Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2024

HIỆP ĐỊNH PARIS MỞ ĐƯỜNG THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC VÀ BÀI HỌC CHO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Hiệp định Paris năm 1973 là sự kiện mở ra thời cơ chiến lược để thúc đẩy công cuộc thống nhất đất nước thành công. Hiệp định không chỉ thể hiện ý chí, quyết tâm sắt đá của một dân tộc, sự lãnh đạo linh hoạt, sáng tạo của Đảng ta, mà còn cổ vũ các dân tộc thuộc địa đấu tranh cho độc lập dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa sâu rộng hiện nay, tinh thần linh hoạt, sáng tạo nhưng kiên định, can trường trước mọi khó khăn, thử thách vì độc lập dân tộc trong quá trình đi tới ký kết Hiệp định Paris cần tiếp tục được phát huy, làm giàu thêm phẩm chất của nền ngoại giao mang bản sắc “cây tre Việt Nam” ngày nay.
Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam chính thức được ký kết ngày 27-1-1973 tại Paris (Pháp) mở ra bước ngoặt mới trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam; tạo thời cơ mới cho cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến lên giành những thắng lợi mới, mà đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Tính chất mở đường của Hiệp định Paris được thể hiện rõ nét, sinh động kể từ thời điểm có hiệu lực thi hành cho đến ngày toàn thắng 30-4-1975.
Tính chất bước ngoặt, mở đường của Hiệp định Paris
Nói đến tính chất mở đường của một văn kiện, một sự kiện là nói đến tính chất bước ngoặt mới, tạo ra những điều kiện thuận lợi để vạch kế hoạch tiến lên một giai đoạn mới, hoàn thành triệt để mục tiêu chiến lược. Hiệp định Paris về Việt Nam đã đưa cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam sang một cột mốc mới, thực hiện thành công việc “đánh cho Mỹ cút”. Đây là thắng lợi chiến lược tạo nên “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, tiếp sức mạnh mẽ cho nhân dân Việt Nam tiến lên “đánh cho ngụy nhào”, kết thúc thắng lợi cuộc trường kỳ kháng chiến. Kéo dài từ ngày 13-5-1968 đến ngày 27-1-1973, với hơn 200 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 1.000 cuộc phỏng vấn, hàng trăm cuộc mít tinh ủng hộ Việt Nam, có thể thấy, Hiệp định Paris là sản phẩm của quá trình kiên định, bền bỉ đấu tranh, vừa thể hiện quyết tâm sắt đá, vừa tỏ rõ thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam nhằm mở đường, tạo ra bước ngoặt mới có lợi để đi đến kết thúc cuộc chiến.
Thứ nhất, Hiệp định Paris mở đường để Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương hoàn chỉnh kế hoạch chiến lược thần tốc thống nhất đất nước trong thời gian sớm nhất, đồng thời nhanh chóng chỉnh đốn những biểu hiện hữu khuynh sau Hiệp định Paris trong một bộ phận quân dân. Hiệp định Paris được ký kết đã làm cho hình thái chiến trường thay đổi theo hướng có lợi cho cách mạng. Với Hiệp định Paris, Mỹ phải rút, các lực lượng vũ trang của hai bên ở nguyên tại chỗ. Nhờ đó, ta đánh bại âm mưu “phân tuyến” của đối phương, bộ đội ta không phải “tập kết” ra một nơi (như thời kỳ Hiệp định Geneva năm 1954), mà ngược lại, ta duy trì trên chiến trường thế xen kẽ “da beo”, một thực trạng rất có lợi cho ta, bất lợi cho địch.
Đảng ta nhận định, sau Hiệp định Paris, chúng ta đã có những nhân tố thắng lợi và khả năng mới do Hiệp định Paris đưa lại, đó là chính quyền và lực lượng vũ trang cách mạng, vùng giải phóng, lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng trong vùng địch kiểm soát và những quyền cơ bản được Hiệp định thừa nhận. Do đó, phải tận dụng những nhân tố và khả năng ấy để “tiến lên hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước”.
Trong Kết luận đợt 1, Hội nghị Bộ Chính trị ngày 10-10-1974, Đảng ta nhận định, lúc này, chúng ta đang có thời cơ và nhấn mạnh “ngoài thời cơ này, không có thời cơ nào khác. Nếu để chậm mười, mười lăm năm nữa, bọn ngụy gượng dậy được, các thế lực xâm lược được hồi phục… thì hình hình sẽ phức tạp vô cùng”; từ đó, Hội nghị xác định: “Ngay từ giờ, phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị thật khẩn trương, tạo điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạnh, đánh nhanh, thắng gọn và thắng triệt để trong hai năm 1975 - 1976”.
Tuy nhiên, trước, trong và sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa vẫn tiến hành hàng loạt kế hoạch ngoan cố, dã tâm lấn chiếm, bình định, giành đất, giành dân. Việc bình định lấn chiếm trên thực địa của địch ngày càng trắng trợn, nhưng ở một số nơi, ta lại phản ứng chậm, nên đã để địch chiếm đất, giành dân. Khi Hiệp định Paris có hiệu lực, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu vẫn trắng trợn tuyên bố: Không thi hành Hiệp định Paris, không hòa hợp, chống hòa hợp với cộng sản; ra lệnh cho quân đội tiếp tục đánh tới, lấn đất, giành dân, cắm cờ, tràn ngập lãnh thổ.
Trong khi đó, về phía ta, một bộ phận cán bộ, đảng viên, chiến sĩ vừa trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt, nay có Hiệp định Paris đã nảy sinh tư tưởng hữu khuynh, mất cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Hơn nữa, trong chỉ đạo, lúc đầu, ta đã đánh giá không hết khả năng thực hiện âm mưu của địch, không dự kiến hết đế quốc Mỹ tuy thua nhưng vẫn rất ngoan cố, tìm mọi cách o bế quân đội Việt Nam Cộng hòa tiếp tục chiến tranh. Những tháng đầu năm 1973, trên một số chiến trường, địch đã giành được chủ động, thực hiện được phần nào chủ trương bình định của chúng, giành thêm một số dân, lấn thêm một số địa phương, bắt đầu lấn sâu vào các vùng giải phóng toàn B2.
Trước tình hình đó, Khu ủy Khu 9 đã tiên phong mở đường chống phá bình định thành công. Bí thư Khu ủy 9 là đồng chí Võ Văn Kiệt, Tư lệnh là đồng chí Lê Đức Anh đã chủ động chỉ đạo, chỉ huy quân dân Khu 9 đánh trả quyết liệt các cuộc hành quân lấn chiếm của ngụy, bức rút nhiều đồn bốt địch, tiếp tục mở rộng vùng giải phóng, bảo vệ dân và vùng lúa gạo có ý nghĩa chiến lược. Nhờ đó, Khu 9 đã giành nhiều thắng lợi nổi bật trong đấu tranh chống địch bình định lấn chiếm, trở thành lá cờ đầu nêu gương cho các đơn vị khác học tập.
Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Khóa III (tháng 7-1973) kịp thời nhận diện bản chất tình hình, đề ra phương hướng hoạt động, với tinh thần chủ đạo là tiếp tục tiến công, giữ vững quan điểm cách mạng bạo lực. Ngày 15-10-1973, Bộ Tư lệnh Miền ra mệnh lệnh: Kiên quyết đánh trả những hành động chiến tranh của chính quyền Sài Gòn; kiên quyết đánh trả bất cứ ở đâu, bằng các hình thức và lực lượng thích đáng. Mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Miền chỉ rõ quyền được đánh trả của lực lượng vũ trang cách mạng, tạo điều kiện cho ta đẩy mạnh các hoạt động quân sự giành lại thế chủ động trên toàn chiến trường.
Với đề xuất để chiến trường B2 đi trước một bước, được Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tham mưu chấp thuận, trong mùa khô 1974 - 1975, Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo, chỉ huy chiến trường B2 thực hiện nhiều chiến dịch tiến công của chủ lực và chiến dịch tổng hợp ở đồng bằng sông Cửu Long, giành thắng lợi lớn trên đường 14 - Phước Long và ở Quân khu 9, cùng lúc đạt được nhiều ý nghĩa: Thử nghiệm phản ứng của chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa, nhất là của Mỹ; đo lường khả năng của chủ lực ta so với chủ lực quân đội Việt Nam Cộng hòa; đo lường khả năng của lực lượng vũ trang cách mạng có thể giải phóng được những vùng liên hoàn rộng lớn hay không. Thực tiễn chứng minh những mục đích ấy đều đạt được sau thắng lợi của các chiến dịch trong mùa khô 1974 - 1975, tiêu biểu là chiến thắng Đường 14 - Phước Long. Ngay sau chiến thắng Phước Long, Đảng đã kịp thời bổ sung kế hoạch tiến công giải phóng Sài Gòn. Đảng thống nhất sẽ tiến công giải phóng Sài Gòn vào tháng 4 vì sang tháng 5 đã vào đầu mùa mưa ở Nam Bộ, nên việc cơ động của ta, nhất là tăng, pháo và cơ giới sẽ khó khăn, nhất là hướng tây và tây nam Sài Gòn với vùng Long An mênh mông đồng nước, kênh rạch và sình lầy. Cùng với việc soạn thảo kế hoạch là xây dựng “Quyết tâm chiến đấu” với sơ đồ phác ra 5 hướng tiến công vào sào huyệt quân thù.
Với tinh thần chủ động nắm lấy thời cơ, trong những ngày đầu tháng 4-1975, Bộ Tư lệnh Miền đã nhanh chóng vạch ra phương án chiến dịch giải phóng Sài Gòn trình lên Trung ương Cục miền Nam và được phê duyệt về cơ bản. Chính điều đó giúp Trung ương Đảng liên tục bổ sung quyết tâm chiến lược, bắt kịp sự thay đổi cực nhanh của chiến trường, tạo yếu tố bất ngờ, thay đổi quyết sách từ kế hoạch cơ bản giải phóng miền Nam trong vòng 2 đến 3 năm lúc đầu chuyển sang kế hoạch thời cơ rút xuống 1 năm, rồi đến cuối tháng 3, đầu tháng 4-1975, Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn trong tháng 4 của năm 1975.
Như vậy, ở mỗi giai đoạn phát triển, nghệ thuật lãnh đạo của Đảng bao giờ cũng căn cứ vào tư duy biện chứng và thực tiễn khách quan của lịch sử. Đó là, một mặt, lợi dụng những thời kỳ phát triển tuần tự của cách mạng để động viên, tập hợp quần chúng đấu tranh theo tinh thần không có gì quý hơn độc lập, tự do; mặt khác, phải biết hướng toàn bộ công tác của mình vào việc tạo và nắm thời cơ giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi toàn diện, hoàn toàn. Đây thực sự là sáng tạo to lớn, làm giàu, phong phú và sinh động thêm kho tàng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thứ hai, trên chiến trường, Hiệp định Paris đã mở đường, tạo nên bước chuyển chiến lược, tạo ra thế mạnh mới: Ta đã giành được quyền chủ động trên khắp các chiến trường, trừng trị các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, giành lại dân và những vùng bị mất, mở rộng vùng giải phóng của ta; Đã củng cố và hoàn chỉnh thế chiến lược liên hoàn từ Bắc vào Nam, từ rừng núi Trị - Thiên đến Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long; Đã xây dựng và tăng cường các binh đoàn chủ lực cơ động ở vùng rừng núi; tập trung được nguồn dự trữ chiến lược trên những địa bàn quan trọng; Đã cải thiện được tình hình nông thôn - đồng bằng, tạo các bàn đạp ở vùng phụ cận thành thị lớn; Đã phát động được phong trào đấu tranh chính trị dưới khẩu hiệu hòa bình, độc lập, hòa hợp dân tộc; Ta tiếp tục tranh thủ thêm được sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới. Có thể nói, Hiệp định Paris đi đúng kịch bản như Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định, khi hàng chục vạn quân viễn chinh Mỹ ồ ạt kéo vào miền Nam: Mỹ giàu nhưng sức Mỹ không phải là vô hạn, Mỹ hung hăng nhưng có chỗ yếu, ta biết đánh, biết thắng thì nhất định kháng chiến sẽ thành công. Hiệp định Paris thể hiện đúng nghệ thuật “biết thắng từng bước” để đi đến chiến thắng hoàn toàn của Đảng ta trong bối cảnh chênh lệch tương quan lực lượng.
Bước vào mùa khô 1973 - 1974, các chiến trường đã phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng, chuyển lên thế chủ động tấn công địch; sức mạnh tổng hợp của ba mũi, ba thứ quân, ba vùng, giữa điểm với diện, cao điểm với thường xuyên được phát huy, tạo thế căng kìm địch trên diện rộng, làm thất bại kế hoạch bình định của địch, đẩy địch vào thế bị động, lúng túng. Như vậy, Hiệp định Paris năm 1973 đã mở ra cục diện chiến trường mới vô cùng có lợi cho ta, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta khi ta vẫn duy trì được toàn bộ lực lượng ở chiến trường miền Nam. Đây là cơ sở để toàn quân, toàn dân ta tiến lên “đánh cho nguỵ nhào”.
Thứ ba, đối với nhân loại yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, Hiệp định Paris mở đường cho việc giải quyết các xung đột quốc tế bằng con đường hòa bình, tác động sâu xa đến bước đường tiến lên của nhiều dân tộc, là niềm cổ vũ lớn lao của nhiều dân tộc có chung số phận và điểm xuất phát như nước ta trong việc bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản. Có thể thấy, từ Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946, Tạm ước ngày 14-9-1946, Hiệp định Geneva ngày 21-7-1954 và đỉnh cao là Hiệp định Paris ngày 27-1-1973 đã minh chứng sinh động cho chân lý: Muốn có hòa bình, dân tộc Việt Nam không chỉ biết nhân nhượng mà còn phải biết đấu tranh, không chỉ biết đấu tranh mà dân tộc Việt Nam còn không khi nào bỏ lỡ cơ hội tìm kiếm hòa bình dù là cơ hội mỏng manh nhất. Đó là biện chứng của chiến tranh cách mạng Việt Nam, của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara - một trong những người góp phần hoạch định chính sách Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam - rút ra 11 bài học từ “Tấn thảm kịch Việt Nam”, trong đó có bài học: “Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó...”; “phản ánh sự thiếu hiểu biết cơ bản của chúng ta về lịch sử văn hóa và chính trị của nhân dân trong vùng, và về nhân cách, thói quen của các nhà lãnh đạo”. “Lý tưởng và các giá trị của nó” mà ông Robert S. McNamara nhắc đến, chính là các quyền dân tộc cơ bản - độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, là lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng kiên định. Hiệp định Paris năm 1973 là sản phẩm của quá trình đấu tranh của cả một dân tộc luôn hướng đến các quyền dân tộc cơ bản như Điều 1 của Hiệp định này đã trân trọng thừa nhận: “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Geneva năm 1954 về Việt Nam đã công nhận”. Đồng chí Phạm Văn Đồng từng nói: “Quyết không thể có thỏa hiệp trái với những quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam ta, trái với đạo lý thông thường của mọi dân tộc trên thế giới”.
Một số bài học đối với hoạt động ngoại giao hiện nay
Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao Việt Nam thời kỳ chống Mỹ, cứu nước; đánh dấu bước trưởng thành của nền ngoại giao cách mạng thời đại Hồ Chí Minh. Đây là sản phẩm của quá trình đấu tranh gay go, quyết liệt và phức tạp trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, đỉnh cao của nghệ thuật kết hợp “vừa đánh vừa đàm”. Đó còn là thành quả của tư duy mang đầy đủ tính cách mạng và khoa học; vừa đánh vừa hiểu địch, hiểu ta; vừa làm vừa tổng kết thực tiễn, từng bước bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh qua các giai đoạn kháng chiến. Hiệp định Paris thể hiện sâu sắc tinh thần dám đánh, dám thắng và năng lực biết đánh, biết thắng của dân tộc Việt Nam.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa sâu rộng hiện nay, ý nghĩa và tầm vóc của Hiệp định Paris để lại nhiều bài học quý giá đối với hoạt động ngoại giao của Việt Nam.
Một là, luôn bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, trong đó độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là cốt lõi.
Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ là hệ giá trị thiêng liêng mà bất kỳ dân tộc nào, dù là dân tộc nhỏ bé, xuất phát điểm thấp đều có quyền được hưởng vì nó là những quyền cơ bản nhất, đồng thời cũng là cơ sở tối thiểu để bảo đảm cho một dân tộc tồn tại và phát triển bình thường. Sự kiên định, nhất quán của Đảng ta, nhân dân ta trong việc theo đuổi hệ giá trị ấy từ năm 1945 đến nay, nhất là trong Hiệp định Paris, mãi mãi là bài học quý giá, tấm gương sáng cho các dân tộc yêu chuộng hòa bình khắp năm châu. Hiệp định Paris năm 1973 là chiến thắng bước ngoặt, có tính mở đường, điều kiện cần để buộc Mỹ và đồng minh rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tạo tiền đề cho quân dân Việt Nam tiến hành kết thúc chiến tranh.
Trong bối cảnh mới, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII khẳng định, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; thực hiện phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến.
Hai là, mềm mại, khéo léo nhưng rất kiên định, quyết liệt.
Cách ứng xử mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên định, quyết liệt của Đảng Lao động Việt Nam trong Hội nghị Paris 1973 là bài học quý‎ giá về nghệ thuật ngoại giao của cách mạng Việt Nam. Ngay nay, bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước bên cạnh mặt thuận lợi, thời cơ, cũng có không ít những khó khăn, nguy cơ, diễn biến khó lường, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Việt Nam tiếp tục phải kiên định, giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa đối tác và đối tượng, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong từng tình huống, hoàn cảnh.
Hình ảnh “cây tre Việt Nam” với “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam” như lời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chính là phương sách chủ yếu của đối ngoại Việt Nam hiện đại. Nhờ nghệ thuật kết hợp tài tình giữa linh hoạt, sáng tạo về sách lược với kiên định, kiên quyết, kiên trì về chiến lược mà từ một nước bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã “mở rộng, làm sâu sắc quan hệ với 193 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có 3 nước quan hệ đặc biệt, 5 nước đối tác chiến lược toàn diện, 13 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện”, giúp tạo nên cục diện thuận lợi cho quá trình hiện thực hóa lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Ba là, chủ động, tích cực phát huy sức mạnh tổng hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
Phát huy sức mạnh tổng hợp luôn được Đảng xác định là một trong những yếu tố quan trọng đưa tới sự thành công của cách mạng. Đó là sức mạnh tổng hợp của nội lực và ngoại lực; sức mạnh của các lực lượng; sự phối kết hợp của các địa bàn, sức mạnh của kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, ngoại giao; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sự cân bằng quan hệ giữa các nước lớn, vừa đánh vừa đàm; sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, ý chí không có gì quý hơn độc lập, tự do… Do đó, góp phần quan trọng đưa tới thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hơn 50 năm trôi qua kể từ khi Hiệp định Paris được ký kết, thế giới có nhiều đổi thay nhưng ý nghĩa mở đường và tầm vóc thời đại đặc biệt của Hiệp định vẫn còn nguyên giá trị, thể hiện sâu sắc nền ngoại giao độc đáo Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Nhìn lại Hiệp định Paris, chúng ta càng thấy được giá trị của việc đánh giá, dự báo đúng đắn về cục diện và xu thế, tình hình thế giới, kiên định và ra sức hiện thực hóa mục tiêu phát triển của dân tộc, góp phần quan trọng cùng nhân loại tiến bộ tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ cho bình đẳng dân tộc, dân chủ xã hội và phát triển con người./.
Tạp chí cộng sản
Có thể là hình ảnh về 11 người và văn bản


CHIẾN THẮNG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC Ở BIÊN GIỚI TÂY NAM - BÀI HỌC CHO CÔNG CUỘC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN ĐẤT NƯỚC


Sau khi lên nắm quyền ở Campuchia (tháng 4/1975), tập đoàn phản động Pol Pot-Ieng Sary đã thi hành chế độ độc tài, phát-xít mang tính diệt chủng đối với nhân dân Campuchia và gây chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Từ năm 1975 đến 1978, quân Pol Pot đã mở nhiều cuộc tấn công xâm lấn vào sâu lãnh thổ nước ta, gây ra hàng loạt vụ thảm sát đẫm máu đối với nhân dân dọc biên giới Việt Nam-Campuchia. Hành động của tập đoàn phản động, hiếu chiến Pol Pot-Ieng Sary đã xâm phạm thô bạo độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, gây tổn hại mối quan hệ giữa hai nước.
Để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã chỉ đạo Bộ Quốc phòng, các quân khu, địa phương, đơn vị tăng cường chuẩn bị lực lượng, thế trận, kiên quyết đập tan các cuộc tấn công xâm lược của địch; đồng thời kiên trì chủ trương xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, tìm mọi cách cứu vãn hòa bình, nhiều lần đề nghị đàm phán với chính phủ Campuchia dân chủ.
Song, tập đoàn phản động Pol Pot-Ieng Sary đã khước từ mọi thiện chí của ta, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá, xâm lược Việt Nam.
Ngày 23/12/1978, chúng huy động 10 sư đoàn mở cuộc tấn công quy mô lớn trên toàn tuyến biên giới Tây Nam. Thực hiện quyền tự vệ chính đáng, bằng các đòn phản công, tấn công thần tốc, quân và dân ta đã tiêu diệt và đánh bật quân Pol Pot ra khỏi lãnh thổ của Tổ quốc.
Tiếp đó, theo đề nghị của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, với tinh thần quốc tế trong sáng, quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở cuộc tổng tấn công giải phóng Thủ đô Phnom Penh và toàn bộ đất nước Campuchia (ngày 7/1/1979), cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.
Thắng lợi của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam đã đập tan mưu đồ thâm độc của tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi bờ vực của thảm họa diệt chủng; chặn đứng âm mưu chia rẽ truyền thống đoàn kết lâu đời của ba nước Đông Dương, góp phần giữ vững hòa bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới; tạo điều kiện khôi phục lại tình hữu nghị và tình đoàn kết chiến đấu giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Việt Nam-Campuchia.
Chiến thắng chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam đã để lại nhiều bài học quý cho công cuộc bảo vệ chủ quyền đất nước hiện nay.
Một là, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn xâm lược của kẻ thù.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, do chưa nắm chắc, đánh giá đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn xâm lược của tập đoàn phản động Pol Pot-Ieng Sary nên thời gian đầu, chúng ta còn bị động trong việc xác định đối tượng tác chiến.
Sau khi xác định đúng nguồn gốc, nguyên nhân, mục tiêu gây chiến tranh của kẻ thù, Đảng ta đã đề ra đường lối, mục tiêu chính trị đúng đắn, sáng tạo, lãnh đạo quân và dân ta mở cuộc phản công, tấn công địch một cách chủ động, kiên quyết, liên tục, giành thắng lợi to lớn.
Điều đó cho thấy, để đất nước không bị động, bất ngờ, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng “phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”.
Đặc biệt, trước tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự báo như hiện nay, càng phải mài sắc tinh thần cảnh giác cách mạng, sớm phát hiện, đánh giá đúng đối tượng và đối tác trong từng thời điểm; có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động chuẩn bị về tư tưởng, lực lượng, thế trận, kịp thời xử lý thắng lợi các tình huống, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ về chiến lược.
Nhìn lại cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, bài học về đánh giá tình hình khách quan, toàn diện để sớm có chủ trương chiến lược đúng là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Hai là, chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh.
Mục tiêu xuyên suốt của Đảng ta về xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh nhằm giữ vững hòa bình, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh. Đó là nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, ngày càng hiện đại, mang tính chất hòa bình, tự vệ, “lấy dân làm gốc”.
Từ cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam đã khẳng định, để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, phải thường xuyên chăm lo xây dựng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, chuẩn bị nguồn lực quốc gia.
Đẩy mạnh xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, bảo đảm hợp lý trên từng địa bàn, nhất là địa bàn trọng điểm, hướng chiến lược, biên giới, biển đảo, đáp ứng nhiệm vụ quốc phòng thời bình và nhanh chóng chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi đất nước có chiến tranh.
Triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh các vùng; tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc; thực hiện tốt phương châm “Chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ”.
Ba là, chăm lo xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu ngày càng cao.
Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, nhờ phát huy sức mạnh tổng hợp, lực lượng vũ trang, nòng cốt là quân đội nhân dân đã đánh bại các cuộc tấn công xâm lược quy mô lớn của kẻ thù, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền đất nước.
Hiện nay, trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần tập trung xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, nhất là về chính trị; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.
Chăm lo xây dựng quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao; bảo đảm cân đối giữa các quân chủng, binh chủng, giữa bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên.
Điều chỉnh thế bố trí lực lượng phù hợp trên các vùng, miền, nhất là các khu vực trọng điểm về quốc phòng-an ninh, vùng biên giới, biển, đảo. Quán triệt và thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, chỉ lệnh về công tác huấn luyện. Đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa quân đội theo mục tiêu Đại hội XIII của Đảng đã xác định.
Bốn là, tăng cường hợp tác, đối ngoại quốc phòng với các nước, nhất là các nước láng giềng.
Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, đòi hỏi chúng ta phải nắm bắt, dự báo được các xu hướng trong quan hệ quốc tế, khu vực cũng như mục tiêu, lợi ích, ý đồ chiến lược của từng nước, nhất là các nước lớn; không ngừng tăng cường, giữ vững quan hệ giữa ba nước Đông Dương.
Quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng. Trong quan hệ đối ngoại, phải giữ vững nguyên tắc chiến lược, linh hoạt về sách lược, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; tích cực chuyển hóa đối tượng thành đối tác, gắn chặt lợi ích đối tác với lợi ích quốc phòng-an ninh, bảo vệ chủ quyền đất nước.
Tiếp tục thúc đẩy hợp tác, đưa quan hệ quốc phòng Việt Nam-Campuchia, trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ toàn diện giữa hai quốc gia, đóng góp tích cực vào hiện thực hóa phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” giữa Việt Nam và Campuchia vì hòa bình, độc lập dân tộc và sự ổn định, phát triển trong khu vực và trên thế giới./.
Theo Báo Nhân dân
Có thể là hình ảnh về 5 người


CÁN CÂN CÔNG LÝ

 

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng khẳng định ''Uy tín của Tòa án chính là tín nhiệm của thể chế chính trị, của Nhà nước, bởi đây là niềm tin của người dân vào công lý, công bằng xã hội''.


Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ năm 2024 của Tòa án nhân dân Tối cao ngày 24/12/2023, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng cho rằng, cần tiếp tục nâng cao chất lượng xét xử, không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm, bảo đảm thấu tình, đạt lý, nhân văn, thuyết phục. Mỗi bản án được tuyên phải thực sự làm cho mọi người "tâm phục, khẩu phục", khuất phục được tội phạm, thuyết phục được các bên, xã hội đồng tình; có tác dụng răn đe, cảnh tỉnh, góp phần xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương.


Chủ tịch nước nhắn nhủ, khi phát hiện sai sót phải thành tâm nhận khuyết điểm, khẩn trương, kiên quyết khắc phục, sửa chữa để bảo vệ quyền và lợi ích tổ chức, cá nhân; đó cũng là cách để nâng cao uy tín của tòa án. Bởi mỗi sai sót trong thực thi công vụ của cán bộ tư pháp đều ảnh hưởng đến sinh mạng chính trị, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thậm chí là tính mạng của người dân.


Chủ tịch nước nhấn mạnh đến ưu tiên hàng đầu trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là đội ngũ thẩm phán thực sự "phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư", có đạo đức trong sáng, thanh liêm, chính trực, khát khao công lý, giàu lòng nhân ái, có phương pháp công tác khoa học, sâu sát, thận trọng, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông pháp luật.


Trong nhiều năm qua, ngành Tòa án đã chủ động, sáng tạo, có nhiều chủ trương, giải pháp đột phá để nâng cao chất lượng công tác. Công tác xét xử có nhiều chuyển biến tích cực; tỷ lệ giải quyết các vụ án đạt cao; chất lượng xét xử ngày càng được nâng cao; pháp luật được chấp hành nghiêm minh và thống nhất; tranh tụng tại phiên tòa được mở rộng, thực chất, hiệu quả hơn...; góp phần kiềm chế gia tăng tội phạm, thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân.


Đặc biệt, Tòa án các cấp đã tổ chức xét xử thành công nhiều vụ án tham nhũng lớn. Các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo, được xét xử đúng tiến độ, nghiêm minh theo pháp luật. Tòa án đã chủ động phối hợp với liên ngành tố tụng giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án lớn. Các vụ án đã xét xử được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, tin tưởng, đánh giá cao; thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, khẳng định quyết tâm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta.


Tuy nhiên, Chủ tịch nước cũng chỉ ra một số hạn chế, thiếu sót như tỷ lệ bản án, quyết định hành chính bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan chưa đạt chỉ tiêu Quốc hội đề ra. Vẫn còn một số vụ án giải quyết quá thời hạn luật định do nguyên nhân chủ quan; năng lực, trách nhiệm, phẩm chất của một số cán bộ còn yếu, cá biệt có cán bộ vi phạm pháp luật…


Con sâu làm rầu nồi canh


Những đánh giá của Chủ tịch nước tại hội nghị là rất đúng và trúng với nỗ lực cải cách tư pháp được thực hiện nhiều năm qua. Nếu năng lực, trách nhiệm, phẩm chất của một số cán bộ còn yếu, có cán bộ vi phạm pháp luật, dù là rất nhỏ, thì người dân có thể trông chờ vào đâu?


Nếu quan tòa không công minh, xét xử theo lối "nén bạc đâm toạc tờ giấy" hoặc có "Có ba trăm lạng việc này mới xong" thì làm sao đảm bảo cán cân công lý. Thẩm phán nhận hối lộ để làm sai lệch vừa bào mòn uy danh của quan tòa mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của nền tư pháp và pháp luật.


Trong những năm vừa qua, vì không chế ngự được lòng tham, bất chấp vai trò vị trí của người cầm cân nẩy mực trong trong duy trì pháp luật, có một số trường hợp thẩm phán đã làm hoen ố uy danh của các vị quan tòa.


Gần đây, cơ quan điều tra Viện KSND Tối cao đã chuyển hồ sơ, kết luận điều tra vụ án tới Viện KSND Tối cao đề nghị truy tố ông Võ Đình Sớm, thẩm phán TAND tỉnh Gia Lai tội "Nhận hối lộ". Cơ quan điều tra của Viện KSND Tối cao bắt quả tang tại phòng làm việc khi ông Sớm nhận hối lộ 500 triệu đồng.


Ngày 3/10/2023, Viện KSND Tối cao bắt quả tang bà Nguyễn Thị Tuyết Sương Phó Chánh án, Thẩm phán TAND thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long nhận hối lộ 50 triệu đồng của đương sự trong một vụ án ngay tại phòng làm việc.


Ngày 22/8/2023, TAND tỉnh Bạc Liêu mở phiên xét xử sơ thẩm vụ án "nhận hối lộ" và tuyên phạt 4 năm tù đối với bị cáo Châu Văn Mỹ nguyên Phó chánh án Thường trực TAND tỉnh Bạc Liêu.


Ngày 24/8/2022, Cơ quan điều tra Viện KSND Tối cao ra quyết định khởi tố bị can và thi hành lệnh bắt tạm giam đối với Hứa Công Nguyên - Thẩm phán TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình về tội "Nhận hối lộ".


Những trường hợp bị phát hiện như trên cho thấy, những thẩm phán nhận hối lộ đã phá hoại quốc pháp. Nhưng những nỗ lực mang những người này ra tòa cho thấy, pháp luật phải được bảo vệ và cuộc đấu tranh chống tham nhũng thực sự "không có vùng cấm".


Số tiền họ nhận hối lộ không quá lớn, nhưng hậu quả vô cùng lớn vì thẩm phán nhận hối lộ để làm sai lệch, bẻ cong cán cân công lý không chỉ bào mòn uy danh của tòa án mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của nền tư pháp và pháp luật nước nhà.


Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tòa án là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân... Vì vậy, phán quyết của tòa án liên quan trực tiếp đến những quyền thiêng liêng, cơ bản; liên quan đến danh dự, nhân phẩm, lương tâm, sinh mệnh chính trị, tài sản của con người; lợi ích quốc gia. Có thể nói những thẩm phán nhận hối lộ để bẻ cong cán cân công lý.


Bởi vậy, không chỉ trừng phạt nghiêm khắc những thẩm phán nhận hội lộ khi thụ lý, xử án mà còn phải xử lý nghiêm minh những cán bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán sai phạm trong quá trình tố tụng, dẫn đến oan sai trong các vụ án.


Vì những vụ án an sai, nhất là các vụ án tử hình oan sai không chỉ là nỗi đau thương, tủi nhục của người bị oan cùng gia đình và dòng tộc của họ mà còn là nỗi nhức nhối của xã hội.


Để khắc phục những hạn chế của tòa án và nền tư pháp nói chung trước hết đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, cán bộ làm công tác điều tra phải có phẩm chất "Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư" và phải có tính chuyên nghiệp.


Nghị quyết số 27-NQ/TW (Hội nghị Trung ương 6 Khóa XIII) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã nhấn mạnh việc tăng cường tính chuyên nghiệp trong hoạt động tư pháp bởi nó liên quan chặt chẽ đến mục tiêu bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.


Từ khi luật ra đời (cách đây hàng nghìn năm) tới nay, hình ảnh các vị quan tòa - người nắm cán cân công lý lạnh lùng, nghiêm khắc trong xử án đã tạo nên uy danh vô đối với các giai tầng trong xã hội. Thời nào và ở đâu cũng vậy, sự công minh và uy danh của các vị quan tòa là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu đảm bảo cho sự nghiêm minh của quốc pháp và bảo vệ quyền lợi, phẩm giá của con người và củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân với chính thể./. 

ST


 KHÔNG NGỪNG XÂY DỰNG VUN ĐẮP QUAN HỆ HỮU NGHỊ HỢP TÁC VIỆT NAM - CAMPUCHIA.


Cách đây 45 năm, ngày 7/1/1979 là ngày đất nước ta chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cũng là ngày kết thúc trang sử đau thương của nhân dân Campuchia dưới chế độ diệt chủng Pol Pot. Thắng lợi lịch sử đó đã khẳng định tình đoàn kết quốc tế trong sáng, chân thành giữa nhân dân hai nước Campuchia và Việt Nam, mở ra trang sử mới trong quan hệ hữu nghị, láng giềng tốt đẹp giữa hai nước.


Tinh thần quốc tế cao cả


Việt Nam - Campuchia là hai nước láng giềng hữu nghị và thân thiện, nhân dân sớm có quan hệ đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ nhau trong lịch sử. Trong cuộc kháng chiến chống lại kẻ thù chung là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đáp lại lời kêu gọi của cách mạng Campuchia, Việt Nam sẵn sàng đưa quân tình nguyện sang giúp nước bạn. Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Campuchia ngày 17/4/1975 cũng là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu thủy chung, trong sáng giữa ba nước Đông Dương.


Thế nhưng, ngay sau khi lên cầm quyền vào tháng 4/1975, tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary đã lợi dụng thành quả cách mạng, phản bội lại nhân dân Campuchia. Chúng lập nên cái gọi là “nhà nước Campuchia dân chủ”, thi hành chế độ diệt chủng, thanh trừng nội bộ, giết hại hàng triệu người dân vô tội, phá hủy hàng trăm nghìn trường học, bệnh viện, chùa chiền...


Đối với Việt Nam, tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary xuyên tạc lịch sử, khiêu khích, kích động hận thù dân tộc. Chỉ trong 2 năm (1975-1977), chúng đã điều động 41% quân số và trang thiết bị áp sát biên giới Việt Nam; gây ra những tội ác đẫm máu đối với nhân dân ta, xâm phạm nghiêm trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chà đạp lên những giá trị tốt đẹp trong mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc.


Ngày 5/2/1978, Chính phủ ta ra tuyên bố ba điểm: Hai bên chấm dứt mọi hoạt động quân sự, rút lực lượng vũ trang cách biên giới 5km; Hội đàm tiến tới ký hiệp ước hữu nghị và không xâm lược, ký hiệp ước về biên giới; Thỏa thuận về một hình thức thích hợp bảo đảm thông lệ quốc tế và giám sát quốc tế. Phớt lờ thiện chí đó, Pol Pot huy động lực lượng áp sát biên giới và tiến công, xâm nhập địa phận nước ta; lực lượng của ta kiên quyết đánh trả, giành lại các khu vực bị lấn chiếm.


Trước hành động xâm lược của Pol Pot và đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, ngày 23/12/1978, Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở cuộc tổng phản công - tiến công trên toàn tuyến biên giới. Ngày 2/1/1979, ba cụm quân chủ lực của Pol Pot án ngữ các trục đường tiến về Phnom Penh cơ bản bị tiêu diệt và tan rã. Trên tất cả các hướng, Quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia truy kích, tiến sát Thủ đô Phnom Penh. Đến ngày 7/1/1979, Thủ đô Phnom Penh hoàn toàn được giải phóng.


Thắng lợi của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc là hành động tự vệ chính đáng và cần thiết của nhân dân Việt Nam nhằm chống lại cuộc chiến tranh xâm lược do tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary gây ra. Đồng thời, đáp lại lời kêu gọi của cách mạng Campuchia, Việt Nam đã giúp đỡ nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, cứu dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt vong - đó là hành động phù hợp pháp lý và đạo lý, thể hiện tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng, chí nghĩa, chí tình, sẵn sàng hy sinh cả xương máu vì mối quan hệ truyền thống gắn bó thủy chung, lâu đời giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước; là sự tiếp nối truyền thống đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc.


Củng cố quan hệ thực chất và hiệu quả


Trong những năm qua, quan hệ Việt Nam - Campuchia đã không ngừng được củng cố và phát triển trên mọi lĩnh vực, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác trong khu vực và trên thế giới.


Quan hệ chính trị giữa hai nước tiếp tục phát triển tốt đẹp, lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì các chuyến thăm tiếp xúc và trao đổi dưới nhiều hình thức. Hợp tác giữa các bộ, ngành, địa phương với các cơ chế hợp tác thiết thực được triển khai ngày càng hiệu quả, đưa quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực ngày càng đi vào chiều sâu. Các hoạt động của Mặt trận, nhóm nghị sĩ hữu nghị, hội hữu nghị, các tổ chức đoàn thể quần chúng hai nước, nhất là tại các tỉnh biên giới diễn ra sôi nổi và rộng khắp, góp phần nâng cao sự hiểu biết của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về truyền thống, đoàn kết, hữu nghị, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau giữa hai nước, hai dân tộc.


Hợp tác trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh không ngừng được tăng cường, ngày càng thực chất, hiệu quả, là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước. Hai bên luôn khẳng định, không cho phép bất kỳ một thế lực thù địch nào sử dụng lãnh thổ của mình để gây phương hại cho an ninh của nước kia. Trên cơ sở các hiệp ước, hiệp định và thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước, các cơ quan chính quyền và nhân dân địa phương biên giới hai bên đang phối hợp tích cực triển khai công tác phân giới cắm mốc trên đất liền. Hai bên đã ký 2 văn kiện pháp lý ghi nhận thành quả phân giới cắm mốc khoảng 84% đường biên giới trên đất liền Việt Nam-Campuchia và hiện nay đang nỗ lực đàm phán, giải quyết 16% còn lại để tiếp tục xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững.


Đặc biệt, đối ngoại biên phòng giữa Việt Nam và Campuchia được lãnh đạo Bộ Quốc phòng hai nước đánh giá là tiếp tục được triển khai đồng bộ, hiệu quả và tạo nhiều dấu ấn; góp phần tăng cường hơn nữa mối quan hệ hữu nghị truyền thống, láng giềng tốt đẹp, hợp tác toàn diện giữa nhân dân và Quân đội hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới. Triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị định thư và Kế hoạch hợp tác giữa hai Bộ Quốc phòng Việt Nam - Campuchia, Bộ Tư lệnh BĐBP Việt Nam và lực lượng bảo vệ biên giới Campuchia đã phối hợp chặt chẽ trong quản lý, bảo vệ biên giới và triển khai các biên bản hợp tác hiệu quả, thiết thực. Bộ Chỉ huy BĐBP 10 tỉnh biên giới của Việt Nam đã phối hợp tốt với lực lượng bảo vệ biên giới 9 tỉnh biên giới của Campuchia tổ chức gặp gỡ, trao đổi tình hình, cùng nhau đánh giá những vấn đề có liên quan đến chủ quyền, an ninh, trật tự biên giới trên tinh thần đoàn kết, hữu nghị đặc biệt, tin cậy và hiểu biết lẫn nhau. Công tác phối hợp tuần tra song phương giữa các đồn, trạm Biên phòng Việt Nam và các đơn vị bảo vệ biên giới của Campuchia luôn được duy trì, góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới. Các hoạt động giao lưu hữu nghị, kết nghĩa ở khu vực biên giới; kết nghĩa giữa các đồn, trạm thuộc lực lượng bảo vệ biên giới hai nước, kết nghĩa cụm dân hai bên biên giới cũng được đẩy mạnh thực hiện.


Qua quá trình lịch sử lâu dài, trải qua nhiều thử thách, quan hệ Việt Nam-Campuchia vẫn không ngừng được xây dựng, vun đắp, góp phần quan trọng tạo dựng môi trường hòa bình, hợp tác, hữu nghị tại khu vực. Với phương châm "Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài", với những định hướng và khuôn khổ hợp tác trong thời kỳ mới, cùng quyết tâm của lãnh đạo và nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam - Campuchia sẽ tiếp tục phát triển, vì sự phồn vinh của mỗi quốc gia, vì cuộc sống ấm no của nhân dân mỗi nước, đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới./. 

ST


PHÁT HUY MẠNH MẼ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG


Giữa bối cảnh mạng xã hội đang phát triển như vũ bão, vị thế của báo chí cách mạng không hề bị giảm sút, mà ngược lại cần tiếp tục được củng cố, nâng cao phù hợp với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.


Trải qua 98 năm hình thành và phát triển, báo chí cách mạng Việt Nam đã đồng hành cùng đất nước và dân tộc, là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò tiên phong trên trận địa tư tưởng, bảo vệ Ðảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng do Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, trong đó, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một nhiệm vụ thường xuyên được các cơ quan báo chí quán triệt, nghiêm túc thực hiện.


Ngày 22/11/2017, Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 23-KL/TW về “Tăng cường chỉ đạo, quản lý, phát huy vai trò của báo chí, xuất bản trong việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, trong đó xác định rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Ngày 8/4/2020, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 43-CT/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam”, trong đó, chỉ ra những thách thức trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp; khoa học công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, bên cạnh những thuận lợi cũng gây ra khó khăn cho hoạt động của báo chí; báo chí có nguy cơ bị truyền thông xã hội chi phối, lấn át; các thế lực thù địch không ngừng chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta…


Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại. (…). Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị – xã hội, thuần phong mỹ tục”(1).


Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII tiếp tục chỉ rõ vai trò của báo chí trong tình hình mới: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, các cơ quan báo chí và nhân dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Nâng cao chất lượng công tác dư luận xã hội và đánh giá sự hài lòng của người dân; chủ động dự báo tình hình, kịp thời xử lý thông tin, định hướng dư luận xã hội. Tiếp tục thực hiện đồng bộ quy hoạch phát triển, quản lý báo chí, xuất bản; tăng cường định hướng và đề cao sứ mệnh, trách nhiệm, nâng cao chất lượng hoạt động của báo chí, quản lý chặt chẽ các trang tin điện tử, nhất là mạng xã hội…”(2).


Từ các văn kiện, nghị quyết nêu trên cho thấy chủ trương, đường lối của Đảng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã được tổ chức thực hiện đồng bộ, mạnh mẽ, quyết liệt ở các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương. Theo đó, các kênh phát thanh, truyền hình, cơ quan báo chí trên cả nước đã có những biện pháp chủ động, tích cực, đổi mới, sáng tạo nhằm tăng cường tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước sâu rộng đến quần chúng nhân dân; thực hiện các chương trình, tuyến bài trực tiếp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng…


Từ khi Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” được ban hành, đến nay có thể thấy, báo chí nước ta đã có những đóng góp to lớn vào việc ngăn chặn có hiệu quả và làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động trong việc xuyên tạc tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh làm thất bại các luận điệu và hoạt động chống phá sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, chống phá nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xuyên tạc vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể với ý đồ “tư nhân hóa” kinh tế để hướng lái chế độ chính trị ở Việt Nam ngả dần theo con đường tư bản chủ nghĩa; làm thất bại âm mưu lợi dụng các vấn đề dân chủ, tự do, nhân quyền, tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta; ngăn chặn, làm thất bại âm mưu cô lập, cản trở Việt Nam tham gia quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, tranh thủ sức mạnh ngoại lực để phát triển đất nước; đấu tranh có hiệu quả trong việc phản bác các luận điệu sai trái đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; giúp nhân dân hiểu đúng và có niềm tin khoa học vào tính cách mạng của nền tảng tư tưởng của Đảng, nhận thức rõ bản chất thật sự của các luận điệu sai trái, xuyên tạc mà các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền, nhất là trên không gian mạng; kiên định trên cơ sở bổ sung, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp điều kiện thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển của đất nước; đấu tranh có hiệu quả, từng bước ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; phản bác các luận điệu xuyên tạc xung quanh công tác phòng, chống tham nhũng, công tác bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ…


Nhiều âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch, phản động đã bị các cơ quan báo chí kịp thời phát hiện, đấu tranh trực diện bằng nhiều bài viết, sản phẩm báo chí chất lượng, có tính chính xác và sức thuyết phục. Thông qua các tác phẩm báo chí chính luận, đại bộ phận nhân dân đã nhận ra bản chất thật của các âm mưu, luận điệu như: cản trở Việt Nam ký kết Hiệp định thương mại tự do với Liên minh Châu Âu Việt Nam (EVFTA); ngăn cản Việt Nam lần thứ hai ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc; xuyên tạc về chính sách dân tộc của Việt Nam liên quan đến vụ khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân diễn ra tại Đắk Lắk…


Báo chí cũng đã làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền những tác phẩm lớn, công phu, có tính lý luận cao về xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mà gần đây là hai cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”; “Cả nước đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.


Những kết quả trên càng đáng được ghi nhận trong bối cảnh báo chí gặp nhiều khó khăn, nhất là việc sụt giảm doanh thu bởi tác động lâu dài của suy thoái kinh tế do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, xung đột vũ trang giữa Nga và Ukraine, suy giảm quan hệ thương mại Mỹ – Trung. Không chỉ vậy, theo số liệu thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy, khoảng 50% doanh thu của báo chí đang “chảy” vào các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới…


Thời gian qua, vẫn còn những tồn tại, hạn chế, vướng mắc ảnh hưởng đến việc phát huy vai trò của báo chí trong công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đó là tình trạng “báo hóa” trang tin điện tử và mạng xã hội vẫn diễn ra phổ biến mà chưa có chế tài ngăn chặn hiệu quả; công tác quy hoạch, sắp xếp báo chí còn có những khó khăn, nhạy cảm, cần tiếp tục làm rõ, bổ sung nhiều nội dung, quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp; lộ trình tự chủ của nhiều cơ quan báo chí tiếp tục gặp nhiều thách thức vì chưa có cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ đủ mạnh… Cùng với đó, do hạn chế về nguồn lực nên khả năng thích ứng với xu thế truyền thông hiện đại của không ít cơ quan báo chí còn lúng túng; chất lượng nguồn nhân lực làm công tác báo chí chưa thực sự tương xứng với vai trò và vị trí tiên phong trong định hướng dư luận xã hội, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đặc biệt là trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ…


Để khắc phục những hạn chế, vướng mắc nêu trên, đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của báo chí cách mạng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần quan tâm hơn nữa đến một số vấn đề sau:


Một là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan lãnh đạo, quản lý báo chí, cơ quan chủ quản về vai trò của báo chí, truyền thông trong “tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” theo hướng phối hợp chặt chẽ, đồng bộ việc trao đổi, định hướng thông tin, đặc biệt là đối với các sự kiện lớn, những vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau, để kịp thời thông tin chính xác đến các tầng lớp nhân dân.


Hai là, triển khai đồng bộ nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch đặc biệt là trên không gian mạng và các nền tảng mạng xã hội.


Về nội dung, cần tiếp tục bám sát vào những vấn đề “nóng” mà các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng để xuyên tạc, chống phá như: nhân quyền, tự do ngôn luận, vai trò lãnh đạo của Đảng, chủ quyền quốc gia, quan hệ của Việt Nam với các nước láng giềng, các nước lớn… Tăng cường tính chủ động, kịp thời, linh hoạt, hiệu quả trong một số sự kiện, vấn đề lớn diễn ra trong thời gian tới như chuẩn bị công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng; tuyên truyền xung quanh công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết mới của Trung ương thay thế Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước. Đồng thời chú trọng tuyến bài biểu dương, cổ vũ các gương điển hình trong công tác xây dựng Đảng, phong trào thi đua yêu nước thời kỳ đổi mới. Thông qua việc nêu gương để định hướng tư tưởng, dẫn dắt, tạo ảnh hưởng lan tỏa, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, tạo hiệu ứng xã hội sâu rộng. Báo chí phải thực sự trở thành diễn đàn để đảng viên và nhân dân tham gia trực tiếp vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phát huy thế trận lòng dân trong đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch.


Về hình thức, cần sử dụng đa dạng loại hình báo chí, thế mạnh của truyền thông mạng xã hội để nâng cao khả năng tiếp cận độc giả, thu hút công chúng, tuyên truyền phổ biến rộng rãi đến các tầng lớp nhân dân. Các tác phẩm cần có sự thể hiện đa dạng về thể loại như Inforgraphic, Longform, Short Video, Vlog, Reaction Video…


Về nguồn lực con người thực hiện công tác báo chí, cần chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để các phóng viên nhận thức sâu sắc “làm báo là làm cách mạng”, người làm báo là chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng. Kết hợp bồi dưỡng chính trị với nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ để có thể sản xuất các sản phẩm báo chí sáng tạo, đa phương tiện, giàu sức chiến đấu, đề cao tính lý luận nhưng vẫn bảo đảm hấp dẫn, thu hút người đọc, người xem.


Ba là, đầu tư cho phát triển báo chí theo hướng hiện đại, đồng thời thực hiện tốt quy hoạch báo chí. Quyết tâm chuyển đổi số báo chí nhằm mục tiêu xây dựng các cơ quan báo chí theo hướng chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước để bảo đảm báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, tiến tới tự chủ phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, mạng xã hội.


Bốn là, hoàn thiện các văn bản pháp luật và cơ chế thực hiện nhằm ngăn chặn có hiệu quả tình trạng báo hóa mạng xã hội, tư nhân hóa báo chí, đẩy lùi hiện tượng hoạt động không đúng tôn chỉ, mục đích, sa đà vào những thông tin giật gân, câu khách, lệch lạc chỉ nhằm đáp ứng thị hiếu tầm thường của một bộ phận công chúng.


Đến thời điểm này, chúng ta đã đi được hơn nửa chặng đường thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trong bối cảnh đất nước đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, có khó khăn chưa có tiền lệ, Đảng ta vẫn “vững chí bền gan” thực hiện công cuộc đổi mới. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh chống lại các luận điệu lợi dụng tự do, dân chủ để rêu rao chiêu bài đa nguyên, đa đảng; lợi dụng chống tham nhũng, tiêu cực để quy kết, bôi xấu chế độ, gây nghi ngờ, chia rẽ trong nội bộ Đảng, làm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước với nhân dân; lợi dụng vấn đề tôn giáo, sắc tộc để đòi tự trị, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Trong bối cảnh đó, người làm báo cách mạng phải “đi tiên phong trên mặt trận tư tưởng, tỉnh táo, cảnh giác, lấy chính thực tiễn sinh động của đất nước đổi mới để tấn công, vạch trần âm mưu thâm độc của các thế lực xấu, thù địch, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ ta”./.

ST

ĐỀ CAO VAI TRÒ KẾT NỐI NHỊP CẦU HỮU NGHỊ VIỆT NAM - CAMPUCHIA CỦA THANH NIÊN

 

Nhân kỷ niệm 45 năm Ngày Chiến thắng 7/1, ngày giải phóng đất nước và nhân dân Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot (7/1/1979-7/1/2024), báo Khmer Times ngày 5/1 đã đăng bài viết của chuyên gia Uch Leang - nhà nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Hoàng gia Campuchia (RAC), trong đó nhấn mạnh và đề cao vai trò của thanh niên trong việc gây dựng “cầu nối hữu nghị” Việt Nam - Campuchia trong tiến trình xây dựng, phát triển và gìn giữ hòa bình trên “Đất nước Chùa Tháp”.


Cùng ngày, phiên bản tiếng Khmer của bài viết cũng được đăng tải trên trang chủ của RAC với tiêu đề “Kỷ niệm 45 năm Ngày Chiến thắng 7/1: Thanh niên là nhịp cầu kết nối tình hữu nghị”.


Theo phóng viên TTXVN tại Phnom Penh, trong bài viết với tiêu đề “Kỷ niệm 45 năm Ngày Chiến thắng 7/1: Thanh niên vững vàng xây cầu hữu nghị”, nhà nghiên cứu Uch Leang đã nhắc lại sự kiện lịch sử vào ngày 7/1/1979, lực lượng quân đội Mặt trận Đoàn kết Cứu quốc Campuchia và nhân dân Campuchia, với sự hỗ trợ của bộ đội tình nguyện và nhân dân Việt Nam, đã lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, giải phóng dân tộc và đất nước Campuchia khỏi chế độ diệt chủng vốn đã khiến hơn 3 triệu người dân vô tội thiệt mạng. Đây là sự kiện lịch sử thể hiện tinh thần đại đoàn kết quốc tế giữa nhân dân và quân đội hai nước Campuchia - Việt Nam, mở ra trang mới trong quan hệ hữu nghị, láng giềng tốt đẹp giữa hai nước.


Theo bài viết, trong chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Campuchia Samdech Thipadei Hun Manet tới Việt Nam từ ngày 11-12/12/2023, tại các cuộc gặp với phái đoàn Hội Hữu nghị Việt Nam - Campuchia và đoàn đại biểu Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh của phía Việt Nam, hai bên đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của mình trong ngoại giao nhân dân, giao lưu văn hóa, hoạt động nhân đạo và thương mại. Các cuộc thảo luận tập trung vào những định hướng trong thời gian tới nhằm duy trì và nâng cao tinh thần đoàn kết, hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước, đặc biệt là thế hệ trẻ, góp phần hợp tác trên các lĩnh vực như thương mại, giáo dục, du lịch.


Trong khi đó, phát biểu tại tiệc chiêu đãi do Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Samdech Thipadei Hun Manet tới Việt Nam, Thủ tướng Hun Manet đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục, phổ biến cho người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hiểu rõ sự thật lịch sử, cũng như tầm quan trọng và giá trị của mối quan hệ gắn bó giữa Campuchia và Việt Nam”.


Bài viết cũng cho biết trong cuộc gặp giữa Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Campuchia Hun Many và phái đoàn Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam do Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Bùi Quang Huy dẫn đầu tại trụ sở Hội Liên hiệp Thanh niên Campuchia vào ngày 24/5/2023, hai bên đã cam kết tăng cường hợp tác thông qua trao đổi chuyến thăm giữa các đoàn thanh niên và tìm kiếm cơ hội cho nhiều dự án chung giữa hai bên. Trong khi đó, ông Hun Many đã kêu gọi phía Việt Nam tiếp tục khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư nhiều hơn nữa để thúc đẩy sự phát triển kinh tế của hai nước.


Từ nhận định trên, nhà nghiên cứu thuộc RAC khẳng định đó là minh chứng thực tiễn của việc duy trì và nâng cao tinh thần đoàn kết, hữu nghị, hiểu biết giữa nhân dân hai nước Campuchia - Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Qua đó, góp phần thúc đẩy các hoạt động hợp tác, khởi nghiệp, giáo dục, du lịch nhằm hỗ trợ nền kinh tế Campuchia tiếp tục phát triển và đạt được nhiều thành tựu mới theo phương châm “Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” giữa Campuchia và Việt Nam./. 

ST


BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM: CHIẾN THẮNG CỦA TÌNH ĐOÀN KẾT

 

Chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam là biểu tượng cao đẹp của tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam và Campuchia.


Hồi sinh một đất nước


Chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Việt Nam cùng quân dân Campuchia xóa bỏ chế độ diệt chủng đã giúp xứ Chùa tháp hồi sinh, bước vào kỷ nguyên mới, hòa bình, hòa hợp và phát triển.


Trong chiều dài lịch sử, Việt Nam và Campuchia luôn đoàn kết bên nhau, kề vai sát cánh cùng chống kẻ thù chung, giành độc lập, tự do cho mỗi nước. Những năm tháng cam go của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đáp lại lời kêu gọi của cách mạng Campuchia, Việt Nam sẵn sàng đưa quân tình nguyện sang giúp nước bạn. Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Campuchia ngày 17/4/1975 là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu thủy chung, trong sáng giữa ba nước Đông Dương.


Tuy nhiên, sau khi lên nắm quyền vào tháng 4/1975, được các thế lực bên ngoài giúp sức, tập đoàn Pol Pot Ieng Sary đã phản bội nhân dân Campuchia. Chúng lập nên cái gọi là “nhà nước Campuchia dân chủ”, thi hành chế độ diệt chủng, thanh trừng nội bộ... Chỉ trong 3 năm 8 tháng và 20 ngày, từ tháng 4/1975 đến cuối năm 1978, bè lũ Pol Pot đã giết hại gần 3 triệu người dân Campuchia vô tội, xóa bỏ mọi hình thức xã hội, đẩy đất nước Campuchia tươi đẹp đứng trước thảm họa diệt vong. Lực lượng yêu nước Campuchia đứng trước tình thế vô cùng khó khăn như lời Thủ tướng Campuchia Hun Sen rằng “Chúng ta chẳng còn gì ngoài hai bàn tay trắng và ngồi chờ cái chết”.


Đối với Việt Nam, tập đoàn Pol Pot Ieng Sary xuyên tạc lịch sử, kích động thù hằn dân tộc, gây rối rồi xâm lấn lãnh thổ trên vùng biển biên giới Tây Nam, chà đạp lên những giá trị tốt đẹp giữa hai nước. Chúng còn được tiếp sức từ bên ngoài, đưa quân áp sát biên giới rồi đánh chiếm đảo Thổ Chu và một số đảo khác ở khu vực Tây Nam. Đêm ngày 30/4/1977, lợi dụng lúc quân và dân ta kỷ niệm hai năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, tập đoàn Pol Pot mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới thuộc địa phận tỉnh An Giang, chính thức bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam Việt Nam.


Trước hành động gây hấn, mở rộng chiến tranh của Pol Pot, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã kiềm chế và kiên trì thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị. Nhưng càng kiềm chế, thì chúng càng lấn tới, buộc Việt Nam phải chọn con đường đứng lên thực hiện quyền tự vệ chính đáng. Đáp lại lời kêu cứu của nhân dân Campuchia và lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, ngày 23/12/1978, quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia tổng phản công trên toàn tuyến biên giới. Ngày 26/12/1978, toàn bộ hệ thống phòng thủ vòng ngoài của quân Pol Pot bị phá vỡ. Đến ngày 31/12/1978, quân và dân ta đã hoàn thành nhiệm vụ đánh đuổi quân Pol Pot, thu hồi toàn bộ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc bị kẻ thù lấn chiếm. Ngày 7/1/1979, thủ đô Phnom Penh hoàn toàn giải phóng. Thắng lợi của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam không chỉ đập tan âm mưu xâm lược, mà còn lật đổ chế độ diệt chủng của tập đoàn Pol Pot, đưa nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng, giành lại quyền được sống, quyền làm người, bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do...


Trong cuộc chiến đấu gian khổ và ác liệt đó, biết bao cán bộ, chiến sĩ Việt Nam đã hy sinh, để lại một phần máu, thịt trên các chiến trường nước bạn.Thủ tướng Hun Sen khi còn tại vị đã khẳng định: “Nếu không có ngày 7/1/1979, nhân dân Campuchia không thể có được những gì trong ngày hôm nay. Đây là chân lý lịch sử không một thế lực phản động nào có thể phủ nhận”.


Tại Hội đàm với Thủ tướng Phạm Minh Chính (ngày 11/12/2023) trong chuyến thăm Việt Nam đầu tiên kể từ khi lên nhậm chức, Thủ tướng Campuchia Samdech Thipadei Hun Manet bày tỏ chân thành cảm ơn quân đội và nhân dân Việt Nam đã giúp Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot, cũng như trân trọng truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai nước trong thời kỳ đấu tranh chống thực dân, đế quốc trước đây. Trong buổi giao lưu với cán bộ, giảng viên, sinh viên Trường Đại học Ngoại thương ngày 12/12, Thủ tướng Hun Manet tiếp tục khẳng định, đó là chân lý lịch sử không thể phủ nhận được và là cơ sở để xây dựng tương lai lịch sử hai nước, điều này mang ý nghĩa rất quan trọng. Campuchia không bao giờ quên sự giúp đỡ của Việt Nam.


Thủy chung son sắt


Sau thắng lợi ngày 7/1/1979, tàn quân Pol Pot còn khoảng 4 vạn tên do bọn đầu sỏ chỉ huy rút chạy ẩn náu ở các vùng biên giới phía Tây, Tây Bắc Campuchia và một số nơi trong nội địa, dựa vào sự giúp đỡ của bên ngoài tiếp tục chống phá cách mạng. Chúng đẩy mạnh các hoạt động chính trị, ngoại giao, tạo sức ép đẩy quân tình nguyện Việt Nam ra khỏi Campuchia trong khi lực lượng cách mạng của nước bạn còn yếu; chúng hy vọng phản công chiếm lại thủ đô Phnom Penh với ảo tưởng lập lại chính quyền diệt chủng.


Ngày 18/2/1979, tại Phnom Penh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Chủ tịch Heng Samrin thay mặt Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia ký “Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và hợp tác”. Hai bên cam kết hết lòng ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau bằng mọi hình thức nhằm tăng cường khả năng bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và công cuộc lao động hòa bình của nhân dân mỗi nước.


Thực hiện Hiệp ước, trong 10 năm tiếp theo, từ 1979-1989, Việt Nam tiếp tục giúp Campuchia vừa xây dựng lực lượng, vừa phối hợp truy quét tàn quân Pol Pot, đồng thời xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng, ổn định, hồi phục đời sống trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, giáo dục, giao thông vận tải, y tế… chăm lo đời sống nhân dân.


Trong 10 năm làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã anh dũng hy sinh. Người dân Campuchia trìu mến gọi những chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam là bộ đội nhà Phật. Khi tình hình Campuchia đi vào ổn định, ngày 26/9/1989, trước sự chứng kiến của truyền thông quốc tế, các đơn vị cuối cùng của quân tình nguyện Việt Nam rút quân về nước. Khi đó, báo Pracheachon của Campuchia ra xã luận viết: “Trong những năm cực kỳ bi thảm dưới chế độ diệt chủng Pol Pot, trên thế giới này, có không biết bao nhiêu kẻ mạnh, kẻ giàu nhưng duy nhất chỉ có người bạn láng giềng nghèo Việt Nam đến cứu dân tộc ta mà thôi”.


Phát biểu trong buổi gặp mặt người dân, sinh viên Việt Nam và Campuchia cùng các thế hệ bộ đội tình nguyện, chuyên gia Việt Nam đã từng có thời gian sang giúp nhân dân Campuchia bảo vệ và xây dựng đất nước, ngày 21/6/2017 tại Bình Dương nhân kỷ niệm 40 năm ngày cùng đồng đội bắt đầu con đường cách mạng cứu đất nước khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot, Thủ tướng Hun Sen tiếp tục khẳng định: “Không có sự giúp đỡ của Việt Nam thì Campuchia không có ngày nay, dứt khoát là thế”.


Mở trang sử mới


Chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng ngày 7/1/1979 trở thành mốc son lịch sử của tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, hữu nghị giữa hai dân tộc, là sự tiếp nối truyền thống đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc.


Ngày nay, mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Campuchia được tiếp thêm sức mạnh từ những truyền thống lâu đời trong lịch sử, đã và đang được củng cố và phát triển theo phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”. Về chính trị, lãnh đạo cấp cao hai bên thường xuyên điện đàm, hội đàm trực tuyến, kể cả trong thời gian dịch bệnh Covid-19. Đặc biệt là việc Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia, Thủ tướng Samdech Techo Hun Sen sang Việt Nam dự cuộc gặp với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào Thongloun Sisoulith ngày 26/9/2021 và có các cuộc gặp với Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ.


Hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước và giữa các tỉnh biên giới khá sôi động. Kim ngạch thương mại hai nước năm 2023 dự kiến cán mốc 9 tỷ USD và đang phấn đấu đạt 20 tỷ USD trong thời gian tới. Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ ba của Campuchia, sau Trung Quốc và Mỹ và là đối tác thương mại lớn nhất của Campuchia trong ASEAN. Đặc biệt, Campuchia đứng thứ 2/79 quốc gia, vùng lãnh thổ mà Việt Nam có đầu tư ra nước ngoài.


Hợp tác trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh ngày càng thực chất hiệu quả, là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước. Các lĩnh vực hợp tác khác về giáo dục, đào tạo, giao thông vận tải, văn hóa, y tế, viễn thông… được quan tâm đẩy mạnh. Hai nước thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, nhất là ở các địa phương giáp biên giới, phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn quốc tế, khu vực và tiểu vùng, nâng cao vị trí, uy tín của mỗi nước.


Ngày 20/6/2022, tại Lễ kỷ niệm 45 năm “Con đường tiến tới đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot” được tổ chức tại Lộc Ninh, Bình Phước – nơi Thủ tướng Hun Sen và đồng đội đặt những bước chân đầu tiên trong hành trình cách mạng,nhà lãnh đạo Campuchia khẳng định, “45 năm qua, quan hệ hai nước ngày càng sâu sắc, trên tất cả các lĩnh vực. Sự giúp đỡ của nhân dân Việt Nam thể hiện tinh thần hữu nghị trong sáng, tốt đẹp giữa hai nước, nhân dân hai nước. Tôi tin tưởng mối quan hệ này sẽ mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững”./. 

ST


TÔN TRỌNG VÀ TIN CẬY


Tôn trọng và tin cậy là một đề tài kinh điển, là anh em sinh đôi đáng yêu và không thể chia cắt; là đạo đức tốt đẹp không thể thiếu trong quan hệ hợp tác giữa người với người. Ai có và biết vận dụng khôn khéo đạo đức tốt đẹp này cũng sẽ được người khác tôn trọng và tin cậy, khiến sức liên kết của mình mạnh mẽ hơn hết bao giờ, cuộc giao lưu và hợp tác thuận lợi cũng như nhu cầu được thỏa mãn tốt hơn bao giờ hết. 


Ở một doanh nghiệp, đơn vị, chúng ta thường xuyên phải xử lý các mối quan hệ và sự việc với các thành viên. Giữa các thành viên tuy rất thân quen với nhau nhưng khi xử lý công việc mới thấy phức tạp và rối bời, đa dạng và tế nhị của chúng. Cung cách ứng xử bằng thái độ như thế nào sẽ gặt hái kết quả như thế ấy.


Trong giao tiếp, chỉ khi nào các bên tin cậy lẫn nhau mới có thể sinh ra lực mạnh nhất; tỵ hiềm, nghi kỵ lẫn nhau chỉ dẫn đến xa cách, bằng mặt không bằng lòng. Tôn trọng nhau, mới có thể chung lưng đấu cật, coi thường khinh bỉ nhau chỉ có thể mỗi người một ngả, thậm chí quay lưng lại nhau. Người Trung Quốc nói, bản thân chữ Người (?) đã ngụ ý sự nâng đỡ nhau, cái nền tảng nâng đỡ nhau đó, chính là sự tôn trọng và tin cậy lẫn nhau. Tin cậy có thể ví như dầu bôi trơn, tôn trọng tức là động cơ cỡ lớn, kéo con người nhịp nhàng tiến lên.


Đánh mất tôn trọng và tin cậy, dựa vào cái gì để vãn hồi mối quan hệ? Giữa các thành viên không còn sự tôn trọng và tin cậy sẽ rơi vào bãi lầy của sự cô đơn, thất bại, thậm chí mất hút trong rừng hoang bất lực và sụp đổ.


Phát triển quan hệ giữa các thành viên trong doanh nghiệp, đơn vị như thế nào, được quyết định bởi cách hành xử, vận dụng tôn trọng và tin cậy. Mỗi thành viên cảm thấy mình được các thành viên khác tôn trọng và tin cậy là rất quan trọng. Nếu anh không tin cậy tôi, dù anh cho tôi bao lợi lộc, thì tôi vẫn cảm thấy áy náy, cảm thấy mình bị nghi ngờ, bị tổn thương, thậm chí mất đi mặt sáng giá nhất của nhân cách, vị thế tồn tại của tôi. Mỗi người chỉ có thể nhận được tình yêu bằng cách mình dâng tặng cho người khác tình yêu, dù giữ chức vụ cao hay thấp, dù tôi là giám đốc anh là công nhân. Do đó, muốn giành được sự tôn trọng và tin cậy của người khác, thì trước hết mình phải là một nhân cách thành thật và lương thiện.


Điều này rất quan trọng. Khi cộng sự, nếu hai thành viên không tin cậy nhau làm sao có thể chân thành với nhau, thắt chặt quan hệ với nhau. Cho nên, tôn trọng và tin cậy là tiền đề dỡ bỏ phên dậu tâm lý giữa các thành viên, là cơ sở của sự bình đẳng cần có, là bảo đảm để cỗ máy vận hành trơn tru, để mỗi người suy nghĩ và hành động vì người khác, vì sự phát triển của cộng đồng và vì danh dự của chính bản thân mình!


Mỗi thành viên có vị trí, chức năng, nhiệm vụ riêng của mình nhưng tôn trọng các thành viên khác là tôn trọng mình. Ai cũng có cái khó của mình, tin cậy người khác là tin cậy mình. Tôn trọng và tin cậy là nhân tố khích lệ, là sức mạnh to lớn vô hình, nó có thể thay đổi nhận xét của chúng ta với mỗi người, với cuộc đời và sự nghiệp chung. Trong các mối quan hệ ở một doanh nghiệp, đơn vị, chỉ có tôn trọng và tin cậy không thôi thì chưa đủ. Nhưng, thiếu hoặc không có chúng, thật là khủng khiếp. Trong trái tim các thành viên, tin cậy là ánh mắt khích lệ, sưởi ấm tâm hồn, tôn trọng là mảnh đất phì nhiêu, nuôi dưỡng sự sinh tồn và phát triển của doanh nghiệp, tất nhiên cả của mỗi thành viên, mỗi công nhân và người lao động.


Ấy là tâm sự của một ông Giám đốc khi được hỏi về mối quan hệ với đồng chí Bí thư Chi bộ, Chủ tịch Công đoàn và Bí thư Đoàn Thanh niên, ở một doanh nghiệp tư nhân, mà doanh nghiệp vừa vinh dự đón nhận giải thưởng Sao Vàng đất Việt. Xin ghi lại ngõ hầu để chúng ta cùng suy ngẫm và hành động./. 

ST