Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2024

Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới

Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã quyết nghị, ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16/6/2022 về “Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”. Đây là vấn đề luôn được Đảng ta hết sức coi trọng và xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, nên cần được quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”1, đảng viên là “sợi dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng”2. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”3; “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam”4. Điều đó cho thấy vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên đối với vai trò lãnh đạo của Đảng. Những năm qua, việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên luôn được Đảng ta coi trọng và xác định là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên; được triển khai thực hiện một cách toàn diện, với đồng bộ các giải pháp và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Nổi bật là: công tác xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh được đẩy mạnh; tổ chức cơ sở đảng tiếp tục được củng cố, kiện toàn, sắp xếp phù hợp; bổ sung chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, gắn với xây dựng hệ thống chính trị. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cấp ủy viên, bí thư cấp ủy được quan tâm hơn; chất lượng đội ngũ đảng viên có chuyển biến tích cực, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở thực sự trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh, năng lực, uy tín và phẩm chất tốt, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ của cách mạng.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, “chất lượng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế, chậm đổi mới phương thức lãnh đạo; chưa kịp thời sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc; thực hiện chưa nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; chất lượng sinh hoạt chi bộ, đảng bộ cơ sở, sinh hoạt cấp ủy, tinh thần tự phê bình và phê bình, công tác đánh giá, xếp loại còn hạn chế; chưa thể hiện rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trong giải quyết những khó khăn, bức xúc của nhân dân ở cơ sở”5; không ít tổ chức cơ sở đảng chưa thực sự làm tròn vai trò là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, cầu nối giữa Ðảng với Nhân dân, cũng như bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở. Mô hình tổ chức một số loại hình tổ chức cơ sở đảng còn bất cập, chậm được kiện toàn, sắp xếp. Một bộ phận đảng viên năng lực, trình độ, trách nhiệm chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, chưa làm tròn trách nhiệm của mình trước Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu bản lĩnh chính trị; suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, vi phạm nguyên tắc, kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật6.

Để khắc phục thực trạng này, “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng”7 theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII), thời gian tới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, cần quán triệt, thực hiện tốt những nội dung, giải pháp chủ yếu sau đây:

1. Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng

Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị và là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở luôn được phát huy cao. Đây là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài, cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm.

Trước hết, gắn củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng với xây dựng hệ thống chính trị bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất. Đây là đòi hỏi khách quan, bởi tổ chức đảng nói chung, tổ chức cơ sở đảng nói riêng hoạt động không “đơn tuyến” mà nằm trong tổng thể của cả hệ thống và có mối quan hệ hữu cơ với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Vì thế, củng cố, kiện toàn tổ chức cơ sở đảng phải đồng bộ với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của cả hệ thống chính trị. Quá trình thưc hiện, phải gắn việc xây dựng, củng cố, kiện toàn cấp ủy, tổ chức đảng với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp, hoàn thiện các chức danh,... cũng như phù hợp với cơ cấu, quy mô tổ chức của hệ thống chính trị cơ sở, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của từng tổ chức, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển ổn định, bền vững.

Hai là, đổi mới, hoàn thiện về mặt tổ chức các loại hình tổ chức cơ sở đảng. Để thực hiện tốt nội dung này, cần khẩn trương, nghiêm túc trong đổi mới, hoàn thiện mô hình tổ chức đảng trực thuộc đảng ủy xã, phường, thị trấn; tổ chức cơ sở đảng ở các loại hình đặc thù, như: các loại hình doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp theo ngành, lãnh thổ, v.v. Trong bối cảnh đất nước ta đang tiến sâu vào quá trình đổi mới với sự phát triển nhanh của tình hình kinh tế, xã hội, cần đẩy mạnh xây dựng, phát triển tổ chức cơ sở đảng đối với khu vực ngoài nhà nước, ở các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và các loại hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã, tổ hợp tác, kinh tế trang trại, v.v. Chú trọng duy trì, củng cố, xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của các chi bộ quân sự, công an xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, phù hợp với quy định về tổ chức đảng trong lực lượng vũ trang. Đồng thời, rà soát, sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của các loại hình tổ chức cơ sở đảng, nhất là một số tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ Quân đội và Đảng bộ Công an phù hợp với thực tiễn.

Ba là, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Trong đó, cần chú trọng thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết trong Đảng. Nâng cao năng lực quán triệt, cụ thể hóa chủ trương, nghị quyết của trên; hiệu quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh; khắc phục tình trạng dập khuôn máy móc, “bệnh” hình thức, chạy theo thành tích trong đánh giá, xếp loại tổ chức đảng và đảng viên. Triển khai thực hiện hiệu quả mô hình “chi bộ bốn tốt”, “đảng bộ cơ sở bốn tốt” (hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị; chất lượng sinh hoạt tốt; đoàn kết, kỷ luật tốt; cán bộ, đảng viên tốt). Nội dung sinh hoạt chi bộ phải gắn với thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, nhất là Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những trường hợp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kịp thời phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngay từ cơ sở. Nội dung thảo luận phải thiết thực, có trọng tâm, trọng điểm; tăng cường sinh hoạt chuyên đề; kịp thời thông tin, phổ biến, quán triệt chủ trương, nghị quyết, lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy cấp trên, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tình hình thời sự trong và ngoài nước; lắng nghe và giải quyết tâm tư, nguyện vọng chính đáng của đảng viên và nhân dân; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.

Bốn là, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ cấp ủy viên cơ sở. Đây là một trong những nội dung quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ sở. Vì thế, cần thường xuyên làm tốt công tác bồi dưỡng cho đội ngũ cấp ủy viên cơ sở về lý luận chính trị, kỹ năng, nghiệp vụ công tác đảng, công tác quần chúng, kinh nghiệm thực tiễn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của địa phương, cơ sở. Đồng thời, chú trọng công tác quy hoạch, tạo nguồn, xây dựng cán bộ cơ sở; thực hiện chủ trương bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân; bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân ở những nơi có điều kiện; bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, bản, khóm, ấp, tổ dân phố hoặc trưởng ban công tác mặt trận; bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và thực tiễn ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

2. Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên

Nói đến đội ngũ đảng viên là nói đến vấn đề liên quan đến con người, nguồn nhân lực chất lượng cao, có ý nghĩa rất quan trọng tới sự phát triển bền vững của đất nước cả trước mắt và lâu dài. Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là nâng cao phẩm chất và năng lực - yếu tố cơ bản, tổng hợp có tính quyết định làm nên chất lượng của toàn Đảng. Đây là vấn đề có nội hàm rộng, phong phú, đa dạng và có tính xuyên suốt trong công tác xây dựng Đảng, nên cần tập trung thực hiện tốt những nội dung căn cốt nhất.

Một là, đổi mới, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ đảng viên. Đây là nhiệm vụ hàng đầu, vì tư tưởng có “thông” thì hành động mới có kết quả tốt. Bản lĩnh chính trị của đảng viên cũng bắt đầu từ tư tưởng chính trị mà nên. Do đó, phải nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị; đề cao tính tự giác nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tăng cường trách nhiệm của đảng viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tổ chức đảng các cấp cần chủ động nắm chắc tình hình, diễn biến tư tưởng, kịp thời định hướng cho đảng viên trước những vấn đề phát sinh. Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa của dân tộc. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện, tự soi, tự sửa, “cả quyết sửa lỗi mình”, đề cao danh dự của người cách mạng.

Hai là, tăng cường công tác quản lý đảng viên; kịp thời rà soát, sàng lọc đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không đủ tư cách. Phải làm tốt công tác quản lý đảng viên ngay từ cấp ủy cơ sở; tăng cường công tác quản lý đảng viên ở ngoài nước; thường xuyên kiểm tra chi bộ, đảng viên thực hiện chế độ sinh hoạt đảng. Tích cực đổi mới công tác đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên; sửa đổi, bổ sung, quy định chặt chẽ việc sinh hoạt đảng; đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý đảng viên để bảo đảm đồng bộ, liên thông trong toàn Đảng; hoàn thành cơ sở dữ liệu tổ chức cơ sở đảng, đảng viên. Kịp thời rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng; khắc phục triệt để tình trạng dễ dãi, nể nang, né tránh, bệnh thành tích,... trong kiểm điểm tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại đảng viên.

Ba là, giải quyết tốt vấn đề số lượng và chất lượng trong công tác phát triển đảng viên, bảo đảm vừa nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảng viên theo phương châm: “thà ít mà tốt”, vừa tiếp tục tăng số lượng và phân bổ cho phù hợp với từng vùng, từng lĩnh vực theo phương châm: “ở đâu có dân thì ở đó có đảng viên”. Trong đó, chú trọng phát hiện, bồi dưỡng kết nạp đảng viên trong lực lượng vũ trang, khu vực ngoài nhà nước, trong công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân; khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, nhằm tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị các cấp. Chú trọng đổi mới nội dung, chương trình bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng và đảng viên mới, bảo đảm thiết thực, chất lượng, hiệu quả theo hướng tập trung vào những vấn đề cơ bản về Đảng, tiêu chuẩn, điều kiện, nhiệm vụ, quyền của đảng viên, tính tiên phong, gương mẫu, nhất là xác định đúng đắn động cơ vào Đảng.

Các nội dung, giải pháp trên cần được nhận thức đầy đủ và thực hiện đồng bộ với sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị, nhất là sự tham gia của nhân dân trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để thực hiện điều đó, tổ chức cơ sở đảng phải chú trọng tạo điều kiện cho nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn tổ chức cơ sở đảng một cách toàn diện. Trong đó, tập trung nâng cao chất lượng công tác tiếp dân, tăng các kênh tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân đối với  những chủ trương, nhiệm vụ mà tổ chức cơ sở đảng đề ra; phát huy vai trò của nhân dân trong kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp trên cơ sở đang cư trú tại địa phương; kịp thời phát hiện, tố giác cán bộ, đảng viên vi phạm; làm tốt công tác giới thiệu những người ưu tú để chi bộ, tổ chức cơ sở đảng xem xét kết nạp vào Đảng hoặc để giới thiệu bầu vào những vị trí lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị các cấp. Cùng với đó, phát huy tốt vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp; làm tròn trách nhiệm phản biện những nhiệm vụ, chủ trương của tổ chức đảng; tích cực động viên nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là giám sát và nêu gương, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên ở nơi làm việc và nơi cư trú, v.v.

Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên luôn được Đảng ta coi trọng và xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Quán triệt, thực hiện tốt các nội dung, giải pháp nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.

ST.

Nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ - vấn đề cơ bản trong công tác xây dựng Đảng hiện nay

Để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới,  việc nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng là một vấn đề vừa cơ bản vừa cấp thiết, có ý nghĩa sống còn đối với công tác xây dựng đảng hiện nay.

 Bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ là hai mặt không thể thiếu đối với một đảng cầm quyền. Bản lĩnh chính trị đảm bảo cho Đảng luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng đã lựa chọn. Tầm cao trí tuệ là cơ sở để Đảng đề ra đường lối, đúng đắn, lãnh đạo toàn dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, để có bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, trên cơ sở nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn căn cứ vào đặc điểm, tình hình của đất nước, khu vực và thế giới, để đề ra đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn lãnh đạo cách mạng; đồng thời, không ngừng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, khái quát, phát hiện những vấn đề mới, nhằm phát triển lý luận và bổ sung, hoàn thiện đường lối. Điều này càng đặc biệt cần thiết đối với yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Để tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng trong thời kỳ mới, cần tập trung làm tốt những vấn đề sau:

Một là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy lý luận, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đặt ra. Đổi mới tư duy lý luận, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải trên cơ sở lập trường, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và thực tiễn của đất nước. Đây chính là mục đích, phương pháp luận đúng đắn cho việc đổi mới tư duy lý luận. Đổi mới tư duy lý luận không phải là đi tìm một chủ nghĩa khác, “một hệ tư tưởng thứ ba” nào khác, mà là hiểu sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn nữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong quá trình vận dụng vào thực tiễn và góp phần hoàn thiện, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Trong điều kiện mới V.I. Lê-nin đã chỉ rõ: “... phải áp dụng những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa cộng sản... sao cho những nguyên tắc ấy được cải biến đúng đắn trong những vấn đề chi tiết, được làm cho phù hợp, cho thích hợp với những đặc điểm dân tộc và đặc điểm nhà nước-dân tộc”1. Như vậy, sự sáng tạo ở đây chính là sự kết hợp nguyên lý, nguyên tắc với đặc điểm dân tộc mà phát hiện ra cái mới để khái quát nó thành lý luận, làm phong phú thêm nguyên lý, nguyên tắc hoặc bổ sung thêm nguyên lý, nguyên tắc mới, nếu nguyên lý, nguyên tắc cũ không hàm chứa được nội dung mới. Cùng với đó, V.I. Lê-nin cũng chỉ ra rằng: “... phải nhìn thấy sự đảo lộn do điều kiện khách quan tất nhiên phải dẫn tới”2 và đừng “lắp đi lắp lại những chân lý sơ đẳng đã học thuộc lòng mà thoạt nhìn thì dường như không thể tranh cãi gì nữa”3. Như vậy, sự sáng tạo chính là việc vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở các thời điểm lịch sử khác nhau. Khi hoàn cảnh khách quan để hình thành nguyên lý, nguyên tắc đã thay đổi, thì không được gò hoàn cảnh khách quan theo yêu cầu của nguyên lý, nguyên tắc cũ, mà phải điều chỉnh, bổ sung nguyên lý, nguyên tắc cho hợp với yếu tố mới của hoàn cảnh khách quan; thậm chí nếu hiện thực phát triển đã vượt qua các nguyên lý, nguyên tắc cũ, thì nhất thiết nguyên lý, nguyên tắc mới phải được sáng tạo ra. Điều đó không trái với bản chất và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và sẽ là giáo điều, nếu không thực hiện như thế!

Hai là,nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước. Chính mệnh lệnh của cuộc sống đòi hỏi Đảng ta phải kết hợp nhuần nhuyễn việc tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những giá trị tiến bộ của nền văn minh nhân loại phù hợp với truyền thống và hoàn cảnh thực tế của cách mạng nước ta. Thực tế chứng minh: thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, là nguồn cung cấp cứ liệu và kinh nghiệm sinh động cho hoạt động nghiên cứu lý luận. Chỉ khi nào công tác lý luận bám sát thực tiễn, nắm bắt kịp thời hơi thở của cuộc sống, bắt rễ sâu trong đời sống hiện thực, giải đáp đúng những vấn đề do thực tiễn cách mạng và đời sống tư tưởng của xã hội đặt ra, khơi nguồn sáng tạo từ các phong trào cách mạng và sáng kiến phong phú của quần chúng, thì khi đó mới có chất lượng và hiệu quả cao, tránh được giáo điều, tư biện và các lệch lạc khác, giúp ích cho hoạt động thực tiễn.

Lý luận Mác - Lê-nin là một khoa học. Cho nên, sự gắn bó giữa lý luận chính trị và khoa học sẽ giúp cho nghiên cứu lý luận phát huy vai trò của mình và phát triển đúng hướng, phù hợp với những yêu cầu cấp bách của thực tiễn cách mạng. Để giải quyết đúng đắn mối quan hệ này, cần có sự nhận thức thống nhất của các cấp uỷ, các cơ quan và đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền lý luận; đồng thời, phải hình thành quy chế trong lãnh đạo, quản lý và trong hoạt động lý luận. Phát triển lý luận là sự nghiệp của toàn Đảng, với sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lực lượng. Vì thế, cần mở rộng dân chủ đi đôi với thực hiện nguyên tắc tổ chức của Đảng, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân. Trong nghiên cứu lý luận, sự sáng tạo của các cá nhân nhà khoa học có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là đối với những chuyên gia có trình độ cao và nhiều kinh nghiệm. Vì vậy, cơ quan khoa học và các cấp lãnh đạo, quản lý cần động viên, khích lệ khả năng cống hiến của từng người, chú trọng xây dựng các tập thể khoa học luôn có bầu không khí phấn đấu vươn lên, đòi hỏi cao lẫn nhau, giúp đỡ, bổ sung lẫn nhau một cách trung thực và trong sáng, tôn trọng sáng tạo của mỗi cá nhân, kể cả đối với những người có ý kiến lúc đầu chưa được số đông đồng tình, qua đó mà nâng dần trình độ khoa học của tập thể lên. Đó chính là con đường để thúc đẩy công tác lý luận phát triển nhanh, phong phú.

Trong thời điểm hiện nay, CNXH thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, công cuộc đổi mới ở nước ta vừa có thuận lợi, vừa có khó khăn đan xen lẫn nhau, không tránh khỏi xuất hiện các quan điểm lý luận sai trái, giả danh mác-xít đủ loại. Tình hình đó đòi hỏi công tác lý luận phải kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với các quan điểm lý luận không khoa học, nhất là các quan điểm xuyên tạc, thù địch… bằng căn cứ khoa học, đủ sức thuyết phục. Do đó, đấu tranh bảo vệ tính đúng đắn và những giá trị bất hủ của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng; phê phán các quan điểm sai trái, vạch trần tính chất phản khoa học của các luận điệu thù địch cũng chính là một trong những phương sách để phát triển, mài sắc lý luận, củng cố vững chắc hơn lập trường giai cấp công nhân của Đảng.

Ba là, nâng cao chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc bồi dưỡng lý tưởng chính trị là nhiệm vụ trọng tâm, là yêu cầu hàng đầu của công tác giáo dục lý luận chính trị. Lý tưởng của chúng ta là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Vì thế, cần đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, để chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta. Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị không dừng lại ở những nguyên lý chung, truyền đạt nội dung lý luận một cách công thức, cứng nhắc, thiếu sự phân tích gắn với thực tiễn, sự phát triển của cách mạng trong nước và thế giới; né tránh đấu tranh với quan điểm thù địch, sai trái, cơ hội, xét lại, hữu khuynh… hoặc chỉ tích cực bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng dưới hình thức xuôi chiều, mà phải làm rõ cả những khó khăn, phức tạp ở trong nước và quốc tế cũng như những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hằng ngày, để mỗi người tự phân tích, lý giải, phân biệt được đúng, sai... Từ đó, xây dựng cho mỗi cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, hành động đúng đắn; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống; đồng thời phê phán, bác bỏ có sức thuyết phục các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng ta.

Tư tưởng là bộ phận cốt lõi trong đời sống tinh thần của con người. Việc phát huy tự do tư tưởng là một biện pháp cơ bản để có thể hiểu đúng và giải quyết tốt tình hình tư tưởng, và đó cũng chính là một nhiệm vụ cơ bản mà công tác giáo dục lý luận chính trị phải thực hiện. Mục đích của công tác tư tưởng nói chung, giáo dục lý luận chính trị nói riêng là phải phát huy sự năng động, sáng tạo của từng cá nhân, nhưng phải tạo ra ý chí chung để có sức mạnh tổng hợp. Vì vậy, cần phải có cơ chế để phát huy được tự do cá nhân, tự do tư tưởng của cá nhân; mặt khác, phải đề cao ý chí chung, vì không có ý chí chung thì xã hội không có kỷ cương; trong Đảng không có ý chí chung thì Cương lĩnh, Điều lệ không được chấp hành nghiêm túc, do đó Đảng không thể trở thành tổ chức có sức mạnh để hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo cách mạng.

Cần hiểu đúng, tự do tư tưởng là một đòi hỏi khách quan trong đời sống tinh thần của mỗi người; nhưng trong tư tưởng có cái đúng, có cái chưa đúng; vì vậy phải có đấu tranh tư tưởng. Đấu tranh tư tưởng trong nội bộ là tự phê bình và phê bình, lắng nghe nhau để tiếp thu tư tưởng đúng, sửa chữa tư tưởng sai; phương pháp phải dân chủ, không quy kết, chụp mũ mà là thuyết phục bằng lý luận, bằng chứng minh thực tế, bằng nêu gương, bằng lòng chân thành, chứa chan tình đồng chí của những người cộng sản. Chỉ bằng cách đó thì việc phát huy tự do tư tưởng mới có hiệu quả cao, mới đẩy mạnh phát triển tư duy, nâng tầm trí tuệ của cán bộ, đảng viên, tạo nên sự đoàn kết thống nhất cao về tư tưởng và hành động trong Đảng, bảo đảm cho Đảng ta tuy đông người nhưng đồng lòng nhất trí như một người.

Bốn là, phát huy tốt vai trò của tự giáo dục, tự học tập, nghiên cứu, tự rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Việc nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ trước hết phải do chính bản thân người cán bộ, đảng viên quyết định, nhất là chủ thể có ý thức, có chức, có quyền trong bộ máy Đảng, Nhà nước, có liên quan, ảnh hưởng và tác động đến nhiều thành viên khác. Đảng viên là tấm gương, là người trực tiếp giáo dục, hướng dẫn, vận động quần chúng thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Để thực hiện được điều đó thì mỗi cán bộ, đảng viên phải tự nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ thông qua con đường tự giác học tập, rèn luyện, tu dưỡng về mọi mặt; trong đó, cần nắm vững phương châm tự giáo dục là chính. Bởi lẽ, phương pháp tự giáo dục bao giờ cũng làm cho người ta tự tin hơn, trách nhiệm phấn đấu rõ rệt hơn; phát huy tốt vai trò của tự giáo dục là một biện pháp hữu hiệu để nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của mỗi cán bộ, đảng viên. Đây chính là quá trình tạo động lực, thúc đẩy mỗi cán bộ, đảng viên tích cực trau dồi tri thức và phương pháp tư duy khoa học; thường xuyên cập nhật thông tin và tri thức mới, nhất là thông tin tư tưởng, lý luận; bám sát, đi sâu vào thực tiễn để phát hiện những vấn đề mới nảy sinh, đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn. Có ý thức tự giáo dục, người cán bộ, đảng viên sẽ luôn chủ động nắm bắt, xử lý thông tin để cùng tập thể ra các quyết định đúng và tổ chức thực hiện có hiệu quả; đồng thời, tích cực, chủ động tham gia đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch.

Quá trình giáo dục, tự giáo dục là quá trình mỗi người luôn phải tự đấu tranh với bản thân, với mọi cám dỗ, tiêu cực; tạo dựng ý chí quyết tâm vươn tới cái cao đẹp. Đó cũng chính là con đường tốt nhất để nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ ngang tầm với chức trách, nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng và Đảng ta nói chung, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế./.

ST.

Phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2025 và mục tiêu đến năm 2030

Trong các kỳ đại hội Đảng, việc xác định phương hướng xây dựng Quân đội là một nội dung quan trọng, luôn được quan tâm. Đại hội XIII của Đảng cũng vậy, nhưng có điểm rất mới là vấn đề trên không chỉ được định hướng thực hiện trong nhiệm kỳ đến năm 2025 (5 năm), mà còn xác định rõ mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 (10 năm) - xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đây là điều rất mừng và đặc biệt có ý nghĩa khi mục tiêu đó trở thành hiện thực đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cần khẳng định, xây dựng Quân đội hiện đại là vấn đề lớn, hệ trọng và là khát vọng cháy bỏng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Quân đội ta, kể từ khi ra đời (năm 1944) đã trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, đến nay mới có điều kiện xác định phấn đấu xây dựng hiện đại, thử hỏi không mừng sao được. Câu hỏi đặt ra là, Đảng ta dựa vào cơ sở nào để có tư duy mang tính đột phá đó?

Chúng ta biết, xây dựng Quân đội hiện đại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhất là cần phải có thời gian đủ dài, nguồn lực đủ lớn mới có thể thực hiện được. Nếu không đáp ứng được điều kiện khách quan đó thì việc thực hiện không thể thành công. Cũng vì thế, xét về yếu tố thời gian, suốt từ Đại hội VII đến nay, tức là hơn 30 năm, qua 7 kỳ đại hội, Đảng ta đã định hướng xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đặc biệt, đến Đại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh: “Ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng”1 và Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”2. Như vậy, chúng ta thấy lộ trình xây dựng Quân đội hiện đại vào năm 2030 được Đảng ta hoạch định rõ mục tiêu cho từng giai đoạn với thời gian đủ dài, qua nhiều lần xây dựng từng bước hiện đại. Cùng với yếu tố thời gian thì nguồn lực đầu tư cũng được coi trọng đúng mức; trong đó, tập trung ưu tiên cho một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Điều đó càng cho thấy, để tiến tới xây dựng Quân đội hiện đại, Đảng ta đã không nóng vội, trái lại có kế hoạch chuẩn bị chu đáo, khoa học, đáp ứng đầy đủ điều kiện cần thiết mới bước vào thực hiện. Từ đó khẳng định việc xác định mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại vào năm 2030 là hoàn toàn có cơ sở, tính khả thi cao. Đồng thời, Đảng ta nhấn mạnh, kết quả thực hiện xây dựng Quân đội trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, tức là đến hết năm 2025 có ý nghĩa rất quan trọng, tạo tiền đề vững chắc để hoàn thành mục tiêu đề ra.

Theo đó, cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Chúng ta đều biết, Quân đội ta là Quân đội cách mạng; là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, được Đảng và Bác Hồ sáng lập, chăm lo giáo dục, rèn luyện, trở thành Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng. Nhưng, không vì thế mà Đảng ta chủ quan, xem nhẹ việc xây dựng, trau dồi bản chất cách mạng, bản chất giai cấp công nhân cho Quân đội. Đặc biệt trong tình hình phức tạp hiện nay, khi mà các thế lực thù địch đang chĩa mũi nhọn vào Quân đội để chống phá, xuyên tạc bản chất, chức năng, truyền thống của Quân đội, hòng làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng và bản chất cách mạng, tiến tới vô hiệu hóa Quân đội nhân dân thì việc thường xuyên chăm lo giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở nên quan trọng, nhằm đảm bảo cho Quân đội nhân dân thực sự và mãi mãi là Quân đội cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Cần coi trọng xây dựng, tạo chuyển biến mới về nền nếp chính quy đối với Quân đội. Bởi chính quy và kỷ luật là sức mạnh của Quân đội, nếu thiếu nó Quân đội không những giảm sức mạnh chiến đấu, không hoàn thành được chức năng, nhiệm vụ, mà còn không tạo được sự thống nhất về ý chí và hành động, do đó bản chất cách mạng, của dân, do dân và vì dân cũng bị phai nhạt. Xây dựng nền nếp chính quy phải toàn diện, trước hết cần tập trung thực hiện tốt nền nếp chính quy chế độ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, diễn tập,… đảm bảo cho Quân đội luôn chủ động trong mọi tình huống, không để bị động, bất ngờ trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, cần rèn luyện tác phong công tác, lễ tiết, ứng xử, phát ngôn,… cho cán bộ, chiến sĩ để không ngừng bồi đắp hình ảnh tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”.

Xây dựng Quân đội tinh nhuệ, thiện chiến là yêu cầu khách quan. Đặc biệt, trong điều kiện tác chiến mới ứng phó với các loại hình chiến tranh toàn diện, trang bị phương tiện, vũ khí hiện đại, cũng như sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc xây dựng Quân đội tinh nhuệ càng trở nên quan trọng, cấp thiết. Trên thực tế, Quân đội ta là đội quân tinh nhuệ, yêu cầu đặt ra phải ngày càng tinh nhuệ hơn. Muốn thế, phải coi trọng xây dựng Quân đội tinh nhuệ về mọi mặt, trước hết và quan trọng là tinh nhuệ về chính trị và trình độ tác chiến. Bởi đó là hai yếu tố cốt lõi nhất bảo đảm cho Quân đội thực sự tinh nhuệ, thiện chiến; để “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” như Bác Hồ đã dạy.

Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Quân đội từng bước hiện đại, tạo cơ sở nền tảng vững chắc để tiến tới xây dựng Quân đội hiện đại. Đó là quan điểm nhất quán của Đảng tại Đại hội XIII, vì thế chúng ta cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Xét về toàn cục, phương hướng xây dựng Quân đội trong nhiệm kỳ này vẫn là “từng bước hiện đại”, trong đó có một số lực lượng quan trọng tiếp tục được đầu tư tiến thẳng lên hiện đại. Thời gian tới cần nghiên cứu, lựa chọn thêm một số lực lượng để đầu tư theo hướng này, nhằm tạo tiền đề vững chắc cho việc thực hiện mục tiêu hiện đại hóa Quân đội vào năm 2030 theo định hướng của Đảng.

Xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại là một thể hoàn chỉnh, thống nhất; trong đó, các nội dung có mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau. Trong quá trình thực hiện phải tiến hành đồng thời, không được xem nhẹ bất cứ nội dung nào và phải căn cứ vào tình hình, khả năng, tính cấp thiết của mỗi nội dung để có giải pháp phù hợp, hiệu quả.

Để tạo tiền đề cho thực hiện mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại vào năm 2030, cần tập trung điều chỉnh, tổ chức lực lượng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, phù hợp với tổ chức quân sự thời bình. Hiện nay nước ta đang trong trạng thái thời bình, cho nên tổ chức quân sự nói chung, tổ chức lực lượng vũ trang và quân đội nói riêng cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm tình hình đó. Đây là yêu cầu khách quan và nếu không đáp ứng được sẽ tác động trực tiếp đến sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Đây không phải lần đầu Quân đội ta thực hiện điều chỉnh tổ chức lực lượng mà trước đó cũng đã tiến hành và đạt kết quả tốt. Tuy nhiên hiện nay, về tổ chức lực lượng đang tồn tại những bất cập nên cần được tiếp tục điều chỉnh phù hợp với tình hình mới. Theo đó, điều chỉnh tổ chức lực lượng Quân đội phải đảm bảo “tinh, gọn, mạnh”, cân đối giữa khối cơ quan, đơn vị. Chủ trương chung là giảm cả về đầu mối tổ chức và quân số, nhưng không phải giảm theo cơ học mà có sự nghiên cứu, cân nhắc hợp lý, khoa học đó là giảm hoặc rút gọn những đầu mối tổ chức không còn phù hợp và sáp nhập những đầu mối cơ quan có cùng chức năng. Đồng thời, thành lập mới những tổ chức, bộ phận, lực lượng chuyên trách, chuyên sâu theo yêu cầu nhiệm vụ mới của Quân đội. Điều chỉnh tổ chức, lực lượng là nhiệm vụ trọng tâm của Quân đội trong nhiệm kỳ, cho nên cần được triển khai quyết liệt, hiệu quả. Việc điều chỉnh tổ chức, lực lượng Quân đội phải đạt được yêu cầu “tinh, gọn, mạnh”, với chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân không ngừng được nâng cao. Quá trình thực hiện phải theo đúng đề án, lộ trình, kế hoạch đã xây dựng, phải kết hợp tốt giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức, công tác cán bộ, công tác chính sách và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan trong và ngoài Quân đội, nhằm đảm bảo sự ổn định về tư tưởng, tâm lý của đội ngũ cán bộ các cấp. Điều đặc biệt quan trọng là, việc thực hiện điều chỉnh tổ chức, lực lượng thường trực phải gắn liền với nâng cao chất lượng tổng hợp lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ. Chỉ có như vậy mới đảm bảo tăng cường được sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Xây dựng Quân đội nhân dân hiện đại là vấn đề lớn của đất nước, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đặc biệt, Quân đội với tư cách là lực lượng được trực tiếp đầu tư hiện đại hóa, cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc quan điểm của Đảng. Để đến năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại, chúng ta đã qua quá trình khá dài đầu tư xây dựng từng bước hiện đại, về thực chất của nhiệm vụ này là sự tiếp tục đầu tư để chuyển hóa từ từng bước hiện đại lên hiện đại. Cụ thể là với các quân chủng, binh chủng, lực lượng đã được đầu tư tiến thẳng lên hiện đại thì cần được nghiên cứu đầu tư để hiện đại hơn; với các lực lượng còn lại chưa được đầu tư theo hướng này thì cần được ưu tiên để đảm bảo bình diện chung của Quân đội là hiện đại. Về nguồn đầu tư, cần kết hợp cả nguồn nội lực và ngoại lực, trong đó nội lực là quyết định và tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài thông qua hợp tác, hội nhập quốc tế, nhất là với các đối tác truyền thống cũng rất quan trọng. Cần thấy, xây dựng Quân đội hiện đại có nhiều việc phải làm, nhiều nội dung cần được đầu tư, trong đó không thể thiếu việc nâng cao xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, trình độ công nghệ cao. Trong thời gian tới, cần tiếp tục đầu tư phát triển công nghiệp quốc phòng hiện đại, với các tổ hợp công nghệ cao, bảo đảm tự sản xuất được vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại, tương đối hiện đại để trang bị cho lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nói riêng, hạn chế tới mức thấp nhất việc mua sắm từ bên ngoài, ngoại trừ những phương tiện, vũ khí hiện đại đặc chủng mà nền công nghiệp quốc phòng của đất nước chưa đủ khả năng trình độ công nghệ sản xuất.

Với quá trình chuẩn bị chu đáo về mọi mặt cùng với sự nỗ lực cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta tin tưởng rằng sẽ đạt được mục tiêu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại vào năm 2030, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

ST.

Tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ để phát triển đất nước

 Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong gần 40 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đây là cơ sở, tiền đề vững chắc, tạo động lực mới, khí thế mới, niềm tin vững chắc để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

    Quang cảnh Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương giữa nhiệm kỳ Đại hội XIII. Ảnh: dangcongsan.vn

Trong tiến trình tạo dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước, Đảng ta đã khởi xướng và trực tiếp lãnh đạo triển khai sự nghiệp đổi mới với những đường lối, định hướng, chủ trương hết sức đúng đắn, sáng tạo, đem lại thành quả vô cùng to lớn. Gần 40 năm qua, công cuộc đổi mới đã thực sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi người chúng ta và được bạn bè quốc tế quan tâm đến như một lẽ đương nhiên. Không phải bây giờ mà trong quá trình cách mạng, chúng ta luôn thực hiện sự đổi mới. Có điều, công cuộc đổi mới lần này mang tính toàn diện, tổng thể, sâu sắc, được chuẩn bị và tiến hành có bài bản. Ở đây, phải định rằng, sự nghiệp đổi mới đất nước là công việc của chúng ta, theo cách thức và bước đi của ta; là công cuộc sáng tạo mang tính tất yếu và công cuộc đó phải được triển khai một cách sâu rộng và đồng bộ, nhưng vì nó còn mới mẻ nên phải cân nhắc từng đường đi nước bước cụ thể, chắc chắn.

Đổi mới vừa là sự thay thế cái cũ, vừa là sự chọn lựa cái cũ, cái hiện đang còn phù hợp để cải biến cho nó trở nên thích ứng và hữu dụng hơn. Đổi mới có thể coi là một sự phủ định biện chứng: “không bao giờ phủ định sạch trơn và không bao giờ quay lại cái cũ”. Đổi mới để phát triển, đồng nghĩa với phát triển, nhưng là sự phát triển trong thế ổn định, sự phát triển theo đúng định hướng và con đường đúng đắn mà chúng ta đã chọn. Trong quá trình ấy, có người khuyên ta cần tư nhân hóa nhanh hơn, mạnh hơn trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội; cần hội nhập và hòa nhập với quốc tế mạnh hơn, sâu hơn, toàn diện hơn. Lời khuyên đó dẫu có chân thành thì chúng ta cũng không thể làm như thế. Bởi vì, hơn ai hết, chúng ta hiểu rõ tình hình thực tế của đất nước mình, và đặc biệt quan trọng là chúng ta thực hiện đổi mới nhưng có nguyên tắc, đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội. Đổi mới là thực hiện bước chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, nhưng trong khi thực hiện cơ chế thị trường, Nhà nước phải quản lý và điều hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng thả nổi thị trường; đổi mới để phát triển kinh tế, nhưng sự phát triển đó phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, khắc phục tình trạng phân hóa giàu nghèo. Đổi mới có yêu cầu và gắn với mở cửa, hội nhập; đổi mới có yêu cầu và gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Toàn bộ công cuộc hội nhập - mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là để thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững; xây dựng và tăng cường lực lượng sản xuất, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất phù hợp; nâng tầm đất nước lên trình độ mới, tầm cao mới. Vậy nên đổi mới chính là để hướng tới chủ nghĩa xã hội, để hiện thực quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác lập rõ ràng hơn.

Đổi mới và cải cách có cùng nội dung hướng tới cái mới, cái tốt đẹp hơn. Nhưng, cải cách thường được hiểu là những hành động nhất định, những cuộc vận động nhất định nhằm đạt những mục tiêu nhất định. Khi những hành động cải cách ấy, những cuộc vận động cải cách ấy đã đạt tới mục tiêu đề ra thì phải có hành động cải cách mới, cuộc vận động cải cách mới. Còn đổi mới, theo cách hiểu của chúng ta, do bản chất và tính tất yếu của nó, lại là một quá trình lâu dài. Đổi mới như một dòng chảy liên tục, vận động liên tục của cả guồng máy xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, phát động và lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Các kỳ đại hội, từ Đại hội VII đến Đại hội XIII và chắc chắn cả Đại hội XIV tới đây của Đảng cũng sẽ khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới để đưa đất nước đi lên. Lời hiệu triệu đó rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và ý nguyện của nhân dân.

Quá trình đổi mới là quá trình chuyển biến to lớn và thiết thực. Đổi mới tư duy đã khắc phục được những nhận thức lệch lạc, nhất là bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí; từng bước hình thành những quan niệm mới về mục tiêu, bước đi và cách thức phát triển đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, ổn định chính trị - xã hội được bảo đảm, định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường, quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc, quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được mở rộng và đẩy mạnh thêm.

Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng nhất nhì thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới đã giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây, vừa có cách nghĩ, nghe, nhìn và làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài, vững chắc trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Qua 37 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng; đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Báo cáo Chính trị Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vượt qua mọi khó khăn, thách thức tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển bền vững đất nước”1. Những thành tựu đó tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển trong những năm tới; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử.

Cội nguồn của những thành tựu trên là do Đảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân ủng hộ, tích cực thực hiện. Đảng ta nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác  Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhạy bén, sáng tạo, kịp thời đưa ra những chủ trương, quyết sách phù hợp cho từng giai đoạn cách mạng, khi tình hình thế giới và trong nước thay đổi. Đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đã nỗ lực phấn đấu, tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện đường lối đổi mới. Sự nghiệp đổi mới được bàn bè quốc tế ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ.

Tuy nhiên, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nghèo, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thời cơ và thuận lợi mà còn phải đối mặt với những khó khăn và thách thức đan xen. Điều này đã làm nảy sinh những băn khoăn, lo lắng về chặng đường tiếp theo của công cuộc đổi mới đất nước. Bên cạnh đó, một số phần tử bất mãn, cơ hội và các thế lực thù địch đưa ra những luận điệu đả kích, chống phá trắng trợn sự nghiệp đổi mới của chúng ta; luận điệu thâm độc nhất là: “Đổi mới đã hết thời, đã không còn động lực và cạn kiệt hết nguồn lực. Vậy nên, đất nước không thể tiếp tục đổi mới nữa,...”. Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị cần nhận thức đúng cả thời cơ và thách thức để không bị rơi vào các trạng thái tự mãn, chủ quan hoặc bi quan thái quá. Trên cơ sở đó, xây dựng quyết tâm, niềm tin, khát vọng tiếp tục đẩy mạnh đổi mới toàn diện, đồng bộ để phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc bằng cả kinh nghiệm thực tiễn và những luận cứ khoa học.

Theo đó, nếu chúng ta quan niệm động lực, nguồn lực là những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển, thì động lực bảo đảm cho sự đổi mới liên tục bao gồm nhiều yếu tố có thể nhận biết rất rõ sau:

Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng đúng, phát động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng đúng đắn cho sự nghiệp đổi mới vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, tạo nên sự chắc chắn, vững tin. Chuẩn bị kỹ và phát động đổi mới đúng lúc, đồng thời với mở cửa hội nhập nên chúng ta có thể chủ động và sáng tạo trong mọi tình huống, đã đứng vững và phát triển trong khi cải cách ở Liên Xô và Đông Âu bị thất bại.

Hai là, những thành quả của đổi mới tiếp thêm luồng sinh khí mới, tăng thêm động lực, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới. Thế mới và lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội; là kết quả của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức khá cao tạo đà cho giai đoạn kế tiếp. Thế mới, lực mới, gia tốc mới tạo ra tầm vóc và khả năng mới của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển. Đổi mới được nạp thêm năng lượng mới.

Ba là, yếu tố quyết định là động lực và những nguồn lực trong nước. Động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng; là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và sức mạnh tinh thần gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.

Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài -một yếu tố quan trọng mà nếu biết cách tranh thủ cũng sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Nguồn lực bên ngoài bao gồm: vốn, kỹ thuật - công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở phải phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và chính sách ưu đãi thích hợp, chúng ta nhất định khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ; đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào nước ta trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.

Năm là, sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân. Đây là động lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng ta và nhân dân ta, thể hiện ở trình độ đoán định, nắm bắt những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, xác định đường đi nước bước rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước đi lên. Do đổi mới là sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân nên khi Đảng ta phát động, nhân dân nhiệt tình hưởng ứng, tạo thành động lực to lớn thực hiện có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước.

Rõ ràng công cuộc đổi mới của chúng ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua gần 40 năm thực hiện, mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình đổi mới với sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân đã và đang kết hợp tất cả ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất để chúng ta tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, tạo nên khả năng thành công của sự nghiệp cao cả trọng đại: xây dựng đất nước ta giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

ST.

Bác bỏ luận điệu xây dựng lực lượng vũ trang hiện đại làm ảnh hưởng đến tiềm lực kinh tế của đất nước

Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân hiện đại là chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà nước ta, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là vấn đề khách quan mà mọi quốc gia trên thế giới đều phải tiến hành và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá, các thế lực thù địch cho rằng: xây dựng lực lượng vũ trang hiện đại làm ảnh hưởng đến tiềm lực kinh tế của đất nước. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, cần đấu tranh bác bỏ.

Trong văn kiện nhiều kỳ đại hội của Đảng, việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân luôn được xác định: xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Tới Đại hội XIII, Đảng ta chỉ rõ: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”1. Tuy nhiên, đây là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp nên chủ trương của Đảng là phải tiến hành từng bước, trong nhiều năm, thậm chí nhiều chục năm, khi điều kiện kinh tế - xã hội cho phép sẽ hiện đại hóa Quân đội và Công an. Đó là vấn đề hết sức bình thường đối với mỗi quốc gia, dân tộc, nhất là đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Vậy mà, ngay sau khi Đại hội XIII của Đảng đề cập đến việc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội, Công an tiến tới hiện đại thì xuất hiện luận điệu: xây dựng Quân đội, Công an hiện đại làm ảnh hưởng đến tiềm lực kinh tế của đất nước.

Có thể hiểu quan điểm trên xuất phát từ nhiều trạng thái tư tưởng khác nhau. Cũng có ý kiến như vậy là do băn khoăn, lo lắng chính đáng vì đất nước vừa trải qua đại dịch Covid-19, lại gặp thiên tai, bão lụt triền miên, còn nhiều khó khăn nên việc đầu tư lớn để hiện đại hóa Quân đội, Công an sẽ ảnh hưởng đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Quan điểm như vậy là bình thường và được giải tỏa ngay nếu có đầy đủ thông tin và có sự nghiên cứu thấu đáo. Vấn đề ở đây là sự không bình thường, là luận điệu sai trái để lôi kéo, kích động, chống lại chủ trương hiện đại hóa Quân đội và Công an - lực lượng nòng cốt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Song, chúng ta có đủ luận cứ để bác bỏ luận điệu này.

Thứ nhấtxây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân từng bước hiện đại là chủ trương đúng đắn, nhất quán của Đảng và nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta. Đảng ta luôn xác định việc xây dựng lực lượng vũ trang hùng mạnh là nội dung trọng yếu của nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và đặt nó trong toàn bộ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây cũng là nguyện vọng thiết tha của các tầng lớp nhân dân ta mong muốn xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân nói riêng hiện đại, hùng mạnh, làm nòng cốt cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đủ sức răn đe, sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân dựa vào sức mạnh tổng hợp của chế độ ta; xây dựng một cách toàn diện và có trọng điểm các yếu tố, tạo thành sức mạnh chiến đấu tổng lực để bảo vệ Tổ quốc. Và trên thực tế, việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) là “Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, được Nhân dân tin yêu”, đã đạt được những thành tựu nổi bật. Sức mạnh tổng hợp, khả năng chiến đấu của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được chú trọng xây dựng và từng bước nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Lực lượng vũ trang đã nâng cao tinh thần chiến đấu và khả năng sẵn sàng chiến đấu; các quân chủng, binh chủng của Quân đội và các lực lượng trọng yếu của Công an đã được củng cố, tăng cường; vũ khí, khí tài được nâng cấp và trang bị tốt hơn; một số quân chủng, binh chủng của Quân đội và một số lực lượng tinh nhuệ của Công an đã phát triển theo hướng chính quy, tinh nhuệ và đi thẳng tới hiện đại. Quân đội nhân dân và Công an nhân dân tiếp tục giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp của đội quân cách mạng, đoàn kết, nhất trí cao trong nội bộ, gắn bó máu thịt với nhân dân, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần quốc tế cao cả, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Có được kết quả như vậy nhưng tiềm lực kinh tế của đất nước không hề bị ảnh hưởng mà còn phát triển vững chắc.

Thứ haihiện đại hóa Quân đội và Công an là nhiệm vụ quan trọng và là yêu cầu mới đặt ra trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử hình thành, tồn tại, phát triển của dân tộc Việt Nam là lịch sử quang vinh của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là quy luật phát triển của dân tộc, của đất nước hôm qua, hôm nay và mãi mãi về sau; là hai nhiệm vụ chiến lược hàng đầu của cách mạng Việt Nam. Xây dựng Tổ quốc hùng mạnh là điều kiện cơ bản để bảo vệ Tổ quốc. Đến lượt mình, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc được thực hiện trọn vẹn sẽ bảo đảm cho đất nước bình yên, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân yên tâm chung lòng, góp sức xây dựng, phát triển đất nước.

Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên luôn được thực hiện trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Dự báo, những năm tới, tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động rất phức tạp, khó lường. Chạy đua vũ trang, xung đột vũ trang, chiến tranh lạnh kiểu mới, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân túy gia tăng, trật tự thế giới đang bị xáo trộn phức tạp được thể hiện rất rõ trong cuộc xung đột chưa từng có tại Ukraine. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức cho mọi quốc gia. Tình hình đó đặt ra yêu cầu hiện đại hóa Quân đội và Công an như một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết để bảo vệ Tổ quốc.

Thứ baqua 36 năm đổi mới, tiềm lực kinh tế đất nước đã tăng lên mạnh mẽ, bảo đảm vững chắc cho việc từng bước xây dựng lực lượng vũ trang hiện đại. Thực hiện hiệu quả công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã hình thành, phát triển, nâng tầm kinh tế đất nước lên trình độ, tầm cao mới. Năm 2012, GDP của nước ta ở mức 155,8 tỉ USD và con số đó đã gấp đôi lên 362 tỉ USD vào năm 2021. Tỷ trọng của Việt Nam trong GDP khu vực ASEAN cũng tăng lên, tỷ lệ này ở mức 6,5% trong thập kỷ trước thì nay là 10,8%. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2021 đã đạt 3.743 USD, đứng thứ sáu trong Cộng đồng ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều. Đặc biệt, trong 9 tháng của năm 2022, kinh tế Việt Nam có bước phát triển ngoạn mục; tăng trưởng kinh tế phục hồi tích cực, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tỷ trọng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong 9 tháng đạt 8,83%, ước cả năm đạt khoảng 8%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 9 tháng đạt trên 558 tỉ USD, tăng 15%; dự báo cả năm có thể đạt khoảng 800 tỉ USD. Trên cơ sở đó, những năm qua, chúng ta đã từng bước thực hiện hiện đại hóa lực lượng vũ trang; một số quân chủng, binh chủng của Quân đội, một số đơn vị đặc biệt của Công an đã được hiện đại hóa trong khi nền kinh tế không chỉ đáp ứng cho nhiệm vụ này, mà còn tiếp tục phát triển, tiềm lực nền kinh tế không ngừng tăng lên một cách bền vững. Hơn nữa, khi Quân đội và Công an từng bước hiện đại hóa, phát triển mạnh mẽ, vững chắc, sẽ trở thành động lực bảo đảm cho sự phát triển ổn định của nền kinh tế đất nước; như Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”2. Đây là điều kiện tiên quyết để phấn đấu năm 2030 chúng ta xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Thứ tưviệc hiện đại hóa đối với Quân đội và Công an không chỉ về vũ khí, trang bị, mà còn được tiến hành một cách tổng thể, đồng bộ, thiết thực. Nhìn một cách tổng quát, việc xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân hiện đại phải căn cứ vào phương hướng, mục tiêu, nguyên tắc và định hướng chính sách về quốc phòng, an ninh, phát huy truyền thống độc lập, tự chủ, sáng tạo để xác định các chủ trương, biện pháp đúng đắn trong khi thực hiện hiện đại hóa. Hiện đại hóa Quân đội và Công an là việc xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ vững vàng về chính trị, mạnh về bản lĩnh chiến đấu, sáng tạo trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, chức trách. Hiện đại hóa còn là hiện đại trong việc tổ chức lực lượng, về xây dựng chính quy; hiện đại về kỹ thuật, chiến thuật tinh thông, sẵn sàng thực hiện và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao; hiện đại hóa về trình độ làm chủ khoa học công nghệ; hiện đại hóa trong dự báo chính xác tình hình thời cuộc; phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh theo hướng hiện đại, v.v. Những nội dung trên cho thấy, việc hiện đại hóa Quân đội nhân dân, Công an nhân dân không ảnh hưởng đến tiềm lực kinh tế đất nước.

Những luận chứng trên khẳng định chủ trương của Đảng ta về xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân nói riêng tiến lên hiện đại là hết sức đúng đắn, hoàn toàn có thể thực hiện thắng lợi. Bởi, chúng ta có một chế độ chính trị vững mạnh, ưu việt, được nhân dân ủng hộ và đồng lòng chung sức xây dựng; có một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang phát triển mạnh mẽ, đáp ứng điều kiện cần và đủ để xây dựng lực lượng vũ trang của đất nước hùng mạnh, sẵn sàng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

ST.

Nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Sức mạnh chiến đấu của Quân đội được tạo thành bởi nhiều yếu tố, nhưng suy cho cùng đều thuộc hai thành phần cơ bản và quan trọng nhất là con người và vũ khí, trang bị k thuật quân sự. Đây cũng là hai yếu tố chịu tác động mạnh mẽ nhất của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội trước tác động của cuộc cách mạng này để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống là một yêu cầu tất yếu khách quan hiện nay.

Với tính chất thông minh, tích hợp và linh hoạt mà cốt lõi là sự tích hợp các công nghệ mới trên nền tảng Internet, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (gọi tắt là Cách mạng công nghiệp 4.0) đã, đang xóa nhòa ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số, sinh học với trung tâm là sự phát triển của Internet vạn vật, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, in 3D, tự động hóa robot, thực tế ảo, công nghệ vật liệu mới, v.v. Sự tích hợp này đã, đang tạo ra những khả năng sản xuất hoàn toàn mới, tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của thế giới. Trong lĩnh vực quân sự, Cách mạng công nghiệp 4.0 đã tạo ra những đột phá lớn về không gian mạng và tác chiến không gian mạng, các loại vũ khí thông minh, thiết bị bay không người lái, ứng dụng mô phỏng trong huấn luyện, hệ thống chỉ huy, điều khiển, tình báo, trinh sát, v.v.

Trong tương lai, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta sẽ phải đối diện với rất nhiều thách thức, nhiều loại vũ khí công nghệ và hình thái chiến tranh mới. Vì thế, nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, nhằm xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội,... tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân,... cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”1, để “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”2 là yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi tất yếu trong tình hình hiện nay. Để thực hiện tốt mục tiêu đó, cần tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:

Một là, tăng cường giáo dục, huấn luyện, phát huy nhân tố con người trong Quân đội, đáp ứng yêu cầu của cuộc chiến tranh hiện đạiCách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang kéo theo sự phát triển mạnh mẽ về khoa học và công nghệ nói chung, trong lĩnh vực quân sự nói riêng, với nhiều loại vũ khí mới, công nghệ quân sự mới và phương thức tác chiến mới ra đời, v.v. Tuy nhiên, dù công nghệ có phát triển đến đâu thì con người vẫn là chủ thể phát minh, chế tạo và sử dụng chúng. Tức là con người vẫn là nhân tố giữ vai trò quyết định. Vì thế, nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội, trước hết phải tập trung “hiện đại hóa” nhân tố con người - chính là nâng cao trình độ mọi mặt của cán bộ, chiến sĩ, đáp ứng những yêu cầu của cuộc chiến tranh hiện đại. Chiến tranh càng hiện đại, vũ khí càng tối tân thì càng đòi hỏi chất lượng cao và toàn diện ở con người. Do đó, bồi dưỡng phát huy nhân tố con người trong Quân đội hiện nay phải nắm vững và quán triệt quan điểm toàn diện, trong đó lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở.

Phát triển con người một cách toàn diện, trước hết cần tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để không ngừng nâng cao chất lượng nhân tố chính trị tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ - nhân tố cơ bản, ưu thế tuyệt đối của con người trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Nội dung tập trung vào: xây dựng bản lĩnh chính trị, lòng yêu nước, tinh thần cảnh giác cách mạng, giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; ý chí quyết tâm và tinh thần sẵn sàng vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh, quyết chiến, quyết thắng kẻ thù; đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành kỷ luật, pháp luật và tinh thần đoàn kết của bộ đội, v.v. Thực tiễn đã chứng minh, chính trị tinh thần là biểu hiện cao nhất, cái cần thiết nhất tạo nên sức mạnh giành thắng lợi trong chiến tranh; đồng thời, chính là nhân tố cơ bản gắn bó, liên kết toàn thể dân tộc thành một khối thống nhất, chặt chẽ trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Trong tương lai, vũ khí, trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại, uy lực và sự nguy hiểm của nó đối với con người càng lớn, đòi hỏi tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ càng cao. Do đó, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao chất lượng nhân tố chính trị, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ luôn phải đặt lên hàng đầu trong việc bồi dưỡng phát huy nhân tố con người.

Cùng với đó, cần tăng cường huấn luyện chiến đấu nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật và năng lực làm chủ vũ khí, trang bị cho cán bộ, chiến sĩ. Đây là một yêu cầu tất yếu khách quan của cuộc chiến tranh hiện đại. Vì vậy, huấn luyện chiến đấu phải hướng tới việc phát triển toàn diện trí năng, kỹ năng và thể năng của cán bộ, chiến sĩ đi đôi với tập trung xây dựng năng lực trí tuệ, khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, linh hoạt, nhạy bén trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học; kỹ năng hiệp đồng, nghi binh, ngụy trang, giữ bí mật, tác chiến cơ động; nhất là kỹ năng sử dụng thành tựu của công nghệ thông tin để chống chiến tranh điện tử, chiến tranh tin học, v.v. Đặc biệt, cần nâng cao chất lượng các cuộc diễn tập, nhất là diễn tập tổng hợp để nâng cao trình độ năng lực, bản lĩnh chỉ huy, phối hợp hiệp đồng tác chiến và rèn luyện phẩm chất toàn diện cho bộ đội; qua đó, có thể đánh giá một cách toàn diện con người, vũ khí, sức mạnh vật chất và tinh thần của Quân đội. Để nâng cao chất lượng diễn tập phải chuẩn bị công phu, chu đáo, tiến hành nghiêm túc, tránh biểu hiện chủ quan, đơn giản, chạy theo thành tích, cắt xén tình huống,... dẫn đến kết quả giả tạo. Đồng thời, thực hiện nghiêm nguyên tắc: diễn tập phải sát với thực tế chiến đấu, đúng với phương án tác chiến, đáp ứng yêu cầu của chiến tranh; nhất là khi địch sử dụng vũ khí công nghệ cao.

Hai là, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ, phát triển công nghiệp quốc phòng, không ngừng nâng cao chất lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự. Mặc dù con người là nhân tố giữ vai trò quyết định, song, vũ khí trang bị kỹ thuật lại vô cùng quan trọng, cần thiết và là cơ sở vật chất cho sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã dẫn đến sự phát triển như vũ bão của khoa học, kỹ thuật và công nghệ quân sự, làm cho uy lực của vũ khí càng mạnh mẽ hơn, vai trò của vũ khí càng trở nên quan trọng đối với hoạt động quân sự. Do đó, việc hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật nhằm không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới cũng như tương lai sau này càng trở nên cấp thiết.

Nâng cao chất lượng và từng bước hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự là rất quan trọng và cần thiết. Song, đây là một vấn đề lớn mang tính lâu dài, cần phải có một quá trình chuẩn bị chu đáo về tiềm lực kinh tế, cơ sở vật chất cũng như yếu tố con người. Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn như hiện nay, càng cần có những giải pháp phù hợp và hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm để vừa tránh lãng phí, vừa bảo đảm được sức chiến đấu của Quân đội. Trước mắt, cần tập trung mọi nguồn lực ưu tiên phát triển, hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng, như: không quân, hải quân, thông tin, pháo binh, công binh, đặc công, cảnh sát biển và biên phòng.

Nâng cao chất lượng vũ khí quân sự hiện nay, trước hết cần coi trọng và phát huy tốt vai trò của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, các công nghệ mới, vật liệu mới, đi tắt, đón đầu, tạo bước đột phá về khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong lĩnh vực quân sự để sản xuất và cải tiến vũ khí, trang bị kỹ thuật phù hợp với điều kiện kinh tế đất nước. Thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ quy trình xây dựng, tuyển chọn, đánh giá, nghiệm thu các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học, kỹ thuật và công nghệ quân sự, bảo đảm tính chọn lọc và hiệu quả, tránh dàn trải, lãng phí. Phát triển công nghiệp quốc phòng, đầu tư có chiều sâu cho các cơ sở sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự. Kết hợp chặt chẽ giữa khoa học, kỹ thuật và công nghệ quân dụng với dân dụng, phát triển công nghệ lưỡng dụng vừa phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vừa đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội. Đặc biệt, cần tăng cường hợp tác quân sự, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế về vũ khí cũng như công nghệ. Đồng thời, phát huy tinh thần tự lực, tự cường của ngành kỹ thuật, thực hiện tốt phương châm “giữ tốt, dùng bền, an toàn tiết kiệm”; sử dụng kết hợp hiệu quả các loại vũ khí từ thô sơ đến hiện đại để tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

Ba là, xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh, vận dụng và phát triển hiệu quả nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới. Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã thúc đẩy cả con người và vũ khí quân sự phát triển mạnh mẽ kéo theo những thay đổi trong việc tổ chức lực lượng và biên chế của Quân đội. Để xây dựng Quân đội vững mạnh, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết của Đảng, của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh; trọng tâm là Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17/01/2022, của Bộ Chính trị (khóa XIII), về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 02/4/2022, của Quân ủy Trung ương, về lãnh đạo thực hiện tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo. Quá trình thực hiện, từng cấp cần chủ động xây dựng kế hoạch tổng thể, phương pháp tiến hành chặt chẽ, khoa học, với lộ trình, bước đi cụ thể, điều chỉnh tăng, giảm tổ chức, quân số phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Trong chiến tranh, dù vũ khí hiện đại có nhiều ưu thế hơn, song, trong những điều kiện nhất định, gắn liền với cách tổ chức và sử dụng lực lượng, cách đánh thích hợp thì vũ khí kém hiện đại vẫn có thể phát huy hiệu quả và giành thắng lợi trước vũ khí hiện đại hơn. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào hình thức tổ chức và phương thức tác chiến của Quân đội. Do vậy, đẩy mạnh nghiên cứu, vận dụng và phát triển nghệ thuật quân sự độc đáo của dân tộc, có cách đánh phù hợp để bảo vệ Tổ quốc hiện nay là rất quan trọng và cần thiết. Cần phát huy tốt đội ngũ cán bộ khoa học quân sự trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để đúc kết những bài học, những chiến lệ điển hình,... góp phần bổ sung, phát triển học thuyết quân sự Việt Nam, xây dựng và hoàn thiện đường lối quân sự của Đảng trong tình hình mới. Đồng thời, làm tốt công tác nắm, dự báo tình hình, xây dựng các tình huống giả định và biện pháp giải quyết bảo đảm tính khoa học, thực tiễn cao để huấn luyện và diễn tập. Trong đó, đặc biệt coi trọng những giải pháp khoa học, kết hợp chiến thuật với kỹ thuật trong phòng, chống vũ khí công nghệ cao và có kế hoạch bảo toàn các tiềm lực quân sự, quốc phòng, kinh tế trong việc phòng tránh sự phá hủy của vũ khí công nghệ cao ở tất cả các quy mô, phạm vi tác chiến trong khu vực phòng thủ các địa phương và cả nước.

Cùng với đó, mở rộng quan hệ đối ngoại, tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng để nâng cao vai trò, vị thế, trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam trong cộng đồng ASEAN, các diễn đàn quốc tế và khu vực,... làm cho thế giới hiểu rõ về chính sách đối ngoại, quốc phòng của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế trong xây dựng Quân đội chính quy, hiện đại; chủ động phát hiện, giải quyết, ngăn ngừa các nguy cơ xung đột, chiến tranh từ sớm, từ xa để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

 “Xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”3 cần căn cứ vào điều kiện cụ thể tình hình trong nước và bối cảnh thế giới để giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề thực tiễn đặt ra. Trong đó, vấn đề có tính nguyên tắc, nhất quán là phải luôn coi trọng phát huy nhân tố con người; nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tích cực sáng tạo để không ngừng nâng cao chất lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật của Quân đội; có phương thức kết hợp tốt nhất giữa con người và vũ khí để tạo ra sức mạnh tổng hợp cho Quân đội là những điều căn cốt nhất trong xây dựng và nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội trước sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay./.

ST.

Thành tựu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mấy phương hướng

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự đột phá về lý luận, được Đảng ta vận dụng sáng tạo, đạt thành tựu to lớn trong hơn 35 năm đổi mới vừa qua, nhất là trong nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, khi đất nước phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức to lớn. 

Ngay khi đại dịch Covid-19 với những thiệt hại, ảnh hưởng rất nặng nề đến đời sống kinh tế - xã hội đất nước, sức khỏe, tính mạng con người vừa được kiểm soát, thì tình hình thế giới, khu vực lại có những diễn biến mới, phức tạp. Trong bối cảnh đó, với sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của Đảng; sự điều hành linh hoạt, sáng suốt của Chính phủ, cũng như sự nỗ lực quyết tâm, chung sức đồng lòng của doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân, nền kinh tế đất nước vẫn tăng trưởng, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự phát triển khá toàn diện với nhiều nét nổi bật.

Thứ nhất, những yếu tố của kinh tế thị trường tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định vững chắc, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảmKinh tế thị trường phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; phù hợp với thực tiễn, vận hành theo các quy luật của kinh tế thị trường, ngày càng theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế. Thị trường trong nước gắn với thị trường khu vực và thế giới; giá cả hầu hết được xác lập theo nguyên tắc thị trường; các yếu tố thị trường và các loại thị trường từng bước phát triển; đặc biệt là, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế được bảo đảm vững chắc. Vai trò của Nhà nước đối với nền kinh tế được điều chỉnh ngày càng phù hợp với cơ chế thị trường; đồng thời, dân chủ trong đời sống kinh tế - xã hội đất nước được phát huy. Việc huy động, phân bổ các nguồn lực đã gắn với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp hơn với cơ chế thị trường; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện rõ rệt, v.v.

Cùng với đó, việc cơ cấu lại nền kinh tế đã đạt được kết quả quan trọng; các loại thị trường, nhất là thị trường các yếu tố sản xuất phát triển lành mạnh, sử dụng các nguồn lực có hiệu quả. Cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội xét trên phương diện quan hệ sở hữu khá hài hòa (gồm khoảng 27% từ kinh tế nhà nước, 04% từ kinh tế tập thể, 30% từ kinh tế hộ, 10% từ kinh tế tư nhân trong nước và 20% từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài1. Việc đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế có sự chuyển biến tích cực, nền kinh tế được chuyển dần sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.

Thứ hai, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức khá cao; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên, chất lượng tăng trưởng của nền kinh kế được cải thiện. Với những nỗ lực của toàn Đảng và toàn dân ta, kinh tế Việt Nam đã vượt qua được những khó khăn, thách thức to lớn. Trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và thương mại toàn cầu có sự suy giảm, gặp nhiều rủi ro, nhưng kinh tế nước ta vẫn tiếp tục có sự tăng trưởng khá. Tăng trưởng kinh tế năm 2021 đạt 2,56%, trong khi nhiều nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng âm. Năm 2022, GDP đạt 8,02%, thuộc nhóm nước có tăng trưởng GDP cao nhất thế giới và được quốc tế đánh giá cao về kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Mặc dù tăng trưởng GDP 06 tháng đầu năm 2023 đạt 3,72%, nhưng theo dự báo của nhiều tổ chức quốc tế, cả năm vẫn có thể đạt mục tiêu 6,0% - 6,5%. Chất lượng tăng trưởng của nền kinh kế được cải thiện, giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam tăng trưởng thuộc tốp nhanh nhất thế giới trong giai đoạn 2019 - 2022 (tăng 74%). Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế có uy tín là Moody's, S&P và Fitch đều đánh giá cao giá trị thương hiệu quốc gia; duy trì, nâng bậc xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam2.

Thứ ba, an sinh xã hội đạt kết quả quan trọng; quốc phòng, an ninh được tăng cườngĐây là một điểm nhấn phản ánh khá rõ nét bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nước ta. Theo đó, an sinh xã hội đạt nhiều kết quả quan trọng, nhất là trong giáo dục - đào tạo, y tế, hỗ trợ các nhóm “yếu thế”, các đối tượng có nhiều khó khăn. Những người nghèo, trẻ em dưới 06 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí; tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm gần ba lần; nhiều dịch bệnh phổ biến trước đây được khống chế thành công, v.v.

Trên cơ sở phát triển kinh tế và giải quyết tốt các vấn đề xã hội và an sinh, khả năng thích ứng với tình huống ngặt nghèo của nền kinh tế đất nước đã được gia tăng. Trước những thử thách đặc biệt, khó lường như đại dịch Covid-19, nền kinh tế nước ta có thời điểm bị ngưng trệ, hầu hết các hoạt động đều tập trung cho chống dịch và chịu ảnh hưởng không nhỏ từ những khó khăn của kinh tế thế giới, như: giá dầu, giá hàng hóa tăng cao, lạm phát ở nhiều nước tăng kỷ lục, đứt gẫy chuỗi cung ứng,… song, Đảng, Nhà nước ta vẫn luôn kiên định mục tiêu phát triển. Những quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ và giàu tính nhân văn nhằm bảo vệ quyền con người, bảo hộ công dân, bảo đảm sức khỏe và tính mạng của nhân dân được thực thi có hiệu quả, đưa đất nước trở thành “điểm sáng” của khu vực và thế giới về kiểm soát dịch bệnh, tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Vì thế, mặc dù trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng chỉ số hạnh phúc của nước ta vẫn đạt ở mức cao. Năm 2023, “Chỉ số hạnh phúc toàn cầu” của Việt Nam tăng 12 bậc trong bảng xếp hạng của Liên hợp quốc3.

Cùng với đó, phát triển kinh tế - xã hội đã kết hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh; chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân cả về tiềm lực, lực lượng, thế trận, gắn kết chặt chẽ với nền an ninh nhân dân. Các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương đã quan tâm, huy động, quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho quốc phòng, an ninh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm an toàn các sự kiện trọng đại của Đảng, Nhà nước. Tập trung nguồn lực phát triển công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng, hiện đại, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của đất nước; chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Đại hội XIII của Đảng xác định rõ: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”4. Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, thời gian tới, cần tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt những phương hướng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định.

Một là, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Trong đó, chú trọng phát triển kinh tế nhà nước, bảo đảm kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Nhiệm vụ quan trọng là phải đẩy nhanh việc xử lý tình trạng nợ xấu, thoái vốn; thực hiện hiệu quả việc cổ phần hóa, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; thúc đẩy đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ và áp dụng chế độ quản trị doanh nghiệp hiện đại; kiểm tra giám sát chặt chẽ không để thất thoát, lãng phí vốn, tài sản của Nhà nước. Củng cố, phát triển kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác đáp ứng yêu cầu kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Theo đó, Nhà nước cần tăng cường hơn nữa việc hỗ trợ, khuyến khích phát triển các mô hình kinh tế hợp tác, các hợp tác xã, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh tế hộ trang trại trong nông nghiệp; đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong nông nghiệp từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp.

Hai là, tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ kinh tế tư nhân phát triển. Hoàn thiện cơ chế chính sách để thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, thực sự coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Quan tâm phát triển các doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh đáp ứng yêu cầu; nâng cao trình độ công nghệ, phát triển nguồn nhân lực; mở rộng thị trường, cải thiện thu nhập, điều kiện làm việc của người lao động, tham gia các hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp tư nhân. Thực hiện tốt hơn nữa chủ trương: “Xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân; hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động. Khuyến khích hình thành, phát triển những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế. Phấn đấu đến năm 2030, có ít nhất 02 triệu doanh nghiệp với tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đạt 60% - 65%”5.

Ba là, khuyến khích phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Quán triệt quan điểm: “kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”, Chính phủ, các cấp, các ngành cần nỗ lực thực hiện, có chính sách thu hút hiệu quả và quản lý chặt chẽ để tận dụng những tác động tích cực và hạn chế những rủi ro cho nền kinh tế trong thu hút FDI. Hoàn thiện và áp dụng có hiệu quả các quy định về kỹ thuật, điều kiện về khoa học công nghệ, những tiêu chuẩn về môi trường đối với các dự án FDI, cùng với chính sách ưu đãi thu hút các dự án FDI có công nghệ xanh, sạch, thân thiện với môi trường. Khuyến khích thu hút các dự án FDI có tác động tích cực lan tỏa; ưu tiên những dự án đầu tư nước ngoài có trình độ công nghệ cao, sẵn sàng chuyển giao công nghệ, tác động tích cực cho các doanh nghiệp trong nước, giúp các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn, hiệu quả hơn vào các mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Bốn là, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh theo yêu cầu phát triển kinh tế thị trường trong bối cảnh mới. Phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường, các loại thị trường; thực hiện nhất quán cơ chế giá trị thị trường, gắn với thị trường khu vực và thế giới. Phát huy đầy đủ vai trò của thị trường trong phân bổ các nguồn lực sản xuất; điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa; điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp và thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Chú trọng thực hiện tốt việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, phát triển các ngành, lĩnh vực, các doanh nghiệp trên nền tảng ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của khoa học và công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Phát triển mạnh khu vực dịch vụ dựa trên nền tảng ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là các dịch vụ có giá trị gia tăng cao./.

ST.