Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2024

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU ĐÒI BỎ QUY ĐỊNH SỞ HỮU TOÀN DÂN VỀ ĐẤT ĐAI

 


Tại Đại hội XIII, Đảng ta đề ra nhiều chủ trương mới đối với sự phát triển đất nước và tháo gỡ những vướng mắc của quá trình phát triển, trong đó có những vướng mắc về thể chế quản lý đất đai và giải quyết quan hệ đất đai. Đảng ta chủ trương tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế về quản lý, sử dụng đất đai cho phù hợp với tình hình phát triển mới. Cụ thể hóa tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 16-6-2022, “Về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao”, trong đó nêu rõ quan điểm: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.

Trước tình hình nêu trên, lợi dụng một số hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện quản lý và sử dụng đất đai, các thế lực thù địch ra sức truyền bá các luận điệu sai trái, đòi bỏ quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, đi ngược lại lợi ích của nhân dân.

Trước hết, cần thấy rõ rằng, luận điệu đòi bỏ quy định sở hữu toàn dân về đất đai không nằm ngoài mưu đồ thâm độc của các thế lực thù địch là gây chia rẽ trong tư tưởng, nhận thức của nhân dân về sự đúng đắn, khoa học của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Họ biết rằng, xóa bỏ được quan điểm sở hữu toàn dân về đất đai sẽ góp phần xóa bỏ cơ sở vững chắc của việc thực hiện chế độ dân chủ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Khi đất đai được tư nhân hóa sẽ dẫn tới tình trạng đầu cơ, các thế lực có thể thâu tóm, tích tụ đất đai ở một số ít thành viên trong xã hội và do đó, làm gia tăng sự phân hóa, rối loạn xã hội, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Từ đó, gây hoang mang, chia rẽ trong nội bộ nhân dân, gieo rắc nghi ngờ và làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, hòng từng bước tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Có thể nói, âm mưu đòi xóa bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai không nằm ngoài tổng thể chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, hòng phá hoại sự phát triển của đất nước ta. Không những thế, việc kêu gọi tư nhân hóa đất đai còn là thủ đoạn để xóa nhòa lịch sử, làm phai nhạt truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông ta. Các thế lực thù địch muốn lợi dụng vấn đề đất đai để tạo ra những “điểm nóng” phức tạp, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ các tôn giáo, gây rối loạn, bất ổn ở nhiều nơi. Từ đó, tạo cớ để móc nối với các phần tử cơ hội, phản động ở trong nước cũng như các phần tử phản động lưu vong ở nước ngoài, gây dựng thanh thế và đánh lạc hướng dư luận quốc tế, làm giảm sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với sự phát triển ổn định của Việt Nam. Luận điệu đòi xóa bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của các thế lực thù địch còn nhằm mục đích gây hoang mang trong một bộ phận người dân đang chịu tác động không mong muốn trong quá trình huy động nguồn lực đất đai cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, lợi dụng sự hiểu biết chưa thấu đáo của một số ít người dân đối với chính sách, pháp luật về đất đai của Nhà nước để gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Trong những luận điệu xuyên tạc và đòi xóa bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, các thế lực thù địch viện dẫn một số ít hạn chế, yếu kém và sai phạm của cán bộ, công chức nhà nước trong quản lý, sử dụng đất đai, hay một vài hiện tượng khiếu kiện vượt cấp, khiếu kiện kéo dài của nhân dân về đất đai... để xuyên tạc rằng, chính chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã gây ra những hệ lụy như vậy. Họ thực hiện các kỹ nghệ thổi phồng một số hiện tượng cá biệt để xuyên tạc bản chất của vấn đề, nhập nhèm giữa biểu hiện và nội dung của sự việc, đánh đồng một số hạn chế, yếu kém trong quản lý nhà nước về đất đai với bản chất của cả hệ thống chính trị. Không dừng lại ở đó, họ còn tranh thủ lợi dụng một số “điểm nóng” trong quản lý, sử dụng đất đai do lịch sử để lại, đất đai liên quan đến cơ sở tôn giáo, tâm linh để câu móc với các phần tử bất mãn chế độ, các phần tử cơ hội ở trong nước cũng như lưu vong ở nước ngoài, lôi kéo các đài phát thanh, các kênh truyền thông xã hội vào vòng xoáy mập mờ, nhằm tạo ra cơn bão nhiễu thông tin và các cú sốc truyền thông, kích động gây bức xúc trong dư luận xã hội. Với nhiều thủ đoạn như vậy, họ cố tình làm phức tạp tình hình quản lý và sử dụng đất đai ở nước ta.

Gượng gạo thay các luận điệu đang ra sức kêu gọi xóa bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai! Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước là bằng chứng đanh thép bác bỏ các luận điệu này. Trong giai đoạn vừa qua, xảy ra hiện tượng một số ít cán bộ, công chức mắc sai phạm trong quản lý đất đai, là do bản thân cán bộ, công chức đó không thực hiện đúng nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Thực tế cho thấy, ở nơi nào, khi nào vận dụng đúng nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, tách bạch rõ quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai, thì ở đó, khi đó có sự phát triển ổn định và sự tin tưởng của nhân dân. Điều đó có ý nghĩa rất rõ ràng rằng, sở hữu toàn dân về đất đai là một chế độ sở hữu tiến bộ và toàn diện, phù hợp với sự phát triển của xã hội Việt Nam mà không thể bác bỏ, không thể thay đổi. Vì vậy, các thế lực thù địch dù có cố gắng đưa ra các luận điệu sai trái, xuyên tạc về vấn đề này thì cũng sẽ bị vạch trần và bác bỏ một cách triệt để./.

TBQL 17

 

DỰ BÁO THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MANG

 


Dự báo trong những năm tới, các thế lực thù địch, nhất là số đối tượng phản động, phần tử cơ hội chính trị sẽ tiếp tục triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, trắng trợn hơn. Chúng sử dụng phổ biến nhất là các phương thức liên lạc qua giải pháp cung cấp nội dung, như hình ảnh, tin nhắn, gọi điện cho người dùng (OTT) để lập hội kín, nhóm kín trên không gian mạng, từ đó móc nối, lôi kéo thành viên tham gia. Thông qua các trang mạng xã hội, như Zalo, Facebook, Youtube... các đối tượng này tổ chức các lớp học trực tuyến về cái gọi là “xã hội dân sự”, “dân chủ, nhân quyền”, tuyên truyền về cái gọi là “phương pháp đấu tranh bất bạo động”. Chúng triệt để lợi dụng các diễn đàn trên không gian mạng nhằm tác động, chuyển hóa tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; lợi dụng các sự kiện chính trị, xã hội trong và ngoài nước để bóp méo, xuyên tạc với thủ đoạn hết sức tinh vi, hòng kích động, thúc đẩy các luồng dư luận trái chiều, lôi kéo các tầng lớp nhân dân tham gia, gây áp lực với chính quyền, từ đó thực hiện âm mưu chống phá và lật đổ chế độ... Vì vậy, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng tiếp tục diễn ra phức tạp và ngày càng quyết liệt; trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trên trận tuyến này cũng sẽ ngày càng nặng nề hơn. Theo đó, xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vẫn là một trong những chủ trương lớn, đúng đắn, vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính thường xuyên, lâu dài; đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý của Nhà nước trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.

Đây là vấn đề cơ bản, quan trọng, xuyên suốt để xây dựng thành công “thế trận lòng dân” trên không gian mạng, giữ vai trò định hướng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời, là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị. Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương cần nhận thức rõ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; từ đó, đề cao vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện.

Cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng; sự quản lý của chính quyền và vai trò trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong triển khai, tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tập trung xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách; kiện toàn tổ chức, bộ máy của các cơ quan quản lý nhà nước về không gian mạng và thực hiện nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng. Coi trọng việc thực thi pháp luật về công nghệ thông tin, viễn thông, an toàn thông tin mạng từ Trung ương đến địa phương; xây dựng và hoàn thiện cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin và quy trình phối hợp xử lý thông tin chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.

Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn xã hội và từng người dân đối với nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.

Cấp ủy, chính quyền các cấp, cơ quan, đơn vị cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng; cơ sở lý luận, thực tiễn của nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng. Tuyên truyền về kết quả đạt được và hạn chế, bất cập; nắm chắc nội dung, yêu cầu, thấy rõ thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đang đặt ra... Trên cơ sở đó, làm cho mọi tổ chức, lực lượng và toàn xã hội nhận thức rõ đây là chủ trương lớn, lâu dài, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta; là yêu cầu khách quan để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới; là nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và của cả hệ thống chính trị.

Công tác tuyên truyền, giáo dục cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, đồng bộ, toàn diện và có chiều sâu; chú trọng đổi mới nội dung, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục phù hợp với từng đối tượng; gắn với phong trào thi đua yêu nước và các phong trào, cuộc vận động của các cấp, các ngành để thu hút đông đảo mọi người tham gia, tạo ra các hoạt động sôi nổi, có sức lan tỏa mạnh mẽ. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục thường xuyên với giáo dục chuyên đề gắn với các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Tận dụng thế mạnh không gian mạng và phát huy vai trò của cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông, đội ngũ giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên, các thiết chế văn hóa ở cơ sở để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể nhân dân, doanh nghiệp và toàn xã hội; xác định rõ và thực hiện tốt nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.

Trước hết, cần nhận thức rõ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, lực lượng; từ đó, tăng cường phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, trong đó cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là lực lượng tuyên giáo các cấp, lực lượng quân đội và công an đóng vai trò tiên phong, nòng cốt, xung kích đi đầu. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp; khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tinh thần cảnh giác, hình thành phong trào hành động cách mạng sâu rộng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, giữa Trung ương và địa phương nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các “binh chủng” cùng tham gia. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, văn hóa, văn nghệ...; nâng cao vai trò trách nhiệm của cơ quan thông tấn, báo chí; đồng thời, khai thác ưu thế và phát huy sức mạnh tổng hợp của các công cụ, phương tiện tiến hành công tác tư tưởng - văn hóa của toàn xã hội trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đặc biệt, cần tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ này thường xuyên, liên tục và rộng khắp từ Trung ương đến địa phương, ở mọi cấp, mọi ngành, cơ quan, đơn vị. Quan tâm xây dựng các lực lượng chuyên trách, mà nòng cốt là các chuyên gia, nhà khoa học, ban chỉ đạo 35 các cấp, lực lượng đấu tranh trên không gian mạng. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp... cùng tham gia xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.

Các cơ quan chức năng cần chủ động nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng của các thế lực thù địch; đồng thời, thường xuyên quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp của Đảng, Nhà nước về đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”; vạch trần những quan điểm sai trái, thù địch, những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị trên không gian mạng hòng chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Tập trung xây dựng và đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, bồi đắp niềm tin, sự kiên định, vững vàng về chính trị, tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, không để sơ hở khiến các thế lực thù địch lợi dụng kích động. Nâng cao năng lực phòng, chống, “tự đề kháng”, “tự miễn dịch” trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trước âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng; nâng cao trình độ khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội một cách hiệu quả, thiết thực và lành mạnh.

Chủ động nắm bắt, đánh giá và dự báo chính xác tình hình tư tưởng, dư luận trong cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân; chỉ đạo, xử lý kịp thời các vấn đề bức xúc nảy sinh ở từng địa bàn để giữ vững ổn định chính trị - xã hội, không để hình thành các “điểm nóng”, tạo cớ cho các thế lực thù địch chống phá. Chú trọng tới thông tin trái chiều, tăng cường đối thoại, lắng nghe thông tin từ cơ sở. Thường xuyên lãnh đạo, quản lý, nắm chắc và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống thông tin đại chúng, kịp thời cung cấp thông tin, định hướng nhận thức, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, tạo dư luận tích cực và đồng thuận trong xã hội, lấy cái đẹp dẹp cái xấu; đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao, hấp dẫn. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, làm sáng tỏ hơn nữa cơ sở khoa học và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng... Xây dựng các luận cứ, luận điểm mang tính khoa học, sắc bén, thuyết phục trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. 

Năm là, thường xuyên làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.

Thực tiễn, kinh nghiệm tổ chức hoạt động này trong những năm qua cho thấy: Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương nào làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm thì việc xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nơi đó có được hiệu quả thiết thực. Ngược lại, nơi nào làm không tốt thì có nhiều hạn chế, yếu kém.

Để phát huy ưu điểm và khắc phục kịp thời những hạn chế, yếu kém, một mặt, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương cần coi trọng làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, đánh giá đúng ưu điểm cũng như hạn chế, khuyết điểm và chỉ rõ nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện; phát hiện tập thể, cá nhân và những nơi làm tốt, có cách làm tốt, mô hình hay, sáng tạo, hiệu quả nhằm kịp thời biểu dương, phổ biến, nhân rộng trên phạm vi cả nước để tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và mọi người học tập, làm theo; mặt khác, kiên quyết chấn chỉnh, nhắc nhở tập thể, cá nhân có nhận thức lệch lạc, có khuyết điểm và biểu hiện vi phạm các quy định, hướng dẫn, hoặc những nơi làm chưa tốt, hiệu quả chưa cao, chưa tạo thành phong trào rộng khắp trong mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương. Cấp ủy, chính quyền các cấp cần đề cao vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm. Tuyệt đối tránh những biểu hiện hình thức, làm qua loa, đại khái; đồng thời, qua sơ kết, tổng kết phải đúc rút thành những bài học kinh nghiệm quý để tiếp tục vận dụng vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện ở các cấp, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương và từng cá nhân trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thực hiện tốt những nhiệm vụ và giải pháp nói trên là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, của cả hệ thống chính trị, mà trước hết và chủ yếu là của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương và của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu./.

TBQL 17

XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” VỮNG CHẮC ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 


Xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ trương đúng đắn, nhất quán, thể hiện tư duy mới, tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Để thực hiện chủ trương này một cách hiệu quả, cần kiên trì, kiên quyết, triển khai đồng bộ các giải pháp; có lộ trình cụ thể, tiến hành thận trọng, từng bước, chủ động bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật và kịp thời phát hiện, giải quyết khó khăn, vướng mắc ngay từ cơ sở.

Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, nhất là sự bùng nổ của viễn thông, internet, không gian mạng trở thành môi trường đặc biệt để các quốc gia khai thác, phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc. Đối với Việt Nam, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin là một trong những cơ hội để đi tắt, đón đầu, phát triển đất nước nhanh và bền vững dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Tuy nhiên, không gian mạng cũng là môi trường để các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng để đăng tải nội dung chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, chúng sử dụng không gian mạng như một công cụ đắc lực để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng bằng nhiều thủ đoạn mới ngày càng tinh vi, xảo quyệt, trắng trợn hơn.

Thực hiện chủ trương của Đảng, trong những năm qua, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nhiều giải pháp về công tác tổ chức, lực lượng, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành; chú trọng phát huy tốt vai trò của các tổ chức, lực lượng, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trong xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các cơ quan chức năng đã chủ động làm tốt công tác nghiên cứu chiến lược, nắm bắt, đánh giá, dự báo đúng tình hình, nhất là những vấn đề về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước nhiều giải pháp có ý nghĩa chiến lược trong thực hiện nhiệm vụ này. Chúng ta đã phát huy sức mạnh tổng hợp của cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông, vận dụng tổng hợp hình thức, phương pháp tuyên truyền, đấu tranh; kết hợp chặt chẽ với đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền miệng, tuyên truyền đối ngoại, tuyên truyền trên internet, mạng xã hội và các kênh truyền thông khác, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời, chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với phòng ngừa, tích cực đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc, sai trái, thù địch trên không gian mạng; kết hợp phòng thủ tích cực, vững chắc với tiến công đáp trả, kịp thời ngăn chặn, xử lý các tình huống trên không gian mạng một cách linh hoạt và hiệu quả, không để bị động, bất ngờ. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “... công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, chuyển biến tích cực”.

Cùng với đó, Nhà nước đã ban hành, sửa đổi hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm an toàn, an ninh mạng; đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước thống nhất quản lý, các ban, bộ, ngành trung ương tham mưu, cùng các địa phương tổ chức thực hiện. Đặc biệt, Nhà nước đã kịp thời bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm xử lý nghiêm tổ chức và cá nhân đưa tin sai sự thật, xấu, độc trên không gian mạng. Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp đã chú trọng khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, củng cố niềm tin của người dân vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao ý thức trách nhiệm, trình độ nhận thức, ý chí của người dân; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, mang lại hiệu quả rõ rệt; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của người dân và thường xuyên chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần quy tụ, tập hợp các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đó là nền tảng cơ bản để xây dựng thành công “thế trận lòng dân” trên không gian mạng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, nhiệm vụ xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn có mặt hạn chế: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy, chính quyền đối với nhiệm vụ quan trọng này chưa được quan tâm đúng mức, tổ chức thực hiện chưa quyết liệt và chưa hiệu quả. Một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa huy động và phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị; vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên và người dân thờ ơ, đứng ngoài cuộc, có biểu hiện né tránh, hoặc coi đây chỉ là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng. Công tác thông tin, tuyên truyền về một số chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng “thế trận lòng dân” trên không gian mạng chưa thường xuyên, kịp thời, chưa đáp ứng được sự mong đợi của nhân dân. “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”. Trước các thủ đoạn, phương thức ngày càng tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, một bộ phận cán bộ, đảng viên và tầng lớp nhân dân có biểu hiện chủ quan, lơ là, mất cảnh giác; chưa thể hiện tinh thần trách nhiệm, chính kiến khi tham gia mạng xã hội, thiếu ý thức hành động phản bác những luận điệu xuyên tạc chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; thậm chí, một số người còn có biểu hiện lệch lạc về quan điểm trên internet, mạng xã hội, hoặc phụ họa, vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch tán phát các quan điểm sai trái, phản động./.

TBQL 17

 

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH VỚI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG QUYỀN CON NGƯỜI ĐỂ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

 


Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác âm mưu, thủ đoạn lợi dụng quyền con người của các thế lực thù địch, phản động, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Một là, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người hiệu quả trên thực tế, điều kiện đầu tiên là cán bộ, đảng viên và nhân dân phải nắm vững chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về quyền con người. Cần tạo sự chuyển biến trong nhận thức về quyền con người qua các kênh tuyên truyền và giáo dục, qua đó, những âm mưu, thủ đoạn và hoạt động lợi dụng, xuyên tạc của các thế lực thù địch về thành tựu bảo đảm quyền con người, xâm phạm đến quyền con người, đến lợi ích của nhân dân Việt Nam dễ được nhận diện và có căn cứ để đấu tranh, phản bác hiệu quả. Thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục, không ngừng củng cố nhận thức chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, tự giác, tích cực tham gia phòng ngừa, đấu tranh, giữ vững “thế trận lòng dân”, có khả năng nhận diện và “tự miễn dịch” trước các thông tin xấu, độc. Tăng cường và nâng cao hiệu quả phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc, thực hiện mỗi cán bộ, đảng viên một là chiến sĩ trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng; thực hành phát huy dân chủ và quyền con người.

Hai là, đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, coi trọng và thúc đẩy các quyền con người, coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội, “đưa lực lượng sản xuất phát triển ngày càng nhanh chóng và tiến lên hiện đại là yêu cầu cơ bản và cấp bách để thực hiện có hiệu quả chiến lược con người”. Làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc là một trong những minh chứng sinh động, thuyết phục nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, vô căn cứ của các thế lực thù địch về thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo đảm ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Đồng thời, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với người có công với cách mạng; quan tâm đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Các chính sách cần chú trọng đúng mức đến các quan điểm và nguyện vọng của các nhóm xã hội.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện chính sách xã hội, pháp luật về quyền con người, trong đó, con người là trung tâm, là chủ thể, là động lực và là mục tiêu của sự phát triển và tiến bộ xã hội. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, phù hợp với nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của người dân, phấn đấu vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân. Tiếp tục củng cố hệ thống các quyền con người, quyền công dân đã được hiến định, để mọi người dân đều được hưởng thụ các thành quả phát triển kinh tế, xã hội của đất nước một cách công bằng thông qua việc được tiếp cận các cơ hội bình đẳng và phù hợp, bảo đảm sự tương thích với các nguyên tắc, tiêu chuẩn pháp luật quốc tế về quyền con người. Việc hoàn thiện pháp luật đó cũng là kiến tạo cơ sở pháp lý và chính trị cho mọi hoạt động khác vì sự phát triển của con người Việt Nam. Bên cạnh đó, Nhà nước cần hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện, giám sát thực hiện và xử lý các vi phạm quyền con người để bảo đảm tất cả quyền con người đều được tôn trọng, bảo đảm trong thực tế.

Bốn là, mở rộng quan hệ quốc tế trong nghiên cứu và thực thi quyền con người. Việc bảo vệ quyền con người ở các quốc gia được coi như một điều kiện quan trọng trong quá trình hợp tác quốc tế hiện nay. Do đó, trong nhận thức và giải quyết vấn đề quyền con người, cần quán triệt nguyên tắc thống nhất tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người khi xem xét những vấn đề thực tiễn về quyền con người.

Việc thực hiện dân chủ và quyền con người còn tùy thuộc vào nhiều điều kiện, trước hết là trình độ phát triển kinh tế và điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi dân tộc trên tất cả các phương diện của đời sống. Các nước có chế độ chính trị khác nhau, trình độ phát triển khác nhau, không thể lấy quan niệm, thực tiễn của nước này, của dân tộc này về dân chủ và quyền con người áp đặt cho dân tộc khác, nước khác. Do đó, xây dựng và thúc đẩy đối thoại trên lĩnh vực dân chủ, quyền con người có ý nghĩa tích cực, góp phần nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, từng bước thu hẹp bất đồng với các đối tác quốc tế trong vấn đề quyền con người. Qua đối thoại cũng nhằm bác bỏ những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của các nhóm, cá nhân cực đoan trong và ngoài nước về tình hình quyền con người ở Việt Nam. Bên cạnh việc thực hiện cơ chế đối thoại chính thức với các nước, cần chủ động và tích cực đăng cai tổ chức các hội thảo quốc tế để các nhà chính trị và các nhà khoa học tham dự và thảo luận về các vấn đề liên quan đến quyền con người.

“Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, tôn trọng và bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán và xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Quyền con người luôn là quyền cơ bản và quan trọng nhất, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, nhận diện, vạch trần và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về thành tựu bảo đảm quyền con người có ý nghĩa quan trọng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm ổn định và sự phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay./.

TBQL 17

 

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG, XUYÊN TẠC CỦA, PHẢN ĐỘNG VỀ THÀNH TỰU BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

 


          Nhìn chung, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lợi dụng, xuyên tạc quyền con người, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam, hiện nay chủ yếu bao gồm: những người theo đường lối chính trị trái ngược với giá trị của chủ nghĩa xã hội; những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng, chính trị tại Việt Nam; các nhóm, hội, tổ chức phản động người Việt Nam ở nước ngoài; một số tổ chức phi chính phủ “khoác áo quyền con người”,... Những chiêu trò xuyên tạc của chúng thường được biểu hiện như sau:

Thứ nhất, cổ xúy cho những giá trị quyền con người phương Tây, nhân danh cái gọi là “quyền con người phổ quát”, coi phương Tây là trung tâm, chi phối quyền con người toàn thế giới, đồng thời các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền, cổ vũ cho luận điệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích cộng đồng, quốc gia”. Chúng cũng tìm cách khoét sâu những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý xã hội, những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng và công bằng xã hội nhằm cường điệu hóa các giá trị tư sản, coi quyền con người là sản phẩm của riêng giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản phương Tây. Chúng lợi dụng những vụ việc phức tạp nảy sinh trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng thổi phồng, bóp méo tình hình thực tế để xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, quyền con người, đàn áp dân tộc, tôn giáo nhằm kích động các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam, tạo cớ mở đường để bên ngoài can thiệp; phê phán, xuyên tạc rằng Nhà nước Việt Nam ngăn cản tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, tự do hội họp. Bên cạnh đó, chúng còn triệt để khai thác các vấn đề nhạy cảm, phức tạp, như tham nhũng, khiếu kiện, tội phạm, tệ nạn xã hội, tình hình dịch bệnh COVID-19, việc bắt, xử lý các đối tượng chống phá Nhà nước Việt Nam,... hòng vu khống Việt Nam vi phạm quyền con người.

Thứ hai, dựa trên thủ đoạn tuyệt đối hóa các quyền tự do cá nhân và coi đây là thước đo về dân chủ, quyền con người của một quốc gia, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tự cho mình quyền “can thiệp nhân đạo”, áp đặt những “chuẩn mực” quyền con người, nhân danh “tinh thần thời đại” và “giá trị phổ biến” đối với Việt Nam; tìm cách gắn “điều kiện”, “tiêu chuẩn” phi pháp về quyền con người trên nhiều lĩnh vực, như quan hệ ngoại giao, hợp tác kinh tế, thương mại, an ninh, quốc phòng, văn hóa, giáo dục,... hòng gây sức ép yêu cầu Việt Nam cải cách thể chế kinh tế, chính trị, pháp lý theo cái gọi là chuẩn mực, giá trị dân chủ, quyền con người kiểu phương Tây. Các thế lực bên ngoài còn thông qua các tổ chức phi chính phủ nước ngoài triển khai các dự án hỗ trợ cải cách tư pháp để tìm cách can thiệp vào quá trình xây dựng, sửa đổi pháp luật Việt Nam và gây sức ép đòi mở rộng các quyền và tự do cơ bản của công dân theo tiêu chí của họ, tạo hành lang cho các tổ chức và phần tử chống đối trong nước hoạt động.

Thứ ba, các thế lực thù địch tìm cách tài trợ, hậu thuẫn về vật chất lẫn tinh thần cho các phần tử, tổ chức chống Đảng, Nhà nước Việt Nam với chiêu bài “bảo vệ quyền con người” ở cả trong và ngoài nước, hình thành lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng và Nhà nước Việt Nam; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc; từng bước làm mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Ở bên trong, chúng tìm cách móc nối các phần tử bất mãn; mua chuộc, ép buộc những người nhẹ dạ tham gia để làm bình phong, lá chắn; tập hợp những đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, cái gọi là những “nhà dân chủ” tự xưng, để hình thành các tổ chức dưới danh nghĩa quyền con người, như “Nhóm tuổi trẻ yêu nước”, “Nhóm công dân tự do”, “Hội phụ nữ nhân quyền”,... Ở bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong ra sức thúc đẩy các hoạt động phi pháp, như kích động, chống đối, vận động các tổ chức quốc tế trao cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng vi phạm pháp luật bị bắt ở trong nước... nhằm làm cho các đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt hơn. Các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “trong đánh ra, ngoài tiến công vào” để lôi kéo lực lượng, tạo dựng “ngọn cờ” và thành lập các tổ chức chính trị phản động, chống phá Đảng và Nhà nước, thường được che giấu tinh vi dưới danh nghĩa “cứu tinh ngoại quốc”, “bảo vệ dân chủ” và “đấu tranh vì nhân quyền”... Tuy nhiên, thực chất là gây rối, phá hoại, tạo mâu thuẫn trong nội bộ và can thiệp vào Việt Nam.

          Thứ tư, xâm nhập, kích động, tuyên truyền hòng thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nước ta sang tư tưởng quyền con người tư sản là cách thức các thế lực thù địch, phản động ưu tiên nhằm làm “chệch hướng” nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ trong nội bộ. Chúng xác định rằng, lực lượng bên ngoài là tác nhân quan trọng; lực lượng “ngầm” bên trong nội bộ Đảng, Nhà nước Việt Nam đóng vai trò quyết định, nòng cốt, chúng “móc nối và tìm cách  mua chuộc bằng tiền, hiện vật có giá trị để làm thay đổi tư tưởng, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một số cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cơ quan trọng yếu nhằm thay đổi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước theo hướng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm chệch hướng XHCN trong bảo đảm dân chủ, nhân quyền và quá trình đổi mới đất nước nói chung”. Bên cạnh đó, chúng cũng ráo riết lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình chống tham nhũng, tiêu cực hòng kích động, gây chia rẽ, tạo nghi ngờ trong các tầng lớp nhân dân; gây mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, Nhà nước. Nhằm can thiệp sâu hơn vào nội bộ Việt Nam, chúng thành lập một số nhóm tư vấn ở nước ngoài, qua đó để tác động và thúc đẩy Việt Nam cải cách quyền con người theo hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và Nhà nước. Ngoài ra, các thế lực thù địch tích cực lôi kéo, thu hút và tiếp cận các bộ, ngành, viện nghiên cứu để móc nối và tác động vào nội bộ Việt Nam, mưu toan hòng “chuyển hóa” một số chuyên gia đầu ngành và nhà khoa học thông qua con đường “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” để đưa cái gọi là các giá trị quyền con người phương Tây vào Việt Nam. Chúng sử dụng nhiều hình thức trá hình, như con đường “ngoại giao thân thiện”, “hỗ trợ nhân đạo”,... để đưa người vào Việt Nam với các danh nghĩa khác nhau, với mục đích tìm hiểu tình hình, thu thập thông tin, móc nối và lôi kéo các lực lượng “ngầm” gây rối ở một số địa phương, phản ánh bóp méo sự thật, gây hoang mang, nghi ngờ và gây mâu thuẫn dân tộc, tạo điều kiện thúc đẩy “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” hòng can thiệp vào nội bộ của Việt Nam./.

TBQL 17

PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG VỀ THÀNH TỰU BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

 


Quyền của con người với tư cách là hiện thân của tự do”, là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử, “phản ánh quá trình nhân loại đấu tranh tự giải phóng mình khỏi tình trạng nô dịch, bóc lột và phụ thuộc, vươn tới cuộc sống xứng đáng với danh dự và phẩm giá con người”. Tuy nhiên, quyền con người cũng là vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động thường xuyên lợi dụng, xuyên tạc, hòng gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, mưu toan xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam lựa chọn và xây dựng. Nhằm thực hiện âm mưu này, chúng không ngừng tìm cách phủ nhận những thành tựu về bảo đảm quyền con người mà Việt Nam đã đạt được trong nhiều năm qua; do đó, việc nhận diện, đấu tranh và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng, đòi hỏi cả hệ thống chính trị và toàn dân cần đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, phát huy trách nhiệm và quyết tâm chính trị, với tầm nhìn toàn diện, đồng bộ và giải pháp khoa học, thiết thực.

          Thứ nhất, quyền con người là giá trị chung của nhân loại, là mục tiêu hướng tới của mọi xã hội dân chủ và văn minh. Quyền con người là phạm trù tổng hợp, phức tạp, nên có nhiều quan niệm khác nhau, tuy nhiên quyền con người không trừu tượng, mà luôn gắn với cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột và “phụ thuộc vào bản chất của phương thức sản xuất và bản chất chính trị - xã hội với quan hệ sản xuất thống trị quy định nên chế độ chính trị - xã hội ấy”, “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ quát nhằm bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động và sự lãng quên làm tổn hại đến các quyền tự do cơ bản và phẩm giá con người”...

          Tư tưởng quyền con người xuất hiện từ chế độ thị tộc, nhưng phải đến thời kỳ cận đại mới được thảo luận sôi nổi và được đề cập như một học thuyết thực sự. Vì vậy, quyền con người thường bị lợi dụng nhằm gây hiểu lầm rằng, nó là thành tựu của riêng văn minh phương Tây. Cùng với sự ra đời của Liên hợp quốc năm 1945, những văn kiện quốc tế về quyền con người cũng được xây dựng và phát triển (Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948, Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ năm 1952, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc năm 1965, Công ước về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) năm 1966, Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR) năm 1966...), quyền con người được khẳng định là những giá trị bẩm sinh, vốn có của mỗi cá nhân, được ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật quốc gia và quốc tế; là những giá trị, ngôn ngữ và tiêu chuẩn chung của nhân loại. Thực tế, quyền con người trước khi chuyển hóa vào hiện thực trong cuộc sống, “phải trở thành quan niệm của chính con người, nghĩa là được con người coi là cái thiết yếu, cái cần phải như vậy - cần cho sự tồn tại”.

Ở Việt Nam, Đảng ta luôn coi quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại. Việc chỉ rõ nguồn gốc quyền con người là cơ sở bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc, coi quyền con người như một phát kiến, sản phẩm của riêng giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản phương Tây; góp phần quan trọng trong đấu tranh chống các quan điểm cực đoan, phiến diện của các lực lượng thù địch, phản động luôn sử dụng thủ đoạn áp đặt cái gọi là “chuẩn mực” quyền con người tư sản vào các nước không “cùng quỹ đạo” hòng xóa bỏ chế độ chính trị ở những quốc gia này.

Thứ hai, quyền con người luôn gắn liền với quyền dân tộc tự quyết và chủ quyền quốc gia, gắn bó mật thiết trong toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử. Muốn có quyền con người, phải thực sự có chủ quyền quốc gia. Khi chủ quyền của một quốc gia, dân tộc bị xâm phạm, chà đạp thì không thể tồn tại các “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” của nhân dân. Ở cấp độ quốc tế, quyền dân tộc tự quyết được khẳng định trong Hiến chương Liên hợp quốc và được nhấn mạnh trong các văn kiện quốc tế, rằng: “Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết... Khước từ quyền dân tộc tự quyết là sự vi phạm quyền con người”. Vì vậy, không một quốc gia, không một tổ chức nào được phép tự coi mình là đại diện cho quyền con người toàn nhân loại, sử dụng cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền” hay “nhân quyền không biên giới” nhằm can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia có chủ quyền, bởi đó là hành động vi phạm nghiêm trọng quyền con người.

Đối với Việt Nam, thực tiễn lịch sử cho thấy, khi mất chủ quyền thì người dân không có tự do, dẫn đến các quyền con người bị chà đạp, “Thân phận người An Nam chỉ là thân phận người nông nô”. Do đó, để giành quyền tự do của mỗi cá nhân thì trước hết phải giành quyền tự do cho cả dân tộc. Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là nền tảng, là điều kiện quan trọng để thực hiện quyền con người. Chỉ đến khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Dân chủ Cộng hòa ra đời, địa vị của người dân Việt Nam mới được thay đổi từ nô lệ trở thành chủ nhân của một quốc gia độc lập, các quyền công dân của người Việt Nam lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp năm 1946. Gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, hiện nay Việt Nam đang từng bước thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” - đây chính là biểu hiện cao nhất và cụ thể nhất của quyền con người Việt Nam, của sự khẳng định chủ quyền quốc gia, dân tộc.

Thứ ba, quyền con người là giá trị phổ quát và mang tính tất yếu, song phải được ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật. Quyền con người dù được thừa nhận, song lại không mặc định được áp dụng trực tiếp trong xã hội, chỉ khi mang tính pháp lý, các quyền ấy mới chuyển thành những quyền con người mang đầy đủ giá trị hiện thực, và pháp luật chính là phương tiện để thực hiện quá trình chuyển hoá đó. Trên phạm vi thế giới, việc pháp điển hóa các quyền ấy thành các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế về quyền con người diễn ra một cách có hệ thống kể từ khi Liên hợp quốc ra đời. Theo đó, quyền con người đã trở thành một hệ thống tiêu chuẩn pháp luật quốc tế, và việc tôn trọng, bảo vệ các quyền con người là thước đo về trình độ văn minh của các nước và các dân tộc trên thế giới. Trong phạm vi quốc gia, việc bảo vệ quyền con người thể hiện ở việc ghi nhận các quyền trong pháp luật cùng với các thành quả phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội, qua đó, cũng là cách để một quốc gia tuyên bố với thế giới về hiện thực quyền con người của mình. Vì thế, không thể có cái gọi là “nhân quyền không biên giới”, nhân danh quyền con người để thực hiện các hành động bất hợp pháp, như xâm phạm chủ quyền và can thiệp vào công việc nội bộ của các nước.

Tại Việt Nam, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập cho đến nay, cả hệ thống chính trị Việt Nam luôn nỗ lực bảo đảm quyền con người. Cùng với sự phát triển của đất nước, những tiêu chuẩn về quyền con người càng được củng cố. Trên cơ sở này, Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, tham gia các điều ước quốc tế, phát triển kinh tế, bảo đảm công bằng nhằm thực hiện tiến bộ xã hội, mang lại những thành tựu quan trọng, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Thứ tư, quyền không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm cá nhân. Sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ được hiểu rằng, các quyền của con người chỉ ra những nghĩa vụ của xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu của mỗi cá nhân, đồng thời mỗi cá nhân phải tôn trọng và thực thi nghĩa vụ, trách nhiệm của mình với xã hội và cộng đồng. “Không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi”. “Ai cũng có nghĩa vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của mình có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ”... Điều này có nghĩa, mỗi cá nhân trong khi được hưởng thụ các quyền cần tôn trọng tự do của người khác và tôn trọng lợi ích của cộng đồng, cũng như vậy, “Nhà nước trong các chức năng của mình, vừa phải tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, vừa phải bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cũng như lợi ích chung của cả cộng đồng”. Mọi thành viên của xã hội đều có quyền và nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền và tự do của người khác. Do đó, tuyệt đối hóa quyền con người một cách máy móc mà không thấy nghĩa vụ cá nhân với cộng đồng và với xã hội là sai lầm.

Quan điểm quyền không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm cá nhân cũng được Đảng ta khẳng định: “Quyền dân chủ, tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân”. Năm 2005, Sách trắng Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam cũng khẳng định: “... các quyền và tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng”. Đây chính là cơ sở quan trọng để chúng ta bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm quyền con người./. 

TBQL 17

 

LỢI DỤNG HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN, NHÂN ĐẠO, THĂM THÂN, DU LỊCH, CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ (NGO)... ĐỂ LÔI KÉO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ CÓ ĐẠO CHỐNG PHÁ CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM

 


Đây là một trong những thủ đoạn mới mang tính hợp pháp, công khai mà các thế lực thù địch đã và đang sử dụng với mục đích hỗ trợ bọn phản động, cực đoan trên địa bàn hình thành các nhóm tổ chức, tạo dựng “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng và tiến hành các hoạt động phá hoại.

Thủ đoạn này rất tinh vi, khó nhận biết, bởi lẽ nó được núp dưới các hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện”... của các tổ chức NGO trá hình.

Sẽ không có gì phải lưu tâm khi các tổ chức này hoạt động theo đúng mục đích, tôn chỉ của nó. Vấn đề đáng chú ý là, các thế lực thù địch sử dụng những tổ chức này để thâm nhập vào các địa bàn chiến lược, khu vực nhạy cảm của nước ta để thu thập tình hình, báo cáo xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta; tiếp cận, chỉ đạo bọn phản động, cực đoan tiến hành các hoạt động tuyên truyền, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đòi “tự trị, ly khai” nhằm gây mất ổn định và tạo cớ can thiệp.

Hỗ trợ, chỉ đạo bọn phản động trong các tôn giáo sống ở nước ngoài xây dựng các tổ chức để tập hợp lực lượng, xâm nhập, phá hoại trên các địa bàn chiến lược, nhạy cảm ở nước ta. Nuôi dưỡng, chỉ đạo bọn phản động người dân tộc thiểu số có đạo lưu vong ở nước ngoài và mua chuộc, lôi kéo, hỗ trợ bọn phản động cực đoan trong nước, tạo dựng “ngọn cờ”, hình thành các tổ chức phản động để tập hợp lực lượng phá hoại cách mạng Việt Nam là thủ đoạn quen thuộc, xuyên suốt của các thế lực thù địch.

Các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi cách hỗ trợ, khuyến khích xây dựng các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo cả ở nước ngoài và trong nước để chống phá cách mạng Việt Nam như: “Tổ chức Đoàn kết Thiên chúa giáo toàn cầu (tổ chức quốc tế)”; “Uỷ ban Tự do tôn giáo quốc tế cho Việt Nam”, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất hải ngoại”, “Liên đoàn Công giáo người Việt tại Mỹ”... Các tổ chức này đang chuyển hướng hoạt động vào trong nước. Chúng ra sức cổ suý, hỗ trợ các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo ở trong nước để chống phá như: Tin lành Đề Ga (ở Tây Nguyên), Tin lành Vàng Chứ trong vùng đồng bào Mông (ở Tây Bắc), Thìn Hùng trong vùng đồng bào Dao (ở Tây Bắc)...

Điển hình, lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra năm 2016, một số chức sắc cực đoan trong Công giáo, với sự hậu thuẫn của các tổ chức phản động bên ngoài, đã tổ chức cho hàng ngàn giáo dân tuần hành, biểu tình gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, chiếm giữ quốc lộ, tỉnh lộ… Các hoạt động này đã gây tình hình phức tạp nghiêm trọng về an ninh trật tự, trực tiếp xâm hại đến hoạt động bình thường của chính quyền cơ sở, làm giảm sút niềm tin của một bộ phận chức sắc, tín đồ tôn giáo đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý Nhà nước của các cấp chính quyền./.

Tóm lại, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay là đa dạng, với tính chất rất nguy hiểm, vừa công khai, hợp pháp, vừa bí mật, bất hợp pháp cả trong nước và ngoài nước, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội với nhiều tổ chức, nhiều lực lượng… để đi đến mục tiêu cao hơn là loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, chia Việt Nam thành nhiều “quốc gia” trong sự khống chế của chúng.

Những thủ đoạn chống phá đó của các thế lực thù địch đã làm cho cuộc sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo, vùng sâu, vùng xa ở nước ta đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, các thủ đoạn chống phá đó của các thế lực thù địch có đạt được mục tiêu hay không còn phụ thuộc vào tinh thần cảnh giác, khả năng ngăn chặn, sự chủ động tiến công của ta./.

TBQL 17

 

LỢI DỤNG GIÁO LÝ, GIÁO LUẬT, NHỮNG KẺ ĐỨNG ĐẦU CỰC ĐOAN TRONG MỘT SỐ TÔN GIÁO VÀ HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT TÔN GIÁO ĐỂ KÍCH ĐỘNG TÍN ĐỒ CHỐNG LẠI CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

 


Mỗi tôn giáo đều có những giáo lý, giáo luật cụ thể riêng. Theo đó có các quy định tín đồ đến các cơ sở thờ tự để hành lễ, nghe giảng kinh kệ, đạo pháp… các linh mục, mục sư thay Chúa trời giảng Kinh thánh trong các ngày hành lễ; các hoà thượng, trưởng quản giảng về kinh kệ, Phật pháp…

Ở một số nơi đã xuất hiện việc lợi dụng các buổi hành lễ, cầu kinh, giảng đạo, làm sai tôn chỉ hành đạo, lồng các nội dung tuyên truyền, xuyên tạc và chống phá chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, làm cho tín đồ giảm lòng tin vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; mức độ cao hơn là làm theo sự điều khiển của các thế lực thù địch xâm hại lợi ích của quốc gia, dân tộc và lợi ích của chính quần chúng tín đồ các tôn giáo.

Lợi dụng và ủng hộ một số chức sắc, tín đồ tôn giáo cực đoan, quá khích để kích động chia rẽ các tôn giáo, giữa tôn giáo với dân tộc, với Đảng và Nhà nước. Chúng ra sức đẩy mạnh các hoạt động ngầm, cổ xuý các phần tử cực đoan trong các tôn giáo móc nối với nhau dự định cho ra đời tổ chức liên tôn giáo để hợp sức chống phá cách mạng như: Nguyễn Văn Lý (Công giáo), Thích Quảng Độ (Phật giáo), Lê Quang Liêm (Phật giáo Hoà Hảo)… ở đầu thế kỷ XXI.

Hiện nay, xuất hiện những kẻ chống đối quá khích, cực đoan như: Nguyễn Ngọc Nam Phong, Đinh Hữu Thoại, Đặng Hữu Nam… thường xuyên kích động số phần tử bất mãn chống đối chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của ta; kích động tư tưởng ly khai, tự trị nhằm mục tiêu tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước, chính quyền; lợi dụng những vấn đề lịch sử để lại như đất đai, nơi thờ tự để kích động các tín đồ đấu tranh đòi lại đất đai, chia rẽ đồng bào có đạo với đồng bào không có đạo…

Lợi dụng hoạt động tôn giáo để tập hợp lực lượng, kích động đòi ly khai, tự trị, sử dụng hệ thống nhà nguyện làm nơi tụ tập lực lượng, sở chỉ huy để phối hợp hoạt động chống phá.

Hiện nay, đáng chú ý là vấn đề “đạo hoá” dân tộc ở nhiều vùng dân tộc thiểu số ở nước ta. Đây là một trong những thủ đoạn thường xuyên, quen thuộc mà các thế lực thù địch đã sử dụng với nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới.

Với các dân tộc thiểu số Việt Nam chưa theo một tôn giáo nào thì việc “đạo hoá” càng có ý nghĩa quyết định đến khả năng lôi kéo, tập hợp dân chúng và hình thành các “khung chính quyền” ngầm núp dưới vỏ bọc tôn giáo, sử dụng hệ thống nhà nguyện Tin lành để hoạt động chống đối chính quyền.

Với những toan tính đó, trong những năm tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục tăng cường đạo hoá dân tộc, nhất là truyền đạo Tin lành với nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích chuyển hoá ý thức hệ tư tưởng của đồng bào các dân tộc từ lòng tin theo Đảng, theo cách mạng sang lòng tin vào đấng cứu thế, làm thay đổi nếp sống văn hoá truyền thống bằng thứ văn hoá xa lạ, dùng thần quyền để lừa bịp và tập hợp lực lượng, hình thành các nhóm phản động dưới vỏ bọc tôn giáo, tạo dựng ngọn cờ, chuẩn bị nguồn lực bên trong, khi hội đủ điều kiện thì kích động đồng bào các dân tộc gây bạo loạn, tạo cớ can thiệp vào nước ta, đặc biệt là ở vùng Tây Bắc và Tây Nguyên./.

TBQL 17

 

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

 


Trong những năm qua, với chính sách tôn giáo đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đại đa số các chức sắc tôn giáo yên tâm làm việc đạo, có tinh thần dân tộc, đồng tình với đường hướng “tốt đời, đẹp đạo”, có sự điều chỉnh theo hướng thích nghi, hợp tác với chính quyền để tăng cường truyền giáo.

Tuy nhiên, có một số người mang tư tưởng cơ hội, vọng ngoại, giữ thái độ cực đoan, quá khích gây tổn hại đến lợi ích dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân, thậm chí một số người ra mặt chống đối pháp luật. Những phần tử này đã lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước để tiến hành các hoạt động chống phá chính quyền trong vùng đồng bào có đạo. Đặc biệt là việc đòi phục hồi những tổ chức tôn giáo có từ thời Mỹ, nguỵ, kích động các tín đồ đấu tranh đòi lại đất đai mà trước đây các tổ chức tôn giáo đã hiến cho Nhà nước.

Bên cạnh đó, các thế lực phản động bên ngoài cũng không ngừng gia tăng hoạt động bảo trợ cho hoạt động truyền đạo trái phép ở Tây Bắc, Tây Nguyên và một số địa phương khác, cùng với sự xuất hiện các “đạo lạ”, tà đạo làm cho nhiều nơi mất ổn định xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống, lao động của nhân dân.

Đáng quan ngại, số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo cũng như các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Nhà nước Việt Nam ở trong nước và nước ngoài đã triệt để lợi dụng các vụ tranh chấp, khiếu kiện về đất đai liên quan đến tôn giáo để kích động các hoạt động chống đối, gây tâm lý bức xúc và phản ứng của tín đồ đối với chính quyền; gây chia rẽ giữa chính quyền với tôn giáo.

Nghiêm trọng hơn, họ còn cố tình chính trị hóa sự việc, xuyên tạc, vu cáo chính quyền “lấy đất đai của tôn giáo, bỏ quên quyền lợi nhân dân, bao che cho doanh nghiệp, tàn phá môi trường”, kích động tâm lý suy bì, cho rằng Nhà nước đối xử không bình đẳng giữa các tôn giáo. Một số tổ chức, cá nhân tôn giáo không hợp tác với chính quyền trong việc kê khai, làm các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhằm lấn chiếm đất để mở rộng cơ sở thờ tự./.

TBQL 17

KÍCH ĐỘNG MÂU THUẪN GIỮA CÁC TÔN GIÁO, LÔI KÉO QUẦN CHÚNG CÓ ĐẠO PHÁ HOẠI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 


Trong lịch sử, các thế lực thực dân, đế quốc đã lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để đô hộ, nô dịch, cai trị nhân dân ta.

Những năm cuối của thế kỷ XIX, Toàn quyền Đông Dương đã sử dụng các cha cố người Pháp truyền đạo Thiên chúa vào Việt Nam. Vì vậy, từ rất sớm, trong bài viết Giáo hội năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã lột sạch bản chất của chúng: “Nếu có dân tộc nào phải nhớ ơn Chúa và các giáo sĩ, thì chính đó là dân tộc An Nam! Vì Chúa và các giáo sĩ mà dân tộc này đã sa vào tình cảnh nô lệ như ngày nay. Bước đầu, khi giúp Gia Long chiếm lấy ngôi vua, Pinhô đờ Bêhen đã làm hết cách dọn đường cho thực dân cướp nước. Cho nên để đổi lấy một ít súng ống, y đã bắt Gia Long nhượng cho Pháp những thương cảng và quân cảng sau này trở thành những căn cứ xâm lược của Pháp”.

Hiện nay, chúng tiến hành những hoạt động chiến tranh tâm lý, phá hoại tư tưởng, tuyên truyền kích động mâu thuẫn, xung đột, nhất là đối lập về hệ tư tưởng giữa “hữu thần” với “vô thần”, giữa thế giới quan tôn giáo với thế giới quan cộng sản; vu cáo cộng sản diệt đạo, vu cáo Nhà nước đàn áp tôn giáo làm cho bộ phận quần chúng lạc hậu ngộ nhận tin theo, từ đó, tạo lực lượng chống đối ngầm chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bằng mọi thủ đoạn, đặc biệt là lợi dụng triệt để phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, mạng xã hội… các thế lực thù địch tổ chức in, ấn, tán phát, truyền bá các tài liệu xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, dưới danh nghĩa các “kỷ yếu hội nghị tôn giáo”, “thông điệp", “lời chứng”…  của các tín đồ trong nước hoặc các tổ chức tôn giáo phản động lưu vong ở nước ngoài vu cáo “Việt Nam đàn áp tôn giáo”, xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, kích động tín đồ chống lại đường lối, chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước.

Đồng thời, chúng kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, ly khai dân tộc; kích động chia rẽ quan hệ dân tộc, quan hệ lương - giáo và giữa các tôn giáo với nhau như: Đòi “tự do tôn giáo”, “tự trị”, thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông độc lập”, “Nhà nước Đề Ga” (gắn với đạo Lin lành), “Quốc gia Khơmer Crôm” (gắn với Phật giáo Nam tông Khmer)… hòng làm chia rẽ, phá hoại, suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam./.

TBQL 17

NÂNG CAO “SỨC ĐỀ KHÁNG” TRƯỚC NHỮNG TƯ TƯỞNG SAI TRÁI, LỆCH LẠC

 


Thực chất các hạt động tuyên truyền này của các thế lực thù địch và các phần tử xấu là nhằm gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Các phần tử phản động ra sức tuyên truyền các thông tin xấu, độc, các thông tin không được kiểm chứng, nhất là lợi dụng cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ, là chuẩn bị ghế nhân sự cho vị trí cao hơn… Không những thế, chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự... hòng hạ bệ uy tín của cán bộ, gây hoang mang, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, sự đồng thuận của xã hội, chia rẽ Đảng với nhân dân và cuối cùng tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta và đánh đổ vai trò lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và nền tảng cách mạng của dân tộc ta là hết sức tinh vi, phức tạp. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau dồi nhận thức, bản lĩnh chính trị, thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 22/10/2018, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, nâng cao “sức đề kháng” trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Từ đó, có kỹ năng nhận diện và bóc trần những âm mưu, thủ đoạn sai trái, kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng để trực tiếp tuyên truyền, thực hiện đưa nghị quyết, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với Nhân dân.

Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo tại cơ sở để góp phần xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các đối tượng chống phá, những thông tin xấu độc, tuyên truyền lan tỏa những thông tin chính thống, kết quả phát triển kinh tế - xã hội, gương người tốt, việc tốt, góp phần nâng cao dân trí khiến các thế lực thù địch dần dần không còn "đất" để xuyên tạc, chống phá./.

TBQL 17

THẾ LỰC THÙ ĐỊCH BÔI NHỌ CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA ĐẢNG HÒNG CHIA RẼ, GÂY NHIỄU LOẠN XÃ HỘI

 


Xuyên tạc, bôi nhọ công tác cán bộ của Đảng, mục tiêu chính của thế lực thù địch là hòng chia rẽ, gây mâu thuẫn nội bộ và lung lạc lòng tin của người dân với Đảng, Nhà nước.  

Công tác cán bộ là một trong những vấn đề các thế lực thù địch thường lợi dụng để chống phá Đảng, chống chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, mỗi khi có thông báo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về xử lý kỷ luật cán bộ mắc sai phạm là trên các trang mạng xã hội lại nhan nhản thông tin nhiễu loạn, xuyên tạc.

Những phương thức, thủ đoạn và cách thức chống phá của các thế lực thù địch không có gì mới. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng, vào những thời điểm đất nước có các sự kiện chính trị hoặc sự kiện về văn hóa, thể thao, hay sự kiện nào đó xảy ra; Đặc biệt, trong dịp Đảng và Nhà nước có sự thay đổi một số nhân sự cấp cao, các đối tượng, các thế lực thù địch, các phần tử phản động bất mãn, hoặc cơ hội chính trị lợi dụng tình hình này để tăng cường chống phá.

Mục đích cao nhất của các đối tượng này là làm nhiễu loạn, bất ổn xã hội, dẫn đến suy yếu thể chế chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, đối với đất nước và sự nghiệp cách mạng của chúng ta.

Các thế lực thù địch cũng như các đối tượng, phần tử cơ hội chính trị và phản động, chúng không bao giờ thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng CSVN đối với sự nghiệp cách mạng và thể chế chính trị. Các đối tượng này cũng không bao giờ vui mừng trước những thành công, những thành tựu của đất nước chúng ta. Vì vậy, mục tiêu không thay đổi của chúng là chống phá, làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng và sự phát triển đất nước.

Các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, phản động đã và đang tiến hành các hoạt động phá hoại tư tưởng với các biểu hiện như: Bóp méo, phủ nhận những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Đẩy mạnh sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội; Lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia; Xuyên tạc đời tư, bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ; xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, Nhà nước; Tuyên truyền xuyên tạc cho rằng, Việt Nam sử dụng chống tham nhũng là phương tiện để trấn áp bất đồng chính kiến trong hàng ngũ của Đảng./.

TBQL 17