tạo hành lang pháp lý thuận lợi để huy động đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực, chủ động đấu tranh quốc phòng ngay tại địa phương, cơ sở. Phát hiện kịp thời và kiên quyết phắc phục những rào cản đối với việc phát huy dân chủ và tập hợp, phát huy nguồn lực to lớn của các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế tham gia xây dựng, đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. 

Quán triệt sâu rộng các nguyên tắc phối hợp giữa các lực lượng trong đấu tranh quốc phòng đến các lực lượng tham gia. Bảo đảm mọi chủ trương, biện pháp, phương án, kế hoạch phối hợp hoạt động đấu tranh quốc phòng phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng cộng sản Việt Nam, sự điều hành của Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Mọi hoạt động chỉ huy, chỉ đạo, điều hành tập trung thống nhất của từng lực lượng, dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng lực lượng. Bảo đảm đoàn kết, thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau thực hiện nhiệm vụ được giao. Tuyệt đối không được làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ riêng và công việc nội bộ của nhau, bảo đảm giữ gìn bí mật về lực lượng, phương tiện, biện pháp nghiệp vụ của mỗi lực lượng.

 Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của các lực lượng chuyên trách và các lực lượng tham gia đấu tranh giải quyết các tình huống về quốc phòng. Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế phối hợp hoạt động giữa các lực lượng trong đấu tranh quốc phòng. Chú trọng phân công rõ trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các lực lượng trong trao đổi và xác minh thông tin, vận động quần chúng, triển khai các phương án và kế hoạch cụ thể, bảo vệ chính trị nội bộ các lực lượng, huấn luyện đào tạo và diễn tập các kế hoạch, phương án đấu tranh quốc phòng cụ thể.

Trước mắt, tập trung hoàn thiện và thực hiện tốt giữa các lực lượng trong các phương án, kế hoạch đấu tranh làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta; trong phòng, chống bạo loạn vũ trang, hoạt động lật đổ; trong ứng phó với những xung đột trên biển, đảo và biên giới đất liền; trong ngăn chặn sớm, đẩy lùi từ xa, sẵn sàng ứng phó kịp thời, hiệu quả với mọi hình thái chiến tranh; trong phòng, chống các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, làm chủ của Nhân dân, phối hợp giữa các lực lượng trong đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng

 


Giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện về mọi mặt của Đảng và quản lý Nhà nước đối với đấu tranh quốc phòng. Ban hành kịp thời các chủ trương, quan điểm, chính sách, pháp luật để kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý chặt chẽ đấu tranh quốc phòng. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ về đấu tranh quốc phòng cho đội ngũ cán bộ trực tiếp tham gia lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đấu tranh quốc phòng đáp ứng cầu mới của thực tiễn hiện nay. Kiểm tra, thanh tra thường xuyên việc chấp hành các Nghị quyết, Chỉ thị, hướng dẫn của Đảng về đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong các tổ chức Đảng, đội ngũ cán bộ, Đảng viên. Có cơ chế, chính sách đồng bộ tạo hành lang pháp lý thuận lợi để huy động đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực, chủ động đấu tranh quốc phòng  trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng ngay tại địa phương, cơ sở. Thực hiện kế hoạch phối hợp cụ thể giữa các lực lượng trong đấu tranh quốc phòng. Đẩy mạnh sự phối hợp giữa quốc phòng - an ninh - đối ngoại tạo cơ sở vững chắc để tổ chức lực lượng đấu tranh quốc phòng. Cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo tiến hành công tác tư tưởng, lý luận; nâng cao tính chiến đấu và sức thuyết phục trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của từng loại hình tổ chức đảng để xác định chức năng, nhiệm vụ cụ thể trong đấu tranh tư tưởng, lý luận; phải thường xuyên chăm lo lãnh đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, làm cho cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, tin tưởng tuyệt đối vào đường lối, quan điểm của Đảng, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của dân tộc. Sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận phải thể hiện tập trung ở việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo và chương trình hành động thực hiện nghị quyết. Để chủ động tiến công toàn diện, thống nhất và đồng bộ làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận, cần quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Cụ thể hóa vào xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả nghị quyết về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở cấp mình. Phải xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc quy chế, quy định về trách nhiệm trực tiếp làm công tác tư tưởng, tham gia nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn của cấp ủy, cán bộ chủ trì và của mọi cán bộ, đảng viên; bổ sung hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các chế độ công tác tư tưởng, quy chế dân chủ ở cơ sở, quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong tiến hành công tác tư tưởng, lý luận. Cấp uỷ, cán bộ chủ trì, cơ quan tuyên giáo các cấp phải đề ra được những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện sát với đặc điểm, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị mình trong từng thời kỳ; phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của mọi cán bộ, đảng viên, của mọi cấp, mọi ngành; thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp hoạt động, tạo ra được nhiều cách làm hay, hiệu quả; đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, sơ kết, rút kinh nghiệm, kịp thời khắc phục những khâu yếu, mặt yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Các đồng chí cấp ủy phải nắm vững ngọn cờ tư tưởng, lý luận của Đảng, thường xuyên chỉ đạo và  trực tiếp tiến hành công tác tư tưởng, lý luận ở địa phương, cơ quan, đơn vị, nhất là trong những thời điểm có tính chất bước ngoặt của cách mạng, khi xử trí các tình huống nhạy cảm và phức tạp trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Cơ quan tuyên giáo phải phát huy vai trò là cơ quan tham mưu, đồng thời trực tiếp tổ chức tiến hành các hoạt động đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Tăng cường, nâng cao hơn nữa tính hiệu quả của các Ban chỉ đạo 35; tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị, Kế hoạch số 14 của Ban Bí thư về thực hiện Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 105 của Ban Tuyên giáo Trung ương về công tác lý luận chính trị. Ban chỉ đạo 35 các cấp cần thường xuyên được củng cố, kiện toàn về tổ chức, nâng cao trách nhiệm của các thành viên; tăng cường công tác kiểm tra của Ban chỉ đạo, cấp ủy cấp trên đối với Ban chỉ đạo, cấp ủy cấp dưới về tổ chức thực hiện nhiệm vụ đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Ban chỉ đạo 35 của Trung ương cần chỉ đạo thường xuyên, tạo sự thống nhất giữa các bộ, ban, ngành và lực lượng tham gia đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận; định hướng kịp thời trước những vấn đề nảy sinh tác động đến dư luận, tâm trạng xã hội...       

Quan tâm xây dựng, củng cố, phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt; chú trọng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn; cán bộ hoạt động trên các lĩnh vực báo chí, xuất bản, văn hóa, nghệ thuật...; cần nghiên cứu xây dựng cơ chế hoạt động phù hợp. Thường xuyên quan tâm nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy khoa học xã hội và nhân văn, phóng viên, biên tập viên... Động viên, khích lệ họ tự giác, chủ động phát huy khả năng, sở trường. Tăng cường lực lượng thường trực tham gia đấu tranh trên Internet và các trang mạng xã hội. Lực lượng này phải được tổ chức có hệ thống, trang bị đầy đủ phương tiện và có kỹ thuật tác nghiệp cao.

Cấp ủy và chính quyền các cấp cần ban hành các quy định, quy chế phối hợp giữa các bộ, ban, ngành của Đảng, Nhà nước có liên quan, trực tiếp là các lực lượng làm công tác tư tưởng, lý luận, các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình, văn hoá, văn nghệ, xuất bản, đối ngoại, an ninh... ở cả Trung ương và địa phương trong nghiên cứu âm mưu, thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch; trao đổi thông tin, dự báo đánh giá tình hình, đào tạo bồi dưỡng cán bộ và tổ chức phối hợp đấu tranh.

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm về đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

 


Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, củng cố vững chắc niềm tin và nâng cao khả năng đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng thù địch. Chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào và tinh thần tự cường dân tộc, truyền thông dựng nước và giữ nước.

 Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả khuynh hướng tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội dân chủ, các luận điệu tuyên truyền vu cáo chủ nghĩa xã hội nhọ, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận đường lôi quan điêm cuả Đảng phủ nhận lịch sử và các quan điểm đòi “đa nguyên, đa đảng” "dân chủ nhân quyền" theo kiểu phương tây, các luận điệu chống phá cách mạng nưóc ta dưới chiếu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo. Thường xuyên giáo dục tinh thần cảnh giác cách mạng để cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận rõ những nội dung, điều kiện, hình thức mới của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, đấu tranh ý thức hệ giữa hệ tư tưởng vô sản và hệ tư tưởng tư sản. Đặc biệt phải làm rõ xu hướng hợp tác quốc tế hiện nay giữa các nước với nhau trong cùng tồn tại hoà bình, không có nghĩa là xoá bỏ đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc vì mục tiêu bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đổi mới công tác giáo dục lý luận Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Gắn những nguyên lý, lý luận với thực tiễn công cuộc đổi mới của đất nước. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận làm sáng rõ những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn, đang có nhiều ý kiến khác nhau. Đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác giáo dục lý luận chính trị phải tự mình nâng cao năng lực, rèn luyện đạo đức, trách nhiệm, tác phong gần gũi nhân dân, nắm chắc tình hình tư tưởng trong nhân dân để giải thích, uốn nắn kịp thời những tư tưởng sai lệch. Kiên quyết, kịp thời đấu tranh chống các quan điểm sai trái, phản động. Cung cấp kịp thời, chính xác những thông tin chính thống để mọi người có cơ sở, chủ động ngăn chặn và tấn công đập tan những luận điệu sai trái. Chấn chỉnh ngay những yếu kém trong hoạt động thông tin, tuyên truyền, báo chí. Phát huy tối đa đài phát thanh, truyền hình, sách, báo, mạng internet, cùng các phương tiện khác làm trong giáo dục lý luận chính trị và đấu tranh chống quan điểm sai trái, phản diện. Huy động đông đảo nhân dân tham gia vào phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm khắc các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí. Đa dạng hóa, mở rộng, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục, bồi dưỡng kiến thức về đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng cho các đối tượng. Bám sát sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Nắm chắc đối tượng để lựa chọn, mở rộng nội dung, hình thức tuyên truyền về đấu tranh phù hợp với "tầm", phạm vi, tính đặc thù và nhu cầu phát triển toàn diện của lĩnh vực hoạt động.

Nâng cao hiệu quả đấu tranh quốc phòng trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận hiện nay

 


Trong tình hình hiện nay, nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận, vì thế không chỉ là tất yếu, mà đã trở thành mặt trận nóng bỏng hàng đầu của công tác tư tưởng, lý luận, trực tiếp liên quan đến mục tiêu, lý tưởng, sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước. Vì vậy, Đảng yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. ...Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đưòng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”(4). Theo đó, trên mặt trận tư tưởng, lý luận phải kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, khắc phục những nhận thức lệch lạc; đồng thời, tích cực bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ và phát triển những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, chủ động định hướng giá trị đúng đắn đối với sự phát triển của con người và xã hội Việt Nam.

Phải quán triệt sâu sắc quan đểm: “Gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Kết hợp giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài; nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị”(5). Phải kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện thụ động, bị động, hoặc chỉ hô hào chung chung, nhưng trên thực tế không đấu tranh.

Vì thế, công tác tư tưởng luôn phải được quan tâm đầy đủ, được tiến hành thường xuyên, mọi sự xem nhẹ công tác tư tưởng đều sẽ phải trả giá, thậm chí một cái giá rất đắt.

Công tác tư tưởng phải tạo được sự nhận thức đúng đắn, thống nhất về vị trí, vai trò của nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận; trên cơ sở đó, thấy rõ trách nhiệm của từng địa phương, cơ quan, đơn vị trong cuộc đấu tranh trên mặt trận nóng bỏng này. Làm cho các tổ chức, các lực lượng nắm vững nội dung và yêu cầu cốt lõi của đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay là bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, nhằm củng cố vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong xã hội, tăng cường khả năng “miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đồng thời, “Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(6).

Hoàn thiện các thiết chế đấu tranh tư tưởng hiện nay

 


Đổi mới, xây dựng và hoàn thiện các thiết chế toàn diện, toàn vẹn, mạnh mẽ, và đồng bộ bảo đảm giữa tự do, dân chủ và pháp luật một cách minh bạch, công khai và nhân bản, trên bình diện tư tưởng, lý luận một cách chủ động và nghiêm khắc.

Về trách nhiệm cơ quan hoạch định chiến lược chính trị, cơ chế và thể chế và cơ quan có thẩm quyền quyết định: Đây là việc to lớn, đa diện của các cấp ủy, chính quyền các cấp.... Xin nói gọn: Cấp bách thực thi quyết sách của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng khóa XII về công tác này, một cách căn cơ, chiến lược, tổng hợp và khả thi, trong tầm nhìn tới năm 2030, trước mắt trên lộ trình tiến tới Đại hội XIII của Đảng.
Trong chiến lược chống phá Việt Nam, âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch là xoá bỏ chủ nghĩa xã hội (CNXH), xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng, đưa cánh mạng Việt Nam theo quỹ đạo chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng coi tấn công trên mặt trận tư tưởng, lý luận là “mũi đột phá” hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, lý luận, tạo ra những “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhằm chuyển hóa, xóa bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Bên cạnh sự chống phá của các thế lực thù địch, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đang đặt ra nhiều vấn đề mới cần phải giải quyết cả về lý luận và thực tiễn. Những tác động của tình hình thế giới, khu vực, của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những tiêu cực bởi mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; những hạn chế trong “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”(1), dẫn đến sự xuất hiện các quan điểm, nhận thức khác nhau về con đường đi lên CNXH ở nước ta, thậm chí là sai trái, lệch lạc với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc.

Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”(2); “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. ...Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định huớng XHCN… Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(3).

Hoàn thiện cơ chế đấu tranh tư tưởng hiện nay

 

 


Về hoàn thiện cơ chế vận hành: Đâu là tư tưởng, đâu là lý luận, đâu là tư tưởng lý luận chính trị? Ai làm, làm với ai, làm như thế nào? Các binh chủng tư tưởng, lý luận hiện nay ra sao: về chức năng, nhiệm vụ, về tổ chức bộ máy và phương thức vận hành thế nào? Duy tồn tình trạng hiện nay liệu có còn tương thích không? Nếu không, thì sẽ làm gì? Phải chăng cấp bách cơ cấu lại chiến lược hệ thống đào tạo, truyền thông, tuyên giáo các cấp, các cơ quan nghiên cứu... theo hướng tập trung, thống nhất, rõ việc, gọn nhẹ, rõ trách nhiệm cá nhân phụ trách, trên cơ sở đổi mới chức năng, nhiệm vụ độc lập từng cơ quan bảo đảm sự thống nhất giữa công tác tổng kết thực tiễn với phát triển tư tưởng, lý luận? Trên cơ sở đó, định biên, tuyển chọn dân chủ hóa nhằm kiến tạo đội ngũ cán bộ tư tưởng, lý luận tương xứng theo hướng tinh hoa, chuyên nghiệp và văn hóa hóa. Sàng lọc nghiêm khắc và kiến tạo chặt chẽ theo hướng tinh lọc, ngăn chặn chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa cá nhân... bảo đảm sự trong sạch, tương thích đội ngũ này. Về đổi mới thể chế hoàn bị: Đâu là thể chế cơ bản, đâu là mắt xích chủ yếu? Đâu là thể chế bất biến, cái thể chế khả biến là đâu? Đâu là sức mạnh tổng hợp giữa công tác giáo dục - cơ quan hành động trên địa hạt tư tưởng, lý luận với công tác tổ chức và pháp luật... Theo đó, cần phân định rõ không chỉ về định tính mà cần định lượng cụ thể lực lượng làm công tác tư tưởng, lý luận, trước hết là cấu trúc lại hệ thống báo chí và đội ngũ những người làm báo, hợp thành binh chủng tư tưởng, lý luận chỉnh thể đổi mới và ngang tầm. Các thiết chế cần và đủ bảo đảm vận hành toàn bộ công tác này bao gồm những gì, chúng ra sao; những gì thuộc về chuyên ngành, những gì thuộc về liên ngành, tối thiểu là các lĩnh vực và phương tiện làm công việc tư tưởng, lý luận, tổ chức và pháp luật, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập quốc tế trong “thế giới phẳng”, cố nhiên cả không “phẳng” hiện nay? Theo đó, tiếp tục chỉnh đốn lĩnh vực báo chí truyền thông và các phương tiện truyền thông xã hội. Sẽ là khiếm khuyết, thậm chí thất bại, nếu thiếu hoặc buông lỏng loại công việc này. Kinh nghiệm ban hành và thực thi Luật An ninh mạng của Ô-xtrây-li-a vào tháng 2-2019, sự ra đời của ngành công nghiệp an ninh mạng của Xin-ga-po vào tháng 3-2019, bảy lĩnh vực quản lý mạng xã hội của Anh vào tháng 4-2019 mới đây... đã cho chúng ta những kinh nghiệm tham chiếu đáng suy ngẫm trên lĩnh vực này. Vì, những người chống phá tư tưởng, những kẻ thù lý luận đã và đang sử dụng những phương tiện ấy như những “cây cầu tư tưởng” đi thẳng vào trái tim khối óc của chúng ta, gây tác họa rất nguy hiểm ở không ít nơi, đối với không ít người, lại tỏ ra rất nhiệm màu. Họ âm mưu tạo nên tình trạng “mù màu về tư tưởng”, “hỗn loạn về lý luận” để làm rối tình hình chính trị, hạ bệ cơ sở lý luận chính trị mác-xít, nhằm phá hoại đường lối chính trị của Đảng; qua đó bôi nhọ, làm phá sản chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG BIẾN SỐ CẦN THEO DÕI!

     Dữ liệu giá tiêu dùng mới nhất ở các nền kinh tế tiên tiến lớn đưa ra một số tin tức đáng khích lệ về xu hướng lạm phát chung; nhưng lạm phát cơ bản (không bao gồm giá năng lượng và lương thực) vẫn cao hơn mục tiêu của các ngân hàng trung ương. Trong số nhiều biến số mà các nhà dự báo cần theo dõi trong năm mới, có ba biến số nổi bật.

Những biến số nổi bật
Vài năm qua đã chỉ ra rằng lạm phát có thể bị ảnh hưởng nặng nề bởi tính thiếu chắc chắn và những yếu tố không thể lường trước, chẳng hạn như thời gian qua là đại dịch Covid-19 hay cuộc chiến ở Ukraine. Một cuộc tranh luận sôi nổi về xu hướng lạm phát đang nổ ra giữa các nhà kinh tế. Một số doanh nhân có uy tín và giàu kinh nghiệm bày tỏ nghi ngờ về việc các ngân hàng trung ương đã kiểm soát được vấn đề. Dữ liệu giá tiêu dùng mới nhất của khu vực đồng euro, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh đưa đến một số tin tức đáng khích lệ về xu hướng lạm phát chung; nhưng lạm phát cơ bản (không bao gồm giá năng lượng và lương thực dễ biến động) vẫn cao hơn mức mục tiêu của các ngân hàng Trung ương. 

Tất nhiên, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới là Trung Quốc dường như không gặp phải vấn đề này. Ngược lại, dữ liệu giá tiêu dùng gần đây nhất cho thấy nước này đang trải qua tình trạng giảm phát, với chỉ số giá tiêu dùng cốt lõi giảm 0,5% vào tháng 11 (so với cùng kỳ năm trước). Đã có lúc nhiều nhà phân tích nghi ngờ rằng Trung Quốc đang truyền áp lực giảm phát đến phần còn lại của thế giới, chủ yếu thông qua xuất khẩu sản xuất chi phí thấp và thị phần ngày càng tăng ở thị trường nước ngoài. 

Quy mô của những thách thức kinh tế trong nước của Trung Quốc - bao gồm cả giảm phát - là một câu hỏi lớn đáng được bình luận riêng. Với những vấn đề mà thị trường bất động sản nước này đang phải đối mặt, dựa trên kinh nghiệm tương tự ở các quốc gia, có thể cho rằng những khó khăn của nền kinh tế Trung Quốc sẽ còn kéo dài. Nhưng một quan điểm ít bi quan hơn là các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc hoàn toàn nhận thức được những vấn đề đó và họ đã có kế hoạch để xử lý.

Ngoài các yếu tố nội bộ của Trung Quốc, người ta cũng phải xem xét xu hướng giá cả hàng hóa toàn cầu, trong đó nhu cầu của Trung Quốc đối với hàng hóa nước ngoài vẫn có sự ảnh hưởng lớn. Ở đây, tin tức trong cuối năm 2023 đáng khích lệ hơn nhiều người mong đợi và cho thấy lạm phát chung ở nhiều quốc gia có thể giảm thêm trong những tháng tới. Bất chấp sự hỗn loạn ở Trung Đông và chiến tranh ở Ukraine, giá dầu thô vẫn ở mức thấp, khiến nhiều nhà phân tích không khỏi ngạc nhiên.

Bên cạnh đó, tăng trưởng tiền tệ đã suy yếu mạnh ở nhiều nền kinh tế, điều này khá yên tâm khi kết hợp với xu hướng giá cả hàng hóa hiện nay. Mặc dù đã lâu rồi không có ai khác ngoài những người theo chủ nghĩa tiền tệ nhiệt thành nhất tuyên bố rằng cung tiền luôn ảnh hưởng trực tiếp đến lạm phát, nhưng thực tế những năm qua đã chỉ ra rằng nếu tăng trưởng tiền tệ tăng tốc đáng kể (như đã xảy ra vào cuối năm 2020 và đầu năm 2021 ở Mỹ), lạm phát có thể tăng lên.

Ngoài ra, các thước đo gần đây về kỳ vọng lạm phát ở các nước chủ chốt đang mang lại sự yên tâm. Đặc biệt, cuộc khảo sát mới nhất của Đại học Michigan về triển vọng 5 năm của người tiêu dùng cho thấy mức tiêu dùng giảm mạnh, xuống 2,8%, từ mức 3,2% của tháng trước.

Xu hướng của các ngân hàng Trung ương
Câu hỏi cuối cùng và có lẽ khó nhất là các ngân hàng Trung ương sẽ phản ứng như thế nào. Trong hướng dẫn mới nhất dành cho thị trường, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ gợi ý rằng lãi suất sẽ giảm 75 điểm cơ bản vào năm 2024. Tuy nhiên, các ngân hàng Trung ương khác, đặc biệt là ở châu Âu, đang lật ngược sự đặt cược của thị trường tài chính khi cho biết lãi suất sẽ chưa bị cắt giảm trong năm nay. Với lạm phát cơ bản vẫn cao hơn mục tiêu, tiền lương thực tế (đã điều chỉnh theo lạm phát) ngày càng tăng và không có bằng chứng rõ ràng về tăng trưởng năng suất, các ngân hàng Trung ương này sẽ không muốn sớm cắt giảm lãi suất. Nhưng khi họ tiếp tục cố gắng gây ảnh hưởng đến thị trường bằng những hướng dẫn và tuyên bố công khai của mình, họ sẽ phải chấp nhận rằng thị trường - theo trí tuệ tập thể của họ - có thể nhìn thấy điều gì đó mà bản thân họ không thấy. Nếu dữ liệu có chiều hướng thuận lợi rõ ràng, các ngân hàng trung ương có thể sẽ thay đổi quan điểm của mình.

Tăng trưởng tiền lương vẫn là một biến số quan trọng. Ở một số nước, đặc biệt là ở Anh, tốc độ tăng trưởng giá tiêu dùng cuối cùng đã nhanh hơn. Theo bản năng, các nhà hoạch định chính sách sẽ lo lắng rằng xu hướng này sẽ gây ra vòng xoáy lương - giá. Nhưng chẳng phải sẽ tốt hơn nếu mức tăng lương thực tế gần đây được chứng minh bằng sự tái cân bằng lợi nhuận tài chính và lợi nhuận được chờ đợi từ lâu của tăng trưởng năng suất dương? Một năm mới đang đến cùng với hy vọng mới./.
Yêu nước ST.

Các thế lực thù địch thông qua vấn đề chính trị gia và quan hệ giữa các nhà lãnh đạo chính trị, giữa các lực lượng nhằm xâm hại thể chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 


Đây là vấn đề xung yếu nhất. Ngụy tạo mâu thuẫn trong Bộ Chính trị, tưởng tượng sự chia rẽ Ban Chấp hành Trung ương Đảng với Quốc hội và Chính phủ; thổi phồng sự khác biệt, cao hơn là mâu thuẫn giữa các thế hệ lãnh đạo, các cá nhân lãnh đạo các cấp, nhất là cấp chiến lược... với âm mưu thúc đẩy tan rã nội bộ và tự tan rã thế chế. Họ ngụy tạo những trang điện tử giả danh cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước để tung tin giả, công kích nội bộ nhằm gây nghi kỵ lẫn nhau, tạo nên sự hỗn mang tư tưởng rất nguy hiểm. Âm mưu đó nham hiểm không kém thủ đoạn kích động tư tưởng “sứ quân”, “cát cứ”, gây chia rẽ vùng, miền, đòi “dân sự hóa” Quân đội nhân dân, ly gián Quân đội nhân dân với Công an nhân dân, “phi chính trị hóa” các lực lượng này, âm mưu cái gọi là thông qua “hạ bệ thần tượng” nhằm “bắn con chim đang bay”(!)...

Các thế lực thù địch khoét sâu vấn đề tôn giáo, dân tộc, nhân quyền với thể chế xã hội chủ nghĩa nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống lại nhân dân.

 


Đây là các duyên cớ để các luận điệu thổi phồng sự thật, khoét sâu sự ngăn cách thù oán do chúng tưởng tượng và dựng lên, để mưu đồ đối lập Đảng với tôn giáo, kích động sự kỳ thị giữa các dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc anh em, nhằm chia rẽ nội bộ các dân tộc, giữa đồng bào có đạo và không theo đạo, giữa các tôn giáo với nhau, đào sâu hố ngăn cách giữa đồng bào các tôn giáo với Đảng, Nhà nước. Chúng thường gắn vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo, kích động vấn đề nhân quyền, phá rối từ cơ sở, tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng bằng các hình thức “cách mạng màu”. Các thủ đoạn thường thấy là, kích động đòi đất, đòi nơi thờ tự vô lối, đòi hành lễ phi pháp luật, tụ tập đông giáo dân gây mất an ninh thực hiện cái gọi là “bất tuân dân sự”; chia rẽ, kích động đồng bào các dân tộc thiểu số biểu tình gây bạo loạn... dưới chiêu bài nhân quyền, tự do, dân chủ; móc nối với các tổ chức quốc tế, với các thế lực thù địch từ nước ngoài để làm rối tình hình trong nước. Họ kích động, hà hơi tiếp sức những người nhân danh “lòng yêu nước”, mưu toan khởi hấn, xuống đường biểu tình vô lối, để “đục nước béo cò”, “mượn gió bẻ măng”... mưu lợi cho mình và phe nhóm mình.