Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2024

Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng

“Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng” là nhiệm vụ, giải pháp quan trọng trong công tác xây dựng Đảng được Đại hội XIII của Đảng bổ sung, phát triển. Bởi vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt, nhận thức đúng để thực hiện hiệu quả.

Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân

Kế thừa, vận dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta… ở trong xã hội mà ra” “…là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Vì vậy, trong các văn kiện và hoạt động thực tiễn, Đảng ta luôn coi mối quan hệ với Nhân dân là mối quan hệ mật thiết, máu thịt giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích: “quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân được củng cố, tăng cường”.

Đảng ra đời và phát triển không vì mục đích tự thân, mà vì mục đích đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng chính là sự ủy thác từ Nhân dân. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; do đó, mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Nếu không có sự ủng hộ của Nhân dân, thì Đảng không thể làm tròn trách nhiệm của mình. Sức mạnh của nhân dân là vô địch, là cội nguồn mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó là quan điểm nhất quán, bất di bất dịch, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc hơn trong giai đoạn cách mạng mới. Để thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, điều cốt yếu nhất là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc””.

Đảng thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Bởi đó là quyền bất khả xâm phạm, cần tôn trọng, phát huy ở cả thể chế và trong hoạt động thực tiễn của Đảng. Thực hiện điều này, đòi hỏi Đảng phải làm tròn chức trách vừa là lãnh đạo, vừa là đầy tớ của Nhân dân. Tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tổ chức và công dân, kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Chú trọng thực hiện dân chủ trực tiếp và đại diện; thực hiện nghiêm, có hiệu quả các quy định về dân chủ ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Người đứng đầu cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, không để hình thành các “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội; phát huy quyền làm chủ, quan tâm chăm lo đời sống của Nhân dân; chống các biểu hiện dân chủ cực đoan, hình thức, mị dân. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, đa số người có chức, có quyền là đảng viên. Do đó, khi vận hành cơ chế thực thi quyền lực dễ làm cho một số tổ chức đảng, đảng viên có nguy cơ xa dân, hách dịch, quan liêu, cửa quyền đối với dân; không tôn trọng, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của dân. Vì vậy, cần “Phê phán, xử lý nghiêm minh những cán bộ, công chức, viên chức thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu dân”.

Củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Với những kỳ tích trong hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn được Nhân dân tin yêu. Niềm tin ấy đã hun đúc nên khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên ý chí, quyết tâm để dân tộc thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, ngày càng khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế. Niềm tin này ngày càng sâu sắc khi Đảng, Nhà nước có chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn; có sự quản lý, điều hành phù hợp, sâu sát với sự gương mẫu của các tổ chức và cá nhân trong hệ thống chính trị; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân ngày càng được nâng lên. Củng cố niềm tin của Nhân dân phải bắt đầu từ việc xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có đạo đức, lối sống tốt, thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”. Đồng thời, không ngừng đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động, sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội trong định hướng, xây dựng hệ giá trị xã hội chủ nghĩa trong xã hội, v.v.

Tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên lợi ích chung của toàn Đảng, toàn dân; được sự hướng đích từ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, dựa trên nòng cốt liên minh Công -  Nông - Trí. Mọi hoạt động của hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của Nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu và hành động chia rẽ Đảng với dân, sự đồng thuận xã hội, làm ảnh hưởng đến sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, v.v.

Dựa vào dân để xây dựng Đảng

Đây là vấn đề hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với sự sống còn của Đảng. Bởi, Nhân dân là chỗ dựa vững chắc, nguồn sức mạnh của Đảng. Thời gian qua, đã có nhiều chủ trương, biện pháp để phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, như: sửa đổi, bổ sung quyền làm chủ của Nhân dân trong Hiến pháp năm 2013; Quy chế Dân chủ cơ sở, Quy chế công tác Dân vận của hệ thống chính trị, Quy định về việc đảng viên tham gia sinh hoạt ở khu dân cư; xây dựng các cơ sở pháp lý để thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, v.v. Song, vẫn còn nhiều mặt hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Do đó, cần xây dựng, hoàn thiện cơ chế để Nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”; nghiên cứu, ban hành cơ chế để Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ. Cơ chế đó phải quy định trách nhiệm cụ thể của tổ chức đảng các cấp, của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, chủ trì, chủ chốt cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc dựa vào dân để xây dựng Đảng. Xác định rõ trách nhiệm của Nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội; những nội dung, lĩnh vực, quy trình, chuỗi công việc để Nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Thường xuyên rà soát, bổ sung, hoàn thiện cơ chế khi thực thi. Tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện cụ thể; kiên quyết phòng, chống “bệnh” hình thức, chiếu lệ, làm đối phó.

Tổ chức cho Nhân dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng. Về lý luận và thực tiễn thì việc của Đảng cũng là việc của dân, nhưng do hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của đất nước, từng địa phương, từng thời điểm lịch sử cụ thể, tổ chức đảng các cấp phải lựa chọn những vấn đề phù hợp đưa ra để nhân dân đóng góp ý kiến và tổ chức việc này cho hợp lý. Các cấp ủy đảng phải có thái độ nghiêm túc lắng nghe, tiếp thu những ý kiến phù hợp của người dân để bổ sung, hoàn thiện chủ trương, đường lối. “Phát huy vai trò, sự tham gia của nhân dân trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân, giữa các vùng, địa phương”.

Thực hiện tốt hơn nữa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Để dân biết, cần phải cung cấp thông tin chính thống, nhanh, nhạy, kịp thời, nhằm định hướng nhân dân và dư luận vào những thông tin lành mạnh, các giá trị xã hội chủ nghĩa, chân - thiện - mỹ; không để thông tin xấu độc xâm nhập. Khắc phục tình trạng “khoảng trống thông tin”, thông tin không kịp thời, thông tin giả,… ảnh hưởng tới nhận thức, niềm tin của dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Nhân dân có được bàn những công việc của Đảng không và bàn những vấn đề gì trong công tác xây dựng Đảng? Điều đó đòi hỏi tính công khai, minh bạch cần được cụ thể hóa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở các cấp từ Trung ương đến cơ sở. Dân làm là người dân phải được biết, được bàn các công việc có liên quan đến họ, khi đã thống nhất nhận thức thì chính nhân dân là chủ thể thực hiện các công việc đó dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp. Dân kiểm tra, dân giám sát có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc dựa vào dân để xây dựng Đảng, là giải pháp hiệu quả nhất trong xây dựng Đảng. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên”. Mỗi cán bộ, đảng viên, dù đảm nhiệm cương vị gì trong cơ quan của bộ máy hệ thống chính trị, luôn phải đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của Nhân dân nơi họ công tác và nơi cư trú; họ sẽ khó giấu giếm sai lầm, khuyết điểm trước muôn vàn tai mắt của dân. Để thực hiện được điều đó, Đảng cần có cơ chế, quy định cụ thể, tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia công việc quan trọng này. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân. Dân thụ hưởng là nội dung mới được Đại hội XIII của Đảng bổ sung, cũng là nội dung rất quan trọng, bảo đảm cho cơ chế thực hành dân chủ có hiệu quả. Do đó, phải “Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và sự tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”.

Dựa vào dân để giới thiệu những người ưu tú cho Đảng, xem xét kết nạp vào Đảng. Sức mạnh, chất lượng của Đảng là sự tổng hợp từ nhiều yếu tố, trong đó có số lượng, chất lượng của đội ngũ đảng viên. Ngoài việc phát huy vai trò của nhân dân tham gia góp ý kiến xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, kiểm tra, giám sát để Đảng sàng lọc đội ngũ đảng viên, Đảng còn phải dựa vào phong trào cách mạng của nhân dân để phát hiện, lựa chọn những người ưu tú xem xét kết nạp, bổ sung vào lực lượng của mình.

Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng là vấn đề thuộc quy luật, có tính nguyên tắc, thể hiện bản chất và sức sống trường tồn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, quán triệt, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ, giải pháp này là thiết thực góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong tình hình mới./.

ST.

Quán triệt, thực hiện quan điểm của Đảng về tăng cường quốc phòng, an ninh trong tình hình mới

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”1. Vì thế, trong thời gian tới, cần nghiêm túc quán triệt và thực hiện tốt quan điểm này.

Nghiên cứu sâu hệ thống Văn kiện các kỳ Đại hội thấy rõ tính nhất quán trong quan điểm của Đảng ta về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, luôn có sự bổ sung, phát triển phù hợp với tình hình mới. Đặc biệt, tại Đại hội lần này có nhiều điểm mới ở cả nội dung, giải pháp thực hiện. Thứ nhất, cùng với việc tiếp tục khẳng định những nội dung lớn, cơ bản được nêu trong Văn kiện Đại hội XII, như: xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân, Nghị quyết Đại hội XIII đã bổ sung nội dung mới là “Phát huy thế trận lòng dân”2. Về xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân xác định rõ lộ trình, mục tiêu đạt được đến năm 2025, 2030. Thứ hai, về tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, Nghị quyết Đại hội XIII nêu một nội dung mới quan trọng, đó là nguồn lực và thể chế hóa nguồn lực bảo đảm cho quốc phòng, an ninh. Trong đó, nhấn mạnh nguồn lực con người: có cơ chế huy động nguồn lực từ địa phương và nguồn lực xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh tại các khu vực phòng thủ. Thứ ba, về phương hướng phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, Nghị quyết Đại hội XIII xác định theo hướng tự chủ, tự cường, hiện đại, lưỡng dụng, “thực sự trở thành một mũi nhọn của công nghiệp quốc gia”3. Như vậy, ở đây có sự phát triển, với tiêu chí rất cao: tự chủ, tự cường, hiện đại và là một mũi nhọn của công nghiệp quốc gia. Điều đó là cần thiết, sát với thực tiễn tình hình mới. Bởi, chỉ khi nào nền công nghiệp quốc phòng, an ninh: tự chủ, tự cường, hiện đại, thì khi đó mới có sự chủ động trong việc bảo đảm vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ trang còn nếu không đạt được yêu cầu đó mà chủ yếu phụ thuộc vào nguồn cung cấp từ bên ngoài thì tất nhiên sẽ bị động và như thế sẽ cực kỳ nguy hiểm, nhất là khi đất nước có chiến tranh. Thứ tư, Đại hội XIII xác định: “Thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác”4. Hệ thống chiến lược trên rất quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vì thế được Đảng ta định hướng xây dựng từ Đại hội X, nhưng phải sau hơn 10 năm (đến giữa nhiệm kỳ Đại hội XII) mới hoàn thành. Cho nên việc chỉ đạo khẩn trương triển khai thực hiện các chiến lược đó với yêu cầu toàn diện, đồng bộ là rất cần thiết trong tình hình mới.

Trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về tăng cường quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần đoàn kết, nỗ lực thực hiện sáng tạo, hiệu quả trong thực tiễn bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, tập trung vào những nội dung lớn, cơ bản sau:

1. Đánh giá, dự báo đúng tình hình, nhất là những động thái liên quan, tác động trực tiếp đến quốc phòng, an ninh, bảo đảm chủ động trong mọi tình huống. Quốc phòng, an ninh là một lĩnh vực đặc thù, nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, để hoàn thành nhiệm vụ đó, yêu cầu trước hết là phải thường xuyên nắm chắc, đánh giá, dự báo đúng tình hình mọi mặt, nhất là những yếu tố tác động trực tiếp đến quốc phòng, an ninh nước ta. Trong bối cảnh tình hình phức tạp, thay đổi nhanh, khó lường, cùng lúc phải đối phó quyết liệt với thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống như hiện nay vấn đề này lại càng quan trọng, nhưng thực hiện cũng không dễ. Vì thế, cần phải có sự phối hợp thường xuyên chặt chẽ của các lực lượng, bộ, ngành liên quan, nhất là giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại, để chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối, chủ trương và đối sách giải quyết tốt mọi tình huống về quốc phòng, an ninh và các vấn đề phức tạp, nhạy cảm trong quan hệ quốc tế liên quan đến chủ quyền, lãnh thổ của đất nước. Chủ động ngăn chặn, triệt tiêu những yếu tố có thể gây đột biến, tác động xấu đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, hiện nay nước ta và các quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với mối thảm họa toàn cầu, đó là đại dịch Covid-19. Trong cuộc chiến ác liệt này, không một quốc gia nào có thể “độc lập tác chiến” mà giành thắng lợi, vì thế càng phải cùng nhau hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực, v.v. Đó là cách thức duy nhất đúng để đẩy lùi dịch bệnh. Phải chủ động trong các phương án dập dịch với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, vừa chống dịch vừa tranh thủ mọi cơ hội để phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, hoàn thành mục tiêu kép. Điều đó cũng là thiết thực quán triệt, thực hiện quan điểm của Đảng được xác định tại Đại hội XIII: “giữ vững an ninh quốc gia, an ninh con người”5.

2. Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, không ngừng nâng cao sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp được hợp thành từ nhiều yếu tố, trong đó tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh giữ vai trò cốt yếu, trực tiếp. Để tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, vấn đề cơ bản là phải chăm lo xây dựng lực lượng và thế trận. Về lực lượng, phải xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, toàn diện, có chất lượng tổng hợp cao, trọng tâm là xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại theo lộ trình, mục tiêu đến năm 2025, 2030 mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định. Về xây dựng thế trận, coi trọng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và “thế trận lòng dân”. Thế trận tổng hợp đó phải có sự gắn kết chặt chẽ ở mọi cấp, mọi địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược, trọng điểm về quốc phòng, an ninh và vững chắc ngay từ cơ sở. Mặc dù, nước ta hiện còn nhiều khó khăn, nhưng đang có sự phát triển đáng mừng, theo đó nguồn lực bảo đảm cho quốc phòng, an ninh cũng ngày càng dồi dào hơn. Điều quan trọng là, phải khai thác, huy động được nguồn lực đó khi cần, còn nếu không sẽ không có tác dụng. Muốn thế phải khẩn trương có cơ chế huy động nguồn lực bảo đảm quốc phòng, an ninh sao cho phù hợp, hiệu quả. Cơ chế đó phải được thể chế hóa bằng văn bản pháp quy và phải sát thực tiễn, cụ thể để có thể khai thác được tối đa mọi nguồn lực, gồm cả nội lực và ngoại lực, nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần, nguồn lực con người, nguồn lực nhà nước, nguồn lực địa phương và nguồn lực trong xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh.

3. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng tự chủ, tự cường, hiện đại, lưỡng dụng. Mục đích của phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh là nhằm đảm bảo vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Nhưng phát triển theo hướng nào, mức độ đến đâu còn phụ thuộc vào yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, điều kiện, khả năng của đất nước,… tức là phải có cơ sở khoa học. Tại Đại hội XIII, nhận thấy đã hội tụ đủ yếu tố cần thiết thì Đảng ta xác định rõ: xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng tự chủ, tự cường, hiện đại, lưỡng dụng, “thực sự trở thành một mũi nhọn của công nghiệp quốc gia”. Điểm khác ở đây không thuần túy là “câu chữ” mà ở nội hàm vấn đề, là sự phát triển về chất đối với năng lực công nghiệp quốc phòng, an ninh, sự chuyển hướng quan trọng trong việc đảm bảo vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang từ chỗ trước đây nguồn cung cấp phần lớn là từ bên ngoài thì hiện nay và tới đây sẽ từng bước tự đảm bảo; tức là lấy tự sản xuất là chính và chỉ mua sắm từ bên ngoài những loại vũ khí, trang bị kỹ thuật đặc chủng, hiện đại mà ta chưa đủ khả năng sản xuất. Thực tế cho thấy, khi nền công nghiệp quốc phòng, an ninh đã đạt được yêu cầu: tự chủ, tự cường, hiện đại, nghĩa là có sự chủ động trong việc đảm bảo vũ khí, trang bị, thì tất nhiên sẽ hạn chế đến mức thấp nhất sự phụ thuộc từ bên ngoài, điều này hết sức quan trọng. Để phát triển nền công nghiệp quốc phòng, an ninh theo phương hướng mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra cần phải có sự đầu tư lớn cả nhân lực, vật lực, công nghệ, v.v. Với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, đầu tư thích đáng, nền công nghiệp quốc phòng, an ninh của đất nước sẽ phát triển đạt được mục tiêu đề ra, đáp ứng kịp thời, đầy đủ vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật cần thiết cho lực lượng vũ trang nhân dân.

4. Thực hiện đồng bộ, hiệu quả hệ thống chiến lược quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trước đây, khi ta chưa xây dựng được hệ thống chiến lược quốc gia về bảo vệ Tổ quốc, việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta có nhiều khó khăn, hạn chế, chưa theo kế hoạch, phương án cụ thể, rõ ràng. Hiện nay, hệ thống chiến lược quốc gia đó và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành đã và đang được hoàn thiện là thuận lợi rất cơ bản đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc nói chung, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng nói riêng. Do đó, việc triển khai thực hiện chặt chẽ với yêu cầu toàn diện, đồng bộ, hiệu quả là hết sức quan trọng. Cần thấy trách nhiệm thực hiện là của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhưng trong mỗi chiến lược cụ thể đều có lực lượng nòng cốt, chịu trách nhiệm chính. Ví như lực lượng nòng cốt, chịu trách nhiệm chính trong thực hiện Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự là Quân đội nhân dân, đối với Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia là Công an nhân dân, với các chiến lược khác cũng tương tự như vậy. Hệ thống chiến lược đó là một thể hoàn chỉnh, mỗi chiến lược là một mắt xích gắn bó chặt chẽ và tác động đến nhau, vì thế phải thực hiện đồng bộ, đầy đủ, toàn diện mới có hiệu quả, còn nếu không sẽ ít có tác dụng. Quá trình thực hiện, các lực lượng, bộ, ngành cần có sự phối hợp thường xuyên, chặt chẽ, đặc biệt với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân - lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc - ngoài việc thực hiện tốt chiến lược được giao và các chiến lược chuyên ngành, còn phải tham gia tích cực vào các chiến lược khác. Có như vậy, việc triển khai thực hiện mới đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra. Cùng với đó, cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận về quốc phòng, quân sự, an ninh, nghệ thuật quân sự, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh xã hội, v.v.

Trên đây là một số nội dung, giải pháp cơ bản tăng cường quốc phòng, an ninh theo quan điểm Đại hội XIII của Đảng. Với sự quyết tâm, nỗ lực, trách nhiệm cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, chúng ta sẽ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

ST

Đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay

Xuất phát từ vai trò quan trọng của nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; từ thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong thời gian qua và từ yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là chủ trương hết sức đúng đắn, sáng tạo của Đảng, nhằm đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Thực tế cho thấy, nói đến nguồn nhân lực là nói đến nguồn lực con người, đây là “nguồn lực” đặc biệt của mỗi quốc gia, bao gồm trình độ học vấn, chuyên môn; phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống; kỹ năng nghề nghiệp; sức khỏe,... của mỗi cá nhân hợp thành khả năng lao động xã hội. Trên thực tế, giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất - kỹ thuật, khoa học - công nghệ,... luôn có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nguồn nhân lực được xem là năng lực nội sinh chi phối các nguồn lực khác. Nói cách khác, nguồn nhân lực chính là nhân tố quyết định đến việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác, do vậy nó quyết định đến sự phát triển của quốc gia. Thực tiễn đã chứng minh, có những quốc gia không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiên không thuận lợi như Nhật Bản, Israel, Singapore,... nhưng vẫn phát triển, vẫn “cất cánh” một khi quốc gia đó biết coi trọng phát triển và phát huy nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nhận thức rõ vai trò quan trọng của nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã chủ trương thực hiện khâu đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực. Cụ thể hóa quan điểm, đường lối của Đảng, Quốc hội ban hành Bộ luật Lao động năm 2012, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Luật Giáo dục năm 2019, Luật Cán bộ công chức, Luật Viên chức, v.v. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020. Các bộ, ngành, địa phương cũng xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển nhân lực; thực hiện nhiều giải pháp, chính sách nhằm thu hút, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bước đầu đạt được kết quả quan trọng. Nhờ vậy, nguồn nhân lực của nước ta được tăng cường cả về quy mô và chất lượng. Theo Tổng cục Thống kê: Lực lượng lao động của nước ta đã tăng từ 50,4 triệu người năm 2010 lên 56,2 triệu người năm 2020. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 40% năm 2010 lên khoảng 65% năm 2020. Nguồn nhân lực chất lượng cao cũng tăng đáng kể, trong đó có một số ngành đạt trình độ khu vực và quốc tế, như: y tế, cơ khí, công nghệ, xây dựng, v.v.

Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng, song so với yêu cầu đặt ra, phát triển nguồn nhân lực, nhất là chất lượng cao ở nước ta thời gian qua vẫn còn có mặt hạn chế. Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo vẫn còn lớn, chất lượng đào tạo chưa cao, cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý, thiếu lao động có trình độ, năng lực, kỹ năng tay nghề cao, thừa lao động thủ công; thiếu cán bộ lãnh đạo, quản lý, quản trị doanh nghiệp giỏi và đội ngũ chuyên gia trong các ngành kinh tế, kỹ thuật, công nhân lành nghề, v.v. Từ thực tế nêu trên, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định thực hiện đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là một chủ trương hết sức đúng đắn, thể hiện tư duy, tầm nhìn mới của Đảng ta về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước trong thời kỳ mới. Để thực hiện đột phá chiến lược này, cần nghiên cứu, quán triệt một số chủ trương, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tập trung phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên cho nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt. Ở bình diện quốc gia, chúng ta mới đưa ra chiến lược, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực nói chung, về cơ bản chưa có chiến lược, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Ngay trong chiến lược, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 cũng chưa xác định rõ nhu cầu cụ thể về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao của cả nước nói chung cũng như của từng bộ, ngành, địa phương nói riêng. Vì vậy, chưa có cơ sở xây dựng một chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thống nhất, đồng bộ để thu hút, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và trọng dụng một cách hiệu quả, hợp lý lực lượng này. Chính vì vậy, tại Đại hội lần này, Đảng ta xác định là phải tiếp tục thực hiện và đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, phấn đấu đến năm 2025 tỷ lệ lao động ở nước ta đã qua đào tạo đạt 70%1; trong đó, ưu tiên nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt. Đây là quan điểm mới trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Thực tế hiện nay, nước ta đang thiếu cán bộ lãnh đạo, quản lý, quản trị doanh nghiệp có trình độ năng lực cao; thiếu đội ngũ chuyên gia trong các ngành kinh tế, kỹ thuật và công nhân lành nghề, trong đó có lĩnh vực then chốt. Để nâng cao năng lực và hiệu quả quản trị quốc gia, quản trị doanh nghiệp, đòi hỏi phải ưu tiên phát triển nguồn nhân lực lãnh đạo quản lý, ở các lĩnh vực then chốt là hoàn toàn đúng đắn.

Hai làphát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến căn bản, mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài. Để phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, vai trò của giáo dục và đào tạo được đặt lên hàng đầu. Với tinh thần đó, Đại hội xác định: “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài”2. Thực hiện chủ trương này, cần chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý dạy và học trực tuyến, các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế. Đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện. Quan tâm phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao; gắn giáo dục đào tạo với nghiên cứu khoa học và công nghệ; hình thành các trung tâm nghiên cứu, các nhóm đổi mới sáng tạo. Đồng thời, gắn nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài. Thực tế cho thấy, nếu có nguồn nhân lực chất lượng cao, nhưng không có cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ hợp lý thì cũng không thu hút được lực lượng này và sẽ dẫn đến “chảy máu chất xám”. Trong khi đó, nhân tài ngày càng khan hiếm, bởi tài năng không phải ngẫu nhiên có được, mà phải trải qua một quá trình học tập, rèn luyện công phu, lâu dài nên cần có cơ chế, chính sách tuyển dụng cụ thể, thiết thực, phù hợp, tạo môi trường thuận lợi để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về làm việc.

Ba là, gắn phát triển nguồn nhân lực với đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để phát triển và phát huy nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, cần gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động. Thực tế ở nước ta những năm qua, “thị trường khoa học và công nghệ phát triển còn chậm, còn ít các tổ chức trung gian có uy tín, kinh nghiệm trong hoạt động kết nối cung - cầu. Chưa khuyến khích, nuôi dưỡng và phát triển được nhiều phát minh, sáng chế trở thành sản phẩm cuối cùng và thương mại hóa”3. Để khắc phục tình trạng này, cần “Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại... Có chiến lược phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện đất nước... Chú trọng phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị”4. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, cần “Nâng cao năng lực hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, cơ cấu lại các chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc làm mục tiêu”5. Khuyến khích nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư mở trường đại học, viện nghiên cứu chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển, phát huy nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.

Bốn là, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là quan điểm mới, thể hiện tư duy, tầm nhìn mới về phát triển nói chung, phát triển nguồn nhân lực nói riêng của Đảng ta. Nói đến chất lượng nguồn nhân lực không chỉ nói đến sức khỏe, trí tuệ, năng lực, mà còn phải nói đến yếu tố nền tảng đó là văn hóa, tư tưởng. Với tinh thần đó, Đại hội XIII của Đảng chủ trương phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao phải gắn với việc “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”6. Để làm tốt được việc này, cần “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới... Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam, xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”7. Quan tâm “Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hóa trong lãnh đạo, quản lý. Chú trọng xây dựng môi trường văn hóa công sở lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn; đẩy lùi quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, chủ nghĩa cơ hội và thực dụng. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân và kinh doanh”8. Cùng với đó là khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong mỗi con người Việt Nam. Bởi, đây chính là động lực tinh thần thôi thúc mạnh mẽ họ phấn đấu vươn lên nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức để không ngừng phát triển.

Thực tế, con người luôn là nhân tố số một của lực lượng sản xuất; đầu tư cho con người là đầu tư cho phát triển lâu dài và bền vững. Với tinh thần đó, thực hiện thắng lợi đột phá chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những ưu tiên hàng đầu ở nước ta hiện nay./.

ST.

Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng theo Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ Quân đội

Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi phải có Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; trong đó, có yếu tố con người và vũ khí, trang bị. Để đáp ứng yêu cầu đề ra, một trong những nội dung trọng tâm Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ Quân đội xác định là phải hiện đại hóa nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng; cần nghiên cứu, quán triệt và thực hiện nghiêm chủ trương này.

Hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng là phải làm chủ được công nghệ sản xuất quốc phòng, tránh sự lệ thuộc từ bên ngoài. Điều đó chỉ có thể làm được khi nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng được chuẩn hóa, hiện đại hóa. Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các nhà máy thường xuyên quan tâm phát triển nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Tuy nhiên, so với yêu cầu đề ra, việc phát triển nguồn nhân lực này vẫn còn nhiều bất cập. Nhân lực có trình độ cao còn khiêm tốn về số lượng dẫn đến “khả năng khai thác, làm chủ và nghiên cứu, chế tạo, sản xuất vũ khí mới, vũ khí công nghệ cao còn nhiều hạn chế”1. Ở nhiều khâu, nhiều bước của sản xuất quốc phòng còn thực hiện thủ công hoặc bán tự động với đội ngũ nhân lực qua đào tạo còn thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng, bất cập về cơ cấu. Nhân lực có trình độ kỹ thuật cao của công nghiệp quốc phòng Việt Nam chủ yếu được đào tạo ở Liên Xô trước đây, Nga hiện nay; trong khi đó, chúng ta nhận chuyển giao công nghệ từ nhiều nước trên thế giới nên sự đồng bộ về mặt công nghệ gặp nhiều khó khăn. Chuyên gia chuyển giao công nghệ đều sử dụng tiếng Anh nên nảy sinh bất cập, khó khăn trong việc chuyển giao và tiếp nhận công nghệ, do trình độ tiếng Anh của ta còn hạn chế.

Nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng còn bị “cạnh tranh gay gắt bởi thị trường lao động trên địa bàn”2. Các tập đoàn, công ty cơ khí lớn có chế độ làm việc, chính sách đãi ngộ, điều kiện làm việc tốt hơn để thu hút lao động từ các nhà máy công nghiệp quốc phòng về làm việc tại các doanh nghiệp này. Mặt khác, do yêu cầu tinh giản biên chế, tổ chức nên Quân đội đang hạn chế việc tuyển dụng sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng, đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng, tâm lý và sự gắn bó với nhà máy của người lao động. Đối với lao động hợp đồng, mức độ sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, nhất là trong các tình huống đột xuất rất khó khăn, vì họ chỉ thực hiện theo pháp luật của Nhà nước, mà không có nghĩa vụ thực hiện kỷ luật Quân đội.

Cùng với đó, “điều kiện thu hút, ưu đãi, giữ gìn nguồn nhân lực chất lượng cao gặp nhiều khó khăn”3. Vì các cơ sở sản xuất quốc phòng thường đóng quân ở các địa bàn khó khăn về kinh tế, xã hội, xa trung tâm, đời sống vật chất, tinh thần còn nhiều hạn chế. Đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy các cơ sở sản xuất công nghiệp quốc phòng chủ yếu được đào tạo năng lực chỉ huy và chuyên môn kỹ thuật quân sự, ít được đào tạo về kiến thức quản lý kinh tế, v.v.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới, Đại hội XI Đảng bộ Quân đội xác định: “... xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng, tạo tiền đề vững chắc để phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại, thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân”4. Một trong những yếu tố để xây dựng Quân đội hiện đại là phải tự chủ sản xuất được các loại vũ khí, trang bị hiện đại. Do đó, Đại hội cũng xác định: “... xây dựng công nghiệp quốc phòng theo hướng tự chủ, tự cường, hiện đại và lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, góp phần nâng cao tiềm lực, sức mạnh quân sự, quốc phòng của đất nước”5. Thực hiện phương hướng, nhiệm vụ trên và để khắc phục những bất cập về nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng hiện nay, cần phát triển nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, có cơ cấu hợp lý; trong đó, tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một làcần có quy hoạch, kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng một cách khoa học, khả thi và nâng cao nhận thức cho cấp ủy, chỉ huy các cấp về phát triển nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng. Trên cơ sở nhu cầu phát triển công nghiệp quốc phòng đáp ứng Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, các nhà máy quốc phòng, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng và toàn quân cần có quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu, khắc phục được hạn chế, bất cập hiện tại, đáp ứng được nhu cầu phát triển công nghiệp quốc phòng thời gian tới phù hợp với các chiến lược nói trên.

Để hiện thực hóa quy hoạch, kế hoạch đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp, nhất là cấp ủy, chỉ huy ngành Công nghiệp quốc phòng phải có nhận thức đúng về vai trò nguồn nhân lực trong phát triển công nghiệp quốc phòng “tự chủ, tự cường, hiện đại và lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia”. Trên cơ sở nhận thức đúng, đề cao trách nhiệm, xây dựng lộ trình tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phù hợp. Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 16/7/2011 của Bộ Chính trị (khóa XI) về xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo; các kết luận, đề án, chương trình, kế hoạch phát triển công nghiệp quốc phòng của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng.

Hai làkhông ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng. Trong đào tạo lại nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng hiện có, trước hết, cần nâng cao trình độ tiếng Anh cho lực lượng làm nhiệm vụ tiếp nhận, chuyển giao công nghệ sản xuất quốc phòng từ các nước trên thế giới có nền công nghiệp quốc phòng tiên tiến, hiện đại. Từng nhà máy, toàn ngành Công nghiệp quốc phòng cần chủ động đào tạo lại nguồn nhân lực bằng khả năng, điều kiện của mình, người đi trước, có trình độ cao hơn, nhiều kinh nghiệm bồi dưỡng trực tiếp cho người đi sau, trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế. Mở các lớp đào tạo lại, mời chuyên gia nước ngoài đến trao đổi kiến thức, kinh nghiệm sản xuất quốc phòng. Đồng thời, lựa chọn, cử đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề đi học tập, tập huấn ở các nước có trình độ công nghiệp quốc phòng tiên tiến, hiện đại.

Trong đào tạo nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng phải lựa chọn “đầu vào” có trình độ cao, sức khỏe tốt, phẩm chất chính trị trong sáng, rõ ràng, sẵn sàng phục vụ lâu dài trong Quân đội, thích ứng với điều kiện khó khăn, gian khổ của môi trường làm việc, nhất là làm việc ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn về kinh tế, xã hội, v.v. Khi có “đầu vào” tốt cần tính toán để lựa chọn đưa đi đào tạo tại các trường trong và ngoài nước với cơ cấu phù hợp yêu cầu phát triển của công nghiệp quốc phòng trong điều kiện mới.

Các nhà trường đào tạo kỹ thuật của Quân đội vừa đổi mới nội dung, chương trình thích ứng với Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chiến tranh địch sử dụng vũ khí công nghệ cao, vừa tăng cường đào tạo kiến thức quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Đồng thời, tăng cường liên kết đào tạo giữa các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu trong và ngoài nước, tăng thời gian thực hành, giảm thời gian lý thuyết để nâng cao chất lượng “đầu ra” đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp quốc phòng thời kỳ mới.

Ba làcó cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút, “giữ chân” nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng có chất lượng cao. Trong nền kinh tế thị trường khó tránh khỏi sự so sánh về môi trường làm việc, thu nhập của người lao động. Để khắc phục tình trạng “chảy máu chất xám”; “đứng núi này trông núi nọ”, người lao động từ nhà máy công nghiệp quốc phòng chuyển sang làm việc tại các doanh nghiệp dân sinh, doanh nghiệp nước ngoài, thì phải có cơ chế, chính sách đãi ngộ để đời sống vật chất, tinh thần của họ không thua kém người lao động ở doanh nghiệp dân dụng, doanh nghiệp nước ngoài. Đây là bài toán khó, nhưng không dùng cơ chế, chính sách để giải bài toán này, thì tình trạng “chảy máu chất xám” rất khó khắc phục. Cùng với chế độ, chính sách chung của Quân đội, cần có chế độ, chính sách riêng của ngành Công nghiệp quốc phòng đảm bảo chăm lo tốt đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động cũng như hậu phương, gia đình họ. Có như thế, người lao động ngành Công nghiệp quốc phòng mới yên tâm gắn bó với nhà máy, nâng cao trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp quốc phòng. Thực hiện nhiệm vụ khó khăn đó, đòi hỏi các nhà máy công nghiệp quốc phòng phải thực hiện “nhà nước và nhân dân cùng làm”. Do đó, các nhà máy cần phát huy tính lưỡng dụng của dây chuyền công nghệ, tăng cường kết hợp sản xuất quốc phòng gắn với sản xuất kinh tế, để có thêm nguồn lực thực hiện các chế độ đãi ngộ, nâng cao đời sống của người lao động và chăm lo hậu phương, gia đình họ.

Thực hiện có hiệu quả một số giải pháp trên là góp phần phát triển nguồn nhân lực công nghiệp quốc phòng đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, hợp lý về cơ cấu. Đó là điều kiện cơ bản để hiện đại hóa công nghiệp quốc phòng trong sự nghiệp hiện đại hóa Quân đội ta thời gian tới./.

ST

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là chủ trương chiến lược, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta, nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng, khả năng phòng thủ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Vì vậy, các cấp, ngành, lực lượng, địa phương cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả chủ trương này trong thực tiễn.

Quán triệt sâu sắc đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, nhất là chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân, những năm qua, các cấp, ngành, địa phương, lực lượng vũ trang và toàn dân đã thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần tăng cường sức mạnh quốc phòng cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc từng địa bàn, hướng chiến lược và cả nước.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân được xây dựng khá toàn diện, lòng tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước được giữ vững, tăng cường; công tác giáo dục quốc phòng và an ninh được chú trọng; kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, tạo tiền đề huy động các nguồn lực thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Lực lượng vũ trang được xây dựng vững mạnh về chính trị, sức chiến đấu ngày càng cao từng bước tiến lên hiện đại, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, phòng, chống dịch Covid-19, góp phần quan trọng đưa đất nước vào trạng thái bình thường mới. Khu vực phòng thủ các tỉnh, thành phố được xây dựng ngày càng vững chắc; hệ thống công trình phòng thủ biển, đảo, biên giới, địa bàn chiến lược trọng yếu từng bước hoàn thiện; việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng cơ sở chính trị được chú trọng; thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân được gắn kết khá chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong từng ngành, địa bàn và cả nước.

Bên cạnh kết quả đạt được, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc còn hạn chế; việc kết hợp kinh tế với quốc phòng tại các địa bàn chiến lược, biển, đảo có mặt chưa chặt chẽ; công tác phối hợp giữa các lực lượng vũ trang trong khu vực phòng thủ có lúc, có nơi hiệu quả chưa cao; việc nắm, dự báo, xử lý tình huống về quốc phòng, an ninh ở một số địa phương, cơ sở còn lúng túng, thậm chí có nội dung chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, v.v. Để khắc phục những hạn chế nêu trên, đồng thời tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân theo hướng “tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh, xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân,… xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”1, cần thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp sau:

Một làtiếp tục xây dựng tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc. Tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân bao gồm: tiềm lực chính trị, kinh tế, khoa học và công nghệ, quân sự, đối ngoại; trong đó, tiềm lực chính trị, giữ vai trò quan trọng - thành tố cơ bản, cội nguồn, động lực để huy động, xây dựng các tiềm lực khác tạo thành sức mạnh tiềm lực quốc phòng. Theo đó, cần tập trung xây dựng tổ chức đảng, chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; xây dựng “thế trận lòng dân”, mà cốt lõi là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ngày càng vững chắc. Thường xuyên chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trước hết là đoàn kết trong Đảng thành một khối thống nhất, làm hạt nhân đoàn kết toàn dân tộc; khắc phục kịp thời những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016. Chủ động đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ cội nguồn lịch sử đất nước, truyền thống, văn hóa dựng nước, giữ nước của dân tộc; chủ trương, đường lối quốc phòng, quân sự, xây dựng nền quốc phòng toàn dân; chính sách, pháp luật về quốc phòng của Đảng và Nhà nước, v.v. Phát huy dân chủ rộng rãi, tạo đồng thuận, nhất trí cao trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Trong xây dựng tiềm lực kinh tế, cần kết hợp mở rộng hội nhập quốc tế với tăng cường đầu tư, phát triển, nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với tăng cường quốc phòng, an ninh và ngược lại; điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế gắn với chiến lược quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tập trung mọi nguồn lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững để không ngừng bổ sung nguồn dự trữ của đất nước, trong đó có dự trữ cho quốc phòng. Xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ, tiềm lực quân sự, cần chú trọng tận dụng những thành tựu về công nghệ lõi, công nghệ nền tảng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào hiện đại hóa Quân đội, phát triển công nghiệp quốc phòng và bảo đảm an ninh mạng quốc phòng, quốc gia. Xây dựng tiềm lực đối ngoại, cần tập trung hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, xây dựng nguồn nhân lực, bảo đảm cơ sở vật chất, nâng tầm đối ngoại quốc phòng song phương, đa phương, tăng cường lòng tin chiến lược, mở rộng đối tác, tạo môi trường quốc tế thuận lợi thu hút các nguồn lực bên ngoài vào củng cố quốc phòng, phát triển đất nước.

Hai lànâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang nhân dân, trọng tâm là Quân đội nhân dân, đủ sức làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Trước yêu cầu cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, các cấp, ngành, lực lượng, địa phương và cả hệ thống chính trị cần thực hiện đồng bộ các chủ trương, biện pháp xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh; chú trọng xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng,… tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Theo đó, cùng với phấn đấu hoàn thiện điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng “tinh, gọn, mạnh” vào năm 2025, Quân đội cần tích cực đổi mới công tác giáo dục chính trị, huấn luyện, diễn tập, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu; kết hợp huấn luyện với đào tạo, xây dựng nền nếp chính quy, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Chủ động xây dựng, điều chỉnh hệ thống văn kiện, kế hoạch, phương án tác chiến các cấp, thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ sẵn sàng chiến đấu, vận dụng tốt các phương thức, cơ chế mới trong bảo đảm hậu cần, tài chính, kỹ thuật cho các nhiệm vụ; tận dụng tối đa thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và phát triển khoa học - công nghệ, kỹ thuật, nghệ thuật quân sự. Thường xuyên tổng kết kinh nghiệm, phát triển lý luận xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý nhà nước về quốc phòng, làm cơ sở nâng cao chất lượng xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

Cơ quan quân sự các cấp chủ trì, phối hợp với các cơ quan, ban, ngành tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương tập trung mọi nguồn lực xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh toàn diện, có đủ thành phần, lực lượng và chất lượng theo quy định, đáp ứng yêu cầu bảo vệ địa bàn. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng ngày càng cao, chú trọng huấn luyện, đăng ký, quản lý chặt chẽ, sẵn sàng động viên bổ sung cho lực lượng thường trực khi cần thiết. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, coi trọng xây dựng lực lượng dân quân tự vệ biển và dân quân tự vệ ở các địa bàn trọng điểm; phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ngay từ cơ sở.

Ba làtập trung xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc trên từng khu vực, hướng chiến lược và phạm vi cả nước. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nghiên cứu phát triển lý luận về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nhất là thực tiễn triển khai, thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng khu vực phòng thủ, các cấp, ngành, địa phương cần tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả Nghị định số 21/2019/NĐ-CP của Chính phủ về Khu vực phòng thủ. Tổ chức xây dựng khu vực phòng thủ các tỉnh, thành phố vững chắc, phù hợp với nhiệm vụ bảo vệ địa bàn, khả năng kinh tế địa phương, bảo đảm vừa thuận tiện sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu theo phương châm “làng giữ làng, xã giữ xã, huyện giữ huyện, tỉnh giữ tỉnh”; gắn kết chặt chẽ với thế trận tác chiến phòng thủ quân khu, hình thành thế trận phòng thủ trên các hướng chiến lược và cả nước. Tiếp tục điều chỉnh thế bố trí chiến lược của các đơn vị bộ đội chủ lực, biên phòng,… ưu tiên hướng phòng thủ chủ yếu, quan trọng, địa bàn biên giới xung yếu gắn với điều chỉnh, bổ sung phương án tác chiến phòng thủ các cấp, các biện pháp phòng, chống chiến tranh thông tin, không gian mạng, kế hoạch phòng thủ dân sự, đáp ứng yêu cầu phòng thủ đất nước cả trước mắt và lâu dài.

Cùng với đó, chú trọng quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng, an ninh kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội trên từng vùng lãnh thổ, địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo, khu kinh tế, khu công nghiệp trọng điểm; tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung, xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh. Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, ven biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo; tăng cường xây dựng các khu kinh tế biển, các chương trình hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển, đánh bắt xa bờ, tạo điều kiện cho nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển của Tổ quốc. Quá trình kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh phải bảo đảm cân đối, hài hòa, hợp lý; thực hiện mỗi bước phát triển kinh tế - xã hội là một bước tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh mạnh sẽ bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc, tạo môi trường hòa bình, ổn định để hiện thực hóa mục tiêu, khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

ST.

Vận dụng luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Nhận thức rõ tầm quan trọng của văn hóa, ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng ta tổ chức Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất ở Thủ đô Hà Nội (24/11/1946), tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Tư tưởng này của Người vẫn còn nguyên giá trị, cần tiếp tục quán triệt, vận dụng có hiệu quả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Văn hóa là phạm trù rộng lớn, với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Song, tựu trung, văn hóa là cái đẹp; là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra để thích ứng với hoạt động sống, sinh tồn, phát triển. Văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của con người và xã hội, với vai trò là nền tảng tinh thần, mục tiêu, động lực, sức mạnh nội sinh của sự phát triển của quốc gia, dân tộc. Nhận thức rõ điều đó, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến lĩnh vực văn hóa, đề ra nhiều chủ trương, giải pháp xây dựng nền văn hóa Việt Nam, với khát vọng, mục tiêu cao cả là vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Lịch sử đấu tranh giải phóng của dân tộc ta đã minh chứng, với đường lối cách mạng đúng đắn, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lòng yêu nước, ý chí độc lập, tinh thần đấu tranh bất khuất là những giá trị văn hóa giữ nước của dân tộc đã được khơi dậy, phát huy, tạo sức mạnh to lớn làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với khẩu hiệu “Văn hóa hóa kháng chiến,

kháng chiến hóa văn hóa” đã trở thành động lực tinh thần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Sự lãnh đạo của Đảng trong suốt thời kỳ từ năm 1960 đến năm 1975 đã phát huy vai trò của văn hóa trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam giành đại thắng Mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Đất nước. Trong hơn 35 năm đổi mới, thấm nhuần quan điểm “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định, chỉ thị quan trọng để tập trung xây dựng, phát triển văn hóa. Nổi bật là Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, trong đó khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Qua các kỳ đại hội Đảng (IX, X, XI, XII), Đảng ta ngày càng nhận thức đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn về vị trí, vai trò của văn hóa; nó được ví như “ngọn hải đăng” thực hiện sứ mệnh “soi đường cho quốc dân đi” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhờ đó, nhiều giá trị văn hóa truyền thống được kế thừa, phát huy; văn hóa trong chính trị và trong kinh tế bước đầu được coi trọng và phát huy hiệu quả.

Tuy nhiên, văn hóa những năm gần đây chưa được quan tâm một cách đầy đủ tương xứng với yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước. Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, “xã hội số”, “văn hóa số” vừa đem lại những cơ hội, vừa tạo ra thách thức mới trong xây dựng, phát triển văn hóa. Theo đó, nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp bị mai một, trong khi nhiều thói hư, tật xấu, văn hóa ngoại lai, không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam xâm nhập tràn lan, làm băng hoại đời sống văn hóa tinh thần xã hội, v.v. Vì vậy, vấn đề cấp bách, có ý nghĩa chiến lược hiện nay là, các cấp, ngành, địa phương cần đẩy mạnh quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” nhằm “tiếp tục xây dựng, giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”1, để “văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”2, với nhiều giải pháp quyết liệt, đồng bộ. Trong đó, tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, xây dựng và phát huy văn hóa chính trị làm cơ sở nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị. Văn hóa chính trị có thể được hiểu là cái đẹp; là giá trị của tư duy, tầm nhìn, tư tưởng và hoạt động chính trị của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, của cán bộ chủ trì các cấp và cả đội ngũ cán bộ, đảng viên. Văn hóa ấy chính là cơ sở, nền tảng để hệ thống chính trị các cấp phát huy được hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của mình. Xây dựng văn hóa chính trị, trước hết phải thấm nhuần mục tiêu chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam phấn đấu là vì dân, vì nước, vì sự phát triển và thịnh vượng của quốc gia - dân tộc, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chủ trương ấy cũng chính là sự hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ vốn là nội hàm đặc trưng của văn hóa. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng không nằm ngoài mục tiêu hướng tới thực hiện một Nhà nước có văn hóa pháp quyền. Văn hóa chính trị cần có trong ứng xử của tất cả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo các cấp trong quan hệ với nhân dân. Người có văn hóa sẽ thấm nhuần sâu sắc tư tưởng “văn hóa công bộc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực sự “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” trong thực hành công vụ cũng như trong lối sống, nếp sống hằng ngày; sẽ biết tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống theo các giá trị văn hóa chuẩn mực vốn được xã hội thừa nhận; biết tự trau dồi kiến thức chuyên môn, kĩ năng quản lý; dám chịu trách nhiệm; dám từ chức khi thấy nhiệm vụ vượt quá khả năng hay để xảy ra sai phạm; dám “nói không” với các giá trị vật chất khi thấy không xứng đáng, thiếu trong sáng.

Hai là, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, làm cơ sở để xây dựng và phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra vấn đề gốc rễ trong xây dựng nền văn hóa là việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Người khẳng định: “Thực hành đời sống mới là một điều cần kíp cho công cuộc cứu quốc và kiến quốc” và yêu cầu: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ,... Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý”3. Theo đó, cần tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa”, gắn với phong trào Thi đua Yêu nước, Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; trong đó, chú trọng phát huy đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam, như: lòng yêu nước, tính cần cù, chịu thương, chịu khó, trung thực, yêu lao động; lối sống “tình làng, nghĩa xóm”, “lá lành đùm lá rách”, v.v. Cùng với đó, xây dựng và phát huy nếp sống văn minh và thượng tôn pháp luật trong mọi lĩnh vực; điều chỉnh hành vi văn hóa của các thành viên trong cộng đồng thông qua các quy tắc, chuẩn mực ứng xử văn hóa. Kiên quyết bài trừ những thói hư, tật xấu trong nếp sống, cách nghĩ của mỗi người, nhằm kiến tạo một môi trường văn hóa thực sự trong sạch, lành mạnh ở khu dân cư, làm cái nôi giáo dục nhân cách, hướng con người đến các giá trị chân - thiện - mỹ, có trí tuệ, năng lực cùng khát vọng cống hiến để góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ba là, xây dựng, phát huy giá trị văn hóa trong lĩnh vực kinh tế; phát triển công nghiệp văn hóa bền vững, từng bước trở thành trụ cột của nền kinh tế quốc dân. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới, gắn với phát triển du lịch, đưa du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn”4. Để hiện thực chủ trương trên, cần tận dụng tối đa nguồn tài nguyên văn hóa vốn có là các di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO vinh danh cũng như hàng nghìn di sản được xếp hạng cấp quốc gia cùng các loại hình nghệ thuật truyền thống để thúc đẩy du lịch văn hóa. Tích cực phát triển các ngành công nghiệp: điện ảnh, âm nhạc, giải trí kỹ thuật số,… nhằm chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước. Từng bước đổi mới, nâng cao chất lượng các sản phẩm của công nghiệp văn hóa; trong đó, chú trọng truyền tải tinh thần, cốt cách của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, phát huy giá trị văn hóa trong lĩnh vực kinh tế, góp phần xây dựng tinh thần lao động, sáng tạo, cần cù, chịu thương, chịu khó, dám đương đầu với thách thức để hoàn thành mục tiêu trong sản xuất, kinh doanh. Xây dựng các mối quan hệ trong quản lý, điều hành, sản xuất, lưu thông, buôn bán,… trên cơ sở các chuẩn mực đạo đức tốt đẹp, thủy chung, tín nghĩa; xây dựng văn hóa doanh nghiệp để tạo nên giá trị thương hiệu và năng suất lao động. Đây chính là những nội dung thuộc phạm trù “sức mạnh mềm” mà nền kinh tế cần huy động trong quá trình phát triển.

Bốn là, phát huy giá trị văn hóa giữ nước của dân tộc Việt Nam làm nền tảng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; nhất là, các thế lực thù địch tăng cường chống phá với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” ngày càng công khai, trực diện hơn. Trước tình hình đó, các giá trị văn hóa giữ nước cần được khơi dậy làm nền tảng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Cần làm cho mọi giai tầng trong xã hội luôn thấm nhuần những giá trị, như: lòng yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm; tinh thần trên dưới thuận hòa, cả nước một lòng đánh giặc; tư tưởng dựng nước đi đôi với giữ nước, giữ nước từ khi nước chưa nguy; tinh thần nhân văn cao cả trong công cuộc giữ nước, v.v. Những giá trị văn hóa đó vốn là ngọn nguồn của mọi chiến công chống giặc ngoại xâm, giữ gìn non sông, gấm vóc của dân tộc Việt Nam từ thủa các vua Hùng dựng nước đến thời đại Hồ Chí Minh. Theo đó, công tác tuyên truyền, giáo dục hiện nay cần phải làm cho giá trị văn hóa giữ nước được phát huy về mặt tinh thần để chuyển hóa thành lực lượng vật chất trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc, tạo nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng kẻ thù trong mọi tình huống./.

ST.

Nhận diện và ứng phó kịp thời, hiệu quả với thách thức an ninh phi truyền thống

Trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, bên cạnh việc xác định các mối đe dọa từ an ninh truyền thống, Đảng ta còn chỉ rõ các thách thức an ninh phi truyền thống đối với sự phát triển của đất nước. Vì vậy, nhận diện và đề ra các giải pháp ứng phó linh hoạt, hiệu quả đối với thách thức này là vấn đề cấp thiết hiện nay.

Tư duy và nhận thức của Đảng về an ninh phi truyền thống

An ninh phi truyền thống là khái niệm không mới nhưng do tính chất phức tạp cùng hậu quả nặng nề mà nó gây ra đối với đời sống con người đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia, tổ chức và cộng đồng quốc tế. Trên thực tiễn, các thách thức an ninh phi truyền thống đã, đang hiện hữu, nếu không được kiểm soát, xử lý hiệu quả thì nó ngày càng tác động tiêu cực đến đời sống của người dân, sự phát triển, tồn tại của quốc gia, dân tộc. Đối với Việt Nam các thách thức an ninh phi truyền thống hiện hữu ngày càng rõ nét hơn và tác động trực tiếp đến mọi lĩnh vực, trong đó có quốc phòng, an ninh. Cũng từ thực tiễn đó, việc nhận thức và nhận diện vấn đề này của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ngày càng được thể hiện đầy đủ và sâu sắc hơn.

Trước Đại hội IX, Đảng ta tuy chưa chính thức sử dụng khái niệm an ninh phi truyền thống trong văn kiện, nhưng đã chỉ ra dấu hiệu của nó. Đến Đại hội IX, Đại hội X, Đảng ta tiếp tục bổ sung và phát triển nhận thức về an ninh phi truyền thống một cách rõ ràng hơn, đó là: “Nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi các quốc gia và các tổ chức phối hợp giải quyết; khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm nước giàu và nước nghèo ngày càng lớn; sự gia tăng dân số cùng với các luồng di cư;… môi trường tự nhiên bị hủy hoại; khí hậu diễn biến ngày càng xấu…”. Tuy nhiên, phải đến Đại hội XI, Đảng ta mới chính thức sử dụng khái niệm an ninh phi truyền thống trong văn kiện của mình. Tiếp đó, tại Đại hội XII, lần đầu tiên, Đảng ta đặt an ninh phi truyền thống bên cạnh an ninh truyền thống và chỉ ra một số vấn đề toàn cầu, như: “…an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh có nhiều diễn biến phức tạp”. Đồng thời, lưu ý đến vấn đề “an ninh mạng và các hình thái chiến tranh kiểu mới” với hàm ý khả năng chuyển hóa một số vấn đề an ninh phi truyền thống thành an ninh truyền thống.

Đặc biệt, tại Đại hội XIII, Đảng ta đã thể hiện tư duy, nhận thức vừa mới, vừa sâu sắc và toàn diện về an ninh phi truyền thống đối với quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, nhấn mạnh “an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương”, phù hợp với bối cảnh hiện nay và coi việc giữ vững an ninh quốc gia vừa là mục tiêu, giải pháp để phát triển bền vững đất nước, vừa thể hiện tư tưởng chỉ đạo phát triển để giữ vững an ninh, an ninh để phát triển, an ninh trong phát triển. Đây là những vấn đề hết sức quan trọng, nhằm thống nhất nhận thức, tạo cơ sở, tiền đề để các cấp, ngành, lực lượng, địa phương triển khai các giải pháp thực hiện trong thực tiễn.

Nhận diện rõ các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

Từ quá trình phát triển nhận thức của Đảng ta về an ninh phi truyền thống có thể khái quát thành mấy vấn đề chủ yếu sau: (1). Về biến đổi khí hậu, được biểu hiện rõ nhất là số cơn bão mạnh có chiều hướng gia tăng, quỹ đạo của bão dị thường; hạn hán có xu hướng mở rộng, xảy ra nhiều đợt nắng nóng, rét đậm, rét hại kéo dài kỷ lục. Việt Nam được đánh giá là một trong 05 quốc gia trọng điểm chịu tác động của biến đổi khí hậu; trong đó, đồng bằng Sông Cửu Long là một trong 04 khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất về hạn hán và mặn xâm nhập; (2)An ninh năng lượng là vấn đề đáng báo động. Theo đó, trung bình mỗi năm, nhu cầu sử dụng năng lượng ở Việt Nam tăng gấp 02 lần, trong khi đó khả năng đáp ứng chỉ đạt khoảng 60%. Vì thế, việc nhập khẩu năng lượng là điều khó tránh, dẫn đến phụ thuộc vào một số quốc gia; (3). Về an ninh lương thực, tuy là một trong các nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, nhưng tính chất và trình độ phát triển chưa tương xứng, khiến chúng ta luôn phải đối mặt với nguy cơ mất an ninh lương thực; (4). Đối với an ninh nguồn nước, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia thiếu nước, với nguồn nước ngầm sụt giảm mạnh, tình trạng ô nhiễm nguồn nước, bức tử nhiều dòng sông do tác động của công nghiệp hóa và xả thải bừa bãi của nhiều nhà máy, xí nghiệp; (5). An ninh mạng đã, đang là vấn đề nổi cộm hiện nay khi tội phạm công nghệ cao gia tăng, diễn biến phức tạp, sử dụng không gian mạng tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tấn công phá hoại, gây đình trệ hạ tầng công nghệ thông tin, cũng như hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân, v.v. Ngoài ra, còn một số biểu hiện khác, như: tội phạm xuyên quốc gia, mua, bán người, ma túy,… phức tạp nhất là tội phạm ma túy tại các địa bàn biên giới.

Một số giải pháp chủ động ứng phó

Một lànâng cao nhận thức cho các cấp, ngành, lực lượng và toàn xã hội về những biểu hiện mới và các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Đây là vấn đề rất khó nhận biết ngay từ đầu, chỉ đến khi xảy ra chúng ta mới thấy hết hậu họa của nó. Vì thế, cần nâng cao nhận thức về an ninh phi truyền thống; trong đó cần thấy rõ những biểu hiện, nguy cơ và tác hại của nó cho mọi người dân, cả xã hội, nhất là hệ thống chính trị; từ đó, định hướng thái độ, hành vi và hành động ứng phó phù hợp. Thực tiễn cho thấy, đôi khi sự thay đổi thói quen, điều chỉnh hành vi của cá nhân, cộng đồng,… có thể giúp ngăn ngừa nguy cơ đến từ an ninh phi truyền thống, như: môi trường, nguồn nước, lương thực,… mạng xã hội. Vì thế, việc nâng cao nhận thức cho toàn dân về vấn đề này phải được tiến hành thường xuyên, liên tục cả về bề rộng và chiều sâu theo đúng phương châm mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra; đó là: coi giữ vững an ninh quốc gia vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp để phát triển bền vững đất nước, phát triển để giữ vững an ninh, an ninh để phát triển, an ninh trong phát triển. Bên cạnh đó, cần làm rõ nhận thức về nội hàm an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng như những biểu hiện mới, trọng tâm của an ninh phi truyền thống hiện nay. Trên cơ sở đó huy động sự chủ động, tích cực tham gia của mỗi người dân và cả cộng đồng vào phòng ngừa và ứng phó.

Hai là, chủ động ngăn ngừa các nguy cơ, nhất là nguy cơ gây đột biến từ an ninh phi truyền thống. Chúng ta biết, trong rất nhiều nguy cơ an ninh phi truyền thống thì các nguy cơ gây đột biến là nguy hiểm nhất, nhanh nhất và gây hậu quả lớn nhất đối với đời sống con người. Và về cơ bản, loại nguy cơ này đến từ mọi mặt của đời sống, xã hội, trọng tâm là an ninh con người. Chính vì thế, việc chủ động ngăn ngừa nguy cơ này đòi hỏi trước tiên phải  không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Để làm được điều đó, trong từng giai đoạn, cần hết sức coi trọng gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước đi, chính sách, kế hoạch và chương trình phát triển theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trong đó, chú trọng và giải quyết khéo léo, tinh tế, linh hoạt, hiệu quả vấn đề dân tộc, tôn giáo,… hạn chế khả năng chuyển hóa các xung đột xã hội thành xung đột chính trị. Đồng thời, chủ động phân loại vấn đề an ninh phi truyền thống để thiết kế những mô hình, kịch bản ứng phó phù hợp, hiệu quả nhất. Cùng với đó, nâng cao năng lực dự báo để kịp thời nhận diện và nắm bắt những nguy cơ này từ sớm, từ xa, chủ động dự kiến một số tác động của nó để xây dựng các phương án sẵn sàng ứng phó kịp thời, hiệu quả.

Ba làđẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địchHiện nay, các thế lực thù địch chuyển từ chống phá chủ yếu bằng biện pháp vũ trang sang phi vũ trang, nhằm gây mất ổn định bên trong, tạo cớ để sẵn sàng can thiệp vũ trang khi cần thiết. Do đó, một số vấn đề an ninh phi truyền thống, đặc biệt là vấn đề dân tộc, tôn giáo thường bị lợi dụng để đòi ly khai, gây bạo loạn chính trị, nếu ta xử lý thiếu linh hoạt, khôn khéo sẽ châm ngòi cho xung đột vũ trang, can thiệp quân sự từ bên ngoài. Vì vậy, cần quán triệt và thực hiện đầy đủ tư tưởng đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc, tôn giáo đi đôi với đấu tranh với các biểu hiện chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện đòi ly khai ngay từ khi mới nhen nhóm. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng tôn giáo của người dân đi đôi với đấu tranh phản bác các luận điệu lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế phát hiện, ngăn ngừa và ứng phó với những mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Từ thực tiễn cho thấy, các mối đe dọa an ninh phi truyền thống có nhiều nguyên nhân: từ tự nhiên, do phát triển kinh tế - xã hội nóng, điều hành của chính phủ, v.v. Vì vậy, để ứng phó với vấn đề này đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả cộng đồng, các tổ chức, quốc gia, khu vực và thế giới. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về vấn đề an ninh phi truyền thống, đó là chủ động, tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế ứng phó hiệu quả với những thách thức an ninh phi truyền thống. Nội dung hợp tác rất phong phú, trong đó trực tiếp nhất là chia sẻ thông tin trung thực, kịp thời về các mối đe dọa an ninh phi truyền thống thông qua thiết lập cơ chế hợp tác cụ thể và hữu hiệu; thành tựu khoa học - công nghệ, đào tạo nhân lực và huy động mọi nguồn lực cho phòng ngừa và ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Bên cạnh đó, cần sớm xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý; các quỹ phòng, chống an ninh phi truyền thống giữa các nước, khu vực, quốc tế, tạo cơ sở, nền tảng cho sự hợp tác, xử lý nhanh và hiệu quả.

Các mối đe dọa an ninh phi truyền thống tuy ít thách thức đến chủ quyền lãnh thổ quốc gia, nhưng uy hiếp và hủy hoại trực tiếp đến các yếu tố tạo nền tảng sinh tồn và phát triển của con người, cộng đồng, xã hội, quốc phòng, an ninh, quốc gia - dân tộc và toàn nhân loại. Vì vậy, nhận thức đầy đủ về những biểu hiện và tác động của an ninh phi truyền thống ở Việt Nam hiện nay, cần sớm tìm kiếm những giải pháp được gợi mở, chỉ dẫn từ Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, góp phần tăng cường tính chủ động và hiệu quả trong ứng phó bảo đảm an ninh con người, an ninh quốc gia./.

ST.

Quan điểm của Đảng ta về bảo vệ tổ quốc từ sớm, từ xa

Kế sách “giữ nước từ khi nước chưa nguy” được hình thành, đúc kết trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc và đã trở thành tư tưởng chỉ đạo, phương thức giữ nước trong mọi thời đại. Với tư duy, tầm nhìn chiến lược, Đảng ta đã kế thừa, vận dụng sáng tạo, phát triển kế sách của cha ông thành quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là tổng thể các hoạt động của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong việc tích cực chuẩn bị đất nước mọi mặt từ trước, ngay trong thời bình để xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh; chủ động ngăn ngừa, xử lý, đẩy lùi, triệt tiêu các nhân tố có thể phát triển thành các nguy cơ, thách thức đe dọa đối với độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, sự ổn định chính trị của đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc, cũng như môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, ông cha ta luôn coi trọng việc bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng nhiều biện pháp. Nổi bật là: các hoạt động bang giao, giữ hòa khí với các nước láng giềng, bảo vệ hòa bình, tránh nạn binh đao; chăm lo xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, thực hiện “khoan thư sức dân” làm kế sâu rễ, bền gốc, “lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”, v.v. Đặc biệt, với tư duy sắc sảo, tầm nhìn chiến lược và từ thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có nhận định đúng và hiểu rõ những nguy cơ đe dọa hòa bình của đất nước từ sớm, từ xa. Người từng chỉ rõ: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững, chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”. Trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, quan điểm chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, từ trong thời bình, giữ nước từ khi nước chưa nguy được Đảng ta phát triển lên một tầm cao mới, với những nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng, là định hướng chiến lược, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn kế thừa, bổ sung và không ngừng phát triển quan điểm về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, từ Đại hội VI đến Đại hội XI của Đảng, các văn kiện nghị quyết luôn xác định phải nâng cao cảnh giác, chủ động phòng ngừa, làm thất bại âm mưu hành động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động bất ngờ. Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới chỉ rõ: “Phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả các nguy cơ xung đột, chiến tranh biên giới, biển, đảo, chiến tranh mạng; không để xảy ra bạo loạn, khủng bố”. Đến Đại hội XII, lần đầu tiên Đảng ta xác định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”1. Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về Chiến lược quốc phòng Việt Nam, lần đầu tiên cụm từ “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy” được chính thức sử dụng. Nghị quyết đã khái quát nhiều vấn đề cơ bản, như: mục tiêu, nhiệm vụ, lực lượng, phương châm, phương thức, sức mạnh,... để chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”2.

Hai là, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là sự nghiệp của toàn dân, trong đó lực lượng Quân đội, Công an là nòng cốt, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh là nguyên tắc bất di, bất dịch và là quan điểm nhất quán của Đảng ta. Quan điểm này khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp quốc phòng, an ninh ở nước ta. Nếu không có sự lãnh đạo của Đảng thì không thể huy động cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững chắc, toàn diện.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc luôn đòi hỏi phải hoạch định đường lối, chiến lược quân sự, quốc phòng, xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, các chủ trương, chính sách lớn về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc phù hợp với thực tiễn từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử; xác định những phương hướng cơ bản phát triển tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh, nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội, Công an. Đồng thời, Đảng phải có những quyết sách đúng để lãnh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, tích cực, chủ động nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược; giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Chủ động nắm, nghiên cứu, phân tích, dự báo chính xác tình hình thế giới, khu vực, trong nước là nội dung quan trọng hàng đầu, nhằm kịp thời cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn để Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh, đối ngoại, giữ thế chủ động, kịp thời hóa giải các nguy cơ bùng nổ thành xung đột, chiến tranh. Trên cơ sở đó, chuẩn bị sớm về tư tưởng, đường lối, nguồn nhân lực, vật lực, phương thức, phương tiện, phương án phòng ngừa, phát hiện từ sớm, ngăn chặn từ xa, triệt tiêu các nguy cơ, thách thức, nhất là nhân tố bên trong có thể dẫn đến đột biến bất lợi, xử lý hiệu quả mọi mầm mống có thể trở thành những nguy cơ đe dọa sự ổn định của đất nước và công cuộc lao động hòa bình của nhân dân. Đại hội XIII của Đảng xác định: tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận về quốc phòng, quân sự, an ninh, nghệ thuật quân sự, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh xã hội trong tình hình mới. Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Đồng thời, tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về đối ngoại, không để bị động bất ngờ.

Bốn là, phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao thế, lực, uy tín của đất nước. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh tính hiệu quả của các chính sách “bang giao hòa hiếu”, mềm dẻo, khôn khéo, tránh “họa binh đao” cho đất nước mà ông cha ta đã sử dụng để bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa. Kế thừa, phát huy truyền thống và kinh nghiệm đó, hiện nay, hoạt động đối ngoại (ở các cấp độ) được Đảng, Nhà nước ta hết sức coi trọng và luôn xem đó là mặt công tác mũi nhọn, trọng yếu và có vai trò thiết yếu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng ta xác định: xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ nhiệm vụ của đối ngoại quốc phòng là: đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy. Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc. Do đó, cần phối hợp chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân, đối ngoại quốc phòng, an ninh nhằm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Năm là, thường xuyên chăm lo xây dựng đất nước vững mạnh về mọi mặt, tạo nền tảng vật chất, tinh thần để chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đây là sự kế thừa, phát triển chính sách “quốc phú, binh cường”, kết hợp chặt chẽ giữa việc “binh” và việc “nông”, đẩy mạnh “khoan thư sức dân”, “lấy dân làm gốc” của cha ông ta. Theo đó, Đảng ta xác định, chủ động xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân” vững mạnh. Về xây dựng tiềm lực, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Về xây dựng lực lượng, Đảng ta nhấn mạnh: xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển. Quan tâm xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự ở cơ sở. Về xây dựng thế trận, tập trung xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Trong đó coi trọng “thế trận lòng dân”; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) vững mạnh theo phương châm: “Làng giữ làng, xã giữ xã, huyện giữ huyện, tỉnh giữ tỉnh”, tạo nền tảng cho thế trận quốc phòng toàn dân trong thời bình, sẵn sàng chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi đất nước có chiến tranh.

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là tư tưởng chỉ đạo, quan điểm nhất quán và hành động xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là kế sách lớn, chiến lược tổng thể giữ nước ngày nay. Quán triệt và thực hiện tốt các nội dung kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chính là hiện thực hóa mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong thời bình mà không phải tiến hành chiến tranh; là thượng sách bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

ST.

Quan điểm “bốn không” của Đảng - thông điệp hòa bình

Nhằm thể hiện sự công khai, minh bạch chính sách quốc phòng, năm 2019 Việt Nam tiếp tục công bố Sách trắng Quốc phòng. Và sự kiện đó được dư luận quốc tế quan tâm, đánh giá cao. Cuốn sách có nhiều nội dung quan trọng, với tinh thần cơ bản là: xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện để bảo vệ vững chắc Tổ quốc; thực thi chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ. Đặc biệt, trong đó khẳng định rõ: Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Đây chính là quan điểm “Bốn không” của Đảng; là thông điệp hòa bình, thể hiện sâu sắc khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam gửi tới tất cả các quốc gia trên thế giới.

Câu hỏi đặt ra là, tại sao khẳng định quan điểm “Bốn không” nêu trên là thông điệp hòa bình? Nói như thế liệu có mâu thuẫn không? Câu trả lời là đúng như vậy! Và không hề có sự mâu thuẫn. Bởi vì, thực chất quan điểm “Bốn không” đã thể hiện sự nhất quán nhằm triệt tiêu hoàn toàn mầm mống chiến tranh từ phía Việt Nam; không cho bất cứ ai có thể lợi dụng Việt Nam, lãnh thổ Việt Nam để xâm lược hoặc gây phương hại nước khác. Từ thực tiễn khắc nghiệt của đất nước, Việt Nam thấu hiểu hòa bình không phải là mỹ từ để ngợi ca, mà là mục tiêu cao cả của nhân loại chân chính. Không một ai trong số những người có lương tri trên trái đất này lại không yêu chuộng hòa bình, đấu tranh vì hòa bình. Cũng vì thế mà nhân dân Việt Nam và các dân tộc từng bị áp bức, nô dịch bởi chủ nghĩa thực dân, đế quốc đã kiên quyết đứng lên đấu tranh đến cùng, không khoan nhượng để giành độc lập, tự do, hòa bình cho dân tộc mình – thứ quý đến mức “không có gì quý hơn” theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để có được nó dân tộc Việt Nam đã phải trả giá bằng máu cùng sự đau thương, mất mát của nhiều thế hệ. Ngay trong cuộc sống hòa bình hôm nay, trên dải đất hình chữ “S” vẫn hằn sâu những vết thương chiến tranh, di chứng chiến tranh. Vẫn còn đó những Mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình thương binh, liệt sĩ, nạn nhân chất độc da cam,… họ là những chứng nhân của lịch sử, hiện thân của chiến tranh đã vượt lên số phận, không những có ích cho đời mà còn cho cả xã hội. Họ thực sự trở thành những tâm hồn cao đẹp của dân tộc Việt Nam đã tỏa sáng, được kết tinh bởi khát vọng hòa bình. Không phải ngẫu nhiên, ngay trong cuộc chiến tranh chính nghĩa đó của nhân dân ta chống chiến tranh xâm lược phi nghĩa của tên đế quốc đầu sỏ, Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới Romesh Chandra đã khâm phục, ngợi ca: “Việt Nam là lương tri của thời đại”. Cũng không phải ngẫu nhiên mà Hà Nội – Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vốn bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân của đế quốc Mỹ lại được UNESCO trao tặng danh hiệu “Thành phố vì hòa bình”, bạn bè quốc tế vinh danh “Thủ đô của phẩm giá con người”. Thật đáng tự hào!

Việt Nam là thế. Một dân tộc biết chiến đấu, dám hy sinh bởi khát vọng hòa bình, vì hòa bình và quyết biến nó thành hiện thực. Hẳn nhiên, dân tộc đó hiểu rõ giá trị của hòa bình. Trước đây là thế và bây giờ vẫn vậy, trong khả năng của mình, Việt Nam đã và đang làm tất cả những gì có thể để gìn giữ hòa bình cho đất nước; đồng thời, đóng góp tích cực vào đảm bảo môi trường hòa bình trong khu vực và trên thế giới.

Quan điểm “Bốn không” trong “Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019” là thông điệp hòa bình và cũng là cam kết của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam gửi tới các quốc gia trên thế giới. Trước sau như một, Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các quốc gia trong quan hệ quốc tế, sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác, kể cả hợp tác quốc phòng, trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị và trình độ phát triển. Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Từ lịch sử đến hiện tại và tương lai, Việt Nam chưa từng và sẽ không bao giờ gây hấn hay xâm lược nước khác, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đó là tôn chỉ, là truyền thống văn hóa lâu đời đã trở thành cốt cách của dân tộc Việt Nam. Như vậy, với cam kết “Bốn không”, Việt Nam đã chủ động bày tỏ thẳng thắn thái độ của mình xuất phát từ khát vọng hòa bình, vì hòa bình của chính dân tộc mình cũng như hòa bình của nhân loại.

Hòa bình là không gian sinh tồn của con người theo đúng nghĩa đen của mỹ từ này. Thực tiễn chỉ ra rằng, để có được hòa bình là điều không dễ, nhưng giữ vững được hòa bình còn khó hơn. Đặc biệt, trong bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới hiện nay, khi mà các mối quan hệ đan xen lợi ích với những toan tính chiến lược rất khó nhận biết của các nước lớn. Vì lợi ích ích kỷ, họ bất chấp mọi luân thường đạo lý, sẵn sàng “đi đêm”, “mặc cả” sau lưng người khác, thì việc giữ vững hòa bình càng trở nên không đơn giản với mọi quốc gia. Việt Nam đủ tỉnh táo để nhận rõ điều đó và biết rằng, nếu chỉ với quan điểm “Bốn không” sẽ không thể bảo vệ được nền hòa bình của đất nước, mà phải nỗ lực thực hiện bằng nhiều phương thức kết hợp, trong đó không thể thiếu việc tăng cường sức mạnh quốc phòng. Đề cập về vấn đề này trong tâm trí những người có lương tri lại dấy lên nỗi đau khi mà chiến sự Nga - Ukraine đang diễn ra khốc liệt, với biết bao người dân vô tội ở đó đang đổ máu, phải tạm rời bỏ đất nước mình. Đã có nhiều ý kiến khác nhau về căn nguyên của cuộc chiến này, nhưng đâu là sự thật thì ngoại trừ người trong cuộc chỉ có “trời mới biết”. Tuy nhiên, có điều chắc chắn mà ai cũng biết là sẽ không có người chiến thắng, có chăng chỉ những kẻ “đục nước béo cò”.

Từ thực tiễn đó, soi chiếu vào chính sách quốc phòng của Việt Nam mới thấy hết sự đúng đắn, sáng suốt, cũng như vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng chiến lược của quan điểm “Bốn không” mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang thực hiện đối với sự tồn vong của đất nước, của chế độ, sự an nguy của dân tộc. Điều đó cho thấy tư duy mới rất sáng tạo của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đồng thời, một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Quan điểm “Bốn không” cũng là cơ sở, điều kiện quan trọng để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Điều đó càng thể hiện rõ, quan điểm “Bốn không” trong chính sách quốc phòng của Việt Nam chính là thông điệp và khát vọng hòa bình mà dân tộc ta gửi tới các quốc gia trên thế giới.

Quan điểm “Bốn không” một mặt là thông điệp hòa bình, mặt khác còn là kế sách ngăn ngừa chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” của dân tộc ta. Bởi thế, nó rất cần thiết và quan trọng, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, phức tạp, khó lường hiện nay. Dẫu vậy, chúng ta không tuyệt đối hóa quan điểm đó, hay coi đó là liệu pháp duy nhất chữa trị “căn bệnh nan y”; trái lại nó phải được kết hợp đồng bộ với nhiều phương thức hữu hiệu khác. Chỉ như vậy mới bảo vệ được vững chắc Tổ quốc, gìn giữ được hòa bình cho đất nước. Cho nên cần phải thường xuyên tăng cường sức mạnh quốc phòng trên cơ sở sức mạnh tổng hợp của cả nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại. Đó là quan điểm bao trùm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam.

Như đã đề cập, khi thực hiện tăng cường sức mạnh quốc phòng, Việt Nam khẳng định rõ chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ. Việt Nam tăng cường sức mạnh quốc phòng chỉ với mục đích duy nhất là để tự vệ, bảo vệ Tổ quốc chứ không phải là chạy đua vũ trang như một số kẻ thù địch từng rêu rao, xuyên tạc. Nói cách khác, việc làm đó của Việt Nam không nhằm đe dọa, xâm lược bất cứ quốc gia nào mà chỉ nhằm ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh; đồng thời, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi quy mô, hình thức của các thế lực thù địch nếu chúng liều lĩnh tiến hành. Bởi chúng ta biết sức mạnh quốc phòng là yếu tố cốt lõi để bảo vệ Tổ quốc, gìn giữ hòa bình cho đất nước. Nếu chúng ta thiếu sức mạnh quốc phòng, không đủ khả năng tự vệ, thì nguy cơ xảy ra chiến tranh đối với nước ta sẽ lớn; ngược lại, nếu có tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, khả năng tự vệ cao thì hẳn nhiên nguy cơ bị xâm lược sẽ thấp. Nếu kẻ nào có dã tâm xâm lược đối với nước ta thì chúng cũng phải dè chừng. Cho nên, đối với Việt Nam, nói tăng cường sức mạnh quốc phòng trước hết nhằm ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh là vì thế.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình mọi mặt cả quốc tế và trong nước, Đảng ta nhận định trong những năm tới ít có khả năng xảy ra chiến tranh quy mô lớn đối với nước ta. Nhận định đó rất quan trọng và đáng mừng. Nhưng “ít” không có nghĩa là không còn khả năng đó, hay nói cách khác bị loại trừ hoàn toàn. Cho nên, dù khả năng đó là rất nhỏ thì chúng ta cũng không được phép mất cảnh giác, mà phải thường xuyên chăm lo tăng cường quốc phòng, an ninh. Đó là giải pháp không thể thiếu để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống, gìn giữ cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Dân tộc Việt Nam có truyền thống nhân văn cao đẹp, khát khao hòa bình không chỉ cho đất nước mình mà còn cho tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Cùng với việc khẳng định rõ quan điểm “Bốn không” – thông điệp hòa bình, Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam đã và đang nỗ lực góp phần gìn giữ hòa bình với tư cách là “thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế”. Dưới lá cờ Liên hợp quốc, những cán bộ, chiến sĩ quân y, công binh,… của Việt Nam không quản ngại hy sinh, gian khổ đang ngày đêm thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở Nam Sudan và Abyei. Tinh thần đoàn kết đấu tranh cho hòa bình, vì hòa bình đang tỏa sáng ở Châu Phi và nhiều nơi trên thế giới sẽ đưa các quốc gia xích lại gần nhau hơn trên con đường hướng tới tương lai tốt đẹp./.

ST.