Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

Đấu tranh phản bác hành vi lợi dụng Internet, mạng xã hội, truyền bá những luận điệu xảo trá chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

 

    Với sự phát triển của công nghệ thông tin, internet đã đem lại rất nhiều lợi ích cho nhân loại toàn cầu; internet và mạng xã hội giúp cho thông tin truyền tải nhanh chóng. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích trên, các thế lực phản động thù địch trong và ngoài nước đã và đang triệt để lợi dụng để đưa ra các luận điệu xuyên tạc chống phá Đảng và Nhà nước ta.

    Hiện nay, một trong những phương thức hoạt động diễn biến hòa bình phổ biến nhất được các thế lực thù địch, phản động tiến hành đối với Việt Nam là tận dụng mạng internet tiến hành chống phá trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa mà cách thức chủ yếu là truyền bá các quan điểm sai trái về tư tưởng chính trị; xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo các vấn đề bức xúc trong xã hội; tạo dựng thông tin sai sự thật, nhằm làm nhiễu loạn truyền thông, gây hoài nghi trong quần chúng, từng bước tạo bất ổn trong xã hội tiến tới hình thành các xu hướng phản kháng chống chính quyền Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Để phục vụ cho mục đích này, thời gian qua ở nước ngoài các tổ chức phản động lưu vong đã duy trì và lập mới hàng ngàn website, blog, Facebook, Youtobe … gia tăng chiến dịch “chiến tranh tâm lý”; phát động hàng trăm chiến dịch tán phát tin giả, tin sai sự thật trên mạng internet; lợi dụng vỏ bọc “xã hội dân sự”, “phản biện xã hội” để thu thập thông tin, tập hợp lực lượng, thúc đẩy “bất tuân dân sự” ở trong nước. Ngay từ khi Luật An ninh mạng được thông qua, nhiều trang mạng điện tử phản động như: RFA, BBC Tiếng Việt đã đưa tin bóp méo xuyên tạc cho rằng luật này đặc biệt xâm phạm không gian riêng tư, vi phạm tự do ngôn luận. Mỗi khi chúng ta triển khai ngăn chặn những tin tức sai trái trên môi trường mạng, lập tức các thế lực thù địch rêu rao rằng đây là hình thức kiểm duyệt thông tin, vi phạm quyền được nói cơ bản của con người và chúng kêu gọi người dân đứng lên chống lại sự quản lý, điều hành của Nhà nước, thực tế một số người không đủ thông tin, thiếu hiểu biết đã dễ dàng tin theo và có những phát ngôn chống đối, cản trở việc thi hành luật; các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có chiều hướng phức tạp, ngày càng công khai; tình trạng  đăng tải, chia sẻ thông tin nội bộ chưa được kiểm chứng diễn ra phổ biến trên không gia mạng gây dư luận xấu.

    Tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người cần được tôn trọng và bảo đảm. Tuy nhiên, ở bất kỳ quốc gia nào tự do ngôn luận cũng phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật, nhằm tránh bị lợi dụng gây phương hại đến quyền, lợi ích của cá nhân khác, đến đạo đức xã hội, trật tự công cộng và an ninh quốc gia. Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người trong đó có quyền tự do ngôn luận của công dân. Tự do ngôn luận được xem là quyền hiến định được quy định ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 “Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng và tự do cư trú đi lại trong nước và ra nước ngoài …”; Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin …” và thực tế các hoạt động trao đổi thông tin trên internet và mạng xã hội diễn ra hết sức sôi nổi. Theo thống kê của năm 2022, Việt Nam là một trong số những quốc gia có số lượng người sử dụng internet cao nhất trên thế giới với 72,1 triệu người Việt sử dụng internet; số thuê bao điện thoại di động sử dụng smartphone 94,2 triệu, riêng số người dùng mạng xã hội hiện nay có 76,95 triệu người, tương đương với 78,1% dân số.

    Tuy nhiên, khi internet và mạng xã hội phát triển với tốc độ chóng mặt thì không chỉ Việt Nam mà các nước trên thế giới đều phải đối diện với những thách thức đến từ sự phức tạp, khó kiểm soát.

    Theo thông tin từ Bộ Công an, năm 2022 đến nay Bộ Công an đã khởi tố và điều tra 572 vụ án liên quan đến việc tung tin sai sự thật trên internet và các trang mạng xã hội, đã khởi tố 63 vụ với 68 bị can, xử phạt hành chính 955 đối tượng, gọi, hỏi răn đe và 1.500 đối tượng. Đó là minh chứng cho những nỗ lực của lực lượng an ninh mạng trong việc bảo vệ người dân khỏi những thông tin giả, xấu độc, những thông tin xuyên tạc, kích động từ các đối tượng phản động thù địch, cơ hội chính trị.

    Nhận thức rõ những nguy cơ lợi dụng tự do trên không gian mạng đe dọa đến an ninh quốc gia, nhiều nước trên thế giới cũng triển khai các biện pháp nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn những thông tin được phép đăng tải trên mạng xã hội, hạn chế tối đa sự lan tràn, phát tán những thông tin giả mạo và độc hại. Tại Mỹ sự giới hạn của tự do ngôn luận được thể hiện chủ yếu qua các án lệ của các Tòa án; đặc biệt là Tòa án tối cao Hoa Kỳ cho phép chính quyền ngăn chặn và trừng phạt các phát ngôn mang tính chất khiêu dâm, tục tĩu, phỉ báng, xúc phạm và gây hấn mà không bị xem là vi hiến. Ngoài ra, nhiều nước Châu Âu khác cũng đưa ra những quy định với hình phạt cụ thể trong vấn đề này nhằm chống lại mọi hình thức tuyên truyền kích động; tiến hành xử lý hình sự đối với những phát ngôn thù ghét và kích động. Bên cạnh đó, trong nỗ lực chung, nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng tự do ngôn luận để phát ngôn thù địch, tiêu cực trên internet, Liên minh Châu Âu (EU) đã ban hành Bộ quy tắc ứng xử trên Internet với sự cam kết đảm bảo sự tiếp cận nhanh chóng, dán nhãn và gỡ bỏ các phát ngôn thù địch hay các nội dung bất hợp pháp trên các nền tảng mạng xã hội của các doanh nghiệp mạng trên thế giới như: Google, Facebook, YouTube, Twitter, Microsof và TikTok.

    Như vậy, có thể khẳng định rằng bất cứ chế độ chính trị nào cũng không thể có tự do ngôn luận tuyệt đối, các quốc gia đều có quy định xử lý hành vi lợi dụng tự do ngôn luận để xâm phạm quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân. Việc đề cao tự do ngôn luận phải vì lợi ích chung, không phải là sự tuyệt đối hóa tự do cá nhân, không thể lợi dụng tự do ngôn luận để viết, nói, xuyên tạc với ý đồ xấu bất chấp luân lý, đạo đức và luật pháp.

    Từ thực tiễn công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, có thể khẳng định, lực lượng 47 và đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên Học viện Lục quân là lực lượng nòng cốt, trực tiếp thực hiện có chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ này. Qua đó, Học viện Lục quân rút ra một số giải pháp chủ yếu như sau:

    Một là, chủ động làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức tư tưởng, bản lĩnh và trách nhiệm chính trị cho lực lượng 47 và đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên trong tham gia, sử dụng, khai thác Internet và mạng xã hội.

    Hai là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính trị viên (bí thư), người chỉ huy các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức lực lượng 47 và cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên tích cực tham gia thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng.

    Ba là, thường xuyên quán triệt cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên nắm chắc và thực hiện nghiêm các quy chế, quy định trong khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội.

    Bốn là, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực của lực lượng 47 và đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

    Năm là, thường xuyên thực hiện tốt công tác sơ, tổng kết, biểu dương, khen thưởng kịp thời đối với lực lượng 47 và đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên có thành tích tốt trong tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng./.


Sưu tầm

Đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái

 

    Nhận lời mời của của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, từ ngày 10-11/9 Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đã đến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam. Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của Tổng thống Joe Biden kể từ khi ông nhậm chức vào đầu năm 2021. Sự kiện này diễn ra vào dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác Toàn diện.

    Như vậy, kể từ ngày 11/7/1995, thời điểm hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Tổng thống Joe Biden là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 5 đến thăm Việt Nam; các Tổng thống đương nhiệm từng tới thăm Việt Nam trước ông Joe Biden bao gồm: Tổng thống Bill Clinton (tháng 11/2000), Tổng thống George W. Bush (tháng 11/2006), Tổng thống Barack Obama (tháng 5/2016), Tổng thống Donald Trump thăm Việt Nam hai lần (tháng 11/2017 và tháng 02/2019). Việc các Tổng thống Hoa Kỳ đều có chuyến thăm tới Việt Nam đã phản ánh vai trò quan trọng của Việt Nam trong mạng lưới đối tác của Hoa Kỳ ở khu vực.

    Nhân sự kiện này, nhiều hãng truyền thông lớn trên thế giới đã đăng tải những thông điệp tích cực của chuyến thăm; khẳng định Việt Nam tiếp tục cho cả thế giới biết và hiểu hơn về đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

    Ngược lại với thực tế đó, những phần tử phản động lưu vong ở nước ngoài lại tỏ ra lo lắng, chúng tìm cách bôi nhọ, xuyên tạc về chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ đến Việt Nam và việc nâng tầm mối quan hệ giữa Việt Nam - Hoa Kỳ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Các đối tượng đã tăng cường phát tán nhiều bài viết trên không gian mạng có nội dung sai trái, xấu độc để chống phá Đảng, Nhà nước; xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ cũng như quan hệ của Việt Nam với nhiều nước khác; khi không thể ngăn cản chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden thì quay sang miệt thị các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; xuyên tạc chính sách ngoại giao quốc phòng “bốn không” của Việt Nam (không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Một số tổ chức phi chính phủ đã viết thư chung gửi Tổng thống Hoa Kỳ, đề nghị ông Joe Biden khi sang thăm Việt Nam, trong các cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo Việt Nam cần gây áp lực, can thiệp phải sửa đổi một số điều của Bộ luật Hình sự mà các đối tượng cho rằng “mang tính chất đàn áp”, như: Điều 117 (Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Điều 331 (Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ) và đòi bỏ Luật An ninh mạng. Họ rêu rao “Chấm dứt hành vi đàn áp xuyên quốc gia và trả tự do cho tất cả tù nhân của lương tâm”; “Thả tự do cho tất cả 41 nhà báo bị giam giữ”; “Gặp gỡ gia đình các tù nhân chính trị để nghe những lời trần tình của họ về tình hình nhân quyền ở Việt Nam”…

    Những luận điệu trên là hoàn toàn sai trái, đối lập với chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Phải khẳng định rằng, việc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là phù hợp với thực tiễn của quan hệ ngoại giao hai nước, đáp ứng sự mong mỏi và tình cảm của các nhà lãnh đạo, nhân dân hai nước. Như Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc E.Knapper đã nhấn mạnh trong cuộc gặp gỡ với báo chí trưa 13/9 rằng, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ phát triển tốt đều mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia và Hoa Kỳ muốn trở thành một phần trong quá trình Việt Nam nỗ lực để trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2050.

    Với phương châm “Gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng tới tương lai”, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ cựu thù đã trở thành Đối tác và Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Như vậy, tính đến tháng 9/2023 Việt Nam có 05 Đối tác Chiến lược Toàn diện (Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Hoa Kỳ), 18 Đối tác Chiến lược (bao gồm cả 05 Đối tác Chiến lược Toàn diện), 12 Đối tác Toàn diện. Việc nâng mức quan hệ ngoại giao từ “Đối tác Toàn diện” lên “Đối tác Chiến lược Toàn diện”, bỏ qua mức quan hệ “Đối tác Chiến lược” đã được nhiều nhà ngoại giao thế giới gọi là hình mẫu trong quan hệ quốc tế, là tấm gương để các quốc gia khác học tập, noi theo. Điều đó, cũng có nghĩa là không chỉ hai quốc gia Việt Nam - Hoa Kỳ mà cả cộng đồng thế giới đều ghi nhận, trân trọng những nỗ lực trong bước tiến vượt bậc về quan hệ ngoại giao giữa hai bên, bởi điều này còn có sự ảnh hưởng tích cực lớn đến an ninh, hòa bình, sự đoàn kết, thịnh vượng của khu vực và trên thế giới.

    Cho nên, những lời lẽ theo kiểu hậm hực cho rằng Hoa Kỳ đừng nên quan hệ với Việt Nam, Hoa Kỳ cần đưa ra yêu sách buộc Đảng Cộng sản Việt Nam phải thay đổi chế độ mới nâng cấp quan hệ hoặc châm chọc rằng Việt Nam nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ là “theo phe này, chống phe kia”  là không đúng với thực tiễn.

    Đối với những lời bịa đặt, vu khống về nhân quyền ở Việt Nam. Chúng ta biết rằng, dân chủ, nhân quyền là một vấn đề lớn, không một quốc gia nào dám tự coi là đã thực hiện một cách đầy đủ. Mỗi quốc gia thực hiện dân chủ, nhân quyền còn tùy thuộc vào tình hình chính trị - xã hội, sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, truyền thống, phong tục, tập quán và trình độ dân trí… Ở Việt Nam, thực tiễn đã chứng minh, ngoài những thành tựu đạt được về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, chính sách cho đồng bào dân tộc và đối tượng dễ bị tổn thương như trẻ em, người già, người khuyết tật. Đảng, Nhà nước Việt Nam xác định rõ, bảo đảm quyền con người là bản chất của chế độ, là mục tiêu, lý tưởng của Đảng, đồng thời là động lực của chế độ. Vì thế, Nhà nước Việt Nam luôn đẩy mạnh và coi trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền con người; củng cố tăng cường các thể chế, chính sách nhằm thúc đẩy thực thi quyền con người, bảo đảm thực hiện đầy đủ hơn, tốt hơn các quyền tự do chính đáng của nhân dân… những nỗ lực trong việc đảm bảo và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam luôn được cộng đồng quốc tế ghi nhận./.

Sưu tầm

Vạch trần luận điệu xuyên tạc sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia

 

    Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động gia tăng nhiều hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực, trong đó có nội dung xuyên tạc hoạt động quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia (BGQG).

    Âm mưu tinh vi, thủ đoạn thâm độc

    Chủ quyền lãnh thổ, BGQG trong tâm thức mỗi người dân là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, liên quan đến hòa bình, an ninh và phát triển của đất nước, quan hệ giữa Việt Nam và các nước láng giềng nên việc xuyên tạc chống phá dễ gây ra tâm lý bất bình, dễ kích động trong một bộ phận quần chúng nhân dân nhẹ dạ, cả tin.

    Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động sử dụng nhiều hình thức và thủ đoạn rất tinh vi, giảo hoạt, tung ra những thông tin và tư liệu lịch sử, kỹ thuật không có tính pháp lý để đánh lừa dư luận. Trước hết, chúng xuyên tạc kết quả phân giới cắm mốc giữa Việt Nam với các nước có chung đường biên giới, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, từ đó tạo nên môi trường xã hội, chính trị bất ổn để dễ bề thực hiện mưu đồ chính trị của mình.

    Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Cha Lo, BĐBP tỉnh Quảng Bình thực hiện nghi thức chào cột mốc chủ quyền trong quá trình tuần tra, bảo vệ biên giới. Ảnh minh họa: bienphong.com.vn

    Ngay từ những ngày đầu khi Việt Nam tham gia giải quyết vấn đề biên giới với các nước cho đến nay, các thế lực thù địch vẫn xuyên tạc kết quả đạt được giữa các bên, đặc biệt đối với những vấn đề về biên giới chưa được giải quyết dứt điểm, chúng thường tập trung tuyên truyền theo hai hướng, đó là xuyên tạc Việt Nam nhu nhược nên nhượng đất cho nước láng giềng nhằm kích động tâm lý bất bình trong nhân dân; bịa đặt Việt Nam xâm chiếm đất của nước láng giềng nhằm phá hoại tiến trình phân giới cắm mốc của nước ta với các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia.

    Cùng với những luận điệu xuyên tạc về công tác bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh BGQG trên đất liền, các thế lực thù địch, phản động còn rêu rao rằng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam nhu nhược, hèn yếu nên không có những động thái kiên quyết để bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia; thậm chí chúng còn trắng trợn bịa đặt rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước im lặng vì đã thỏa hiệp với nước ngoài thao túng chủ quyền biển, đảo của nước ta (!).

    Tinh vi hơn, núp dưới chiêu bài “hiến kế, góp ý”, chúng đã đưa ra luận điệu cho rằng: Do sức mạnh của Hải quân nhân dân Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu”... nên “chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc quân sự thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo, bảo vệ được lợi ích quốc gia-dân tộc” (!). Từ đó, chúng đòi hỏi Việt Nam cần từ bỏ chính sách “4 không” và liên minh quân sự với các nước lớn có tiềm lực quân sự, quốc phòng mạnh thì mới bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo quốc gia.

    Trên khu vực biên giới, các thế lực thù địch, phản động ra sức xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử tộc người, quan hệ tộc người, bôi nhọ chủ trương phát triển kinh tế-xã hội. Chúng cho rằng việc phát triển các dự án kinh tế là nguyên nhân “đẩy” đồng bào các dân tộc lâm vào tình cảnh khốn khó, mất nguồn sinh kế, vì thế, đời sống bà con luôn thiếu thốn, khó khăn. Chúng còn kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc và xuyên tạc người Kinh đã lấy đất, phá rừng, gây khó khăn cho đồng bào các dân tộc trong phát triển kinh tế-xã hội, qua đó nhằm phá hoại khối đoàn kết dân tộc, làm suy yếu sức mạnh của quân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Để tán phát những thông tin sai lệch, xuyên tạc, chúng tận dụng tối đa các phương tiện truyền thông xã hội, các diễn đàn, nhất là triệt để lợi dụng một số văn nghệ sĩ, trí thức bất mãn, có quan điểm chính trị lệch lạc để ngấm ngầm cài cắm, tán phát những quan điểm sai trái, phản động về chủ quyền lãnh thổ, BGQG; lợi dụng các hoạt động nhân đạo, từ thiện, tổ chức truyền đạo, lập đạo trái phép để tuyên truyền, lôi kéo những người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở biên giới, vùng sâu, vùng xa.

    Kiên trì, kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia

    Trước tình hình chống phá đó, việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về quản lý bảo vệ BGQG hiện nay là nhiệm vụ quan trọng, cơ bản, lâu dài đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là nhiệm vụ quan trọng của công tác đấu tranh tư tưởng, lý luận nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Để đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG hiện nay, chúng ta cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau.

    Một là, nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân về tầm quan trọng của việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về bảo vệ BGQG hiện nay.

    Tập trung tuyên truyền, giáo dục cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức rõ việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG hiện nay là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Trong đó, tăng cường giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và nhân dân những quy định pháp lý về BGQG, chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền, an ninh BGQG. Tích cực tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhận rõ mục đích, âm mưu, thủ đoạn và các luận điệu sai trái, thù địch mà các thế lực thù địch, phản động sử dụng để xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ BGQG hiện nay, nhằm nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân trước những thông tin xấu độc, xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG.

    Hai là, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong chủ động đấu tranh làm thất bại các luận điệu xuyên tạc về quản lý bảo vệ BGQG.

    Quản lý, bảo vệ BGQG là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó cần phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nhân dân là trung tâm, là chủ thể trong sự nghiệp bảo vệ BGQG. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng biển, đảo; ngăn chặn kịp thời hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để chống phá, lôi kéo di dân tự do; tích cực đấu tranh ngăn chặn kịp thời âm mưu, thủ đoạn kích động, chia rẽ nhân dân với cấp ủy, chính quyền địa phương, chia rẽ đồng bào các dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân.

    Cùng với đó, đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào khu vực biên giới thực hiện nếp sống văn minh gắn với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Thực hiện hiệu quả các dự án bảo tồn và phát triển bền vững một số dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; đẩy lùi, xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan. Quan tâm, chăm lo phát triển kinh tế-xã hội, giảm nghèo, bảo đảm cuộc sống, lao động sản xuất ổn định cho đồng bào các dân tộc trên khu vực biên giới, hải đảo.

    Ba là, đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý, bảo vệ BGQG; kiên quyết xử lý các đối tượng có hành vi sai trái, xuyên tạc về BGQG và quản lý, bảo vệ BGQG.

    Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, tích cực đăng tải các bài viết trên những phương tiện thông tin đại chúng, trên hệ thống internet thể hiện rõ lập trường, quan điểm của Việt Nam đối với những vấn đề liên quan đến chủ quyền, an ninh BGQG trên bộ và trên biển. Tổ chức đưa phóng viên, nhà báo, đại diện các tầng lớp nhân dân trong nước và kiều bào tham quan thực địa biên giới, biển, đảo để tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách về BGQG đến người dân trong nước và người Việt Nam ở ngoài nước.

    Kịp thời cập nhật thông tin, đưa tin chính xác và cụ thể về những diễn biến phức tạp trên biên giới, trên Biển Đông để định hướng dư luận, không để những thông tin thật-giả lẫn lộn, mập mờ làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh BGQG.

    Áp dụng các giải pháp kỹ thuật tăng cường rà quét, bóc gỡ, ngăn chặn những thông tin xấu độc về tình hình Biển Đông nói chung và chủ quyền biển, đảo của Việt Nam nói riêng. Tăng cường xử lý các đối tượng đăng tải, chia sẻ các bài viết, video, hình ảnh có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề chủ quyền biển, đảo. Thiết lập các trang mạng, tài khoản chính thống để huy động cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch trên internet và mạng xã hội để tạo thành thế trận liên hoàn, rộng khắp.

    Bốn là, thường xuyên tiến hành công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển và hoàn thiện lý luận về quản lý, bảo vệ BGQG.

    Quan tâm tổng kết thực tiễn sự nghiệp quản lý, bảo vệ BGQG để tiếp tục làm rõ nhận thức, quan niệm về quản lý, bảo vệ BGQG ở nước ta, tập trung vào các vấn đề: Mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm, nhiệm vụ, giải pháp về quản lý, bảo vệ BGQG... Đây là những vấn đề lớn, đòi hỏi công sức, trí tuệ, tâm huyết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trước hết là của đội ngũ cán bộ chuyên làm công tác tư tưởng, lý luận và lực lượng chuyên trách quản lý, bảo vệ BGQG. Tích cực khai thác tiềm năng sáng tạo trong nghiên cứu lý luận về quản lý, bảo vệ BGQG để phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nói chung và quản lý, bảo vệ BGQG nói riêng.

    Quản lý, bảo vệ BGQG là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị và cả nước; là vấn đề hết sức thiêng liêng, nhưng cũng không ít khó khăn, phức tạp. Các luận điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG thực chất là những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, phản động nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới từng bước làm thay đổi chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình hiện nay.

Sưu tầm

Chữa bệnh khoe mẽ của cán bộ, đảng viên

    Từ xa xưa trong xã hội đã xuất hiện những kẻ khoe mẽ, khoác lác, có một nói mười, có mười nói trăm, thậm chí không có nói cho thành có.

    Khoe mẽ thời 4.0

    Nếu là những thường dân nói khoác, kể những câu chuyện có tính chất phóng đại cho vui thì có thể vô hại mà lại có ích là giải tỏa những căng thẳng trong cuộc sống như kiểu chuyện “bác Ba Phi”, chuyện “Trạng Quỳnh”... Thế nhưng sự khoe mẽ, khoác lác của những người làm quan xưa kia, những cán bộ ngày nay thì lại có hại vô cùng. Bởi sự khoác lác ấy sẽ đánh lừa quần chúng, làm cho họ lẫn lộn thật giả, dẫn đến nhận thức lệch lạc, tiêu cực. Tính khoe mẽ, khoác lác giống như một mầm bệnh, lâu ngày sẽ biến các cán bộ thành kẻ ảo tưởng, huyễn hoặc về bản thân, nói nhiều, làm ít, nói hay, làm dở, hoặc chỉ nói mà không làm, tệ hơn là làm thoái hóa, biến chất cán bộ, đảng viên...

    Từ dựa hơi nói khoác...

    Tật khoe mẽ, khoác lác của cán bộ không phải bỗng nhiên mà có. Nó được hình thành từ trong quá trình công tác, từ quá trình tiếp xúc, quan hệ với các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Do yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, các cán bộ có thể nắm được một số thông tin. Nếu với những người được rèn luyện nghiêm túc, có bản lĩnh vững vàng, nhận thức đúng đắn thì họ sẽ biết cách xử lý, phổ biến các thông tin ấy một cách phù hợp với từng đối tượng nên sẽ có tác dụng định hướng tư tưởng, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho người tiếp nhận thông tin và làm cho nhiệm vụ, công việc được hoàn thành đúng ý định. Còn đối với những người nhận thức non nớt, tính cách huênh hoang, bồng bột thì lại coi những thông tin mình nắm được như một phương tiện để tự tâng bốc mình, đưa mình trở thành nhân vật quan trọng trước những người được truyền đạt thông tin.

    Tôi từng chứng kiến có anh cán bộ chỉ là một thư ký giúp việc cho một cán bộ cao cấp, nhưng lúc nào anh cũng tỏ ra mình là người quan trọng, mình mới là người có thể... quyết định việc này, việc kia. Khi có cơ quan đến đề xuất nội dung công việc với thủ trưởng thì anh bẻ hành, bẻ tỏi, yêu cầu phải làm thế này, làm thế kia và thay đổi, đảo lộn gần như hoàn toàn nội dung, kế hoạch của cơ quan đề xuất. Anh không biết, hoặc cố tình không biết rằng chính những phần việc ấy đã được các chuyên gia và cơ quan tham mưu xem xét, bàn thảo, cân nhắc kỹ càng trước khi đề xuất. Hành vi ấy biểu hiện rằng, anh đã tự cho mình cái quyền đứng trên cơ quan tham mưu, vượt qua giới hạn trách nhiệm và bổn phận của một thư ký giúp việc.

    Lại cũng có người, do yêu cầu công việc nên được tiếp xúc với thủ trưởng cấp trên thường xuyên. Lẽ ra anh nên lấy đó làm cơ hội để học hỏi, tích lũy thêm kiến thức, nâng cao trình độ, phương pháp, tác phong công tác. Nhưng tiếc thay, anh lại coi những cuộc tiếp xúc đó là thế mạnh, là “năng lực” của mình trước đồng nghiệp. Anh hay kể rằng, mình quen thủ trưởng này, biết thủ trưởng kia, có thể đến chỗ này, vào chỗ khác, có thể giải quyết được nhiều công việc, thậm chí cả những việc đặc biệt quan trọng như sắp xếp, điều động, bổ nhiệm cán bộ... Những người biết anh thì chỉ cười mỉm, họ biết rằng đó chỉ là sự ảo tưởng, bởi thực chất, anh cũng chỉ là một trợ lý bình thường như bao trợ lý khác trong cơ quan. Có chăng những người khác họ không khoe mẽ, không ra vẻ như anh, mà họ biết trách nhiệm và biết giữ đúng bổn phận của người cán bộ, không bao giờ vượt quá giới hạn đã được tổ chức xác định. Nhưng có người không biết, lần đầu tiếp xúc với anh thì lại tưởng anh có quyền năng thật, nên lân la nhờ vả, đề nghị hỗ trợ, giúp đỡ, thậm chí có cả phần “chè nước” để đưa đẩy, nhằm bảo đảm cho sự việc hanh thông. Nhưng cuối cùng, vì không có quyền năng thực sự nên sự việc không được tổ chức thông qua, không được thủ trưởng chấp thuận. Khỏi phải nói sau sự việc như thế hình ảnh của anh trong mắt đồng nghiệp như thế nào.

    Có một điều rất đáng suy ngẫm là hiện tượng khoe mẽ, huênh hoang của cán bộ, lúc sinh thời đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhiều lần trong các bài nói, bài viết. Điển hình là trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc". Trong tác phẩm này, Bác chỉ rõ bệnh kiêu ngạo của người cán bộ, đảng viên, đó là: “Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình... Việc gì cũng muốn làm thầy người khác” (1). Đến tháng 11-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết hẳn một bài báo tựa đề “Bệnh tự ái, tự kiêu” đăng trên Báo Sự thật số 102, ra ngày 15-11-1948. Trong bài báo, Bác chỉ rõ: “Tự kiêu tức là cho mình việc gì cũng thạo, cũng làm được. Việc gì mình cũng giỏi hơn mọi người. Mình là thần thánh, không cần học ai, hỏi ai” (2). Những năm gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng thường nhắc đến hành vi khoe mẽ, tự kiêu, tự đại, nịnh trên, nạt dưới của một số cán bộ. Thế nhưng những cảnh báo đó dường như chưa thấm, chưa ngấm vào một bộ phận cán bộ, đảng viên. Vì thế trong thực tế vẫn còn nhiều cán bộ, đảng viên mắc phải thói hư này. Đây là căn nguyên sinh ra bệnh cá nhân chủ nghĩa có hại cho Đảng và có hại cho chính bản thân cán bộ, đảng viên.    

    Đến ỷ thế làm liều

    Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo xử lý nhiều vụ án quan trọng có liên quan đến các cán bộ, đảng viên. Đã cách chức, giáng chức, giáng cấp, khai trừ, kỷ luật hàng nghìn cán bộ, đảng viên có vi phạm. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cao cấp của Đảng, sĩ quan cao cấp trong LLVT đã bị truy tố do vi phạm pháp luật. Trong số các vụ án nói trên có không ít vụ là do các đối tượng đã lợi dụng danh nghĩa, danh tiếng của cá nhân, tổ chức để làm liều. Điển hình là các vụ án như vụ Phan Văn Sào Nam, lợi dụng, cấu kết với một số cán bộ để tổ chức đánh bạc và rửa tiền; vụ Phan Văn Anh Vũ lợi dụng chức vụ, quyền hạn, núp bóng cấp trên, lôi kéo, tha hóa cán bộ và đã phạm nhiều tội nghiêm trọng như: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ; Cố ý làm lộ bí mật Nhà nước; Lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản. Hoặc như phạm nhân Trịnh Xuân Thanh (bị tòa án xét xử năm 2018), trước khi bị khởi tố đã có một quá trình vi phạm pháp luật, tham nhũng, nhưng lợi dụng các mối quen biết, tiếp tục “luồn lách” “chui sâu, leo cao” và được bổ nhiệm giữ chức Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang. Sở dĩ Thanh tham nhũng, vi phạm pháp luật trong thời gian dài có một nguyên nhân rất quan trọng đó là dựa bóng cấp trên, dựa vào sự bao che của cấp trên để phóng tay làm liều, biết sai mà vẫn làm. Việc Thanh bị báo chí phanh phui từ hành vi sử dụng chiếc xe ô tô tư nhân đắt tiền, nhưng lại gắn biển xe công vụ thực chất chỉ là giọt nước tràn ly và cũng là xuất phát từ thói huênh hoang, khoe mẽ, "coi trời bằng vung" của một cán bộ đã nhiễm thói hư, tật xấu từ lâu...

    Trên đây chỉ là một số vụ án lớn, điển hình về sự tha hóa của cán bộ có nguyên nhân khởi nguồn từ thói dựa hơi, dựa tiếng cấp trên, thậm chí tha hóa cán bộ cấp trên để tạo tấm bình phong cho mình làm liều, làm bậy, vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Trong thực tế cuộc sống, cũng còn nhiều cán bộ, đảng viên mới có một chút chức quyền trong tay nhưng đã bộc lộ thói huênh hoang, làm liều, như: Dọa nạt, hành hung cán bộ, nhân viên khi họ đang thi hành công vụ; mạt sát, coi thường, sách nhiễu nhân dân khi người dân có việc cần đến cơ quan công quyền; nịnh trên, nạt dưới, vi phạm dân chủ ở cơ quan, đơn vị... Thậm chí có cả những người có học hàm, học vị, giữ chức vụ quan trọng ở một nhà trường, nhưng lại nói năng lỗ mãng, hống hách, ứng xử thiếu văn hóa với khách đến tìm hiểu về cơ quan, đơn vị mình. Những hiện tượng này đang xảy ra khá phổ biến và đã được các cơ quan báo chí đăng tải, phê phán, nhưng xem ra việc khắc phục, sửa chữa chuyển biến tiến bộ còn rất chậm. Mới đây, phát biểu trong Hội nghị Văn hóa toàn quốc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra một số thói hư, tật xấu, thiếu văn hóa... của một số cán bộ, đảng viên và thói học đòi, tiếp thu thiếu chọn lọc văn hóa nước ngoài. Sự ý nhị của Tổng Bí thư khi đọc bài thơ "Chân quê" của Nguyễn Bính, trong đó nhấn mạnh mấy câu cuối của bài thơ này: “Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê/ Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” là lời nhắc nhở sâu sắc cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, xây dựng và duy trì lối sống trong sáng, lành mạnh, có văn hóa...

    Sửa những thói hư, tật xấu, thói khoe mẽ, huênh hoang của cán bộ, đảng viên là việc cấp thiết và phải tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi trong một đảng cầm quyền thì mỗi đảng viên phải là một hạt nhân đoàn kết, phải có phẩm chất đạo đức tốt, có liêm sỉ, có cách ứng xử văn hóa trước quần chúng nhân dân, như thế mới tập hợp, thu hút được quần chúng, mới giúp Đảng hoàn thành trọng trách lãnh đạo xã hội. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII vừa ban hành Quy định số 37-QĐ/TW quy định về những điều đảng viên không được làm, mục đích cũng là để làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng ngày càng thấm nhuần đạo đức cách mạng, tự rèn luyện, tu dưỡng để xứng đáng với vai trò tiền phong. Vì vậy tinh thần, nội dung của Quy định 37-QĐ/TW cần phải nhanh chóng được lan tỏa tới các chi bộ và từng đảng viên. Đảng viên và tổ chức đảng các cấp trong sinh hoạt cần nêu cao tính tự phê bình và phê bình, nghiêm túc quán triệt, học tập thực hiện các điều trong quy định và phải kiên quyết xử lý các đảng viên vi phạm quy định. Phải tăng cường công tác kiểm tra Đảng, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các đảng viên khi có biểu hiện, dấu hiệu vi phạm. Thời gian qua, chính vì chưa chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, hoặc khi đấu tranh, phê bình còn e dè, nể nang, nên thói chuyên quyền, độc đoán, huênh hoang có cơ hội tồn tại và phát tác trong một số cán bộ, đảng viên. Còn đối với mỗi cán bộ, đảng viên muốn chữa được bệnh huênh hoang, khoe mẽ thì cần luôn ghi nhớ và học cách khiêm tốn, cần biết nói những gì, nói ở đâu và nói vào lúc nào, cần phải biết lắng nghe phê bình, tiếp thu phê bình một cách thành thật, rồi tích cực sửa chữa sai lầm theo đúng tinh thần của người cộng sản. Người xưa đã nói đại ý: Khiêm tốn bao nhiêu cũng chưa đủ, tự kiêu một chút hóa ra thừa. Câu nói này có lẽ đến nay vẫn đúng và vẫn còn giá trị.    


Sưu tầm

Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa": Giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn để không tự “đánh mất mình”

 

    Đảng, Nhà nước ta luôn phát huy dân chủ, tiếp thu, lắng nghe ý kiến của các tầng lớp nhân dân, trong đó có các cán bộ hưu trí-những người có kinh nghiệm thực tiễn, đóng góp tích cực, hiệu quả vào nhiệm vụ xây dựng Đảng, xây dựng bộ máy Nhà nước. Tuy nhiên, thời gian qua, lợi dụng dân chủ, một số đảng viên, cán bộ hưu trí đã có những phát ngôn đi ngược lại quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá cách mạng Việt Nam.

    Trước hết phải khẳng định rằng, đại đa số cán bộ nghỉ hưu, nghỉ công tác luôn giữ vững chí khí cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Nhiều cán bộ không những đóng góp tích cực khi còn công tác mà khi nghỉ hưu cũng luôn gương mẫu, đi đầu trong vận động, hướng dẫn, tổ chức nhân dân chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, trở thành tấm gương mẫu mực cho thế hệ trẻ học tập, noi theo. Đã có rất nhiều cán bộ dành những đồng lương hưu ít ỏi để giúp đỡ, hỗ trợ người nghèo khó; có những cựu chiến binh tự nguyện hiến hàng nghìn mét vuông đất để mở đường, xây dựng các công trình góp sức cùng nhân dân trong xây dựng nông thôn mới... Tuy nhiên, cũng thật đáng tiếc, vẫn còn một số cán bộ nghỉ hưu do những bức xúc cá nhân, hoặc không giữ được chí khí người cộng sản, nói, viết trái đường lối, quan điểm của Đảng, đi ngược lại lợi ích chính đáng của nhân dân. Có người thậm chí còn phủ nhận tất cả những nỗ lực, cố gắng không chỉ của dòng họ, gia đình mà còn là sự hy sinh xương máu của cả dân tộc.

    Thực tế, một số cán bộ khi đương chức thì không có ý kiến đóng góp thẳng thắn cho Đảng, cho đất nước, cho cơ quan nơi mình công tác, nhưng khi nghỉ hưu thì có biểu hiện phát ngôn tùy tiện, không mang tính xây dựng, thậm chí sử dụng những thông tin không chính thống để “đưa chuyện”… Một số đảng viên, cán bộ nghỉ hưu, một phần do thiếu thông tin, nên khi tham gia mạng xã hội đã có biểu hiện xa rời tổ chức, “luận bàn thế sự” một cách thiếu trách nhiệm, thiếu ý thức chính trị, thậm chí bị lôi kéo, kích động. Đáng lẽ, trước những hiện tượng tiêu cực trong xã hội, với nền tảng lý luận và thực tiễn của mình, được tích lũy trong nhiều năm công tác, những cán bộ đó phải có lập luận sắc bén, phản biện quyết liệt với những thông tin xuyên tạc, sai lệch, kiểu “đánh bùn sang ao”, “vơ đũa cả nắm” nhằm kích động, chống phá Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, không những không làm được điều đó, một số cá nhân còn nhầm lẫn giữa hiện tượng và bản chất; dẫn đến bình luận chủ quan, hoặc chia sẻ thông tin sai lệch, phiến diện, thiếu tin cậy và không được kiểm chứng.

    Khi một số cán bộ nghỉ hưu không giữ được khí tiết của người cộng sản, phẩm chất cách mạng của người đảng viên, không giữ được “lòng trong, tâm sáng”, họ bị sa đà và đánh mất mình với những phát ngôn sai lệch. Họ là những người “khi rời tập thể… dễ tan vào đám đông”, “tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trong chính nội tại bản thân. Đáng buồn hơn, có những cán bộ sắp nghỉ hưu đã có biểu hiện “chợ chiều cuối khóa” cả trong thực hiện nhiệm vụ và chấp hành kỷ luật phát ngôn.

    Trong khi hầu hết cán bộ, đảng viên khi nghỉ hưu luôn kiên định với lý tưởng, sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc; tự giác, gương mẫu chấp hành cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xác định dù nghỉ hưu vẫn tiếp tục đóng góp cho cách mạng, cho quê hương, xóm, phố… thực hiện “sống vui, sống khỏe, sống có ích”… thì vẫn còn một số cán bộ, đảng viên hưu trí đã có những phát ngôn không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng. Điều này đã được Đại hội XII của Đảng cảnh báo và chỉ rõ: “Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng ở một số cán bộ, đảng viên”. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII cũng chỉ rõ: “Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu”... 

    Đặc biệt, lợi dụng tự do ngôn luận, một số cán bộ, đảng viên nghỉ hưu còn đăng đàn lôi kéo, hoặc bị lôi kéo kích động nói xấu Đảng, Nhà nước, làm những điều đi ngược lợi ích quốc gia, dân tộc. Họ vừa là thủ phạm, vừa là nạn nhân đáng chê trách trong thời đại công nghệ số. 

    Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng quyền tự do, dân chủ của công dân, tổ chức; trong đó có quyền bày tỏ chính kiến, ý kiến, thậm chí cả những ý kiến chưa đồng thuận, trái chiều, nhưng phải bảo đảm tôn trọng sự thật, khách quan; đóng góp mang tính xây dựng và tuân thủ pháp luật. Đặc biệt với cán bộ, đảng viên dù đang đương chức hay đã nghỉ hưu, đều phải nói và làm theo đúng nghị quyết của Đảng; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; góp ý, kiến nghị đúng nơi, đúng chỗ, đúng quy định; trên cơ sở biện chứng, khoa học; tránh tình trạng sự việc, sự kiện đã qua, không còn phù hợp với hiện tại vẫn được một số người cố tình “xới lên”, thêu dệt, làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang, dao động trong quần chúng nhân dân. Đó cũng chính là những biểu hiện không giữ được phẩm chất, đạo đức cách mạng của người cộng sản, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, lợi dụng tự do, dân chủ để xuyên tạc, lôi kéo, kích động chống phá Đảng, Nhà nước.

    Đảng, Nhà nước ta luôn trân trọng, ghi nhận những đóng góp to lớn, tích cực của đội ngũ cán bộ nghỉ hưu trong xã hội. Những năm qua, hằng năm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đều tổ chức hội nghị gặp mặt cán bộ lão thành, nguyên cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ở 3 miền Bắc, Trung, Nam, để báo cáo kết quả phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng; kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; cung cấp thông tin chính thống liên quan đến các vụ việc, vấn đề dư luận quan tâm. Các ban, ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương… trong cả nước cũng định kỳ và thường xuyên tổ chức gặp mặt, đối thoại, cung cấp thông tin chính thống cho các cán bộ hưu trí đang sinh sống tại địa bàn. Thông qua các kênh khác nhau, việc lấy ý kiến cán bộ, công chức đã nghỉ hưu được Đảng, Nhà nước và các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc… thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, cầu thị, trân trọng những đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm, trên tinh thần xây dựng của các đồng chí nguyên lãnh đạo các cấp và đội ngũ cán bộ hưu trí, coi đây là một kênh quan trọng để đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong Đảng và hệ thống chính trị. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên hưu trí cần thấy rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong đóng góp, hiến kế tham gia xây dựng đất nước. Cần nắm chắc và thực hiện đúng các quy trình, thủ tục, cách thức tham gia đóng góp ý kiến, phát biểu trước diễn đàn; trong mọi tình huống phải phát biểu chính danh, đúng cách, nhìn nhận sự việc khách quan, đa chiều, tôn trọng sự thật; luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết. Mỗi ý kiến phát biểu, phát ngôn cần được cân nhắc thận trọng, thấy rõ cả tác động tích cực và tiêu cực; tác dụng và tác hại; khi phân tích, xem xét phải được đặt trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể...

    Cùng với phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ hưu trí, công tác tuyên truyền, vận động cần được tiếp tục quan tâm hơn nữa; trong đó, việc cung cấp thông tin một cách kịp thời, chính thống cho cán bộ hưu trí là hết sức cần thiết. Bởi thực tế, một số cán bộ nghỉ hưu phát ngôn chưa đúng là do thiếu thông tin, hoặc chưa tỉnh táo thanh lọc thông tin; bị lợi dụng…

    Nhiều cán bộ hưu trí, tuy đã “hưu” nhưng với “trí” sáng, “tâm” trong vẫn luôn nhiệt huyết đóng góp cho cách mạng và cộng đồng. Tiếng nói của các đồng chí có uy tín, có sức thuyết phục nhờ kiến thức, vị thế xã hội, kinh nghiệm và uy tín tích lũy sau nhiều năm công tác. Khi nghỉ hưu cũng là dịp để mỗi cán bộ có điều kiện, thời gian chiêm nghiệm, đúc kết thực tiễn và tiếp tục hiến kế cho Đảng, Nhà nước, đóng góp cho xã hội và cộng đồng. Điều đó rất đáng trân trọng. Tuy vậy, chúng ta không đồng tình khi có một số ít cán bộ hưu trí, do tác động của tuổi tác, sức khỏe, tâm lý; do thông tin, sự tiếp xúc xã hội hạn chế, nên đã có những hành động, lời nói thiếu nhất quán, không đúng đường lối, quan điểm của Đảng; đánh mất vai trò “cây cao bóng cả”; dễ bị đối tượng xấu lợi dụng, kích động, thậm chí phản bội lý tưởng, đi chệch con đường mà chính họ đã suốt cuộc đời cống hiến, hy sinh. Với mỗi người, niềm tin, lý tưởng, nhân sinh quan, lẽ sống là hết sức quan trọng. Đó cũng là bản lĩnh chính trị, là lời thề trước Đảng, là sự trung thành, kiên định với con đường đã chọn của mỗi cán bộ, đảng viên khi đang công tác cũng như khi nghỉ hưu.

Sưu tầm

Bảo toàn danh dự đảng viên - điều cao quý, thiêng liêng

 

    Danh dự được ví như một thứ nước hoa. Giữ được danh dự đảng viên không chỉ giữ được danh thơm cho cả gia đình, người thân, bạn bè, dòng họ, mà còn góp phần làm lan tỏa tiếng tốt của mình trong tập thể, cấp ủy, tổ chức đảng và rộng hơn là trong toàn Đảng, toàn xã hội. Nhưng danh dự lại được ví như một que diêm, khi đã cháy một lần là hết ngay. Nói thế để thấy, xây dựng được danh dự đã khó, để bảo toàn được danh dự lâu dài còn khó hơn nhiều.

    Ý nghĩa của những lời thề

    Trong cuộc đời, ai cũng từng mang nặng một lời thề nào đó. Lời thề luôn khởi nguồn từ những điều thiêng liêng, sâu kín nhất từ trong trái tim con người. Thuở xưa, nhiều người là đồng niên, đồng môn, đồng nghiệp muốn gắn bó lâu bền với nhau đã cùng uống chén rượu thề trước trời đất chứng giám cho tình bằng hữu được keo sơn gắn bó. Trong ngày lễ thành hôn, một trong những việc hệ trọng nhất của cuộc đời, tình nghĩa phu thê đã được nhiều người thề thốt là sống thủy chung bên nhau đến đầu bạc răng long. Cũng có nhiều binh sĩ trước khi ra sa trường hay biên ải đối mặt với quân xâm lăng, đã quyết giữ trọn lời thề trung quân ái quốc, đánh tan kẻ thù để xứng với chí khí của bậc nam nhi quân tử.

    Người Việt vốn sống trọng tình, trọng nghĩa nên rất trọng lời thề. Vì lời thề gắn liền với tính cách khảng khái, trượng phu, quang minh chính đại của một nhân cách chân chính. “Quân tử nhất ngôn”, “Nói lời phải giữ lấy lời”, “Lời thề như dao chém đá”… không chỉ là những câu châm ngôn đầy chất ứng xử văn hóa mà người xưa gửi gắm, trao truyền và nhắc nhớ hậu thế, mà nó còn toát lên và thể hiện ý chí, bản lĩnh, khí phách trước sau như một của những bậc dũng tướng, sĩ phu, văn nhân, quan chức giàu lòng tự trọng. Ngược lại, với những kẻ đầu môi chót lưỡi, nói đâu bỏ đấy, hứa trước quên sau, vô thủy vô chung, nói một đằng làm một nẻo thì chỉ coi lời thề là “lời nói gió bay”, “thề cá trê chui ống”…

    Đừng ai nghĩ rằng lời thề đơn giản. Không chỉ là lời hứa danh dự, mà hơn thế, đó là lời hứa chứa đựng cả giá trị đạo đức, văn hóa và thể hiệu chiều sâu nhân cách tử tế của một con người. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, có một lời thề làm lay động tâm can và tạo ra sức lan tỏa, truyền cảm hứng cho cả dân tộc ta, đó là lời thề “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” của các chiến sĩ Trung đoàn Thủ Đô. Tinh thần của lời thề đó tiếp tục tạo niềm tin nâng bước cho lớp lớp thanh niên trên khắp mọi miền đất nước tình nguyện nhập ngũ và ra chiến trường xung trận với một ý chí mãnh liệt: “Ra đi giữ trọn lời thề/ Đánh xong giặc Mỹ mới về quê hương!”.

    Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, vào mỗi buổi lễ chào cờ đầu tuần, đầu tháng, bao giờ cũng có một nghi thức trang nghiêm là một quân nhân tiêu biểu đứng dưới Quốc kỳ đọc Mười lời thề danh dự của quân nhân. Những lời thề ấy như chứa đựng cả hồn sông khí núi, tạo thêm khí thế và sức mạnh tinh thần cho mỗi chiến sĩ tiến về phía trước, đạp bằng mọi chông gai, vượt qua mọi thử thách, nỗ lực hoàn thành bổn phận giữ gìn giang sơn bờ cõi; đồng thời là lời động viên, nhắc nhớ mỗi người luôn giữ tròn chữ “trung” với Đảng, với nước và chữ “hiếu” với dân.

    Danh dự đảng viên - khởi nguồn từ lời tuyên thệ trong ngày kết nạp Đảng

    Một trong những kỷ niệm khó phai trong đời người đảng viên là ngày được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong buổi lễ trang nghiêm ấy, chắc hẳn mỗi người không quên khoảnh khắc và cảm xúc khi nói những lời tuyên thệ: “Hôm nay vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam, trước cờ Tổ quốc, cờ Đảng, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và trước sự chứng kiến của các đảng viên trong chi bộ, tôi xin thề: “Tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tuyệt đối phục tùng kỷ luật và sự phân công của Đảng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao…”. 

    Nói đến lời thề của đảng viên là nói đến lương tâm, danh dự, phẩm chất, giá trị, uy tín, thanh danh của người cộng sản. Với những đảng viên có ý thức và giàu lòng tự trọng, lời thề trong ngày lễ kết nạp Đảng đã trở thành một trong những động lực rèn luyện, tu dưỡng tốt hơn, phấn đấu bền bỉ hơn, có nhiều đóng góp tích cực hơn cho tập thể, cho tổ chức đảng nơi mình công tác, qua đó góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về mọi mặt và cũng nhờ đó, bản thân ngày càng hoàn thiện về phẩm chất nhân cách và không ngừng tiến bộ, trưởng thành. Lời thề của những đảng viên chân chính thực chất là lời bảo đảm cam kết chính trị hàng đầu về lòng trung thành, chí tiến thủ và tinh thần suốt đời phấn đấu, hy sinh vì những mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của Đảng và cách mạng. Vì mang theo lời thề thiêng liêng ấy, trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, có gần 160.000 đảng viên đã chiến đấu và anh dũng hy sinh vì nước, vì dân.

    Tuy nhiên, có một thực tế đáng buồn là những năm gần đây, một bộ phận cán bộ, đảng viên đang tự đánh mất những phẩm giá thiên lương của người cộng sản, làm hoen ố danh dự của đảng viên. Nguyên nhân sâu xa dẫn tới thực trạng này là cán bộ, đảng viên không thấm thía những lời thề thiêng liêng từ ngày đầu là đảng viên mới; không ứng xử trọn vẹn, thủy chung với những lời tuyên thệ đã từng cất lên từ trái tim mình trong buổi lễ kết nạp Đảng; không kiên tâm, bền bỉ nuôi dưỡng, bồi đắp và bảo toàn danh dự hai chữ “đảng viên”-một danh xưng là niềm ước mơ, khát vọng cháy bỏng mà mình hằng phấn đấu, theo đuổi và ngưỡng mộ.

    Không ngẫu nhiên mà người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta từng bày tỏ nỗi lòng sâu kín nhất của mình khi đặt câu hỏi: “Mai kia Đảng này sẽ là đảng của ai?”. Vốn suy tư và nặng lòng trăn trở cho sự trường tồn của Đảng và chế độ ta, vị lãnh đạo cao nhất của đất nước không dưới một lần bày tỏ cảm xúc “đau lòng” khi một loạt cán bộ cao cấp và nguyên cán bộ cao cấp bị xử lý kỷ luật; đồng thời cảnh báo, cảnh tỉnh mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp và cán bộ cao cấp trong hệ thống chính trị phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, tự soi, tự sửa để tránh đi vào những vết xe đổ; nếu tay trót “nhúng chàm” thì phải “tự giác gột rửa”; đồng thời đừng quên rằng, danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất đối với mỗi con người, trước hết là mỗi cán bộ, đảng viên.

    Không trăn trở sao được khi trong 7 năm (2011-2017), có tới gần 51.000 đảng viên bị xóa tên khỏi Đảng, trong đó hơn 38.500 trường hợp bị xóa tên do vi phạm, ngoài ra có gần 12.500 đảng viên bị kỷ luật khai trừ khỏi Đảng. Đảng ta đã xử lý kỷ luật hơn 60 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, một con số nói lên “kỷ lục” buồn về sự tổn thất cán bộ. Đáng nói hơn, có những cán bộ khi còn ở cương vị thấp luôn giữ được sự trong sáng của người đảng viên chân chính; cũng có cán bộ từng nếm mật nằm gai, từng trải qua những năm tháng vào sinh ra tử, từng lên rừng xuống biển, lặn lội xông pha với nhân dân trong thực tiễn cơ sở; nhưng khi phấn đấu vươn lên và được trao quyền lực lớn hơn đã thiếu nghiêm khắc rèn luyện bản thân, bị mê hoặc, quyến rũ bởi “cái bả” tiền tài danh vọng nên từng bước trượt dài, lún sâu vào con đường sai phạm. Để rồi khi tỉnh ngộ ra, những cán bộ bị kỷ luật, bị rơi vào vòng lao lý mới hiểu thế nào là nỗi đau âm ỉ: “Mất tiền bạc là mất ít, mất sức khỏe là mất nhiều, mất danh dự là mất tất cả”!

    Danh dự được ví như một thứ nước hoa. Giữ được danh dự đảng viên không chỉ giữ được danh thơm cho cả gia đình, người thân, bạn bè, dòng họ, mà còn góp phần làm lan tỏa tiếng tốt của mình trong tập thể, cấp ủy, tổ chức đảng và rộng hơn là trong toàn Đảng, toàn xã hội. Nhưng danh dự cũng được ví như một que diêm, khi đã cháy một lần là hết ngay. Nói thế để thấy, xây dựng được danh dự đã khó, để bảo toàn được danh dự lâu dài còn khó hơn nhiều. Vậy nên, khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ đội tiền phong của những người chiến sĩ cách mạng, dù ở đâu, lúc nào, trên cương vị gì, nhất là trong những lúc khó khăn, cam go, thử thách và trước những cám dỗ “mồi phú quý, bả vinh hoa”, mỗi đảng viên đừng bao giờ quên mình đã có một lời thề thiêng liêng trước lá cờ Tổ quốc, cờ Đảng và trước anh linh Bác Hồ vĩ đại. Muốn trọn đời theo Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên hãy biết khắc cốt ghi tâm những lời thề trong ngày kết nạp Đảng, góp phần làm cho danh hiệu đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi là niềm tin, niềm tự hào và trở thành “danh thơm, tiếng tốt” có sức hút, sức hấp dẫn đối với mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Đó cũng là một cách bảo vệ uy tín, danh dự của Đảng Cộng sản Việt Nam bền vững nhất. Đồng thời, đó cũng là một việc làm thiết thực để góp phần phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ Đảng.

Sưu tầm

Lời Bác năm xưa: “Kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm sau này”

 

         Việc không “tự soi”, “tự sửa” để rồi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của những cán bộ, lãnh đạo vị kỷ này, tất yếu dẫn đến hủy hoại sự nghiệp của bản thân và làm tổn hại đến uy tín của tổ chức, làm suy giảm niềm tin của quần chúng...

Tháng 3/1947, trong thư gửi các đồng chí Trung bộ, Bác Hồ có “mấy lời dặn các đồng chí” và “mong các đồng chí chú ý”. Trong thư có câu: “Có những đồng chí còn giữ thói “một người làm quan, cả họ được nhờ”, đem bà con bằng hữu vào chức này, việc kia, làm được, không được mặc kệ. Hỏng việc đã có Đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bằng hữu có địa vị là được”.

Trong suốt sự nghiệp cách mạng của Đảng, lớp lớp các thế hệ cán bộ, đảng viên chân chính đã không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, dũng cảm vượt qua khó khăn, thách thức, thi đua lao động, sáng tạo để bảo vệ và dựng xây Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là những con người suốt đời hành động “Dĩ công vi thượng”, không mảy may tư lợi, đặt lợi ích của tập thể, của đất nước và Nhân dân lên trên hết, trước hết.

Tuy nhiên, cũng có không ít những cán bộ, đảng viên, trong đó có những người nắm giữ vị trí lãnh đạo các địa phương, cơ quan, đơn vị lại coi lợi ích của bản thân, gia đình, dòng tộc và người thân là mục tiêu và “xoay sở” để đạt được mục tiêu ấy. Chẳng thế mà câu chuyện bổ nhiệm “đúng quy trình”, hay “cả họ làm quan” ở địa phương này, cơ quan nọ, đơn vị kia... đã từng trở thành những đề tài được “đàm tiếu” và làm dấy lên những luồng dư luận trong xã hội và là đề tài “nóng” trên báo chí và các diễn đàn. Đó từng là chuyện cách đây vài năm, Bộ Nội vụ công bố 9 địa phương, đơn vị có tình trạng “cả họ làm quan”. Hay gần đây nhất là ở một doanh nghiệp công ích 100% vốn nhà nước của Thanh Hóa với việc bổ nhiệm “toàn người thân” mặc dù còn “nhiều thiếu sót trong khâu sơ yếu lý lịch, kê khai tài sản, lấy phiếu tín nhiệm, bằng cấp...” - theo kết luận của Sở Nội vụ. Trước nữa, là chuyện bởi một người làm quan, mà gia đình, người thân nhờ thế mà “chui” được vào cả danh sách... hộ nghèo và “đi lạc” vào danh sách hộ nghèo ở một địa phương của huyện Thiệu Hóa.

Đối chiếu với những lời căn dặn rất cụ thể, chi tiết, dễ hiểu, dễ nhớ trong bức thư của Bác 76 năm về trước, mới thấy việc không “tự soi”, “tự sửa” để rồi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của những cán bộ, lãnh đạo vị kỷ này, tất yếu dẫn đến hủy hoại chính bản thân và làm tổn hại đến uy tín của tổ chức, làm suy giảm niềm tin của quần chúng. Bức thư có đoạn:

“Vì vậy, ta phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm sau này:

a. Địa phương chủ nghĩa: Chỉ chăm chú lợi ích của địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ. Do khuyết điểm đó mà sinh ra những việc, xem qua thì hình như không quan hệ gì mấy, kỳ thực rất có hại đến kế hoạch chung. Thí dụ: muốn giữ lấy tất cả cán bộ và vật liệu cho địa phương mình, không bằng lòng để cấp trên điều động cán bộ và vật liệu đến nơi cần kíp.

b. Óc bè phái: Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không thân với mình thì dù học có tài cũng tìm cách dìm họ xuống, họ nói phải mấy cũng không nghe”.

Và Bác kết luận: “Đó là một khuyết điểm rất có hại. Nó làm cho Đoàn thể mất cán bộ, kèm nhất trí, thường hỏng việc. Đó là một chứng bệnh rất nguy hiểm” (*).

Học tập và rèn luyện theo tư tưởng của Người về “Dĩ công vi thượng”, “Chí công vô tư”, nhưng đồng thời mỗi cán bộ, đảng viên cũng cần nêu cao tinh thần phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng “cánh hẩu”, bè phái, cục bộ, từ đó lựa chọn và suy tôn những cán bộ, đảng viên thực sự có đức, có tài để gánh vác công việc cho tổ chức, đoàn thể và rộng hơn là cho quê hương, đất nước.

Sưu tầm

Hiểu thêm về chủ thể phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

 

    Một số bạn đọc băn khoăn về việc xác định chủ thể trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay. Chúng tôi đã tìm hiểu và cung cấp tới bạn đọc một số thông tin.

    Trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có chủ thể lãnh đạo, tổ chức, quản lý, điều hành và chủ thể thực hiện. Chúng ta có thể hiểu rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp chính là chủ thể lãnh đạo phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Sở dĩ như vậy là vì, Đảng ta là Đảng cầm quyền, thực hiện sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, theo đó Đảng lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị, lãnh đạo toàn diện các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một bộ phận của cuộc đấu tranh trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng-văn hóa; là một nội dung của công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa, vì vậy Đảng phải lãnh đạo nhiệm vụ này là tất yếu, khách quan. Hệ thống cấp ủy, tổ chức đảng các cấp là chủ thể lãnh đạo phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo phạm vi chức năng, quyền hạn của từng cấp. Để thực hiện tốt nhiệm vụ lãnh đạo, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xác định phương hướng, chủ trương, biện pháp lãnh đạo trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, trong nghị quyết chuyên đề về làm cơ sở để cấp ủy, tổ chức đảng các cấp nghiên cứu, quán triệt, xác định những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chương trình, kế hoạch... phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở cấp mình.  

    Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cả cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp là chủ thể quản lý, điều hành nhiệm vụ phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" ở nước ta hiện nay. Hệ thống cơ quan chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở là chủ thể quản lý, điều hành các hoạt động và trực tiếp xử lý các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở cơ quan, đơn vị, địa phương thuộc quyền. Để thực hiện vai trò quản lý, điều hành của mình, Nhà nước ban hành những luật, nghị định, những văn bản quy phạm pháp luật, quy định, quy chế... nhằm ngăn ngừa những nguồn gốc, nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, trái với đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chính quyền các cấp dựa trên hệ thống luật pháp, chính sách của Nhà nước, đường lối, quan điểm của Đảng, chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy cấp trên, cấp mình để thực hiện chức năng quản lý, điều hành hoạt động phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong phạm vi cơ quan, đơn vị, địa phương, ban, ngành của mình.

    Đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân là chủ thể thực hiện phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta. Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra ở mỗi con người và tổ chức, gắn với hoạt động của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân dân, cán bộ, chiến sĩ trong LLVT ở từng cơ quan, đơn vị hiểu rõ tổ chức nào, cá nhân nào thực sự là tiên phong, mẫu mực, trung kiên, trong sạch, liêm khiết; còn tổ chức nào, cá nhân nào đang bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do đó, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần được tiến hành ngay từ cơ sở, trong từng cơ quan, đơn vị, địa phương, từ đó góp phần vào kết quả phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong toàn xã hội. 

Sưu tầm