Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NÊU CAO TINH THẦN TRÁCH NHIỆM, GƯƠNG MẪU, NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH!

     Nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính gương mẫu, nói đi đôi với làm của cán bộ, đảng viên là vấn đề có tính cấp thiết nhằm khắc phục tình trạng nhiều đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo cấp cao vi phạm kỷ luật đảng, phải xử lý hình sự do thiếu trách nhiệm, thiếu gương mẫu, nói thông chính sách nhưng lại làm sai…Thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị lần thứ bảy, Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, mỗi đảng viên cần tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhất là về nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính gương mẫu, nói đi đôi với làm!

Yêu cầu cấp thiết
Phát biểu tại Hội nghị sơ kết một năm hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức; thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về nêu gương, về những điều đảng viên không được làm; cán bộ giữ cương vị càng cao càng phải tiền phong, gương mẫu”. Tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ (Hội nghị lần thứ 7) Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, thậm chí sợ trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn là vấn đề rất đáng lo ngại, diễn biến phức tạp, không thể chủ quan, lơ là. Một số đồng chí lãnh đạo cấp cao, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nhận trách nhiệm chính trị, có vi phạm, có trường hợp cũng phải xử lý theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước”.

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, xử lý nhiều đảng viên là cán bộ lãnh đạo cấp cao vi phạm suy thoái về tư tưởng chính trị, vi phạm kỷ luật đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Điển hình gần đây là các trường hợp vi phạm liên quan đến vụ án Việt Á, trục lợi từ các chuyến bay giải cứu... Theo số liệu tổng hợp từ Hội nghị toàn quốc sơ kết công tác kiểm tra, giám sát 6 tháng đầu năm 2023, trong toàn Đảng có 190 tổ chức đảng, 8.583 đảng viên (trong đó có 2.142 cấp ủy viên) bị xử lý kỷ luật. Khuyết điểm của đảng viên do Ủy ban Kiểm tra Trung ương kết luận thường là: Thiếu trách nhiệm, thiếu trung thực, vi phạm Luật Phòng, chống tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương…

Thực tế cho thấy sự cần thiết tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương Hồ Chí Minh về nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu, nói đi đôi với làm gắn với việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị.

Tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trước tình hình đồng bào hơn nửa thế kỷ chống thực dân xâm lược Pháp nhưng vẫn bế tắc về đường lối cứu nước, với tinh thần trách nhiệm của một thanh niên yêu nước, Nguyễn Tất thành ra đi tìm đường cứu nước từ vị trí người lao động làm thuê với hai bàn tay trắng, trên tàu Amiral Latouche Tréville ngày 5-6-1911: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”. Là người sáng lập Đảng, Nhà nước, mặt trận và Quân đội nhân dân Việt Nam, cả cuộc đời Hồ Chí Minh là tấm gương cho các thế hệ người Việt Nam noi theo về đạo đức cách mạng; về tinh thần trách nhiệm với Tổ quốc, với đồng bào; về sự cống hiến cho dân tộc, cho nhân dân, về tác phong nói đi đôi với làm…

Chứng kiến đồng bào nghèo khổ bị áp bức bóc lột, bị đô hộ, Nguyễn Tất Thành tìm đến nước Pháp “để đòi quyền tự do cho dân An Nam”. Sau gần 10 năm gian khổ vừa làm thuê kiếm sống, vừa tìm tòi, khám phá con đường đi cứu giống nòi, Nguyễn Ái Quốc tự nhận trách nhiệm: “Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”. Khi dự thảo Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc quy định trách nhiệm của đảng viên: “(a) Tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và cổ động quần chúng theo Đảng. (b) Tham gia mọi sự tranh đấu về chính trị và kinh tế của công nông. (c) Phải thực hành cho được chánh sách và nghị quyết của Đảng và Quốc tế Cộng sản. (d) Điều tra các việc. (e) Kiếm và huấn luyện đảng viên mới”(1). Tháng 8-1930, Nguyễn Ái Quốc ốm nặng, bị đau phổi, rất yếu nhưng vẫn viết thư gửi Quốc tế Cộng sản, tham gia xây dựng chương trình nghị sự của Ban Chấp hành, đánh giá tình hình Đông Dương và đề nghị “Hãy gửi cho tôi những tài liệu đã hứa” để Người tiếp tục làm việc.

Không chỉ tự nhận trách nhiệm đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mình, Nguyễn Ái Quốc còn tự nhận mình và những người đồng chí “có trách nhiệm rất nặng nề” đối với công cuộc giải phóng các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới. Ngay sau khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, từ năm 1931 đến năm 1933, Nguyễn Ái Quốc đã tiến hành các công việc thúc đẩy phong trào cách mạng châu Á: Tổ chức phát triển các cơ sở cách mạng ở châu Á; viết sách giới thiệu về nước Nga; liên lạc với các đảng cộng sản đề nghị giúp đỡ về tài liệu, báo chí; gây dựng và phát triển mạng lưới liên lạc nối Đông Dương - Pháp - Quốc tế Cộng sản - Trung quốc và các nước châu Á khác… Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, kính cáo đồng bào, kêu gọi nhân dân đoàn kết cứu quốc, Người khẳng định: Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do, độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “Tổ quốc là Tổ quốc chung”, “nước là mẹ chung”, vì vậy, ai cũng phải tham gia kháng chiến, ai cũng phải đánh giặc. Cán bộ, đảng viên càng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Đối với bản thân Người: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, ủy thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mục đích đó”.   

Năm 1945, trước nạn đói trên miền Bắc, Hồ Chủ tịch phát động toàn dân sẻ cơm nhường áo giúp đồng bào bị đói và Người kêu gọi: “Tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”. Hồ Chủ tịch căn dặn cán bộ: “Mình bảo người ta 10 ngày nhịn ăn một bữa mà chính đến ngày nhịn, mình lại cứ chén tỳ tỳ thì nghe sao được. Đáng lý dân nhịn một bữa mình nhịn hai bữa mới phải”.

Chiến dịch biên giới năm 1954 có ý nghĩa quan trọng trong việc tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới, mở đường giao thông với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Nguyên thủ quốc gia Hồ Chí Minh trực tiếp ra mặt trận chỉ đạo, động viên các lực lượng tham gia Chiến dịch. Hồ Chí Minh là lãnh tụ tối cao của Đảng, của Nhà nước trực tiếp đi chiến trường đánh giặc đã tạo niềm cổ vũ sức mạnh vô giá để quân và dân ta thắng lợi, giải phóng hoàn toàn khu vực biên giới từ Cao Bằng đến Đình Lập.

Chủ tịch Hồ Chí Minh định hướng xây dựng đời sống mới: Cách ăn mặc phải sạch sẽ, giản đơn, chất phác, chớ lượt thượt, xa xỉ, lòe loẹt. Người là tấm gương lãnh tụ cả đời thanh bạch, sống trong một ngôi nhà sàn nho nhỏ, quanh năm bốn mùa, chỉ mặc một bộ áo vải ka ki cũ, mỗi ngày chỉ có rau ăn rau, có mắm ăn mắm. Người sống bình dị, gần gũi và kính trọng nhân dân. Người dành dụm tiền lương và tiền nhuận bút để mua quà cho các em nhỏ, biếu quà cụ già, ủng hộ đội tự vệ. Nước ta là nước dân chủ, Hồ Chủ tịch thường căn dặn cán bộ, đảng viên tuyệt đối không được lên mặt quan cách mạng ra lệnh ra oai. Người luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “lễ độ” với nhân dân khi giao tiếp, đi đúng đường lối quần chúng trong mọi việc và khẳng định: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân.

Đảng viên phải nói đúng chính sách của Đảng và Chính phủ để tuyên truyền, vận động quần chúng làm theo. Đảng viên phải thống nhất nhận thức và hành động nói phải đi đôi với làm, nói ít, làm nhiều, tiến tới làm rồi mới nói, làm nhiều nói ít và thậm chí làm hết lòng, làm tận tuỵ mà không nói, không tự phô trương. Hồ Chí Minh cũng đã từng phê bình găy gắt những đảng viên, miệng thì nói rất thông chủ trương, chính sách của Đảng, nhưng trên thực tế thì lại chẳng thực hiện hoặc thực hiện không đến nơi đến chốn, trái với tổ chức và kỷ luật của Đảng, làm giảm sút uy tín và ngăn trở sự nghiệp của Đảng, ngăn trở bước tiến của cách mạng. Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I (ngày 6-1-1946) tại Hà Nội, 118 làng toàn Hà Nội nhất trí kiến nghị là Chủ tịch Hồ Chí Minh không cần phải bầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đương nhiên là đại biểu Quốc hội rồi. Người cảm ơn nhân dân và đề nghị đồng bào để mình được thực hiện quyền công dân.

Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải bám sát tình hình cụ thể từng địa phương để Đảng đề ra chính sách cho phù hợp. Từ năm 1955 đến năm 1965, Người đã đi thực tế cơ sở hơn 700 lượt để thăm hỏi chiến sĩ và đồng bào, xem xét tình hình, kiểm tra công việc. Như vậy, trung bình mỗi năm, người đi cơ sở hơn 60 lần, mỗi tháng đi cơ sở 6 lần.

Để cải thiện đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường, Hồ Chí Minh phát động Tết trồng cây năm 1959, “vừa cây ăn quả, cây có hoa, cây làm cột nhà”. Mỗi khi Tết đến, xuân về, Người lại nhắc nhở phong trào thi đua trồng cây, vừa trực tiếp tham gia trồng cây. Tết năm 1969, dù sức khỏe yếu, Người vẫn đi chúc Tết đồng bào xã Vật Lại, Hà Tây, trồng cây đa lưu niệm trên đồi Yên Bồ. Trong Di chúc, Hồ Chủ tịch vẫn lưu ý: Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm, làm như thế để tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp.

Học và làm theo Bác
Lời dạy của Hồ Chí Minh vẫn luôn nhắc nhở đảng viên: “Đảng ta là Đảng chỉ có một điều là phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”; “Bất kỳ Đảng giao cho việc gì, nhân dân giao cho việc gì, phải cố gắng làm tròn nhiệm vụ”. Để việc học tập và làm theo tấm gương Hồ Chí Minh về nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu, nói đi đôi với làm thiết thực và hiệu quả, cần thực hiện các giải pháp sau:
Một là, đổi mới phương pháp học tập tư tưởng Hồ Chí Minh để học tập và làm theo Người thật sự hiệu quả, tương xứng với nhiệm vụ được giao của mỗi đảng viên.
Di sản Hồ Chí Minh để lại rất lớn, cần nghiên cứu kỹ từng tác phẩm của Người trong từng tình huống cụ thể để hiểu sâu sắc tư tưởng cũng như phong cách của Người, từ đó vận dụng đúng cho từng tình huống cụ thể, tránh việc học tập theo kiểu “tầm chương trích cú”, học máy móc, vận dụng cứng nhắc.

Hồ Chí Minh định nghĩa tinh thần trách nhiệm: Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt qua mọi khó khăn, làm cho thành công. Người có tinh thần trách nhiệm là người nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng; đồng thời, “gắn liền chính sách và đường lối quần chúng, để làm tròn nhiệm vụ”.

Như vậy, học tấm gương Hồ Chí Minh về tinh thần trách nhiệm, trước hết cần nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước lĩnh vực mình phụ trách. Khi thực hiện công việc được giao, phải lập kế hoạch thực tế, giải thích, tuyên truyền, cổ động quần chúng, làm cho quần chúng hiểu thấu và ủng hộ chủ trương của Đảng, của Chính phủ; bàn bạc với quần chúng, hỏi han ý kiến quần chúng, gom góp sáng kiến của quần chúng; lãnh đạo quần chúng và hoan nghênh quần chúng phê bình. Hoàn thành tốt công việc với sự đồng thuận của quần chúng, phát huy sức mạnh dân chủ, là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, đối với Chính phủ và nhân dân.

Tác phong gương mẫu, nói đi đôi với làm cần được thể hiện “trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”; “đồng cam cộng khổ” với nhân dân. Xung phong đi đầu nhưng “phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân. Nói hay mà không làm thì vô ích. Đó là một tật xấu”.

Hai là, mỗi đảng viên hằng ngày thực hành nêu cao tinh thần trách nhiệm với tác phong gương mẫu, nói đi đôi với làm để tự rèn luyện phong cách Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ cụ thể của mỗi cá nhân được quy định bởi cơ quan, đơn vị, tổ chức mà cá nhân là thành viên. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân còn có trách nhiệm đối với gia đình, các mối quan hệ xã hội ở khu dân cư và bạn bè. Đảng viên sẵn sàng chấp hành sự chỉ đạo của Đảng, Chính phủ; luôn ý thức thực hiện tốt các quy định nêu gương: Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 08-QĐ/TW, ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.

Đảng viên luôn sẵn sàng là thành viên có trách nhiệm trong các tổ chức mà mình tham gia, với gia đình, bạn bè; tự rèn luyện để tạo thành phong cách làm việc, tác phong sinh hoạt trách nhiệm, gương mẫu, nói đi đôi với làm.

Ba là, tập thể, cá nhân thường xuyên rà soát các văn bản chỉ đạo và kết quả thực hiện để bảo đảm nói đi đôi với làm
Theo Hồ Chí Minh, một trong những tư cách của Đảng chân chính là: “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”.

Kế hoạch công tác được xây dựng theo chức năng, nhiệm vụ nhưng cần chú ý tính thiết thực, hiệu quả, tránh đặt ra các mục tiêu to lớn nhưng không khả thi, vì “Một chương trình nhỏ mà thực hành được hẳn hoi, hơn là một trăm chương trình to tát mà không làm được”. Tham mau, tham nhiều một lúc dẫn đến “Chính sách thì đúng, cách làm thì sai”, khẩu hiệu tuy đúng nhưng thực hành không có kết quả mỹ mãn.

Việc thực hiện văn bản chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, cấp trên, của tổ chức cần được thường xuyên rà soát, thực hiện hiệu quả để bảo đảm “nói đi đôi với làm”; tuân thủ kỷ luật và giữ gìn uy tín của Đảng, của Chính phủ, của tổ chức, của cá nhân.

Bốn là, tăng cường chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, thi đua, khen thưởng để động viên người thực hiện tốt và giúp đỡ người thực hiện chưa tốt sửa chữa.
Công tác kiểm tra, giám sát bảo đảm cho việc thực hiện các văn bản chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, quy chế của cơ quan, đơn vị, tổ chức được diễn ra hiệu quả, tránh hiện tượng nói không đi đôi với làm. Quá trình kiểm tra, giám sát phát hiện những khó khăn, trở ngại trong việc thực hiện các văn bản chỉ đạo của Đảng, Chính phủ để có biện pháp khắc phục kịp thời. Hơn nữa, công tác kiểm tra, giám sát còn cho thấy mức độ tham gia tích cực của quần chúng nhân dân đối với nghị quyết của Đảng, của Chính phủ và tinh thần đoàn kết của cơ quan, đơn vị, tổ chức.

Thực tế cho thấy, có những cá nhân sau khi được khen thưởng, bổ nhiệm chỉ một thời gian ngắn đã bị phát hiện sai phạm đến mức phải kỷ luật, xử lý hình sự do thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu trung thực, thiếu gương mẫu... Do vậy, công tác kiểm tra, giám sát, thi đua, khen thưởng cần bám sát thực tiễn đơn vị và nắm vững đội ngũ qua nhiều kênh thông tin hơn là căn cứ vào tự báo cáo của cá nhân, cơ quan, đơn vị, tổ chức; kịp thời nêu gương người làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, gương mẫu, nói đi đôi với làm; đồng thời giúp đỡ người làm chưa tốt sửa chữa khuyết điểm.

Tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ (Hội nghị lần thứ 7) Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII vào ngày 17-5-2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị từ nay đến hết nhiệm kỳ Đại hội XIII: Cần tiếp tục đẩy mạnh và làm tốt hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, đặc biệt là hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp từ Trung ương đến địa phương. Xây dựng Chính phủ, chính quyền các địa phương thật sự trong sạch, liêm chính, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Cụ thể là, phải có chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, ráo riết, có kết quả cụ thể các nghị quyết, kết luận của Trung ương về vấn đề này, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII và Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Có thể khẳng định, học tập và làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại về tinh thần trách nhiệm, tác phong gương mẫu, nói đi đôi với làm là việc làm cần thiết của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người trẻ Việt Nam để bồi đắp năng lực tiếp tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng. Học tập và làm theo tấm gương Hồ Chí Minh về tinh thần trách nhiệm, tác phong gương mẫu, nói đi đôi với làm bảo đảm tạo được đoàn kết nội bộ cơ quan, đơn vị, tổ chức; thu hút được sự ủng hộ của quần chúng, phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng được đồng thuận xã hội; thực hiện tốt nhiệm vụ của cá nhân, cơ quan, đơn vị, tổ chức; đạt được các mục tiêu định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH!

     Sinh thời, một trong những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trăn trở là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, để Đảng xứng đáng là đạo đức, là văn minh, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, địa phương, đơn vị gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trong đó, nhấn mạnh, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nhất là về tư tưởng chính trị và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh không chỉ về chính trị, tư tưởng, tổ chức, mà còn nhấn mạnh xây dựng Đảng về đạo đức.

Trong thời gian qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo và yêu cầu các cấp ủy đảng, địa phương, đơn vị tổ chức quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Trung ương. Trong đó, công tác xây dựng Đảng về đạo đức của cán bộ, đảng viên xem là một trong những nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng hiện nay nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống đáp ứng yêu cầu cách mạng trong tình hình mới. Qua đó, tiếp tục kế thừa và khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, về đạo đức cách mạng không chỉ có giá trị lý luận mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay.

1. Xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh về đạo đức - yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng
Để xác định mục tiêu của đảng cộng sản ở từng nước, C.Mác từng chỉ rõ, trước hết phải giành lấy chính quyền, khi đã giành được chính quyền thì đảng phải lãnh đạo nhà nước của dân, do dân và vì dân để xây dựng xã hội mới. Do vậy, vai trò lãnh đạo của đảng lại càng cần thiết. Bảo vệ và phát huy thành quả cách mạng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội là sứ mệnh cao cả mà nhân dân trao cho đảng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nhu cầu phát triển của Đảng. Mỗi bước phát triển của cách mạng đòi hỏi phải giải quyết các mâu thuẫn cơ bản một cách sâu sắc, toàn diện và triệt để, khi ấy tất yếu phải tiến hành những biện pháp để xốc lại đội ngũ, chấn chỉnh lực lượng, tăng thêm sức mạnh của Đảng.

Để Đảng làm tròn sứ mệnh của mình trước những chuyển biến của cách mạng, của đời sống xã hội, tất yếu Đảng phải thường xuyên làm trong sạch đội ngũ của mình, phải nâng mình lên ngang tầm với lịch sử, phải chỉnh đốn và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Tiếp thu tư tưởng của C.Mác, V.I.Lê-nin về đổi mới, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam và đưa ra những quan điểm hết sức sâu sắc. Người nhận định, “trong hàng chục vạn cán bộ và đảng viên xứng đáng, còn lẫn vào một số người thấp kém về tinh thần và đạo đức cách mạng. Họ còn mang nặng chủ nghĩa cá nhân trong mình. Đứng trong hàng ngũ chiến đấu của Đảng mà họ không có dũng khí cách mạng, ít lo nghĩ về trách nhiệm của mình, không quyết tâm vươn lên phía trước. Họ hững hờ như những người không có lý tưởng, đến đâu hay đó, qua tháng qua ngày. Đối với công việc của cách mạng, không có thái độ người làm chủ tập thể, dám nghĩ dám làm, mà thường bị động ngồi chờ”.

Vì những lý do trên mà Đảng phải thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về đạo đức là đòi hỏi khách quan và cũng là yêu cầu sống còn để bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, nâng cao bản lĩnh chính trị và sức chiến đấu của Đảng, khắc phục những hạn chế, sai lầm khuyết điểm; tạo môi trường và điều kiện để mỗi đảng viên và cán bộ hoàn thiện nhân cách, trở thành người cộng sản chân chính, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

2. Nội dung xây dựng Đảng về đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm Đường cách mệnh năm 1927, ngay trang đầu tiên của tác phẩm, Người đã nêu lên 23 điều về tư cách của người cách mạng, tập trung giải quyết ba mối quan hệ cơ bản, đó là với mình, với người, với việc. Trong Di chúc, Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

Người coi đạo đức như gốc của cây, như nguồn của sông: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.

Vai trò nền tảng của đạo đức được Người khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa”, “Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”, “Tuy năng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ; nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức còn có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp đổi mới xã hội cũ thành một xã hội mới và xây dựng thuần phong mỹ tục. Người cho rằng: “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước… khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa”.

Qua nghiên cứu các quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, có thể khái quát lại thành những chuẩn mực đạo đức cơ bản sau: Trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; yêu thương con người, sống có tình, có nghĩa; tinh thần quốc tế trong sáng. Phẩm chất “trung”, “hiếu” là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống của người phương Đông, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng và đưa vào những nội dung mới, tiến bộ hơn, phù hợp hơn, vượt qua những hạn chế trước đây. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thì trung với nước là trung thành với sự nghiệp cách mạng, với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nước ở đây là nước của dân, còn dân chính là chủ nhân đích thực của nước. Từ chỗ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” chuyển thành “trung với nước, hiếu với dân”. Bác đã chỉ ra: Nhân dân từ chỗ là kẻ nghèo hèn, phải được chăn dắt, sai khiến trở thành lực lượng làm nên lịch sử, sáng tạo ra lịch sử. Trước kia quan là phụ mẫu của dân, thì nay Đảng, cán bộ, đảng viên là “’đầy tớ trung thành của nhân dân”. Theo Người, trung với nước, hiếu với dân là phải suốt đời đấu tranh cho cách mạng, ra sức làm việc giữ vững kỷ luật, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lấy dân làm gốc, tiếp thu trí tuệ của dân, học hỏi dân, phải biết làm học trò của dân mới làm được thầy của dân. Như thế, sự nghiệp cách mạng mới thành công.

“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là phẩm chất đạo đức thể hiện rõ qua hệ thống phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là các hoạt động hằng ngày của Người. Trong các tác phẩm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại nói về đạo đức cách mạng như: Đường cách mệnh 1927, Đạo đức cách mạng 1958…, những phẩm chất trên được Người đề cập nhiều nhất, thường xuyên nhất. Bác không những giải thích nghĩa của cần, kiệm, liêm, chính mà Người còn nêu lên mối quan hệ giữa 4 phẩm chất đó: Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. Một con người phải cần, kiệm, liêm nhưng còn phải chính mới là người hoàn toàn. So với bốn mùa của trời, bốn phương của đất, Người cho rằng: “Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”. Cần, kiệm, liêm, chính đối với cán bộ, đảng viên lại rất cần thiết, bởi vì “cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, càng có chức, có quyền càng phải cần, kiệm, liêm, chính “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”.

Chí công vô tư là không nghĩ đến mình trước, hưởng thụ đi sau, là “lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào”. Thực hành chí công vô tư là phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Bởi vì, chủ nghĩa cá nhân là trái với chủ nghĩa tập thể, trái với đạo đức cách mạng, trái với nhân cách, phẩm chất của một người cộng sản chân chính. Vì vậy, đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, bởi “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”.

Tuy nhiên, cần nhận thức về sự thống nhất giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, cần phân biệt giữa chủ nghĩa cá nhân và lợi ích cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân thì việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”, chỉ lo “mình béo mặc thiên hạ gầy”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là xấu. Con người không phải thánh thần, có tốt, có xấu. Chúng ta cần làm cho phần tốt của mỗi con người nẩy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi.

Đạo đức của Đảng hàm chứa tình nhân ái, rộng lớn, bao la. Tình yêu thương con người ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không chung chung trừu tượng, mà trước hết giành cho những người mất nước, người cùng khổ. Yêu thương con người với một tình cảm sâu sắc, vừa bao la, vừa gần gũi, bao trùm cả cộng đồng đến từng số phận con người, đánh thức những gì tốt đẹp nhất trong mỗi con người, tạo điều kiện cho họ đứng dậy vươn lên hoàn thành nhiệm vụ. Tình yêu thương con người ở Chủ tịch Hồ Chí Minh vượt ra ngoài phạm vi dân tộc, mang tính nhân loại, vừa bốn biển năm châu, vừa bốn phương vô sản. Đó chính là tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung.

Có thể khẳng định, tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, về đạo đức cách mạng là tài sản tinh thần vô cùng quý báu của Đảng và dân tộc ta, việc vận dụng và phát triển các giá trị tư tưởng đó vào sự nghiệp xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ của đất nước trong điều kiện hiện nay là việc làm không chỉ có giá trị lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn./.
Yêu nước ST.

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TÍCH CỰC BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG!

     Kế thừa truyền thống vẻ vang của các thế hệ cha anh, những năm qua, thanh niên Quân đội đã ra sức rèn luyện, phấn đấu, giữ vững và phát huy phẩm chất chính trị; sẵn sàng thực hiện những nhiệm vụ khó khăn, vất vả, đầy gian khổ, hy sinh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời là lực lượng nòng cốt trong tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch!

Là một bộ phận của thế hệ trẻ Việt Nam, thanh niên Quân đội là lực lượng dự bị hùng hậu của Đảng, lực lượng bổ sung, kế tục đội ngũ cán bộ cho Quân đội. Với tinh thần hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tuổi trẻ Quân đội luôn xung kích, đi đầu trong các phong trào của thanh niên cả nước; chủ động, tích cực trong mọi nhiệm vụ, trên mọi mặt trận, làm lan tỏa, phát huy phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Đặc biệt, thanh niên Quân đội luôn nỗ lực rèn luyện, phấn đấu, giữ vững và phát huy phẩm chất chính trị; đồng thời là lực lượng nòng cốt trong tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Bám sát yêu cầu, nhiệm vụ, tổ chức Đoàn các cấp trong toàn quân đã chú trọng nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Nhiều hình thức giáo dục đã được triển khai sáng tạo như: Tọa đàm, diễn đàn, sinh hoạt câu lạc bộ lý luận trẻ, sân khấu hóa, các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin (giáo dục qua mạng Internet, hội thi kết hợp trực tiếp và trực tuyến...). “Các đơn vị chủ động nắm, quản lý, giải quyết tình hình tư tưởng, định hướng dư luận trong thanh niên; động viên thanh niên Quân đội tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phòng, chống “diễn biến hòa bình”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đoàn viên, thanh niên.

Nhờ vậy, nhìn chung cán bộ, đoàn viên thanh niên tại các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, yên tâm công tác, không dao động trước khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tổ chức Đoàn các cấp trong Quân đội đã chú trọng lựa chọn những đồng chí có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; năng lực công tác khá; thông thạo trong sử dụng các công cụ, phương tiện trên Internet để tham gia đấu tranh trên các trang mạng xã hội. Thanh niên Quân đội, nhất là cán bộ, đoàn viên thanh niên tại các cơ quan, học viện, nhà trường đã chủ động lập tài khoản cá nhân, tham gia các trang, nhóm để đấu tranh có hiệu quả. Bên cạnh đó, nhiều cán bộ, đoàn viên còn chủ động viết bài đấu tranh đăng tải trên các báo, tạp chí, trang thông tin điện tử, truyền thanh nội bộ để tạo thành một mạng lưới đấu tranh rộng khắp. Thông qua các hoạt động nói trên, thanh niên Quân đội đã góp phần vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, củng cố lòng tin của cán bộ, đoàn viên, thanh niên, nhân dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thanh niên Quân đội tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch cũng còn những hạn chế nhất định: Các hình thức đấu tranh chưa thực sự phong phú, đa dạng; kết quả đấu tranh chưa tương xứng với tiềm năng, năng lực vốn có của cán bộ, đoàn viên thanh niên; số lượng bài viết chuyên sâu chưa nhiều; một số bài viết thiếu luận chứng, luận cứ khoa học nên chưa thực sự thuyết phục người đọc; việc tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng chủ yếu tập trung ở một số cán bộ, đoàn viên chủ chốt;…

Để tiếp tục phát huy vai trò tích cực của thanh niên Quân đội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của thanh niên Quân đội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch.
Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tích cực tuyên truyền cho thanh niên Quân đội về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Thông qua nhiều hình thức phong phú, sinh động, sáng tạo nhằm nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, khả năng “tự đề kháng, tự miễn dịch” cho đoàn viên, thanh niên trước những thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch. Nội dung tuyên truyền, giáo dục tập trung vào các chỉ thị, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và sự chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Chỉ đạo 35 các cấp về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới; nhất là những luận điểm chống phá đối với Quân đội hiện nay. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến bằng nhiều hình thức sáng tạo các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các văn bản của Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và các cấp về hoạt động quản lý, sử dụng điện thoại, internet và mạng xã hội trong Quân đội, như: Luật An ninh mạng năm 2018; Thông tư số 202/2016/TT-BQP, ngày 12/12/2016 quy định bảo đảm an toàn thông tin trong Quân đội; Chỉ thị số 1492/CT-BV, ngày 17/9/2013 của Tổng cục Chính trị về tăng cường quản lý các trang mạng xã hội trên internet trong Quân đội;… Qua đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đoàn viên, thanh niên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tích cực tham gia đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch.

Hai là, thường xuyên bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch cho thanh niên Quân đội.
Các cơ quan, đơn vị cần tăng cường bồi dưỡng những vấn đề cốt lõi về lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để thanh niên Quân đội có thế giới quan, phương pháp luận khoa học, luôn kiên định, tin tưởng vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, tiếp tục triển khai thực hiện Hướng dẫn số 824/HD-TN, ngày 25/9/2018 của Ban Thanh niên Quân đội về việc thanh niên Quân đội tham gia đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Định kỳ tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức, tập huấn kỹ năng cho thanh niên về việc nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, chú trọng phổ biến, quán triệt yêu cầu, nhiệm vụ và trao đổi nội dung, phương pháp, kinh nghiệm nhận diện, đấu tranh; bồi dưỡng kinh nghiệm, kỹ năng khai thác, sử dụng tiện ích của các phần mềm, trang mạng xã hội, như: Blog, facebook, zalo, youtube,… để chia sẻ tin, bài, hình ảnh, bình luận, viết và đăng tải bài chuyên sâu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Ba là, phát huy tốt vai trò của tổ chức Đoàn các cấp trong Quân đội.
Tổ chức đoàn các cấp chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chỉ huy đơn vị kiện toàn, mở rộng lực lượng, bảo đảm vật chất, phương tiện, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng đấu tranh, rút kinh nghiệm hoạt động đối với cán bộ, đoàn viên, thanh niên là lực lượng nòng cốt đấu tranh của đơn vị. Đẩy mạnh trao đổi, chia sẻ, học tập những kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình, cách làm hay, sáng tạo; kịp thời sơ kết, tổng kết, biểu dương, khen thưởng tổ chức đoàn, cán bộ, đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả và chấn chỉnh, xử lý kịp thời những hạn chế, yếu kém, sai phạm. Đặc biệt, cần phát huy tốt trách nhiệm của tổ chức Đoàn trong quản lý, điều hành, quan tâm chăm lo giải quyết nguyện vọng chính đáng của thanh niên, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho cán bộ, đoàn viên thanh niên tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Bốn là, xây dựng môi trường văn hóa quân sự dân chủ, lành mạnh gắn với phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo của thanh niên Quân đội.
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ cơ sở trong Quân đội; xây dựng môi trường văn hóa quân sự dân chủ, lành mạnh; từ đó xây dựng hình mẫu người thanh niên Quân đội: “Khát vọng đẹp - Trách nhiệm cao; Học tập tốt - Hành động giỏi; Đoàn kết tốt - Kỷ luật nghiêm”. Nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng, bản lĩnh chính trị, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, truyền thống vẻ vang của Đảng, của Quân đội và của Đoàn, xây dựng niềm tin và truyền thụ kinh nghiệm đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, quan tâm, khơi dậy và phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo của thanh niên Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ nói chung, trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch nói riêng để thanh niên Quân đội thực sự tiêu biểu cho bản lĩnh, trí tuệ của thanh niên Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, xứng đáng là lực lượng xung kích, đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./.



Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: “XU THỜI, CƠ HỘI, THỰC DỤNG”!

     Chưa bao giờ người ta lại nói nhiều về các từ “xu thời”, “cơ hội”, “thực dụng” như trong mấy năm trở lại đây. “Xu thời” theo nghĩa đen là biết nắm xu hướng, thời thế để hành động cho phù hợp. “Cơ hội” được hiểu là biết tận dụng thời cơ để hành động đạt mục đích, kết quả cao nhất. Còn “thực dụng” vốn có nghĩa là coi trọng tính ứng dụng thực tế. Bản thân các từ đó không có lỗi, nhưng chúng đã bị biến dạng bởi chính những suy nghĩ, hành vi lệch lạc của một bộ phận người trong xã hội!

Người “xu thời” hiện nay được biểu hiện dưới nhiều hình, nhiều vẻ khác nhau. Không ít cô cậu thanh niên mới lớn ở thành phố, thị xã, xem phim nước ngoài, thấy người ta nhuộm tóc vàng, đánh son màu tím trên môi thì cũng chạy theo “mốt” gội đầu, “sơn tóc” vàng ệch, tô môi thâm xịt. Một số người “lắm tiền nhiều của” thấy dân nước khác xây dựng những vi-la màu mè thì mình cũng thể hiện sự “sành điệu” bằng cách thiết kế những ngôi nhà “nửa tây, nửa ta” ngất ngưởng, lòe loẹt. Có những cô gái “chân quê” dịu dàng, đoan trang, sau vài năm “đi tỉnh về” cũng “tóc ngắn, quần bò, áo phông” trông thật kệch cỡm. Rồi vị chức sắc này, ông cán bộ nọ thấy người ta có bằng cấp thạc sĩ, tiến sĩ thì mình cũng cố “học”, cố “thi” bằng được lấy tấm bằng để có “cái mác” dán vào “cương vị” cho “oai”, cho... “oách”! Thái độ xu thời thực chất là biểu hiện của sự sùng ngoại, lai căng, tự ti, tự đánh mất mình và cứ tưởng “cái bóng in trên tường to thì chủ nhân là người vĩ đại”!

“Thật đáng tiếc! Đó là cơ hội “ngàn vàng” nhưng anh đã không tận dụng được”- Bình luận viên bóng đá trên truyền hình đã bất chợt thốt lên như vậy khi một cầu thủ của ta đã sút bóng trượt cầu môn trong một tư thế rất thuận lợi. “Cơ hội” chỉ xảy ra trong một khoảnh khắc nhất định, thậm chí chỉ trong giây lát mà khó có thể lặp lại tương tự. Tận dụng cơ hội tốt để làm việc nghĩa, việc thiện, việc có ích là cử chỉ, hành động đáng biểu dương và tôn vinh. Tuy nhiên hiện nay, không ít người cố tình lợi dụng những kẽ hở trong hệ thống luật pháp và những sơ hở trong công tác quản lý, điều hành của bộ máy công quyền để làm những việc sai pháp luật, trái đạo đức, lương tâm. Có những kẻ triệt để lạm dụng lúc “tranh tối, tranh sáng” để thu vén lợi ích cá nhân, bất chấp điều hay, lẽ phải và chính nghĩa ở đời. Xuất phát từ “cơ hội” mà sinh ra bao thứ phiền toái: nịnh hót, luồn lọt, tâng bốc nhau “một tấc lên trời”, lôi bè kéo cánh, cục bộ địa phương, nói xấu sau lưng, thậm chí là “ném đá sau lưng”... Từ đó, tư tưởng cơ hội xuất hiện dưới những hành vi, như: thấy sai trái không dám đấu tranh, thấy cái đúng không biết bảo vệ, bao che khuyết điểm, dung dưỡng cái xấu, thậm chí tiếp tay cho cả cái ác...

“Thực dụng” là nấc thang kế tiếp của tư tưởng cơ hội. Lấy lợi ích vật chất là cao nhất, coi đồng tiền là “chìa khóa vạn năng” để giải quyết mọi mối quan hệ xã hội, lúc nào cũng muốn “sạch sành sanh vét cho đầy túi tham”... là những biểu hiện của những kẻ thực dụng. Tất nhiên, hành vi thực dụng khi ẩn chứa kín đáo, tinh vi, lúc hiển hiện công khai, lộ liễu và thỉnh thoảng còn biết “cưa sừng làm nghé” hay “đóng rắn giả lươn” để lòe bịp thiên hạ. Thiếu sự coi trọng giá trị nhân phẩm, không đề cao ý nghĩa tinh thần và những nét đẹp văn hóa, đạo đức nên những kẻ thực dụng sẵn sàng “hạ thấp nhân cách” bản thân, bằng “mọi cách, mọi giá” để mưu cầu, trục lợi cho mình càng nhiều càng... tốt! Chủ nghĩa thực dụng là nguyên nhân dẫn đến nhiều điều nhiễu nhương trong cuộc sống: tham ô, hối lộ, hách dịch, cửa quyền, chuyên quyền độc đoán, bòn rút tài sản của Nhà nước, lạm dụng mồ hôi và công sức của nhân dân... 

Xu thời, cơ hội, thực dụng là “con đẻ” của chủ nghĩa cá nhân, là mặt trái của nền kinh tế thị trường và là “hậu quả” của xã hội tiêu dùng hiện đại. Thái độ xu thời dễ làm đánh mất bản sắc văn hóa và giá trị đạo đức quý báu của dân tộc. Tư tưởng cơ hội gây chia rẽ mất đoàn kết, làm cho các mối quan hệ tốt đẹp của con người bị tổn thương. Chủ nghĩa thực dụng tạo nên những hành vi sùng bái đồng tiền, đặt lợi ích vật chất lên trước hết và cao nhất, khiến cho các chuẩn mực xã hội bị đảo lộn. Ở đâu còn có thái độ xu thời, tư tưởng cơ hội và chủ nghĩa thực dụng là ở đó còn những hành động, việc làm thiếu trong sáng, lành mạnh và thiếu tình thương yêu cao đẹp của con người. Đấu tranh ngăn chặn, hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ những biểu hiện đó là góp phần xây dựng nền tảng đạo đức lành mạnh, văn hóa xã hội tiến bộ, văn minh./.


Yêu nước ST.

CÁC BIỆN PHÁP GIẢM NGUY CƠ MẮC CHỦNG VIRUS CORONA MỚI


Bộ Y tế và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến cáo về phòng bệnh Viêm phổi cấp do chủng mới của virus corona nCoV 2019

Zalo
Zalo
Zalo
Zalo
Zalo

Những bệnh thuộc diện miễn đăng ký nghĩa vụ quân sự, không nhận vào quân thường trực

Thông tư 105/2023/TT-BQP ngày 6/12/2023 của Bộ Quốc phòng quy định tiêu chuẩn sức khỏe, khám sức khỏe cho các đối tượng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng, trong đó quy định các bệnh miễn đăng ký nghĩa vụ quân sự
Những bệnh thuộc diện miễn đăng ký nghĩa vụ quân sự, không nhận vào quân thường trực, gồm:
Zalo
Mời xem toàn văn Thông tư tại: facebook.com/groups/chinhsachphapluat

TĂNG CƯỜNG CÁC BIỆN PHÁP CHỐNG LẠI SỰ PHÁ HOẠI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

Hiện nay các thế lực thù địch đang ra sức phá hoại, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, công kích nền tảng tư tưởng của Đảng ta hòng làm giảm niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Trước tình hình đó, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân. Do đó, cần phải phát huy tối đa vai trò, trách nhiệm của tất cả cán bộ, đảng viên, nhân dân.

Cơ sở lý luận

Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Đó là nội dung cơ bản, hệ trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Nền tảng tư tưởng của Đảng ta đã được quy định trong Điều lệ Đảng: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”.

Những nhóm đối tượng đang ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, đó là: 1) Nhóm đối lập về hệ tư tưởng. Đảng ta là hệ tư tưởng vô sản thì những người theo hệ tư tưởng tư sản, kể cả tàn dư phong kiến sẽ quyết liệt chống lại chúng ta. 2) Các thế lực thù địch về chính trị luôn chống lại chế độ XHCN của chúng ta, với mục đích làm con đường phát triển đất nước của Đảng chệch hướng, thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. 3) Những người vốn là đảng viên cộng sản nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng, học tập, nâng cao tư tưởng, đạo đức cách mạng dẫn tới tha hóa về tư tưởng chính trị, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí là phai nhạt lý tưởng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Nhận diện các nhóm đối tượng nêu trên cho thấy, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng dù rất khó khăn, phức tạp và lâu dài, nhưng khó khăn và phức tạp đến đâu cũng phải làm để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Các thế lực thù địch bao gồm cả những người nghiên cứu lý luận, thực tiễn ở các nước trên thế giới trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa CNXH và chủ nghĩa tư bản. Ngay ở các nước tư bản phát triển, những nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng tư bản theo kiểu truyền thống và các nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng XHCN cũng đấu tranh lẫn nhau. Các lực lượng cực đoan người Việt ở nước ngoài luôn lôi kéo, kết hợp với những đối tượng chống đối, bất mãn ở trong nước lập ra các tổ chức để chống phá cách mạng nước ta. Một số cán bộ, đảng viên (trong đó có cả những đảng viên đã từng giữ chức vụ cao trong hệ thống chính trị) suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nhóm người này không khó để nhận ra, nhưng lại rất khó đấu tranh.

Sự phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng của các thế lực thù địch, phản động

Sau nhiều thập kỷ thực hiện chính sách thù địch, chống phá không đạt hiệu quả, các thế lực phản động ở trong nước và nước ngoài đang thay đổi phương thức hoạt động. Tuy nhiên, mục tiêu của họ vẫn không thay đổi là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “phi chính trị hóa”, vô hiệu hóa Quân đội, tiến tới xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Họ tấn công, phủ định, xuyên tạc học thuyết Mác - Lênin, đưa ra các luận điệu cổ vũ cho bạo lực, chiến tranh; phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò và thành tựu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài ra, họ còn bôi xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước với nhiều thủ đoạn tinh vi; chống phá chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.

Phương thức chống phá của họ chủ yếu là sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chuyên chống phá Việt Nam… Họ sử dụng in-tơ-nét và truyền thông xã hội để chống phá; lợi dụng những hạn chế trong quản lý nhà nước để kích động biểu tình trái phép và xuyên tạc đường lối; tổ chức các hội thảo đòi xem xét lại các vấn đề liên quan đến lịch sử… Cách làm của họ âm thầm và lâu dài nhưng tác hại thực sự rất khó lường. Ngang ngược hơn, họ còn đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013, đòi đa đảng; phá bỏ nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; vu cáo Đảng chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, “độc đoán, đảng trị”; đối lập Đảng với Nhà nước và đối lập Đảng, Nhà nước với Nhân dân...

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch còn lôi kéo, kích động một bộ phận người dân và cả một số cán bộ hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vào các mục đích sai trái, bất hợp pháp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội... Đây cũng là những vấn đề cần được nhận diện đầy đủ để có biện pháp, phương hướng xử lý, đấu tranh phù hợp, hiệu quả.

Thực trạng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Như vậy, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó, chủ nghĩa Mác - Lênin là những học thuyết sâu sắc, toàn diện trên nhiều lĩnh vực, mà cơ bản, trọng yếu, cốt lõi, nhất là: Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học. Đó là chủ nghĩa cộng sản khoa học do C.Mác - Ph.Ăng-ghen xây dựng trong suốt gần 60 năm (từ những năm 40 cho đến cuối thập niên 90 thế kỷ XIX), được V.I.Lê-nin bổ sung, phát triển trên cơ sở thực tiễn chủ nghĩa tư bản đã và chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc; phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động trên toàn thế giới đang phát triển mạnh mẽ và giành được những thắng lợi mang tính bước ngoặc như: Công xã Pa-ri và cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, đưa tới sự ra đời Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-viết (gọi tắt là Liên Xô), giải phóng hàng trăm triệu nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư bản.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý báu của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.

Nói khái quát, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là những học thuyết, những tư tưởng được hình thành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành tựu văn minh của tư duy nhân loại, liên tục được bổ sung, phát triển từ những kết quả nghiên cứu mới nhất của khoa học và tổng kết thực tiễn lịch sử thế giới, cùng những dự báo về tương lai.

Hệ thống tri thức này là những kiến thức khoa học có tác dụng trực tiếp nâng cao trình độ nhận thức, hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học và nhân cách của mỗi đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và nhân dân. Nếu mỗi người đều được học tập và chịu khó học tập không ngừng để quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo những kiến thức này trong hoạt động thực tiễn thì sẽ luôn đứng vững trên lập trường của người cộng sản, không bị hoang mang, dao động trước những nội dung tuyên truyền xấu độc, xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Tuy vậy, trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang diễn ra nhanh chóng, sự phát triển siêu tốc của in-tơ-nét, mạng xã hội (MXH)... tạo nên “thể giới phẳng”, những thông tin không được kiểm soát, gây nhiều khó khăn cho việc tiếp nhận, phân tích, luận giải để hiểu thấu đáo nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thêm vào đó là sự tồn tại, phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản và những khó khăn, thách thức cùng sự kéo dài của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta; sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường trên nhiều phương diện. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; nạn tham nhũng, "lợi ích nhóm"... diễn ra còn nhiều, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm tư, tình cảm, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Lợi dụng bối cảnh đó, những năm qua, nhất là trong thời gian đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử đối lập, bất mãn chính trị... ở trong và ngoài nước ra sức đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, vu khống, chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc Đổi mới của nhân dân ta. Chúng lợi dụng in-tơ-nét, MXH đăng những tin, bài xấu, độc, xuyên tạc, phản bác, phủ nhận nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; công kích, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH của nước ta.

Nhận diện âm mưu tuyên truyền của các thế lực thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã đẩy mạnh tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam, bằng mọi âm mưu, thủ đoạn. Chúng tăng cường xuất bản, tán phát các loại ấn phẩm, tài liệu như: các báo cáo, nghị quyết, dự luật của nghị viện, quốc hội một số nước phương Tây; các văn bản pháp lý của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ như: Tổ chức Ân xá quốc tế (AI), Tổ chức Theo dõi nhân quyền quốc tế (HRW)…; các ấn phẩm xuất bản, như: sách báo, tạp chí, tập san, tờ rơi… của các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị trong và ngoài nước; các trang web, các chương trình phát thanh, phát hình bằng tiếng Việt…

Họ đã lập hàng nghìn trang web, blog, hàng trăm loại báo chí, nhà xuất bản và các đài phát thanh - truyền hình có chương trình tiếng Việt; tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm làm việc trực tiếp với các tổ chức, cá nhân phản động trong và ngoài nước… để xuyên tạc nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng ta. Qua đó, chúng phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu đã đạt được trong các cuộc đấu tranh cách mạng đã qua và trong công cuộc Đổi mới, bóp méo thực tế những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, những sơ hở thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong các vấn đề dân tộc, tôn giáo. Qua đó, chúng kích động, lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.

Một trong những phương thức mà các thế lực thù địch lợi dụng để tuyên truyền, chống phá có hiệu quả nhất hiện nay, đó là MXH. Việt Nam là nước có số người dùng in-tơ-nét và MXH thuộc tốp đầu trên thế giới, với hơn 64 triệu người dùng in-tơ-nét (chiếm 67% dân số); hơn 55 triệu người dùng MXH (chiếm 57% dân số) và 436 MXH đang hoạt động, đứng thứ 7 trong 10 nước có số người sử dụng MXH nhiều nhất thế giới. Cùng với những giá trị tích cực, MXH cũng bộc lộ những mặt trái và hệ lụy của nó đối với sự phát triển của đất nước. MXH được ví như con dao 2 lưỡi ẩn chứa nhiều vấn đề bất cập và hiểm họa khó lường đối với người sử dụng không đúng mục đích. Thực tế, bên cạnh các thông tin bổ ích, có giá trị đối với xã hội thì còn vô số thông tin, hình ảnh có nội dung xấu, độc có thông tin sai trái như: xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới, bịa đặt, vu cáo, nói xấu các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta trên mọi lĩnh vực. Tác hại của những thông tin xấu độc trên MXH do các thế lực “mạng đen” tung ra có tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, gây nghi ngờ, gieo rắc sự hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Một số tồn tại, hạn chế

Trong những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố và tăng cường niềm của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế như:

Chưa đa dạng hóa các hình thức thông tin, chất lượng thông tin chưa hoàn toàn đáp ứng nhu cầu của người dân. Chưa tích cực, chủ động đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Chưa phát huy vai trò giám sát, phản biện của các cơ quan báo chí, đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội... Chưa hoàn toàn chủ động định hướng, cung cấp kịp thời để làm chủ thông tin, lấy thông tin tích cực, chính thống đấu tranh chống lại các thông tin sai trái, bịa đặt, vu cáo, phản động trên MXH, in-tơ-nét. Việc khai thác, phát triển những tiện ích, lợi thế của thông tin điện tử, MXH… còn hạn chế.

Việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại chưa được quan tâm đúng mức; chưa làm tốt việc dự báo, định hướng để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Việt Nam ổn định và phát triển, nâng cao uy tín, vị thế và ảnh hưởng của Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế còn hạn chế. Việc kết hợp đưa thông tin ra nước ngoài và thông tin chính thống từ thế giới vào Việt Nam chưa chặt chẽ, hiệu quả, do đó chưa hạn chế được nhiều tác động tiêu cực của những thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực cơ hội, thù địch.

Chưa phát triển nhanh, mạnh, vững chắc với cơ cấu, quy mô hợp lý các loại hình thông tin theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, chất lượng, hiệu quả, phù hợp xu thế phát triển khoa học và công nghệ, thông tin, truyền thông thế giới, đáp ứng quyền tiếp cận thông tin của nhân dân, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ngang tầm khu vực và thế giới… Vẫn còn tình trạng thông tin thiếu cân đối, chưa đảm bảo sự đồng đều về phân bố và khoảng cách hưởng thụ thông tin của nhân dân giữa các vùng, miền.

Các giải pháp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Một là, tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn Dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội. Xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao tinh thần, trách nhiệm, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

Hai là, tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta trong tình hình mới. Hệ thống hóa, phổ biến những thành tựu lý luận mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc Đổi mới. Tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình của thể chế chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh và Hiến pháp. Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao, hấp dẫn. Khẩn trương thực hiện nghiêm quy hoạch báo chí đã được phê duyệt. Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu, độc trên in-tơ-nét, MXH.

Ba là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng Internet, MXH. Phát huy trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trước hết là người đứng đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch...

Bốn là, tập trung đổi mới nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; hệ thống hoá, phổ biến các thành tựu lý luận trong thời gian qua. Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập nghị quyết để vận dụng vào thực tiễn.

Bên cạnh “chống”, cần tăng cường biện pháp “xây”, thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng ở cơ sở; giải quyết có hiệu quả khiếu nại, tố cáo; tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng. Các địa phương sớm kiện toàn tổ chức tuyên giáo, xây dựng đội ngũ cán bộ sẵn sàng “phản ứng nhanh” với những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng. Tích cực, chủ động cung cấp những thông tin chính thống để định hướng dư luận về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước...

Năm là, tuyên truyền sâu rộng chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, cần đánh giá lại tâm lý xã hội hiện nay, trong đó phải phân tích sâu đến từng giai tầng xã hội để đánh giá đúng thực trạng nhận thức, nhu cầu, nguyện vọng của các đối tượng, từ đó có cách thức tổ chức đấu tranh cho phù hợp, đạt hiệu quả cao.