Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2024

Nâng cao ý thức, trách nhiệm để xây dựng không gian mạng lành mạnh

 

    Không gian mạng, nơi diễn ra các hoạt động trao đổi thông tin, một mạng lưới toàn cầu; một môi trường mới, nơi diễn ra tất cả các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội… một thế giới ảo, tồn tại và tương tác, đan xen, gắn kết mạnh mẽ với thế giới thực của con người. 

    Sử dụng không gian mạng là nhu cầu không thể thiếu của mỗi chúng ta hiện nay và trở thành xu hướng của thời đại. Vai trò to lớn của không gian mạng đối với sự phát triển của xã hội loài người là không thể phủ nhận. Vì vậy, không gian mạng cũng đã trở thành môi trường tác chiến mà các quốc gia trên thế giới không thể đứng ngoài. Theo đó, trong môi trường ấy đã diễn ra các hình thái chiến tranh mới như chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng đã xuất hiện và đang tác động đến tới tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… thậm chí đe dọa chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc. 

    Thực tiễn đã từng diễn ra nhiều cuộc binh biến chính trị như: năm 2014, làn sóng cách mạng xã hội và các cuộc biểu tình ở Bắc Phi, Trung Đông và Hồng Kông có sự đóng góp không nhỏ của các phương tiện truyền thông trên không gian mạng; năm 2016 ở Thổ Nhĩ Kỳ, chính phủ đã dập tắt cuộc đảo chính của quân đội nhờ mạng xã hội; năm 2016, Donal Trump thắng cử trong cuộc bầu cử Tổng thống nước Mỹ cũng có sự đóng góp to lớn của mạng xã hội… 

    Hiện nay, thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra cho Việt Nam một kỷ nguyên mới với nhiều cơ hội thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, cùng với cơ hội phát triển đất nước là nguy cơ, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, tội phạm công nghệ cao đã triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, sự nghiệp đổi mới đất nước một cách quyết liệt. Chúng đã trực tiếp đe dọa, làm tổn hại uy tín, vị thế, lợi ích, chủ quyền, an ninh, an toàn của đất nước và đời sống của Nhân dân ta

    Trên không gian mạng mà trực tiếp là truyền thông mạng là công cụ đắc lực của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động để thúc đẩy “tự diễn biến”“tự chuyển hóa” trong lòng xã hội Việt Nam. Các thế lực này chống phá Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, tư tưởng - văn hóa, tôn giáo - dân tộc, quốc phòng - an ninh, đối ngoại với đủ các chiêu trò và thủ đoạn khác nhau. Vậy, chúng ta phải làm gì trước mặt trái của truyền thông trên không gian mạng? 

    Nhìn ra thế giới: Để đối phó với các mặt trái của truyền thông, mạng xã hội, đa phần các quốc gia đều coi trọng biện pháp sử dụng kỹ thuật để ngăn chặn, kết hợp với tuyên truyền và xây dựng các biện pháp, chế tài pháp lý trong quản lý, kiểm soát hoạt động truyền thông. Để ngăn chặn sự chống phá của phương Tây và lực lượng thù địch, đặc biệt là sự tác động vào ý thức của những người trẻ. Điển hình như:

    Trung Quốc đã đưa ra “7 giới hạn đỏ” yêu cầu cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện. Khi xảy ra các sự cố trong nước, Trung Quốc cho lập “tường lửa vạn lý Trường Thành”, thậm chí chặn toàn bộ các mạng xã hội, đồng thời chỉ đạo các cơ quan truyền thông tập trung tuyên truyền, đấu tranh mang tính hệ thống.

    Mỹ cũng lập riêng một tiểu ban để phân tích và kiểm tra các thông tin trên báo chí khi xảy ra các biến cố an ninh trong nước, bên cạnh đó, Cục Điều tra Liên bang còn thành lập một lực lượng chuyên kiểm soát thông tin trên internet, cũng như các liên lạc bằng điện thoại di động. 

    Hàn Quốc là một trong những quốc gia đi đầu về Internet nhưng đất nước này cũng có những qui định rất chặt chẽ về quản lý truyền thông đặc biệt là internet như: để gửi bài viết, kể cả bình luận trên mạng buộc người gửi phải có số chứng minh nhân dân; những bài viết liên quan đến phản đối nghĩa vụ quân sự, ủng hộ Triều Tiên đều bị cơ quan quản lý gỡ bỏ.

    Chính phủ Nga đã ngăn cấm các công ty nước ngoài phát triển mạng xã hội trong nước. Nga rất coi trọng biện pháp sử dụng kỹ thuật để ngăn chặn những luồng thông tin xấu, đồng thời còn đẩy mạnh phát triển lực lượng tác chiến mạng và coi đó là lực lượng nòng cốt trong việc bảo vệ an ninh quốc gia. 

    Ở nước ta, cùng với hàng loạt giải pháp kỹ thuật, quản lý Nhà nước, Việt Nam còn sử dụng chính truyền thông trên không gian mạng để làm công tác đấu tranh chống lại âm mưu diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, tổ chức phản động. Tiêu biểu là sự ra đời của Bộ Tư lệnh tác chiến không gian mạng đã được Bộ Quốc phòng công bố ngày 08/01/2018. Công bố này cho thấy sự quyết tâm và chủ động về chủ trương nhằm thực hiện đầy đủ các mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược, phương thức bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước, Quân đội trong tình hình mới. Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng có chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và công nghệ thông tin trong toàn quân. Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng sẽ đóng vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, là lực lượng quan trọng tham gia bảo đảm an ninh, an toàn không gian mạng quốc gia, đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao và “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của Tổ quốc cả trên đất liền, trên không, trên biển và trên không gian mạng. 

    Trong thời gian qua, hoạt động chống các tư tưởng, quan điểm sai trái, thông tin sai sự thật trên không gian mạng đã cho chúng ta thấy sự cần thiết phải đấu tranh trên không gian mạng, đặc biệt là truyền thông nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến lược của đất nước trong tình hình mới – nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

    Mỗi công dân Việt Nam, khi tham gia vào không gian mạng, có thể nhận diện các thế thực thù địch, phản động thông qua các thủ đoạn trên cũng như cần cảnh giác với các trang web, blog, trang thông tin truyền thông như: VOA tiếng Việt, “Quan làm báo”, “Dân làm báo”, “Chân dung quyền lực”… Đồng thời, nhân dân cũng cần biết rằng các tổ chức như: Việt Tân, Hội anh em dân chủ và Hoàng Sa, đảng “Dân chủ nhân dân”, “Phong trào Lao động Việt”, “Viễn tưởng Việt Nam”, “Đảng Vì dân”… là các tổ chức phản động chống phá Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam.

    Thiết nghĩ, mỗi cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ ở Học viện Lục quân khi tham gia vào không gian mạng cần:

    Nghiên cứu, hiểu rõ ý nghĩa, giá trị, nội dung của Luật An ninh mạng, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm và những hành vi bị cấm khi tham gia hoạt động trên không gian mạng.

    Tự trau dồi kỹ năng nhận diện âm mưu, thủ đoạn gây nguy cơ mất an ninh mạng, nhất là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, nhận diện được các tổ chức chống đối hoạt động trên không gian mạng như đã nêu ở trên.

    Nâng cao ý thức phòng tránh, tự vệ khi tham gia mạng xã hội. Nghiên cứu kỹ trước khi like hoặc chia sẻ các file, các bài viết hoặc đường link, cảnh giác với các trang web lạ, email chưa rõ danh tính và đường dẫn nghi ngờ, tuyệt đối không a dua, hiếu kỳ, hoặc tham tiền bạc cùng với những lời kích động, xúi giục của các đối tượng xấu. Kịp thời cung cấp thông tin, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có trách nhiệm.

    Tận dụng, sử dụng mạng xã hội một cách đúng đắn và hiệu quả, biến mạng xã hội thành một phương tiện, một kênh hữu ích để mở mạng kiến thức, cùng nhau xây dựng môi trường văn hoá mạng xã hội lành mạnh, tránh bị các thông tin ảo chi phối tác động, góp phần phòng chống, ngăn chặn những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch một cách có hiệu quả.

    Phổ biến, tuyên truyền đến đồng chí đồng đội, gia đình, người thân, bạn bè và Nhân dân các quy định của Luật An ninh mạng để mọi người nắm, hiểu và không thực hiện các hành vi vi phạm liên quan đến an ninh mạng, “góp phần xây dựng không gian mạng lành mạnh từ cơ sở”.

     Với đặc tính không biên giới, không gian mạng có phạm vi ảnh hưởng toàn cầu và đã, đang tác động đến mỗi chúng ta. Những nguy cơ từ không gian mạng gia tăng tỷ lệ thuận đối với sự phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào trong đời sống xã hội. Vì vậy, đảm bảo an ninh mạng đòi hỏi phải có giải pháp tổng thể, từ việc ban hành và thực thi chính sách, pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước, sự sáng tạo, tự chủ trong sản xuất, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ trên không gian mạng bảo đảm an toàn, an ninh mạng của các cơ quan, đơn vị đến ý thức tham gia xây dựng một không gian mạng an toàn, lành mạnh của mỗi người./.

Sưu tầm

Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TƯ LỆNH HẢI QUÂN YÊU CẦU TOÀN QUÂN CHỦNG XỬ TRÍ HIỆU QUẢ CÁC TÌNH HUỐNG!

     Tư lệnh Hải quân Trần Thanh Nghiêm yêu cầu, trong năm 2024, toàn Quân chủng sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) cao, xử trí hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ; giữ vững chủ quyền biển, đảo và môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Ngày 3/1, tại Hải Phòng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân tổ chức Hội nghị Quân chính năm 2023. Phó Đô đốc Trần Thanh Nghiêm - Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Hải quân chủ trì hội nghị; Trung tướng Nguyễn Văn Bổng - Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Hải quân quán triệt nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2024 của Đảng ủy Quân chủng.

Năm 2023, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân đã lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ, nhiều nhiệm vụ hoàn thành tốt, một số nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc.

Theo đó, Quân chủng đã duy trì nghiêm lực lượng, phương tiện SSCĐ, chủ động nắm chắc, đánh giá đúng tình hình, kịp thời tham mưu đề xuất và xử trí có hiệu quả các tình huống, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, các hoạt động kinh tế biển; chủ động triển khai bảo đảm tiến độ các đề án, dự án; tổ chức diễn tập đúng kế hoạch, bảo đảm chất lượng, an toàn; đổi mới, nâng cao hiệu quả tổ chức các đoàn đi kiểm tra, thăm quân dân huyện đảo Trường Sa, Nhà giàn DK1 và các vùng biển đảo của Tổ quốc.

Công tác tổ chức xây dựng lực lượng được triển khai đồng bộ, đúng tiến độ; chất lượng huấn luyện, đào tạo, giáo dục chính trị, tư tưởng và công tác tuyên truyền, chấp hành kỷ luật có nhiều chuyển biến; tham gia các hội thi, hội thao các cấp, khu vực đạt thành tích cao.

Công tác hậu cần, kỹ thuật triển khai đồng bộ, kịp thời cho các nhiệm vụ thường xuyên và đột xuất. Hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp tục tăng trưởng; đối ngoại quốc phòng tiến hành có hiệu quả. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên. Toàn Quân chủng luôn đoàn kết, kiên định, vững vàng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Bên cạnh những thành tích nổi bật, Đảng ủy Quân chủng cũng thẳng thắn đánh giá, năm 2023, Quân chủng vẫn còn một số khuyết điểm, hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới.

Sẵn sàng chiến đấu cao
Hội nghị đã xác định 6 mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu năm 2024, bao gồm: Nắm chắc tình hình, xử trí các tình huống hiệu quả, đúng đối sách trên biển; điều chỉnh tổ chức lực lượng đúng lộ trình, phấn đấu đơn vị cấp trung, lữ đoàn đạt “Đơn vị huấn luyện giỏi”; bảo đảm đúng, đủ, kịp thời hậu cần, kỹ thuật cho các nhiệm vụ…

Phát biểu tại hội nghị, Tư lệnh Hải quân Trần Thanh Nghiêm nhấn mạnh: Năm 2024, để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần bám sát Nghị quyết lãnh đạo của Đảng ủy Quân chủng và nhiệm vụ quân sự quốc phòng; xây dựng lộ trình cụ thể, triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp khắc phục dứt điểm tồn tại.

Toàn Quân chủng tập trung thực hiện hiệu quả đột phá của các ngành; cơ quan các cấp (nhất là cấp trung, lữ đoàn) làm tốt chức năng tham mưu, đề xuất trong thực hiện nhiệm vụ; nâng cao năng lực, chất lượng nắm, dự báo, tham mưu đúng, trúng và xử trí hiệu quả các tình huống trên biển; tăng cường huấn luyện hiệp đồng giữa các lực lượng, huấn luyện dã ngoại, huấn luyện đêm và huấn luyện thuần thục các bài bắn…

Đồng thời, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân chủng tập trung lãnh đạo, quán triệt nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của trên; thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến dịch - chiến lược về quân sự, quốc phòng trên hướng biển. Toàn Quân chủng sẵn sàng chiến đấu cao, xử trí hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ; giữ vững chủ quyền biển, đảo và môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước./.

Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 05 THÁNG 01 NĂM 1952!

     “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy"!
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa: “Gửi anh chị em họa sĩ, biết tin có cuộc trưng bày, tiếc vì bận quá, không đi xem được. Tôi gửi lời thân ái hỏi thăm anh chị em. Nhân tiện, tôi nói vài ý kiến của tôi đối với nghệ thuật, để anh chị em tham khảo. Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 1986, ngày 5 tháng 1 năm 1952; trong bối cảnh toàn thể dân Việt Nam đang thực hiện đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện” chống thực dân Pháp xâm lược.
Trong thư năm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa, nghệ thuật đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; đồng thời tin tưởng, mong muốn công tác giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ họa sĩ đi đầu xung kích, sáng tạo trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; xứng đáng là chiến sĩ cách mạng trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, một trong những lực lượng tiên tiến trong sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc.
Lời của Người trong thư năm ấy đã nhanh chóng được anh chị em họa sĩ nói chung, họa sĩ trong quân đội nói riêng vui mừng đón nhận, hun đúc tinh thần thi đua yêu nước, hăng say, sáng tạo nhiều tác phẩm văn hóa, nghệ thuật phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.
Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm ấy " Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” đã được Đảng, Nhà nước ta vận dụng, phát triển phù hợp với tình hình thực tiễn của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; nâng cao chất lượng xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sĩ - người chiến sĩ cách mạng trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, góp phần xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; thực sự là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"./.
Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: CẢNH GIÁC VỚI UY TÍN GIẢ - TẤM BÌNH PHONG “CHUI SÂU, LEO CAO”!

         Uy tín là tiền đề và điều kiện bảo đảm chắc chắn cho sự thành công trong hoạt động thực tiễn của các tập thể, cá nhân nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng. Tuy nhiên, thực tế đã và đang xuất hiện loại uy tín giả rất nguy hại, nó ngấm ngầm phá vỡ mối đoàn kết nội bộ, che đậy bản chất và là bình phong để những kẻ cơ hội “chui sâu, leo cao”. Nhận diện những biểu hiện, thủ đoạn và có giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa, đấu tranh với loại uy tín giả là điều cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng, nhất là trong xây dựng đội ngũ cán bộ của nhiệm kỳ mới hiện nay.

Quyền uy và “dân chủ giả hiệu”
Trong công tác lãnh đạo, quản lý, uy tín có vai trò rất lớn đối với hoạt động thực tiễn của người lãnh đạo. Người lãnh đạo có uy tín càng cao thì ảnh hưởng của người đó với tổ chức càng lớn, tính chất ám thị và thuyết phục đối với những người dưới quyền càng tăng lên. Nếu người lãnh đạo không có uy tín thì mọi lời nói và mệnh lệnh sẽ không được cấp dưới thực hiện một cách có hiệu quả. Lúc sinh thời, lãnh tụ Lênin cho rằng: Điều quyết định thành công trong việc lãnh đạo quần chúng không phải bởi sức mạnh của quyền hành mà là sức mạnh của uy tín, sức mạnh của nghị lực, của sự hiểu biết phong phú, của tài năng xuất sắc...

Nói một cách khái quát thì uy tín được hình thành từ 3 yếu tố chính: Phẩm chất, năng lực và phong cách của người lãnh đạo. Nó được thể hiện và đo lường ở “lòng dân”. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Người lãnh đạo chỉ có uy tín khi được dân tin, dân phục, dân yêu.

Trong thực tiễn hoạt động lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành hiện nay cho thấy, bên cạnh những cán bộ có uy tín đích thực còn có cán bộ cố tình tạo ra cho mình loại uy tín giả danh (giả hiệu). Loại uy tín này được xây dựng không dựa trên những phẩm chất, năng lực và giá trị xã hội đích thực của người lãnh đạo, quản lý mà được chủ thể tạo nên bằng nhiều thủ đoạn. Theo Đại tá, PGS TS Đỗ Duy Môn, nguyên Chủ nhiệm Khoa Tâm lý học Quân sự, Học viện Chính trị thì uy tín giả biểu hiện rất phong phú với nhiều dạng khác nhau. Đó là: 

Loại uy tín do hạ thấp yêu cầu hay là “mị dân”, “dân chủ giả hiệu”. Họ giả vờ tỏ ra quan tâm, gần gũi quần chúng, hạ thấp yêu cầu với cấp dưới để lôi kéo tình cảm, sự ủng hộ của cấp dưới theo mình.

Loại uy tín được tạo ra bởi “trấn áp” bằng quyền lực, độc đoán, gia trưởng, tạo khoảng cách đối với cấp dưới. Người lãnh đạo tìm cách phô trương sức mạnh quyền lực, đe dọa cấp dưới; tạo quyền uy, khoảng cách, che đậy bản chất thật. 

Loại uy tín do phóng đại thành tích của mình, thổi phồng khuyết điểm người khác. Họ lẩn tránh khuyết điểm của bản thân, nhưng lại khoét sâu hoặc xuyên tạc khuyết điểm người khác; phóng đại thành tích để thông báo, tự ca ngợi mình; luôn đề cao cá nhân, coi mình là nhất...

Uy tín giả tìm mọi cách che mắt tập thể, che mắt cấp trên. Nhất là mỗi khi có sự kiện như: Chuẩn bị đại hội Đảng, làm quy trình nhân sự hay thay đổi đội ngũ cán bộ chủ chốt... Thời điểm này, những kẻ cơ hội tìm mọi cách ban phát những quyền lợi vật chất nhỏ bé, "thiết kế" các cuộc gặp gỡ "chén chú chén anh", cười cợt lừa phỉnh người nhẹ dạ để lôi kéo phe cánh, quần chúng, dùng phiếu bầu để hạ uy tín người khác; họ có thể thu mình, tránh va chạm, nịnh trên, vuốt ve dưới...

Uy tín giả và cuộc đấu tranh chống “địch bên trong”
Có thể thấy, uy tín giả rất nguy hại, nó tác động và làm suy yếu tổ chức, tập thể, làm méo mó động cơ phấn đấu của cá nhân. Nó ngấm ngầm phá vỡ mối đoàn kết trong tập thể; tạo ra môi trường, tâm lý không lành mạnh với sự ghen ghét, độ kỵ, nghi ngờ trong các thành viên và làm suy giảm hiệu quả công việc của tập thể. Đặc biệt, nếu tổ chức, tập thể không tỉnh táo, dũng cảm để nhận diện và đấu tranh thì uy tín giả sẽ trở thành bình phong để những kẻ cơ hội tiến thân, lọt qua các quy trình để “chui sâu, leo cao” vào các vị trí lãnh đạo, quản lý cao hơn.

Uy tín giả gây tác hại khôn lường, nhưng nhận diện không hề đơn giản vì nó được che đậy tinh vi bằng nhiều thủ đoạn, nó nằm sâu trong động cơ, lợi ích cá nhân của một bộ phận cán bộ lãnh đạo. Phát hiện ra nó phải nhìn nhận từ phẩm chất, năng lực thật sự, đặc biệt là phong cách, phương pháp, tác phong công tác của cán bộ đó. Xem đạo đức, trình độ có tương xứng với cương vị, chức trách không, có độc đoán, gia trưởng hay mị dân, dân chủ giả hiệu không, có thổi phồng thành tích của mình không?...

PGS, TS Đỗ Duy Môn cho rằng, nguyên nhân tạo nên uy tín giả có cả khách quan và chủ quan. Đó là do công tác giáo dục, quản lý đội ngũ cán bộ chưa chặt chẽ, tinh thần dân chủ, tính đấu tranh phê bình, tự phê bình trong tập thể không cao hoặc bị vô hiệu hóa. Bản thân một số cán bộ không có phẩm chất, năng lực đáp ứng chức trách nhiệm vụ được giao, không có nhận thức đúng về uy tín, động cơ sai trái, nhằm mục đích cá nhân, không chịu tu dưỡng, rèn luyện... Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cho rằng, chủ nghĩa cá nhân là chỉ chăm lo vun vén cho lợi ích riêng, đặt lợi ích của cá nhân, của gia đình mình lên trên lợi ích chung của giai cấp, của dân tộc, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”, nó là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đảng viên, tha hóa Ðảng. Người cũng khẳng định: Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng độc hại, tồn tại dai dẳng trong mỗi người cán bộ, đảng viên, luôn chờ cơ hội để trỗi dậy; là nguy cơ làm suy yếu Đảng, giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng. Người coi chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm, kẻ thù của những người cách mạng. Người nói: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá từ trong phá ra”, “Muốn đánh thắng kẻ địch bên ngoài thì trước hết phải đánh thắng kẻ địch bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”.

Phải tinh tường, đừng “thấy đỏ tưởng là chín”
Đấu tranh chống lại các biểu hiện và thủ đoạn để tạo uy tín giả cũng là cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, đòi hỏi phải có dũng khí, có phương pháp và kiên trì. Nó gắn liền với việc xây dựng tổ chức, xây dựng con người, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, gắn với việc tu dưỡng, rèn luyện đội ngũ... Trong xây dựng uy tín thật, đấu tranh với uy tín giả trong đội ngũ cán bộ hiện nay, cần quan tâm và thực hiện quyết liệt đồng bộ nhiều giải pháp.

Trước hết, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có ý thức và quyết tâm tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, năng lực, hoàn thiện về nhân cách, xứng đáng với chức trách nhiệm vụ được giao. Muốn có uy tín, mỗi người phải tự học tập, tu dưỡng, tích lũy tri thức, kinh nghiệm, vốn sống, nâng cao năng lực mọi mặt để được đồng nghiệp, quần chúng thừa nhận, tin theo. Đồng thời và quan trọng hơn là đội ngũ cán bộ phải thường xuyên rèn luyện về đạo đức, lối sống cũng như sinh hoạt. Những vi phạm về đạo đức, lối sống bao giờ cũng là nguyên nhân chính, rất nhạy cảm làm giảm sút và mất uy tín của người cán bộ. Cùng với đó, quá trình gây dựng và nâng cao uy tín của người cán bộ cần tạo dựng cho mình một phong cách lãnh đạo, quản lý thích hợp, một phương pháp, tác phong công tác hiệu quả. Một mặt phải tuân thủ các nguyên tắc, quy định, mặt khác phải linh hoạt, thích ứng, không rập khuôn, máy móc, với động cơ thật sự trong sáng vì tập thể, vì cái chung. Cần chống lại mọi biểu hiện như độc đoán, gia trưởng hay mị dân, bệnh công thần, háo danh...

Mặt khác, cần xác lập tốt các mối quan hệ và giao tiếp trong tập thể để hình thành lòng tin, sự tín nhiệm của cấp dưới với người lãnh đạo, quản lý. Nó đòi hỏi người cán bộ phải thật tâm, thật tình, thật tin tưởng khi quan hệ với dưới, được biểu hiện bằng sự quan tâm, chăm lo, ứng xử đúng mực với dưới. Là sự giản dị, khiêm nhường, không định kiến...

Một giải pháp rất căn cơ để xây dựng uy tín đích thực trong tập thể là phải tạo được bầu không khí dân chủ, đoàn kết, tinh thần phê bình và tự phê bình tích cực trong tập thể. Muốn có được điều đó cần quan tâm xây dựng tổ chức, tập thể vững mạnh; cán bộ chủ chốt phải gương mẫu, trách nhiệm; các thành viên đoàn kết, gắn bó.

Cùng với đó, phải kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, các thủ đoạn để tạo dựng uy tín giả. Nó đòi hỏi tổ chức, tập thể phải tinh tường và có dũng khí trong vạch trần các cá nhân có động cơ và việc làm sai trái. Các cá nhân này thường rất tinh vi để che đậy bản chất, đánh lừa tổ chức, tập thể vì mục đích vụ lợi, cá nhân. Trong chuẩn bị nhân sự đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng đã cảnh báo: Đừng “nhìn gà hóa cuốc”, “thấy đỏ tưởng là chín", đừng chỉ thấy "cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong"...

Uy tín giả làm xói mòn niềm tin của cấp dưới với cấp trên, nói rộng ra là của quần chúng với Đảng. Vì thế đấu tranh chống uy tín giả cũng chính là xây dựng niềm tin, “lòng dân” ở các tổ chức, tập thể, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của tình hình mới hiện nay./.
Yêu nước ST.

 

Nhận diện và đấu tranh với các thủ đoạn chống phá trên không gian mạng

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng mang lại những thách thức to lớn đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới.

Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức chống phá có mục tiêu tôn chỉ được tổ chức khá chặt chẽ, bài bản. Mục tiêu xuyên suốt của chúng là tuyên truyền chống phá, lôi kéo kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” phá hoại sự ổn định phát triển đất nước. Hầu hết các tổ chức phản động đều xây dựng tài khoản mạng xã hội tổ chức thành hệ thống các kênh truyền thông chống phá.

Theo thống kê của cơ quan chức năng, trung bình mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết, video trên internet, mạng xã hội có nội dung liên quan đến Việt Nam, trong đó tỷ lệ không nhỏ các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, chống phá cách mạng nước ta (có khoảng 67% bài viết được phát tán trên mạng xã hội Facebook, số còn lại phát tán trên các kênh mạng xã hội Youtube, Blog cá nhân hoặc các kênh tin tức phản động).

Qua thực tiễn tình hình trong nước, có thể nhận thấy âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng cơ bản vẫn tập trung vào một số nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội. Kích động hoạt động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền và “tự do Internet”, khuyến khích các đối tượng này chống phá quyết liệt hơn bằng cách trao các giải thưởng, đề cử vinh danh hay đưa Việt Nam vào danh sách “kẻ thù của Internet”, vi phạm tự do dân chủ, nhân quyền.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>

Kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước trên không gian mạng. 

Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các đối tượng phản động, thù địch thường dùng các thủ đoạn: Sử dụng tài khoản mạng xã hội có tương tác lớn hoặc tổ chức các chiến dịch truyền thông phát tán thông tin. Đăng tải tài liệu, thông tin, bình luận hướng dư luận nhìn nhận theo quan điểm sai lệch; dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả, xuyên tạc tình hình chính trị trong nước. Tiến hành xây dựng nhiều kênh thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới có sự liên kết với nhau; đặc biệt phát triển các kênh truyền thông bằng tiếng dân tộc thiểu số (Mông, Khơ me…) hướng tới đối tượng tuyên truyền là đồng bào dân tộc thiểu số.

Cổ súy tư tưởng chống phá, định kiến của một số người có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phát tán, giật tít các bài viết của các đối tượng này lên Internet, mạng xã hội. Lợi dụng lợi ích cá nhân của một bộ phận người dân trong giải quyết vấn đề đất đai, các vụ án kinh tế… để kích động lôi kéo người dân tham gia vào các hoạt động gây rối, mất an ninh chính trị trên mạng xã hội, từ đó lan truyền, hiện thực hóa trên thực địa... Sử dụng “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng; trước khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền, phát tán ồ ạt những tin bài xuyên tạc, bóp méo sự thật, hướng lái dư luận thông qua những tiêu đề “giật gân”, “câu khách”.

Thu hút, lôi kéo người dân vào tổ chức; thâm nhập vào các diễn đàn, mạng xã hội dành cho giới trẻ để phát hiện, lôi kéo đầu mối; sử dụng các hình thức liên lạc qua mạng để móc nối, huấn luyện và chỉ đạo cơ sở phản động thực địa. Sử dụng truyền thông mạng xã hội để lừa gạt, lôi kéo nhân dân, hình thành và công khai hóa tổ chức núp dưới danh nghĩa các tổ chức xã hội dân sự hay tổ chức phản biện xã hội.

Cùng với đó, chúng lợi dụng các sự kiện chính trị, kinh tế, quân sự… trên thế giới (xung đột quân sự Nga-Ukraine, đảo chính quân sự ở Niger…), sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các vụ án về kinh tế, hoạt động khẳng định chủ quyền biển đảo, biên giới... đề dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả; xuyên tạc tình hình chính trị, xã hội, kinh tế trong nước và có thời điểm tổ chức hoạt động tuyên truyền chống phá thành “chiến dịch” dưới nhiều hình thức.

Lợi dụng hạn chế, bất cập trong công tác quản lý kiểm duyệt nội dung trên các nền tảng mạng xã hội để tuyên truyền xuyên tạc; lợi dụng chính sách của mạng xã hội, thành lập hàng nghìn hội nhóm tổ chức chính trị phản động, trong đó bao gồm cả hội nhóm công khai, bí mật với số lượng thành viên tham gia lớn, lôi kéo, thu hút, mời chào thành viên tham gia, hoạt động có đường hướng, tôn chỉ, mục đích cụ thể. Tạo lập các trang mạng, tài khoản mạng xã hội giả mạo các cơ quan của nhà nước, các đồng chí lãnh đạo, các cá nhân có ảnh hưởng... để đăng tải thông tin phản động; xuyên tạc, lợi dụng sự hiếu kỳ của người dân và sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân để kích động cộng đồng mạng tham gia phát tán thông tin xấu độc.

Trước tình hình diễn biến trên không gian mạng ngày càng phức tạp cùng với các hoạt động chống phá có tổ chức, xây dựng và lên kế hoạch tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị, theo chúng tôi cần thực hiện một số vấn đề mang tính giải pháp sau:

Thứ nhất, sử dụng thông tin chính thống đóng vai trò dẫn dắt định hướng dư luận. Các ban ngành đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan thông tấn báo chí cần phát huy được vai trò trong cung cấp thông tin chính thống kịp thời và chính xác, tránh tạo khoảng trống thông tin để các đối tượng phản động lợi dụng phát tán các thông tin xuyên tạc, để các tầng lớp nhân dân được tiếp cận với thông tin chính thống trước khi tiếp cận với thông tin phản động. Hệ thống các kênh truyền thông của các cấp từ Trung ương đến địa phương cần được xây dựng đồng bộ, có sự liên kết chặt chẽ giữa các kênh truyền thông để tạo ra sức ảnh hưởng lớn với dư luận.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, hiệp đồng. Phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong và ngoài Quân đội có thế mạnh trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng và trên báo chí, Trong đó lực lượng của Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì đề xuất xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp có cơ chế phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền với nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội, yêu cầu thực hiện đúng theo pháp luật Việt Nam, hợp tác trong việc xóa bỏ các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc ảnh hưởng đến nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; phối hợp lực lượng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cung cấp trao đổi thông tin kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh các đối tượng lợi dụng Internet mạng xã hội để tổ chức các hoạt động phát tán tin giả, thông tin sai sự thật nguy hại đến chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thứ ba, nghiên cứu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động đấu tranh. Xây dựng và khai thác có hiệu quả các trọng tâm nghiên cứu công nghệ thông tin trên từng lĩnh vực, từ đó có kế hoạch để triển khai các nhiệm vụ truyền thông, đấu tranh với thông tin xấu bảo đảm sự bài bản, tính chính xác, hiệu quả. Tiếp tục nghiên cứu các giải pháp, ứng dụng sức mạnh của khoa học, công nghệ thông tin để tăng cường khả năng theo dõi, bám nắm, giám sát tình hình; hỗ trợ cho công tác quản lý, đánh giá chất lượng các hình thức đấu tranh. Nghiên cứu, xây dựng nội dung, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ hoạt động triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc.        

Xây dựng hệ thống kênh chỉ đạo điều hành đồng bộ từ chỉ huy đến cấp thực hiện, kênh liên lạc giữa các lực lượng tham gia đấu tranh. Hệ thống cho phép điều hành tổ chức các nhiệm vụ triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc trên Internet, mạng xã hội đồng thời là kênh để cán bộ thực hiện có thể chia sẻ kinh nghiệm cách thức tổ chức xử lý thông tin xấu độc. Trang bị cho lực lượng đấu tranh các hệ thống hiện đại để giám sát phát hiện thông tin phát hiện kịp thời các thông tin xuyên tạc trước khi bị phát tán ra nhiều tài khoản mạng xã hội tiếp cận đến số lượng lớn cộng đồng mạng.

Thứ tư, nâng cao nhận thức, vai trò cán bộ, đảng viên và quần chúng trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nâng cao hơn nữa nhận thức, vai trò, trách nhiệm, tiền phong, gương mẫu nêu gương trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Phát huy tính hiệu quả, thiết thực việc sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền tải, nhân rộng những yếu tố tích cực, tấm gương tiêu biểu, người tốt, việc tốt, những giá trị văn hóa nhân văn, tinh thần tương thân, tương ái của quốc gia, dân tộc. Đồng thời, tích cực đấu tranh chống các thông tin sai trái, phản động, bịa đặt trên mạng xã hội, phê bình, phản đối các hành vi lợi dụng Internet, mạng xã hội để chia sẻ, thông tin, bình luận, đăng tải những hình ảnh phản cảm, thiếu tinh thần trách nhiệm, thờ ơ, vô cảm với những khó khăn, mất mát của nhân dân.

dgcd


 

Nhìn thẳng - Nói thật: Thói phê  “liều mạng”

Lý thuyết phê bình văn nghệ hiện đại luôn đề cao vai trò tiếp nhận của công chúng. Bởi lẽ theo thời gian, các thế hệ công chúng sẽ bồi tụ chiều kích tác phẩm mà tác giả cũng không ngờ đến. Tùy thuộc vào ý thức hệ, gu thẩm mỹ, phông văn hóa, môi trường xã hội... mà công chúng sẽ “đồng sáng tạo” với tác giả ra sao.

Công chúng thường chia ra làm hai: Chuyên gia và công chúng thông thường. Chuyên gia không nên hiểu chỉ là những người được đào tạo bài bản về lý thuyết văn nghệ. Trở thành chuyên gia hoàn toàn có thể tự đào tạo và đặc biệt phải thưởng lãm nhiều tác phẩm mới có cái nhìn so sánh, đưa ra những nhận định xác đáng.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Ảnh minh họa. Nguồn: Báo Yên Bái 

Sự khác biệt giữa hai đối tượng công chúng lộ rõ khi đối diện với tác phẩm vượt tầm hiểu biết thông thường, hay gọi theo thuật ngữ của mỹ học tiếp nhận là “tầm đón đợi”. Chẳng hạn với tranh hiện thực và cực thực, không cần hiểu nhiều về lý thuyết hội họa, không cần xem nhiều tranh, ai cũng có thể đưa ra phán đoán thẩm mỹ. Tuy nhiên, nếu là tranh trừu tượng, những vấn đề về chủ đề ẩn giấu, hình khối, độ tương phản, cấu trúc... thì phải là người có kiến thức nhất định và đã thưởng lãm nhiều loại tranh này mới cảm nhận được. Có sự khác biệt này là vì kiến thức nghệ thuật trong chương trình phổ thông từ trước đến nay không đề cập đến nghệ thuật trừu tượng.

Chuyên gia là những người có tiếng nói thẩm quyền nhưng không độc quyền; việc bàn luận về văn nghệ, nhận xét khen chê, bất cứ ai cũng có quyền cất tiếng nói thể hiện quan điểm, thái độ. Mấu chốt là bàn luận dưới góc độ nào và ra sao.

Đáng buồn là hiện nay, trên không gian mạng xảy ra vô số hiện tượng tung hô bốc trời hoặc dìm xuống “bùn đen” tác phẩm văn nghệ nào đó mà không dựa trên bất cứ lý lẽ thuyết phục nào. Nhiều người “phán” về một bộ phim thậm chí còn chưa xem, chỉ nghe người khác bàn luận, cũng hùa theo góp lời. Thậm chí còn có hiện tượng “bỏ bóng đá người”, công kích cá nhân, tập thể sáng tạo mà không cần quan tâm chất lượng tác phẩm ra sao. Đây đích thực là kiểu phê bình “liều mạng”, bất chấp tất cả, nói chỉ để sướng miệng, thể hiện cái tôi tùy tiện.

Kiểu phê bình tai hại này sinh ra từ tâm lý đám đông. Một người không có chuyên môn, a dua, nhận xét cảm tính bằng những lời lẽ hùng hồn, sẽ lây lan sang người khác. Dần dần sẽ tạo ra luồng ý kiến, khối dư luận có vẻ là khách quan nhưng thực ra lại đầy cảm tính, thiếu cơ sở khoa học, làm nhiễu loạn các giá trị.

Lúc này, vai trò của các chuyên gia rất quan trọng. Thông qua các sinh hoạt học thuật, phương tiện báo chí truyền thông, thậm chí là trang cá nhân trên mạng xã hội, những tiếng nói thẩm quyền sẽ phân tích tác phẩm, định hướng thẩm mỹ một cách khoa học, thuyết phục. Từ đó, chân giá trị của tác phẩm sẽ được định vị rõ ràng, vàng thau không thể lẫn lộn.

Nhưng điều đáng buồn là không ít chuyên gia, ở thời điểm “nước sôi lửa bỏng” lại mũ ni che tai. Nguyên do là họ ngại va chạm và không loại trừ “lợi ích nhóm”. Ví như chuyện một ca sĩ nhạc rap đình đám kết hợp với dàn nhạc giao hưởng. "Fan cuồng" của ca sĩ nhạc rap đương nhiên tung hô thần tượng nào là “sáng tạo”, “độc đáo”, “vượt trên tất cả”... Thực ra cách làm này đã xuất hiện ở nước ngoài hơn 30 năm, chuyện mới, cũ không quan trọng mà là chất lượng các tác phẩm chuyển soạn. Đáng tiếc là không một nhà lý luận phê bình âm nhạc nào lên tiếng, bỏ rơi công chúng lúng túng không biết sản phẩm âm nhạc này hay, dở ra sao.

Khen, chê tác phẩm văn nghệ thường không bị “tuýt còi” nên độ “liều mạng” của lối phê bình tán dóc, a dua, cảm tính này được dự báo sẽ xuất hiện nhiều hơn. Đội ngũ chuyên gia ở từng môn nghệ thuật mỏng dày khác nhau nhưng tiếng nói thẩm quyền lúc nào cũng có. Cần nhất chính là dũng khí, thẳng thắn, lao mình vào những “điểm nóng” văn nghệ của các chuyên gia. Những hiện tượng lai căng, bắt chước, nhảm nhí, rẻ tiền, xấu độc phải bị phê phán; những tác phẩm giàu giá trị chân thiện mỹ, vì con người, góp phần dựng xây nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cần được cổ vũ, khuyến khích. Nếu làm được những việc kể trên, lĩnh vực phê bình mới góp phần làm lành mạnh đời sống văn nghệ.

đgcd

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM PHÁT HUY PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8 KHÓA XIII!

     Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là giá trị văn hóa quân sự tiêu biểu, được xây đắp từ truyền thống yêu nước của dân tộc ta, từ sự giáo dục, rèn luyện của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ sự tin tưởng, giúp đỡ của nhân dân và từ những cống hiến, hy sinh của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Giá trị ấy được lưu giữ, kế thừa và phát triển qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII vừa là yêu cầu khách quan, vừa là tình cảm, trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ quân đội!
Trong gần 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các ban, ngành ở Trung ương và các địa phương, sự yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững bản chất cách mạng, không ngừng lớn mạnh, vừa chiến đấu, vừa trưởng thành và chiến thắng vẻ vang. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, dù phải chịu đựng nhiều gian khổ, hy sinh, phải đương đầu với những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của kẻ thù, Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn tuyệt đối trung thành, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, phát huy cao độ truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, có kỷ luật nghiêm minh, luôn chủ động, sáng tạo, mưu trí, dũng cảm, quyết chiến, quyết thắng, gắn bó mật thiết với nhân dân. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã lập nên những chiến công hiển hách, làm rạng rỡ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, xây đắp nên truyền thống vẻ vang, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân khen tặng, xứng đáng là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng.
Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Quân đội tiếp tục thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, thành quả cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Quân đội luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Thực hiện sáng tạo, hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, các công trình có ý nghĩa chiến lược của đất nước. Tích cực tham gia các phong trào đền ơn, đáp nghĩa, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng địa bàn an toàn, xây dựng hệ thống chính trị và đời sống văn hóa ở cơ sở, nhất là ở các địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và biên giới, hải đảo. Qua đó, góp phần quan trọng vào sự nghiệp củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường “thế trận lòng dân”, tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân. Quân đội luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, giải quyết hậu quả chiến tranh và thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; đồng thời, thực hiện tốt công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Những năm tới, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm hình thành rõ nét hơn, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt, thậm chí dẫn đến đối đầu nhau. Các nước lớn tăng cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối vào nội bộ các nước khác, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước vừa và nhỏ. Các điểm “nóng” về an ninh có chiều hướng gia tăng, nguy cơ lan rộng; xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới. Những vấn đề toàn cầu, như bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường,... tiếp tục diễn biến phức tạp. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột, tác động đến an ninh, an toàn hàng hải, hàng không.
Ở trong nước, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, xuất hiện những vấn đề phức tạp mới. Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp và gay gắt hơn. Trên Biển Đông, vùng biển Tây Nam và một số vùng chiến lược, địa bàn trọng điểm còn tiềm ẩn các nhân tố gây mất ổn định; tranh chấp chủ quyền biển, đảo, chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng gia tăng; xử lý quan hệ quốc tế, nhất là với các nước lớn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ở trong nước và nước ngoài câu kết với nhau tăng cường chống phá công khai và trực diện, với âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc có sự bổ sung, phát triển và ngày càng khó khăn, phức tạp hơn; tỷ lệ cán bộ được rèn luyện qua chiến đấu ngày càng giảm.
Trong bối cảnh đó, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta có sự phát triển và đặt ra những yêu cầu mới rất cao, có sự đan xen giữa thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn. Quân đội luôn nhận thức sâu sắc vai trò nòng cốt của mình trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và coi đó là nhiệm vụ “trọng yếu và thường xuyên”; đồng thời, ý thức rõ trách nhiệm chính trị, trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Trên cơ sở quán triệt, nắm vững Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, toàn quân cần nỗ lực phấn đấu, tiếp tục phát huy hơn nữa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:
Một là, tiếp tục thực hiện tốt chức năng nghiên cứu, tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.
Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Quân đội, xuất phát và dựa chắc trên quan điểm, phương châm chỉ đạo của Đảng về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, trong thời gian tới, Quân đội cần chủ động đánh giá, dự báo đúng tình hình thế giới, khu vực và trong nước, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước đề ra các chủ trương, đối sách xử lý thắng lợi các tình huống, không để bị động, bất ngờ, không để mâu thuẫn, tranh chấp phát triển thành xung đột vũ trang, chiến tranh. Chú trọng nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, giải pháp tổng thể, cơ bản, lâu dài nhằm ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; nhất quán thực hiện chủ trương: Không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế.
Cùng với đó, Quân đội cần tích cực, chủ động xây dựng kế hoạch, phương án tác chiến, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc”. Nâng cao năng lực tác chiến chiến tranh không gian mạng, chiến tranh thông tin; phối hợp triển khai giải pháp tổng thể bảo đảm an ninh, an toàn thông tin. Đặc biệt, chú trọng bổ sung, kiện toàn các cơ chế, quy định, nhất là về sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Quốc phòng với Bộ Công an, các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương trong xử lý các tình huống bảo vệ Tổ quốc. Sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh và làm tốt công tác cứu hộ, cứu nạn. Bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn các mục tiêu, công trình quan trọng, các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các sự kiện chính trị, văn hóa, đối ngoại của đất nước. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển hệ thống lý luận về quốc phòng, nghệ thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó Quân đội nhân dân, Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trên địa bàn cả nước. Đó là nền quốc phòng với tiềm lực, sức mạnh tổng hợp, được cấu thành trên cơ sở nguồn lực quốc gia và trong nhân dân, từ nhân dân, mang bản chất hòa bình và tự vệ, không nhằm đe dọa bất cứ quốc gia nào. Đồng thời, là nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ngày càng hiện đại, do toàn dân tiến hành xây dựng, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, cơ sở.
Để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện, Quân đội tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp phù hợp với thực tiễn và đặc điểm, thế mạnh của từng địa bàn, khu vực, nhất là các địa bàn chiến lược Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ và vùng biên giới, biển, đảo của Tổ quốc. Trong đó, trọng tâm là xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân, đặc biệt là gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ngay từ cơ sở. Chú trọng xây dựng khu vực phòng thủ các cấp vững chắc, tạo thế bố trí phòng thủ liên hoàn, vững chắc trên từng địa bàn và phạm vi cả nước, bảo đảm cho các địa phương xử lý tốt các tình huống quốc phòng, an ninh trong cả thời bình và thời chiến. Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện, trang bị quốc phòng, công trình phòng thủ, công trình chiến đấu, hệ thống phòng thủ dân sự đồng bộ, thống nhất; trong đó, ưu tiên các tuyến biên giới, biển, đảo, các địa bàn chiến lược, trọng điểm...
Tích cực đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, bảo đảm phù hợp với từng đối tượng, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc. Chú trọng giáo dục, thống nhất, nâng cao nhận thức về đối tác và đối tượng; nắm vững đường lối, quan điểm, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp tục phát huy vai trò, tính hiệu quả của các đơn vị kinh tế - quốc phòng và doanh nghiệp quân đội để kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với củng cố, tăng cường quốc phòng, nhất là ở những địa bàn chiến lược, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, khu kinh tế trọng điểm.
Ba là, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân.
Tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân. Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới. Coi trọng nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất cách mạng, truyền thống, nhiệm vụ của Quân đội và đơn vị; đối tác, đối tượng; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Kịp thời khắc phục những nhận thức, tư tưởng lệch lạc, chủ động đấu tranh phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; có ý chí, quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện tốt cuộc vận động đó với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua, các cuộc vận động của toàn quân, toàn quốc bằng nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, phù hợp, hiệu quả. Qua đó, làm sâu sắc thêm truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Triển khai thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội và hậu phương quân đội; đổi mới nội dung, phương pháp và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ, bảo đảm sát chủ trương, đường lối của Đảng, thực tiễn hoạt động của bộ đội và yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Chăm lo xây dựng các tổ chức thanh niên, phụ nữ, công đoàn và hội đồng quân nhân vững mạnh, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Bốn là, đẩy mạnh xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Đây là nội dung có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho Quân đội có đủ sức mạnh, hoàn thành tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, trực tiếp là đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cũng như yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, bước đầu đạt được kết quả quan trọng, bảo đảm sự cân đối, tương đối đồng bộ giữa các quân chủng, binh chủng, giữa cơ quan và đơn vị, giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên.
Trong thời gian tới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 2-4-2022, của Quân ủy Trung ương, “Về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo”. Tổ chức, biên chế toàn quân phải phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật, giữ vững và phát huy truyền thống của Quân đội, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Xây dựng, điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, có cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần lực lượng; giảm đầu mối trung gian và đơn vị bảo đảm, phục vụ; tiếp tục tổ chức một số đơn vị dự bị chiến lược theo quyết tâm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, bảo đảm Quân đội có đủ khả năng làm nòng cốt cùng toàn dân hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Lấy xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội, bảo đảm cho Quân đội thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình điều chỉnh tổ chức, hiện đại hóa Quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước; biện pháp thực hiện phải toàn diện, đồng bộ, phù hợp với thực tế; kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách.
Năm là, xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội.
Toàn quân tập trung quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã xác định trong Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 26-1-2022, của Bộ Chính trị, về “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”. Trên cơ sở tiềm lực, điều kiện kinh tế của đất nước và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển công nghiệp quốc phòng đã xác định theo lộ trình đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Theo đó, đối với những lĩnh vực công nghiệp quốc phòng có thế mạnh, đã làm chủ về công nghệ, cần tập trung ưu tiên nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, trọng tâm là vũ khí chiến lược, có sức răn đe, tăng cường khả năng phòng thủ, bảo vệ đất nước và tác chiến không gian mạng.
Sáu là, tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh công tác đối ngoại quốc phòng theo phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, nâng cao uy tín, vị thế của Quân đội và đất nước trên trường quốc tế.
Theo đó, chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài để tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; thúc đẩy đa dạng hóa đối tác hợp tác về kỹ thuật quân sự và thương mại quân sự. Tích cực tham gia hiệu quả các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả chiến tranh. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong ứng phó với các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.
Bảy là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu, lãnh đạo toàn quân hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
Quán triệt quan điểm chỉ đạo “xây dựng Đảng là then chốt”, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI chỉ rõ: Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu. Thời gian tới, toàn quân tiếp tục quán triệt, nắm vững các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhóm giải pháp thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”” và Chỉ thị số 87-CT/QUTW, ngày 8-7-2016, của Thường vụ Quân ủy Trung ương, về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân”. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu, ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên và tạo được sự lan tỏa trong toàn quân, toàn xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài, có uy tín cao, gương mẫu, “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.



Yêu nước ST.

NHỮNG CHIÊU TRÒ NHÀM CHÁN CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN CỰC ĐOAN, THIẾU THIỆN CHÍ XUYÊN TẠC, BÔI NHỌ TRẮNG TRỢN TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

 


            Xuyên tạc tình hình, bôi nhọ tự do báo chí Việt Nam là một chiêu trò luôn được những tổ chức, cá nhân cực đoan, thiếu thiện chí, nhất là tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) thường xuyên sử dụng. Gần đây các trang mạng phi pháp hùa vào đăng tải, kèm theo “bình luận” của một số nhân vật “có uy tín” của RSF. Trong Bảng xếp hạng này, RSF đã xuyên tạc, bôi nhọ trắng trợn tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, khi cho rằng Việt Nam là “một nhà tù lớn nhất trên thế giới dành cho các nhà báo và blogger”. Thực tế cho thấy, bất cứ tổ chức, cá nhân nào tôn trọng sự thật khách quan đều thấy rõ, ở Việt Nam tự do ngôn luận, tự do báo chí được Nhà nước bảo đảm ngày càng tốt hơn. Điều đó được thể hiện trên cả hai phương diện.

Về phương diện pháp lý, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng khung pháp luật về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin của công dân đầy đủ, đồng bộ, hoàn toàn phù hợp với luật quốc tế về quyền con người. Điều 25, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin,…Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Theo đó, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật Báo chí, Luật An ninh mạng, Luật Tiếp cận thông tin và các luật, bộ luật có liên quan, quy định rõ về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; tổ chức và hoạt động báo chí; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan đến hoạt động báo chí; quản lý nhà nước về báo chí.

Trên thực tế, với khung pháp luật khoa học, phù hợp thực tiễn, rõ ràng, được Nhà nước ủng hộ, tạo điều kiện bảo đảm cho nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Đến tháng 01/2021, ở Việt Nam có đầy đủ các loại hình báo chí, với 779 cơ quan báo chí và hơn 21.000 người làm báo đã được cấp thẻ nhà báo. Các cơ quan báo chí thực sự là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, diễn đàn của nhân dân. Trong hành nghề, các cơ quan báo chí, nhà báo luôn tuân thủ đúng pháp luật, thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới, phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân.

Với tôn chỉ, mục đích của mình, các cơ quan báo chí không chỉ tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu trên mọi lĩnh vực của đất nước và thế giới, mà còn góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu thông tin, văn hóa lành mạnh của nhân dân; bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân; phát hiện, nêu gương “người tốt, việc tốt”, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; phòng, chống những hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Không những vậy, báo chí còn góp phần giữ gìn sự trong sáng và phát triển tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam; mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc; tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, hợp tác, phát triển bền vững.

Hiện nay, một số hệ thống thông tin nền tảng của Chính phủ điện tử đã được đưa vào vận hành, hầu hết các bộ, cơ quan ngang bộ đã thực hiện kết nối, liên thông gửi, nhận văn bản điện tử qua Trục liên thông văn bản quốc gia. Nhiều đơn vị đã áp dụng chữ ký số cá nhân trong gửi, nhận văn bản điện tử và xử lý công việc trên môi trường điện tử, như: Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Ủy ban Dân tộc,... tạo sự thay đổi về lề lối làm việc trong các cơ quan nhà nước cũng như việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp.

Cùng với việc đảm bảo ngày càng tốt hơn về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, Nhà nước Việt Nam cũng kiên quyết trừng trị những tổ chức, cá nhân lợi dụng vấn đề này để có những hành vi tung tin xấu độc, xuyên tạc, bôi nhọ, kéo bè, lập phái chống đối nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cơ quan chức năng Nhà nước Việt Nam đã điều tra, bắt giữ, truy tố một số đối tượng vi phạm pháp luật, tự xưng là “Nhà đấu tranh cho dân chủ”, “nhà báo tự do”,… dưới dạng là bloger chuyên viết bài, làm video clip,… với nội dung xuyên tạc sự thật, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,… hay là những lời “kêu gọi” lập đảng, lập hội… chống đối chế độ để tung lên mạng xã hội như (Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,…).

Những việc làm đó đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, làm cho người dân vô cùng phẫn nộ. Vì thế, bắt giữ, điều tra, xét xử, truy tố những đối tượng như trên là việc làm cần thiết, vừa đúng quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế, vừa nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mọi tổ chức và cá nhân. Việc một số tổ chức, cá nhân cố tình xuyên tạc bóp méo sự thật và cho rằng Nhà nước Việt Nam điều tra, bắt giữ, truy tố những kẻ trên là “vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí” và trở thành “một nhà tù lớn nhất trên thế giới dành cho các nhà báo và blogger” là hết sức phi lý, xuyên tạc trắng trợn tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, chà đạp, bôi nhọ pháp luật Việt Nam, chuyên bảo kê cho tội phạm, không xứng với tôn chỉ mục đích, danh xưng mỹ miều “Phóng viên không biên giới”./.

VỮNG TIN VƯỢT KHÓ VÀ BỨT PHÁ

 


Hội nghị Trung ương lần thứ ba có vị trí hết sức quan trọng, được xem là hội nghị "đặt nền móng" cho các hoạt động toàn khóa của Ban Chấp hành Trung ương (BCHTƯ) khóa XIII. Sở dĩ như vậy là vì Trung ương phát huy trí tuệ, đề cao trách nhiệm tập trung bàn thảo, ban hành thành công Quy chế làm việc của BCHTƯ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhiệm kỳ khóa XIII. Đây là việc làm cần thiết ngay đầu nhiệm kỳ mỗi khóa sau đại hội Đảng, nhằm cụ thể hóa Điều lệ Đảng; quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn, chế độ làm việc và phương pháp công tác của các cơ quan lãnh đạo Đảng; bảo đảm thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Với ý nghĩa đó, HNTƯ đã xác định quy định cụ thể, chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn; bảo đảm phát huy tốt hơn nữa dân chủ trong sinh hoạt Đảng, sinh hoạt của BCHTƯ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư;... đồng thời giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; đổi mới, cải tiến chế độ, lề lối làm việc, phương pháp công tác của các cơ quan lãnh đạo của Đảng,... Đây là những cơ sở quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Đảng, tăng cường sức mạnh, kỷ luật, kỷ cương, phát huy dân chủ, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Hội nghị Trung ương lần này cũng dành nhiều thời gian, tâm huyết tập trung thảo luận, quyết nghị các vấn đề liên quan đến yếu tố tạo nên sức mạnh cho Đảng-đó là kỷ luật của Đảng. Trung ương không chỉ quyết định các hình thức kỷ luật xứng đáng, nghiêm khắc đối với những đảng viên cụ thể, mà tập trung góp ý, hoàn thiện Quy định thi hành Điều lệ Đảng và Quy định về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng nhiệm kỳ khóa XIII. Để làm được điều đó, Trung ương đã nghiên cứu kỹ và có ý kiến, góp ý vào dự thảo các quy định về những nội dung mà qua thực tiễn thi hành kỷ luật còn có vướng mắc, bất cập, nhất là các vấn đề cụ thể phát sinh từ thực tiễn. Công việc này được xem như việc lắp đặt những viên gạch móng cho công trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng sắp tới; là căn cứ bất biến giúp thanh lọc, loại bỏ “sâu mọt” trong chính hàng ngũ của Đảng, giúp Đảng ta ngày càng mạnh hơn, trong sáng thêm. Cùng với đó, HNTƯ lần thứ ba cũng đã hoàn thành một phần việc đặc biệt hệ trọng, là tiếp tục kiện toàn nhân sự các chức danh lãnh đạo của các cơ quan nhà nước nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV để Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV sắp tới. Phần việc này được Trung ương tiến hành sâu kỹ với thái độ nghiêm túc, đề cao trách nhiệm chính trị của từng đống chí ủy viên Trung ương Đảng, trên cơ sở kế thừa kết quả công tác nhân sự được quyết nghị tại HNTƯ lần thứ hai khóa XIII.

Cần thấy rằng, HNTW lần này diễn ra trong điều kiện dịch Covid-19 bùng phát phức tạp ở nhiều địa phương. Vấn đề được Trung ương đặt ra trước mắt là tập trung lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục chung sức đồng lòng, vừa chủ động, tích cực phòng, chống dịch; vừa nỗ lực phấn đấu hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), cán đích các mục tiêu năm 2021, tạo đà cho bước bứt phá đổi mới. Trên tinh thần đó, Trung ương thảo luận sâu sắc, toàn diện các nội dung của Kế hoạch phát triển KT-XH giai đoạn 5 năm (2021-2025) và Chiến lược phát triển KT-XH 10 năm (2021-2030). Đây là những kế hoạch hết sức quan trọng, rộng lớn, có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KT-XH do Đại hội XIII của Đảng đề ra.

Với tinh thần trách nhiệm cao, thành công của HNTƯ lần thứ ba đã tạo động lực và quyết tâm mới trong điều kiện đất nước đang phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức. Theo đó, dù đã gặt hái được một số thành quả trên nhiều lĩnh vực và Việt Nam được bạn bè quốc tế ca ngợi, đánh giá cao bởi thành công trong phòng, chống, kiểm soát dịch Covid-19... thế nhưng, 6 tháng đầu năm 2021, KT-XH đất nước vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra; dịch bệnh có thể còn tiếp tục kéo dài, thậm chí nguy hiểm, lan rộng nhanh hơn. Bởi thế, các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị nhất định không được thỏa mãn dừng lại, mà cấp thiết triển khai thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp của Trung ương với tinh thần khẩn trương, quyết liệt, trách nhiệm cao nhất.

Ngay sau hội nghị này, các cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân và đất nước; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, tổ chức thực hiện thật tốt các nghị quyết, kết luận của HNTƯ và các nghị quyết khác của Trung ương, của Quốc hội, Chính phủ; nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra. Trong lĩnh vực kinh tế, các cấp cần tập trung quán triệt, tạo sự thống nhất cao về những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ chủ yếu, một số chỉ tiêu cơ bản; đặc biệt là các cơ chế, chính sách, biện pháp cụ thể, sát hợp với thực tế, có tính đột phá, khả thi cao, bảo đảm thực hiện thành công các kế hoạch KT-XH 5 năm, 10 năm.

Với truyền thống vẻ vang, trách nhiệm chính trị cao cả, cán bộ, đảng viên trong toàn đảng nói chung và Đảng bộ Quân đội nguyện mang hết tài năng, trí tuệ, gương mẫu đi đầu trong triển khai thực hiện hiệu quả nghị quyết, kết luận của HNTƯ lần thứ ba, khóa XIII; ra sức giữ vững môi trường hòa bình, điều kiện an toàn để đất nước phát triển; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN; thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó; góp phần tích cực và quan trọng vào cuộc chiến đẩy lùi dịch Covid-19... Đó chính là cách mà Quân đội nhân dân Việt Nam sớm đưa nghị quyết, kết luận của Trung ương vào cuộc sống.