Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2024

TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH, CÓ HIỆU QUẢ NHIỆM VỤ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Thời gian qua, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được những kết quả tích cực. Ban chỉ đạo 35 các cấp được thành lập, cùng với cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã hoạt động hiệu quả, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, trước âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, nham hiểm, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Một là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của các đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay cần có những nội dung, phương thức phù hợp với từng thời điểm, giai đoạn nhất định. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vậy, ngoài hình thức đấu tranh truyền thống, cần bổ sung những hình thức đấu tranh mới, như: đấu tranh trực tiếp, trực diện trên không gian mạng, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội; xây dựng đội ngũ thông tin viên rộng rãi, nhất là hội viên các đoàn thể nhân dân…

Hai là, tiếp tục tuyên truyền, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần ở nước ta. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư khóa XII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời luận giải những vấn đề lý luận mới, khó, còn nhiều ý kiến khác nhau, tạo sự đồng thuận trong nhận thức xã hội. Bằng các hình thức tuyên truyền phù hợp, giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu rõ và nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy rõ bản chất phản động của những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch…

Ba là, kiên định, vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. V.I. Lê-nin đã từng chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin nghĩa là phải nắm vững bản chất khoa học và cách mạng, vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta, để những nội dung, quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin có thêm sức sống mới, được hiện thực hóa, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay./.

TBQL 17

NHẬN DIỆN RÕ ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, HÒNG CHỐNG PHÁ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 


Các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với âm mưu hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, bằng các thủ đoạn, như: Xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; Tập trung công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng...

Về kinh tế, chúng xuyên tạc, chống phá đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta. Các thế lực thù địch âm mưu làm cho nền kinh tế nước ta phát triển chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng bóp méo các nguyên lý kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đối lập định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển kinh tế thị trường…, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hôi dân sự” kiểu tư bản chủ nghĩa.

Về văn hóa, chúng lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; gieo rắc tư tưởng sùng bái lối sống, văn hóa phương Tây; o bế các cây viết, khuynh hướng, xu hướng văn hóa - văn nghệ cực đoan, phản động; phát tán những tác phẩm cổ vũ sự chống đối, xúc phạm những giá trị văn hóa truyền thống, đòi “giải thiêng thần tượng”, “hạ bệ thần tượng”. Các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để lôi kéo, dụ dỗ một bộ phận quần chúng thực hiện các hành vi chống đối chính quyền; tìm cách khoét sâu vào những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc, tạo ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng của đảng viên và nhân dân ta.

Về ngoại giao, tìm cách cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác, lôi kéo, mua chuộc các đối tác từ bên ngoài để gây sức ép, tác động vào bên trong đất nước; quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam; xuyên tạc đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam./.

TBQL 17

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH MÃI LÀ KIM CHỈ NAM CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 


Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”(1). Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của Người, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, năm 2016, Đảng ta xác định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh giành chính quyền, đập tan xiềng xích đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp, khai sinh ra Nhà nước dân chủ công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á, tiếp đến là hai cuộc kháng chiến trường kỳ để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, đưa đất nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau 35 năm đổi mới, nước ta luôn giữ vững ổn định chính trị, xã hội; đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay… Từ điều kiện thực tiễn của cách mạng, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đưa cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đó là minh chứng sống động và thuyết phục, khẳng định tính đúng đắn của cách mạng Việt Nam trong việc lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên hiện nay, các thế lực thù địch và phản động đang ra sức đẩy mạnh chống phá Đảng ta, đặc biệt là trên mặt trận tư tưởng, chính trị; một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, nhận thức không đúng về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh càng khiến cho việc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch gặp nhiều khó khăn, như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”./.

TBQL 17

Hà Nội: hạn chế ùn tắc kéo dài trên 30 phút


Năm 2024, Hà Nội sẽ tập trung giải quyết từ 8 - 10 điểm ùn tắc giao thông, hạn chế để xảy ra tình trạng ùn tắc giao thông kéo dài trên 30 phút.

Theo kế hoạch thực hiện công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, giảm ùn tắc giao thông trên địa bàn Thành phố năm 2024, Hà Nội đặt mục tiêu vận tải hành khách công cộng bảo đảm chất lượng, phục vụ hiệu quả, phấn đấu năm 2024 đạt từ 22-25%; tiếp tục kiềm chế giảm tai nạn giao thông từ 5% so với năm 2023 trên cả 3 tiêu chí (số vụ, số người chết, số người bị thương).

Tập trung giải quyết từ 8-10 điểm ùn tắc giao thông, hạn chế để xảy ra tình trạng ùn tắc giao thông kéo dài trên 30 phút; kịp thời xử lý những điểm có nguy cơ phát sinh ùn tắc giao thông mới và các điểm đen về tai nạn giao thông.

Sở Giao thông vận tải (GTVT) chủ trì phối hợp với các sở và đơn vị liên quan tiếp tục nghiên cứu, đề xuất triển khai xây dựng Đề án "Giao thông thông minh" trong tổng thể xây dựng thành phố thông minh.

Từng bước xây dựng hệ thống giao thông thông minh, trong đó ưu tiên xây dựng một số hợp phần như: xây dựng trung tâm điều hành giao thông thông minh của Thành phố; hệ thống camera giám sát giao thông, hệ thống đèn tín hiệu giao thông đường bộ, kết nối tín hiệu đường bộ và đường sắt, lắp đặt hệ thống trạm cân kiểm soát tải trọng phương tiện…

UBND Thành phố cũng yêu cầu các cơ quan chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm người điều khiển phương tiện vi phạm giao thông; kiên quyết xử lý và chấm dứt tình trạng người đi mô tô, xe máy, xe đạp đi vào đường cao tốc và các tuyến đường cấm.

Khai thác, sử dụng dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô để kiểm tra, xử lý đối với các trường hợp vi phạm; đối tượng tập trung kiểm tra, xử lý là người điều khiển xe ô tô chở khách, ô tô chở hàng hóa... Cương quyết ngăn chặn các vụ đua xe trái phép, tụ tập gây rối trật tự công cộng, trấn áp mọi hành vi chống người thi hành công vụ...

Đối với các phương tiện chở khách, tập trung kiểm soát ngay tại nơi xuất phát. Đối với các xe chở hàng hóa, vật liệu xây dựng, tổ chức kiểm soát tải trọng phương tiện ngay tại đầu nguồn, kho, bãi, mỏ vật liệu.

Đẩy mạnh xử lý vi phạm về tốc độ, thời gian làm việc của lái xe thông qua dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình (GPS); nâng cao hiệu quả công tác xử lý vi phạm qua hệ thống camera giám sát giao thông.

Kiểm tra, xử lý và ngăn chặn việc đầu cơ, buôn bán vé, không để xảy ra tình trạng tăng giá vé vận tải hành khách trái quy định; bảo đảm an ninh, an toàn, thuận lợi cho hành khách, hạn chế tối đa hiện tượng ùn ứ khách tại các bến xe, nhất là trong các ngày lễ, Tết.

Tính đến ngày 15/12/2023, Hà Nội đã xử lý 15 điểm ùn tắc giao thông. Sở Giao thông vận tải phối hợp với Phòng Cảnh sát Giao thông – Công an Thành phố xử lý 7 điểm đen giao thông. Đối với 1 điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông trên tuyến đường Lĩnh Nam, Sở đã chỉ đạo Ban Duy tu tăng cường duy tu, duy trì nhằm bảo đảm êm thuận và phối hợp với UBND quận Hoàng Mai đẩy nhanh tiến độ thi công mở rộng mặt đường Lĩnh Nam.

Tại khu vực cầu Thanh Trì thường xuyên xảy ra tai nạn giao thông, Sở Giao thông vận tải đã chỉ đạo Ban Duy tu cắm bổ sung biển cảnh báo, tăng cường duy tu mặt cầu, vệ sinh hệ thống an toàn giao thông, bổ sung phản quang trên lan can thành cầu... và đang tổ chức nghiên cứu thay thế vật liệu dải phân làn phương tiện cho phù hợp để giảm thiểu tai nạn giao thông xảy ra.

Đại diện Ban đại diện cha mẹ học sinh tham gia Hội đồng lựa chọn sách giáo khoa

 Hội đồng lựa chọn sách giáo khoa trong cơ sở giáo dục phổ thông bao gồm: Người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu; tổ trưởng tổ chuyên môn, nhóm chuyên môn, phòng chuyên môn (tổ chuyên môn), đại diện giáo viên, đại diện Ban đại diện cha mẹ học sinh của cơ sở giáo dục.

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 27/2023/TT-BGDĐT quy định về việc lựa chọn sách giáo khoa trong các cơ sở giáo dục phổ thông, có hiệu lực thi hành từ ngày 12/02/2024.

Theo Thông tư, việc lựa chọn sách giáo khoa phải đảm bảo nguyên tắc lựa chọn sách giáo khoa trong danh mục sách giáo khoa đã được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt để sử dụng ổn định trong cơ sở giáo dục.

Mỗi khối lớp lựa chọn 01 sách giáo khoa cho mỗi môn học, hoạt động giáo dục (bao gồm các nội dung, chuyên đề học tập lựa chọn nếu có) được thực hiện ở cơ sở giáo dục (gọi chung là môn học).

Việc lựa chọn sách giáo khoa bảo đảm thực hiện dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, vì quyền lợi của học sinh.

Tiêu chí lựa chọn sách giáo khoa phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của địa phương, phù hợp với điều kiện tổ chức dạy và học tại cơ sở giáo dục.

Hiệu trưởng thành lập Hội đồng lựa chọn SGK, tối thiểu 11 người

Hội đồng lựa chọn sách giáo khoa của cơ sở giáo dục (gọi tắt là Hội đồng) do Hiệu trưởng cơ sở giáo dục hoặc Giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên, Giám đốc trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, người đứng đầu các cơ sở giáo dục thực hiện chương trình giáo dục phổ thông, chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông (người đứng đầu) thành lập, giúp người đứng đầu cơ sở giáo dục tổ chức lựa chọn sách giáo khoa. Mỗi cơ sở giáo dục thành lập 01 Hội đồng. Đối với cơ sở giáo dục có nhiều cấp học, mỗi cấp học thành lập 01 Hội đồng.

Hội đồng bao gồm: Người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu; tổ trưởng tổ chuyên môn, nhóm chuyên môn, phòng chuyên môn (tổ chuyên môn), đại diện giáo viên, đại diện Ban đại diện cha mẹ học sinh của cơ sở giáo dục. Số lượng thành viên Hội đồng là số lẻ, tối thiểu là 11 người. Đối với cơ sở giáo dục có quy mô dưới 10 lớp, số lượng thành viên Hội đồng tối thiểu là 05 người.

Cơ cấu Hội đồng bao gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Thư kí và các ủy viên Hội đồng. Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu.

Người đã tham gia biên soạn sách giáo khoa hoặc tham gia chỉ đạo biên soạn, xuất bản, in, phát hành sách giáo khoa (trong danh mục sách giáo khoa được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt); cha, mẹ, cha mẹ vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; anh, chị, em ruột và anh, chị, em vợ hoặc chồng của người đã tham gia biên soạn sách giáo khoa hoặc tham gia chỉ đạo biên soạn, xuất bản, in, phát hành sách giáo khoa; người làm việc ở các nhà xuất bản, các tổ chức có sách giáo khoa không được tham gia Hội đồng.

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tình hình mới

Trong Cương lĩnh và đường lối cách mạng của Ðảng ta từ khi ra đời đến nay, Ðảng luôn khẳng định một cách nhất quán mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) và kiên định, kiên quyết lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu đó.

Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Ðảng đã nêu rõ: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Ðảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Ðảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” đã phân tích sâu sắc, tâm huyết một vấn đề rất lớn và quan trọng trong đường lối cách mạng của nước ta. Trong bài viết, đồng chí đã làm rõ tính tất yếu con đường đi lên CNXH, khẳng định những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử mà nước ta đạt được trên con đường đó, đề ra một số phương hướng để tiếp tục đẩy mạnh xây dựng CNXH trong tình hình mới.

Sự lựa chọn con đường kết hợp độc lập dân tộc với CNXH ở nước ta vừa phù hợp với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, với mục tiêu lớn của thời đại, vừa phù hợp với ý nguyện của nhân dân ta; gắn với đặc điểm tình hình của mỗi giai đoạn khác nhau của cách mạng Việt Nam.

Ngay từ khi mới ra đời, trong Cương lĩnh đầu tiên của mình (năm 1930), Ðảng ta đã khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH và trong suốt hơn 90 năm qua Ðảng ta luôn kiên trì với mục tiêu đó: Kết hợp độc lập dân tộc với CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam. Ðường lối đó không chỉ phù hợp trong giai đoạn Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trước đây khi nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu, mà còn là đường lối chỉ đạo trong giai đoạn Cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) khi mà nhiệm vụ phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đóng vai trò trọng tâm. Ðộc lập dân tộc là tiền đề, điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH, còn CNXH là bước phát triển tất yếu, là điều kiện để củng cố và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng XHCN thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”, “có tiến lên CNXH thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm”.

Từ thực tiễn cách mạng thế giới và từ kinh nghiệm cách mạng Việt Nam, Ðảng ta nhận thức sâu sắc rằng: Chỉ có con đường độc lập dân tộc và CNXH, Tổ quốc ta mới được độc lập tự do thực sự, nhân dân ta mới trở thành người làm chủ, tự quyết định vận mệnh của mình, quyết định con đường phát triển của đất nước. Trong bối cảnh thế giới những năm 80, 90 thế kỷ 20, khi Liên Xô và các nước XHCN ở Ðông Âu tan rã, CNXH thế giới lâm vào thoái trào, Ðảng ta vẫn kiên định con đường đã chọn - con đường độc lập dân tộc và CNXH. Ðó là con đường hợp quy luật phát triển của lịch sử Việt Nam, của cách mạng Việt Nam để có một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, con đường hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc. Ðối với Ðảng ta, đổi mới không phải là đổi màu; đổi mới có nguyên tắc mà nguyên tắc hàng đầu là bảo đảm độc lập dân tộc và CNXH cho đất nước. Nếu Ðảng ta không kiên định con đường đi lên CNXH thì không thể có công cuộc đổi mới vừa giữ vững những thành quả của cách mạng và mục tiêu cách mạng, vừa kiên quyết, dũng cảm từ bỏ những phương pháp, quan niệm sai lầm, sáng tạo phương pháp mới, quan niệm mới để xây dựng CNXH phù hợp hơn, hiệu quả hơn.

Việc kiên định con đường XHCN trong bối cảnh của tình hình thế giới hiện nay với những diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo, khó đoán định, với nhiều bất ổn, thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn đan xen đòi hỏi Ðảng ta không chỉ cần có bản lĩnh chính trị vững vàng mà phải có trình độ trí tuệ cao, có tư duy đổi mới, có tầm nhìn chiến lược, biết nhìn xa trông rộng. Sự nghiệp xây dựng CNXH là một sự nghiệp lâu dài, khó khăn, gian khổ bởi điểm xuất phát của nước ta rất thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, luôn bị các thế lực thù địch chống phá, thực hiện âm mưu và hoạt động diễn biến hòa bình. Ðặc biệt, sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN là một sự nghiệp mới mẻ, chưa có tiền lệ trong lịch sử, lại đang diễn ra trong bối cảnh chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Ðây là quá trình vừa làm vừa học, vừa làm vừa tổng kết, rút kinh nghiệm, khái quát thành lý luận trên cơ sở lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn của chân lý, từng bước khắc phục các quan niệm giáo điều, đơn giản, ấu trĩ về CNXH.

Qua 35 năm đổi mới, nhờ vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Ðảng, sự nỗ lực phấn đấu, chung sức đồng lòng của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân và sự giúp đỡ, hợp tác của cộng đồng quốc tế, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đất nước phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới, tạo ra thế và lực mới để đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp. Văn kiện Ðại hội XIII của Ðảng nhận định: “lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đường đi lên CNXH của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa… Ðất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Những thành tựu trên đây tạo tiền đề quan trọng, tạo nguồn lực, động lực vật chất và tinh thần to lớn để toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới, vì độc lập dân tộc và CNXH.

Những thành tựu ấy do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quan trọng là Ðảng luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình đổi mới. Chính vì vậy, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khái quát 5 bài học lớn, trong đó bài học lớn đầu tiên là “nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau”.

Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử cả về lý luận và thực tiễn của 35 năm đổi mới, đặc biệt là nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật trong nhiệm kỳ Ðại hội XII là minh chứng hùng hồn cho tính đúng đắn của con đường độc lập dân tộc và CNXH của nước ta. Ðồng thời đó cũng là sự bác bỏ đanh thép những quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị phủ nhận vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Ðảng, phủ nhận con đường XHCN, tách rời, đối lập độc lập dân tộc và CNXH, phủ nhận định hướng XHCN, phủ nhận những thành tựu mà nhân dân ta đạt được trong đổi mới. Cần kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đó để bảo vệ Ðảng, Nhà nước và chế độ XHCN, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, bảo vệ và phát triển đường lối đổi mới, thành quả của sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN.

Trong bài viết của mình, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bằng tư duy lý luận sắc sảo, đã luận chứng một cách có sức thuyết phục để trả lời câu hỏi lớn mà đồng chí đặt ra là CNXH là gì và đi lên CNXH bằng cách nào?

Có thể nói, những thành tựu của cách mạng Việt Nam, nhất là những thành tựu của 35 năm đổi mới là cơ sở vững chắc để khẳng định tính tất yếu của con đường đi lên CNXH của Việt Nam. Kết hợp độc lập dân tộc với CNXH là con đường phát triển khách quan của dân tộc, là chân lý lớn của thời đại Hồ Chí Minh, là động lực xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Lựa chọn con đường XHCN là sự lựa chọn của Ðảng ta, của Bác Hồ và cũng chính là sự lựa chọn của nhân dân, của lịch sử. Sự ra đời của Ðảng ta năm 1930, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1954, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước năm 1975, thắng lợi của công cuộc đổi mới do Ðảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay là những mốc son chói lọi trên con đường đó.

Trong thời kỳ đổi mới, thông qua nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta từng bước được hình thành, bổ sung, phát triển, hoàn thiện. Lý luận đó trước hết được thể hiện tập trung trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991, được bổ sung, phát triển năm 2011. Cương lĩnh đã khái quát những đặc trưng cơ bản của xã hội XHCN Việt Nam mà nhân dân ta xây dựng, chỉ ra những phương hướng cơ bản để xây dựng CNXH và những vấn đề lớn (những mối quan hệ biện chứng) cần phải nắm vững và giải quyết tốt. Văn kiện các kỳ Ðại hội Ðảng toàn quốc trong thời kỳ đổi mới đều bổ sung những nhận thức mới làm cho lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng sáng tỏ hơn. Vì vậy, Văn kiện Ðại hội XIII nhận định: “Tư duy lý luận của Ðảng có bước phát triển. Hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung, phát triển”. Chúng ta tin tưởng rằng, Ðại hội XIII của Ðảng với những quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ, sáng tạo được thể hiện trong 12 định hướng, các mục tiêu phát triển đất nước, 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược sẽ đưa đất nước phát triển lên một giai đoạn mới trên con đường độc lập dân tộc và CNXH để đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN có thu nhập cao. Cùng với quá trình phát triển của thực tiễn và nhận thức, cùng với việc đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tăng cường tổng kết thực tiễn, Ðảng ta sẽ có nhiều bổ sung, phát triển hơn nữa lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta theo tinh thần Nghị quyết Ðại hội XIII của Ðảng là phải: “Nâng tầm tư duy lý luận của Ðảng, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp kịp thời cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tổng kết thực tiễn 40 năm đổi mới để bổ sung, phát triển lý luận của Ðảng. Tiếp tục bổ sung, phát triển hệ thống các quan điểm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”./.

ST.

Nâng cao chất lượng dự báo chiến lược trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh

Dự báo chiến lược là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động nghiên cứu, hoạch định chiến lược và là đặc trưng chủ yếu, quan trọng của tư duy chiến lược - tư duy dự báo. Dự báo đúng là cơ sở khoa học để Đảng ta hoạch định đường lối cách mạng đúng đắn; ngược lại, dự báo sai sẽ nguy hại đến an ninh quốc gia, lợi ích dân tộc, thậm chí cả sự tồn vong của chế độ.

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là những trang sử chói lọi về công tác lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, trong đó đặc biệt xuất sắc là công tác dự báo chiến lược, nhất là nhận định, đánh giá tình hình, dự báo chiến lược trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Thực tế cho thấy, sai lầm về dự báo chiến lược là rất nghiêm trọng, nhưng nghiêm trọng hơn là đưa ra một chiến lược sai.

Công tác dự báo chiến lược luôn được Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quan tâm đúng mức, tổ chức thực hiện quyết liệt và đã thu được những kết quả nhất định trên các lĩnh vực, nhất là quốc phòng, quân sự, an ninh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác dự báo chiến lược còn nhiều hạn chế. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Công tác nắm tình hình, dự báo chiến lược về quốc phòng, an ninh có lúc chưa thật chủ động”1 và khi nêu bài học kinh nghiệm đã khẳng định: “Chủ động nghiên cứu, nắm bắt dự báo đúng tình hình, không để bị động bất ngờ”2. Vì vậy, để tiếp tục nghiên cứu, quán triệt phương hướng, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh do Đại hội XIII của Đảng xác định: “nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”3, đặt ra vấn đề cần phải nâng cao chất lượng dự báo chiến lược; trong đó, tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:

Nhận thức về dự báo chiến lược

Dự báo trong lĩnh vực quân sự là: “Xác định trước, có luận cứ khoa học về triển vọng phát triển của lực lượng vũ trang, kỹ thuật quân sự, nghệ thuật quân sự, tiến trình và kết cục của chiến tranh có thể xảy ra”4. Như vậy, dự báo nói chung, dự báo chiến lược nói riêng là tiến hành công việc của tương lai, nên rất khó và phức tạp. Dự báo chiến lược trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh còn khó khăn, phức tạp hơn, vì nó phụ thuộc vào đặc điểm, tính chất đặc thù của chính hoạt động quân sự, quốc phòng, an ninh. Đây là lĩnh vực được bảo vệ, bảo mật nghiêm ngặt, nên mọi hoạt động nghiên cứu, nắm bắt tình hình hết sức khó khăn, gay go, quyết liệt và vô cùng nhạy cảm, dự báo không chính xác sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường. Dự báo chiến lược trong lĩnh vực này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích quốc gia, dân tộc, mà còn ảnh hưởng đến quan hệ trong khu vực và quốc tế. Vì thế, lực lượng hoạt động ở lĩnh vực này cần phải là những người “thông thái”, có tầm nhìn xa, dài hạn mới đảm bảo chất lượng công tác dự báo nói chung, dự báo chiến lược nói riêng.

Yêu cầu nâng cao chất lượng công tác dự báo

 (1) Công tác dự báo phải đạt được tính khách quan, trung thực, không gò ép, dự báo đầy đủ cả tích cực, tiêu cực, vận hội, cơ hội, thời cơ, nguy cơ và thách thức; ở cả hai chiều biến cố rủi ro và những cơ hội đưa đến, dự kiến được cả hai mặt thuận - nghịch mà không “kiêng” những chỗ (vấn đề, lĩnh vực, khu vực) có thể xảy ra nguy hiểm. (2) Dự báo phải bảo đảm tính chính xác cao, nghĩa là kết quả dự báo phải trên cơ sở khoa học tin cậy, có phương pháp luận khoa học, chặt chẽ, hợp lý. Dự báo càng sát, đúng thì giá trị của dự báo càng cao. (3) Dự báo phải bám sát thực tiễn và phải ở tầm chiến lược, tư duy dự báo nhất thiết phải là tư duy trải nghiệm, phải bám sát thời cuộc và yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng. Kết quả dự báo phải có tầm nhìn xa, tầm nhìn dài hạn và có giá trị ảnh hưởng, tác động đến các vấn đề cơ bản của cách mạng, lợi ích quốc gia - dân tộc. (4) Trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh, dự báo chiến lược phải phù hợp đặc điểm, tính chất đặc thù của hoạt động quân sự, quốc phòng, an ninh và phải chịu sự chi phối bởi các hoạt động có tính đặc thù ấy. Dự báo phải có tính hướng đích rõ ràng, nghĩa là phải nhằm hoạch định chiến lược trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh.

Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác dự báo chiến lược

Để nâng cao chất lượng công tác dự báo chiến lược, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải luôn quán triệt đầy đủ, nghiêm túc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm giữ đúng định hướng chính trị trong công tác dự báo. Trong đó, các nhiệm vụ ngắn hạn được xác định trong kế hoạch 05 năm của các kỳ đại hội Đảng, trung hạn là Chiến lược 10 năm phát triển kinh tế - xã hội hoặc dài hạn là định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045, v.v. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, nhằm cung cấp lý luận và các luận cứ khoa học cho công tác dự báo. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa được quan tâm đúng mức, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu, một số vấn đề mới, khó, phức tạp chưa được làm sáng tỏ”5. Vì vậy, cần phải: “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới cũng như lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”6. Trong đó, cần hết sức chú trọng nhấn mạnh việc tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, làm sáng tỏ các vấn đề thực tiễn đặt ra về chủ nghĩa xã hội ngày nay, như: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân; đường lối chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc và nhiều vấn đề khác, nhằm cung cấp luận cứ khoa học, bảo đảm cho dự báo chiến lược có chất lượng cao. Dự báo chiến lược phải toàn diện, nhưng hết sức tập trung, có trọng tâm, trọng điểm vào các vấn đề cốt lõi của chiến lược cần hoạch định, nhất là các vấn đề nổi cộm, các thách thức chủ yếu tác động đến sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, v.v. Kết quả dự báo phải cập nhật tình hình mới nhất, liên quan đến chiến lược cần dự báo và phải có tính đột phá về chiến lược, làm xoay chuyển về căn bản bản chất của chiến lược được hoạch định theo hướng tích cực. Nội dung dự báo nhất thiết phải ở tầm chiến lược, có giá trị lớn đối với lợi ích quốc gia - dân tộc với tầm nhìn dài hạn.

Nội dung dự báo chiến lược thường gồm những vấn đề về sự phát triển của tình hình thế giới, khu vực; các vấn đề liên quan đến: an ninh, chính trị nội bộ, sự phát triển của nền kinh tế, xã hội, đối ngoại, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Về an ninh, cần dự báo các âm mưu, thủ đoạn và hành động chống phá mới của các thế lực thù địch, nhất là về chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, bạo loạn ly khai, v.v. Về nội bộ, cần dự báo rõ các vấn đề liên quan đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đoàn kết nội bộ, sự trong sạch của đội ngũ cán bộ, nạn tham nhũng, lòng tin của nhân dân; khả năng có thể hình thành lực lượng chính trị đối lập, gây đột biến về chính trị để “có biện pháp và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, nhất là những nhân tố có thể gây đột biến”. Về quân sự, quốc phòng cần tập trung dự báo các thách thức về quốc phòng, các tình huống quốc phòng, các hình thái chiến tranh. Dự báo toàn diện, nhưng tập trung vào các vấn đề chủ yếu, các điểm nóng, nhất là các vấn đề về bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ trên biển, đảo, không gian mạng, biên giới theo phương châm “chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”. Tình hình an ninh chính trị ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các khả năng có thể xảy ra bạo loạn lật đổ, bạo loạn ly khai, xung đột và chiến tranh trên biển, đảo, biên giới, không gian mạng, v.v. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cần quan tâm dự báo cả về sự tác động từ những thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, khủng bố, buôn lậu, tội phạm xuyên quốc gia, v.v.

Dự báo chiến lược là để hoạch định chiến lược, vì vậy nội dung dự báo phải bám sát nội dung chủ yếu của chiến lược dự kiến hoạch định. Đồng thời, phải nâng cao năng lực hoạch định chiến lược cho đội ngũ cán bộ chiến lược. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt”. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ”7. Cùng với đó, ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học - công nghệ vào công tác dự báo.

Một nội dung quan trọng cần hết sức quan tâm là sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nghiên cứu chiến lược, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình nghiên cứu dự báo chiến lược, một cách hợp lý, nhưng có sự vận dụng linh hoạt. Coi trọng quá trình thu thập và xử lý thông tin, kết hợp chặt chẽ hoạt động của cơ quan trung tâm và các cơ quan liên quan, phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, trong xác định các vấn đề chủ yếu của dự báo chiến lược và nội dung chủ yếu của chiến lược hoạch định. Vì chiến lược là sự thể hiện cao độ ý chí, quyết tâm, trí tuệ, phẩm chất và bản lĩnh của người lãnh đạo, chỉ huy cấp chiến lược, nhất là người đứng đầu. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đề cao trách nhiệm người đứng đầu gắn liền với phát huy sức mạnh đồng bộ của hệ thống chính trị, giữ vững kỷ cương”8. Nêu cao trách nhiệm của cơ quan trung tâm, lực lượng nòng cốt trong dự báo và hoạch định chiến lược, đảm bảo phải có đủ năng lực đưa ra  các nội dung dự báo chủ yếu và có khả năng cao trong việc khai thác trí tuệ của các cơ quan phối hợp, để đưa ra dự báo chiến lược hoàn chỉnh, chất lượng cao.

Tư duy chiến lược, nhất là tư duy dự báo chiến lược quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ rất khó, cần phải nhanh nhạy, linh hoạt, trí tuệ để có đủ khả năng phân tích, đánh giá nhanh, chính xác tình hình; đồng thời, đưa ra dự báo sát, đúng, kịp thời để Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, đòi hỏi đội ngũ này phải nắm chắc các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh nghiệm lịch sử, giỏi phân tích hiện tại, tiếp thu tinh hoa thế giới, biết kết hợp hài hòa các vấn đề dân tộc và thời đại, dự báo các vấn đề chiến lược khu vực, thế giới liên quan đến Việt Nam, giúp Đảng hoạch định đường lối chiến lược về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đúng đắn, hiệu quả./.

ST.

Nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội

Nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn trong đường lối đổi mới của Đảng là yêu cầu cấp thiết, quan trọng. Trong đó, “thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”1 là mối quan hệ mới được Đại hội XIII của Đảng bổ sung trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030.

1. Dân chủ và kỷ cương có quan hệ biện chứng, không đối lập nhau

Mối quan hệ “giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội” được Đại hội XIII của Đảng bổ sung xuất phát từ nhận thức rõ hơn về vấn đề có tính quy luật trong quản lý xã hội, đó là: “dân chủ” đi liền với “kỷ cương”, “tự do” không tách rời “trách nhiệm”. Đây là kinh nghiệm được rút ra từ kết quả nghiên cứu, tổng kết quản lý xã hội ở nước ta thời gian qua. Trong bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, dân chủ và kỷ cương là hai mặt thống nhất trong chỉnh thể cơ chế vận hành đúng đắn, lành mạnh của xã hội, nghĩa là: trong yếu tố dân chủ thực sự đã bao hàm cả yếu tố kỷ cương và kỷ cương để bảo đảm cho tính dân chủ được vững chắc; trong yếu tố kỷ cương đã bao hàm cả tính chất dân chủ của nó. Vì vậy, trong nhận thức, phải tuân thủ tính biện chứng của mối quan hệ này, muốn thực hành dân chủ thực sự hiệu quả, phải tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội; mặt khác, muốn tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội thật tốt, phải thực hành dân chủ thật sự, dân chủ đích thực, đó là dân chủ rộng rãi và đúng hướng. Chống biểu hiện độc đoán, gia trưởng, hoặc dân chủ “vô chính phủ”, dân chủ quá trớn.

Trên cơ sở tư duy biện chứng của mối quan hệ này và từ đặc trưng ưu việt trong bản chất của hệ thống chính trị ở nước ta, cho nên chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được Nhân dân thực hiện bằng hành động cụ thể: ý Đảng, lòng dân gặp nhau, đó là biểu hiện của tư duy dân chủ và kỷ cương phép nước. Minh chứng là, khi đối phó với đại dịch Covid-19, có lẽ Việt Nam là nước duy nhất mà tư duy của Đảng, Nhà nước đã thấm vào mỗi người dân, với tinh thần: “chống dịch như chống giặc”. Khi thực hiện kỷ cương xã hội, nhân dân đã phát huy dân chủ, sáng tạo nhiều cách thức, biện pháp để phòng, chống dịch. Điều này cho thấy, bản chất dân chủ thực sự, gắn với kỷ cương, phép nước theo véctơ chung mà Đảng, Nhà nước định hướng. Nhờ thành công trong phòng, chống dịch, trong năm 2020 và những tháng đầu năm 2021, Việt Nam là một trong số ít nền kinh tế có tăng trưởng dương. Điều đó, khác hẳn với cách tiếp cận dân chủ về quyền tự do cá nhân ở nhiều quốc gia; trong đó, có cả các nước phát triển, với hệ thống y tế hiện đại, nhưng khi quy định của chính quyền nhà nước không có nhiều hiệu lực, sự tự do cá nhân, tự do vô chính phủ lên ngôi, nên không kiểm soát được dịch bệnh, bị “vỡ trận”, dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng.

2. Nâng cao chất lượng thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội

Đảng ta chỉ rõ: “Quyền làm chủ của nhân dân có lúc, có nơi còn bị vi phạm; vẫn còn biểu hiện dân chủ hình thức, tách rời dân chủ với kỷ cương, pháp luật”2; “kỷ cương phép nước có nơi, có lúc còn bị xem nhẹ”3. Vì vậy, để nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ này phải vừa mở rộng, thực hành dân chủ, vừa tăng cường kỷ luật, kỷ cương.

Trong thực hành dân chủ, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh: dân là chủ và dân làm chủ; dân là chủ là đề cập vị thế của dân; dân làm chủ là đề cập trách nhiệm của dân. “Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện tốt, có hiệu quả các hình thức dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở”4.

Dân chủ ở cơ sở là những biểu hiện bảo đảm cho người dân làm chủ trực tiếp ở địa bàn nơi họ sống và làm việc, được biểu đạt ở thể chế, được thực thi hay phản ánh trên thực tế. Theo đó, cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ cơ sở; Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XI) về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý Nhà nước để khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng, lãng phí; phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở. Bảo đảm các công việc liên quan đến cuộc sống của người dân, phải công khai cho nhân dân biết; liên quan đến huy động sức dân, phải để nhân dân bàn và quyết định, được kiểm tra, giám sát các dự án triển khai. Chấp hành nghiêm quy định về các hành vi bị nghiêm cấm, như: không thực hiện hoặc làm trái quy định của Pháp lệnh về thực hiện dân chủ; trù dập người khiếu nại, tố cáo; lợi dụng dân chủ để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, v.v.

Thực hiện tốt phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”5. Dân thụ hưởng là nội dung mới được Đại hội XIII của Đảng bổ sung, đây là nội dung rất quan trọng bảo đảm cho cơ chế thực hành dân chủ có hiệu quả. Bởi vì, dân chính là chủ thể phản ánh bản chất của dân chủ. Giám sát, thụ hưởng là yếu tố cuối trong chuỗi nội dung để phát huy vai trò làm chủ, thể hiện dân chủ của xã hội, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển dân chủ trong xã hội; phản ánh mức độ và tính chất dân chủ hiệu quả nhất, bảo đảm cho dân chủ thực chất để tiếp tục xây dựng, củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Về tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Kỷ cương (kỷ luật) là biểu hiện của tự do đúng theo nghĩa vận hành trong một xã hội lành mạnh. Dân chủ không chung với độc tài và không có nghĩa là có tự do tuyệt đối. Tự do đúng nghĩa chính là sự nhận thức và hành động theo cái tất yếu, nghĩa là suy nghĩ và hành động theo đúng quy luật của tự nhiên và xã hội. Nếu làm trái, không chỉ ảnh hưởng xấu đến tự do của toàn xã hội và những người xung quanh, mà còn làm mất tự do của chính mình. Kỷ cương phải gắn liền với pháp chế, mà pháp chế ở nước ta là pháp chế trong sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; pháp luật là tối thượng trong xã hội. Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, cho nên pháp chế trong xã hội ở nước ta là sự thể chế hóa Cương lĩnh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng. Sự cầm quyền của Đảng là sự ủy quyền của nhân dân, tức là nhân dân tin tưởng trao cho Đảng quyền lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đảng ra đời, tồn tại và hoạt động không phải vì mục đích tự thân mà vì phục vụ cách mạng, Tổ quốc và Nhân dân; theo lôgíc đó, pháp chế phải bảo đảm cho quyền lợi của nhân dân. Vì vậy, cần xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, bảo đảm tính ổn định, đồng bộ, thống nhất, khả thi; lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân và doanh nghiệp làm trọng tâm để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật; phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với hoạt động của tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật; giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các loại tranh chấp, khiếu kiện theo luật định. Tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật của người dân và doanh nghiệp.

3. Thực hành dân chủ phải luôn đi đôi với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội

Thực tế chỉ ra: nhiều hạn chế, vấn đề phức tạp, nhất là một số hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu nảy sinh trong công tác tổ chức, quản lý, điều hành bộ máy nhà nước và không ít mâu thuẫn, xung đột gây nên những lộn xộn trong đời sống xã hội đều có chung một nguyên nhân là không thực hành đồng bộ giữa dân chủ với pháp chế, kỷ cương. Vì vậy, yêu cầu đặt ra và giải quyết mối quan hệ “giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội” chính là nhằm thực hành đầy đủ chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, tăng cường kỷ luật, kỷ cương xã hội, thực hiện nghiêm, đầy đủ các quy định của pháp luật. Đó là điều kiện bảo đảm căn bản cho một xã hội hài hòa, cuộc sống hạnh phúc của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước.

Đại hội XIII của Đảng biểu đạt tư duy và hành động của toàn Đảng, cả hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang là vừa nêu gương thực hành dân chủ, vừa phải tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức xã hội. Dân chủ và pháp chế, kỷ cương xã hội đi đôi với nhau chính là đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy trí tuệ, quyền và trách nhiệm của người dân trong tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Bởi vậy, đòi hỏi dân chủ trước hết phải từ trong Đảng, nếu không sẽ không thể có dân chủ ngoài xã hội. Cán bộ, đảng viên, thành viên trong bộ máy của hệ thống chính trị phải là đầy tớ, công bộc của dân. Nhà nước với chức năng cai trị của một giai cấp, phải chuyển dần sang hình thức phục vụ nhân dân, dịch vụ công. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ trách nhiệm giữa Chính phủ với các bộ, ngành và chính quyền địa phương; khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất; phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của từng cấp, ngành, gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực.

Xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân. Kiên quyết đấu tranh phòng, chống tiêu cực, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; âm mưu, thủ đoạn và hành động kích động, xuyên tạc bản chất dân chủ, kỷ cương xã hội, đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta mà Đảng ta, Bác Hồ và Nhân dân đã lựa chọn.

Nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa “thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội” hiện nay đòi hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, trong đó vai trò của Quân đội là rất quan trọng, nhằm phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, để sớm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc với những mục tiêu mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định./.

ST.

Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại

Ðại hội XIII của Ðảng xác định: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”. Đây là chủ trương mới cần thấu triệt để thực hiện có hiệu quả cao.

Các kỳ đại hội trước, Đảng đề cập: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội”; “kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại”, nhưng chưa thật rõ kết hợp giữa kinh tế, văn hóa, xã hội với đối ngoại và đối ngoại với kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo thành sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốcĐến Đại hội XIII, Đảng đã “Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, với chiến lược bảo vệ Tổ quốc; trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể. Đây là sự phát triển tư duy mới của Đảng về nội dung giải pháp tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đảng tiếp tục bổ sung làm rõ hơn về nội hàm sự kết hợp không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà còn cả trên lĩnh vực văn hóa, xã hội, đối ngoại với kinh tế, văn hóa, xã hội và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Để thực hiện thắng lợi chủ trương trên cần nhận thức rõ một số nội dung sau:

Một là, củng cố quốc phòng, an ninh, nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với mục tiêu là: “Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trước hết, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài hợp tác làm ăn lâu dài. Điều này chỉ có thể đạt được dựa trên các kết quả củng cố quốc phòng, an ninh. Đồng thời, tạo điều kiện, cơ hội cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với bảo vệ, phát triển bền vững có hiệu quả ở các khu, vùng kinh tế trọng điểm, địa bàn chiến lược, vùng biên giới, biển, đảo. Giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia trong các mối quan hệ quốc tế, bảo đảm cho kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển với tăng cường mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, chú trọng hợp tác kinh tế biển với các nước có thế mạnh, tạo đan xen lợi ích.

Hai là, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Trong đó, cần củng cố tiềm lực chính trị - tinh thần, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy lòng yêu nước, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kết hợp xây dựng, củng cố tiềm lực kinh tế, văn hóa, xã hội trong Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc và các chiến lược chuyên ngành. Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh gắn với công nghiệp quốc gia theo hướng tự chủ, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại; kết hợp quốc phòng - kinh tế ở vùng, khu kinh tế trọng điểm, địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo,…  bảo vệ chủ quyền biển, đảo với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại mở rộng kinh tế biển, đảo nhất là ở quần đảo Trường Sa, DK1. Cùng với đó, “Xây dựng, củng cố đường biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; nâng cao năng lực thực thi pháp luật của các lực lượng làm nhiệm vụ ở biên giới, biển, đảo”. Tăng cường tiềm lực khoa học - công nghệ quốc phòng, an ninh với ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ của nền kinh tế vào lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trong nghiên cứu, ứng dụng sửa chữa, cải tiến, làm chủ công nghệ sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang, trước hết là lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. 

Ba là, củng cố lực lượng quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Kết hợp trong xây dựng lực lượng vũ trang với lực lượng nghiên cứu khoa học, nhân lực chất lượng cao, lưỡng dụng cho cả mục tiêu quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Chú trọng bồi dưỡng nâng cao nhận thức của nhân dân về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc, nâng cao dân trí, kiến thức pháp luật, chất lượng lực lượng của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân với chất lượng nguồn nhân lực cho kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Củng cố, xây dựng lực lượng quốc phòng, an ninh, trọng tâm xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội, Công an cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đồng thời, củng cố dân quân tự vệ ở các khu, vùng kinh tế trọng điểm, biên giới, biển, đảo vững mạnh. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu chất lượng cao, chú trọng lực lượng dân quân biển…; lực lượng Công an cơ sở đáp ứng nhiệm vụ an ninh, trật tự ở cơ sở; củng cố các khu kinh tế - quốc phòng trên các địa bàn chiến lược với bố trí các cụm dân cư ổn định, giúp dân sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, ưu tiên vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo.

Bốn là, củng cố thế trận quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Muốn thế cần gắn với quy hoạch của quốc gia, vùng, từng địa phương theo hướng kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, phòng thủ quân khu với xây dựng các công trình phòng thủ dân sự; bố trí lực lượng vũ trang gắn với các cơ sở chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Kết hợp xây dựng cơ sở hạ tầng trên các tuyến đảo gần bờ và xa bờ để tiếp tục đưa người dân ra làm ăn và cư trú ổn định lâu dài, tạo tiền đề xây dựng các căn cứ hậu cần - kỹ thuật, dịch vụ kỹ thuật đóng và sửa tàu biển, hậu cần nghề cá vùng biển, đảo. Bảo vệ, hỗ trợ ngư dân, doanh nghiệp hoạt động dài ngày trên biển, đảo. Củng cố quốc phòng, an ninh ở khu vực phòng thủ luôn gắn với thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phát triển các khu kinh tế - quốc phòng, quốc phòng - kinh tế. Kết hợp đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ kinh tế, văn hóa, xã hội với xây dựng khu vực phòng thủ biển, đảo, biên giới, bảo vệ đường biên cột mốc, xây dựng căn cứ hậu phương với quy hoạch, bố trí lại các điểm, cụm dân cư, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, “thế trận lòng dân” vững chắc, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Xây dựng công trình phòng thủ quân sự với dân sự ở các tỉnh, thành phố, địa bàn trọng điểm, chiến lược, bảo đảm trong thời bình có khả năng tự lực giải quyết những tình huống ở địa phương theo phương châm “4 tại chỗ”; khi xảy ra chiến tranh chủ động đánh địch ngay từ đầu, theo phương châm cấp nào giữ cấp đó. 

Năm là, tăng cường quốc phòng, an ninh với mở rộng hợp tác quốc tế, đấu tranh quốc phòng gắn với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Hợp tác về quốc phòng, an ninh tạo thời cơ thuận lợi cho hợp tác quốc tế ổn định, bền vững, đi vào chiều sâu, tạo điều kiện cho hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, thu hút nguồn lực, nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ tiên tiến. Nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế thương mại của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh, mở rộng xuất nhập khẩu sản phẩm quốc phòng và kinh tế, viễn thông,… làm cho thị trường hàng hóa phục vụ quốc phòng, an ninh, kinh tế ngày càng phong phú hơn, có điều kiện đầu tư, đổi mới công nghệ, từng bước hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang, đẩy nhanh hiện đại hóa Quân đội và Công an. Lựa chọn đối tác có tiềm năng về khoa học - công nghệ tiên tiến, vận dụng linh hoạt hình thức hợp tác đa phương và song phương toàn diện, song cần tập trung vào các lĩnh vực khắc phục hậu quả chiến tranh; tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; quân y; phòng, chống dịch bệnh; đào tạo; nghiên cứu khoa học; công nghiệp quốc phòng, an ninh; an ninh biển; hợp tác huấn luyện, diễn tập, tuần tra chung trên biển. Đấu tranh phòng, chống các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống. Tăng cường hợp tác với các đối tác có thế mạnh, giàu tiềm năng về phát triển kinh tế biển. Đối ngoại quốc phòng và phối hợp chặt chẽ với lực lượng bảo vệ biên giới nước bạn xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển. Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc trên một số lĩnh vực: công binh, quân y, thông tin…, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm”, “từ xa”, nâng cao vị thế của Quân đội, đất nước. Tăng cường hợp tác với đấu tranh kinh tế nhằm bảo vệ quyền lợi của người sản xuất và tiêu dùng trong nước, cũng như hàng hóa của nước ta trên trường quốc tế; đảm bảo cho các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện đúng cam kết phù hợp với luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam; bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài và tranh thủ tối đa nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài để phát triển đất nước; bảo vệ tài nguyên, môi trường phát triển kinh tế biển bền vững; an ninh nguồn nước, nhất là sông Mê Công. Tăng cường quốc phòng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. 

Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại là vấn đề rộng, cần nhận thức đầy đủ, thực hiện nghiêm túc quan điểm của Đảng về mối quan hệ hữu cơ của các thành tố này, góp phần đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống./.

ST.