Chủ Nhật, 7 tháng 1, 2024

KHẲNG ĐỊNH THÀNH TỰU NHÂN QUYỀN, LAN TỎA VỚI THẾ GIỚI

    Xuyên suốt các giai đoạn cách mạng, nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, tất cả vì con người, vì nhân dân và lấy con người làm trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự phát triển… được thể hiện, chứng minh trong mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước và thực tế thành tựu nước ta đạt được.
    Không thể phủ nhận thành tựu nhân quyền của Việt Nam
    Bên cạnh những nỗ lực xây dựng và hoàn thiện thể chế về quyền con người, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người trên các phương diện của đời sống xã hội. Các quyền con người về dân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa ở Việt Nam được quy định rõ trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Quyền bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý nhà nước và xã hội của người dân được phát huy. Các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền bình đẳng của các dân tộc; quyền sống, được tôn trọng về nhân phẩm và bất khả xâm phạm về thân thể; quyền tự do đi lại và cư trú… của người dân được tôn trọng. Việt Nam đã thành công về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quyền con người. Cụ thể như sau:
    Một là, công tác xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả nổi bật; đời sống của người dân ngày càng được nâng lên. Tỷ lệ hộ nghèo từ gần 60% vào năm 1986 giảm xuống còn dưới 3% vào năm 2022. GDP bình quân đầu người tăng từ 86 USD năm 1986 lên 4.110 USD năm 2022. Nước ta về đích trước thời hạn theo mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) và phát triển bền vững (SDG) của Liên hợp quốc; thực sự trở thành điểm sáng của thế giới, được nhân dân cả nước và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
    Hai là, chất lượng an sinh xã hội ngày càng được nâng cao. Việc bảo đảm an sinh xã hội đã chuyển từ hỗ trợ nhân đạo sang bảo đảm quyền an sinh của công dân. Số người hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên tăng hằng năm và đạt 3,3 triệu người năm 2022. Trong 3 năm phòng, chống dịch COVID -19 đã hỗ trợ với số tiền trên 120.000 tỷ đồng và trên 200.000 tấn gạo cho trên 68 triệu lượt người dân gặp khó khăn. Nhà nước đóng vai trò chủ đạo và huy động, phát huy vai trò quan trọng của cá nhân, doanh nghiệp, xã hội. Đã dành nguồn lực khoảng 20% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho chính sách xã hội. Việt Nam đã hoàn thành trước hạn nhiều Mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ (MDG). Theo Liên hợp quốc, chỉ số phát triển con người (HDI) ở Việt Nam liên tục tăng qua từng năm và hiện lọt vào nhóm phát triển con người cao, xếp thứ 115/191 quốc gia và vùng lãnh thổ…
Ba là, không ngừng được mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp. Tỷ lệ tham gia BHXH năm 2022 đạt 38,08% và bảo hiểm thất nghiệp đạt 31,18% lực lượng lao động trong độ tuổi; tỉ lệ tham gia BHXH tự nguyện ngày càng tăng đến nay đạt 1,46 triệu người. Người dân tiếp cận ngày càng tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản. Về giáo dục, trẻ em đi học đúng tuổi cấp tiểu học đạt 99% từ năm 2015, cấp trung học cơ sở đạt trên 95% từ năm 2020. Năm 2022, 92% người dân tham gia BHYT; 90% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ... Về nhà ở, đến năm 2020, đã hỗ trợ chỗ ở cho 648.000 hộ nghèo nông thôn, 323.000 căn nhà cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn.
Bốn là, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thúc đẩy. Tính đến nay, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau với trên 26,7 triệu tín đồ, trên 55 nghìn chức sắc, khoảng 135 nghìn chức việc; trên 29 nghìn cơ sở thờ tự. Ngoài ra, hàng năm ở nước ta có trên 8.000 lễ hội về tín ngưỡng, tôn giáo, quy tụ hàng vạn tín đồ tham gia; cơ quan Nhà nước tạo điều kiện tối đa cho các hoạt động tự do tín ngưỡng tôn giáo, đúng pháp luật.
Năm là, trong thực hiện bình đẳng giới, phụ nữ là một trong những đối tượng được ưu tiên trong chiến lược phát triển của Việt Nam. Năm 2022, Việt Nam đứng thứ 60 trên thế giới, đứng thứ 4 ở châu Á và đứng đầu trong Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam Á về tỷ lệ nữ tham gia cơ quan dân cử; đứng thứ 3 trong khu vực ASEAN và thứ 47/187 quốc gia trên thế giới tham gia xếp hạng về bình đẳng giới trong tham chính và trong công tác quản lý. Trong lĩnh vực kinh tế, cơ hội lao động, việc làm của phụ nữ như nam giới. Đánh giá chung, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; diện mạo đất nước có nhiều thay đổi theo hướng tích cực; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; kinh tế, xã hội phát triển toàn diện và hài hòa. Chính vì thế đã củng cố niềm tin của người dân, khẳng định quyền con người dưới chế độ XHCN ở nước ta luôn được quan tâm, chú trọng, thực thi hiệu quả.
    Tích cực đóng góp vào hoạt động nhân quyền của Liên hợp quốc
    Cùng với những thành tựu trên, Việt Nam còn tham gia tích cực, là thành viên có trách nhiệm trong các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc từ khi cơ quan này được thành lập từ năm 2006 đến nay. Trong đó, nổi bật là chúng ta đã tham gia tích cực các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền, thúc đẩy các sáng kiến thể hiện dấu ấn, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, nhất là việc tham gia Nhóm nòng cốt tại Hội đồng Nhân quyền về “Biến đổi khí hậu và quyền con người”, đảm nhiệm thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế. Không phải ngẫu nhiên cách đây hơn một năm, vào ngày 11/10/2022 tại New York, Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN đã trúng cử với số phiếu cao, trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Việt Nam đã thúc đẩy thông điệp ứng cử “Tôn trọng và hiểu biết, đối thoại và hợp tác, tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người”, được các nước đồng tình, ủng hộ.
Trong những ngày đầu tháng 4/2023, tại trụ sở Văn phòng Liên hợp quốc ở Geneva (Thụy Sĩ), khóa họp thường kỳ lần thứ 52 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã hoàn thành chương trình đề ra từ đầu khóa họp với 43 nghị quyết được thông qua, trong đó có Nghị quyết về kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền. Nghị quyết là một dấu ấn nổi bật của Việt Nam tại khóa họp trên cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, thể hiện đóng góp thực chất, trách nhiệm của Việt Nam vào công việc của Hội đồng Nhân quyền. Nghị quyết đã truyền tải đi nhiều thông điệp lớn và tích cực, trong đó có tăng cường hơn nữa sự hợp tác và tinh thần đoàn kết quốc tế trước tình trạng một số khu vực trên thế giới thời gian qua xung đột, chia rẽ sâu sắc.
    Tham gia vào các công ước quốc tế về quyền con người là một chủ trương thường xuyên và nhất quán của Việt Nam, thể hiện cam kết cũng như quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Việt Nam trong việc bảo đảm và thực thi các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế về quyền con người. Đặc biệt, sau khi trở thành thành viên của Liên hợp quốc vào năm 1977, Việt Nam đã tích cực, chủ động tham gia hầu hết vào các công ước quốc tế về quyền con người. Đến nay, chúng ta đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam thực sự là điểm sáng, tiên phong trong thực hiện cam kết.
    Việt Nam tuân thủ nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc tham gia. Chúng ta đã trình và bảo vệ thành công tất cả các báo cáo quốc gia liên quan công ước quốc tế về quyền con người. Những thành tựu về đảm bảo quyền con người của Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres đã từng đánh giá: “Việt Nam là một đối tác quan trọng của Liên hợp quốc, đã có nhiều đóng góp thực chất và hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Mối quan hệ tốt đẹp này cần được tăng cường hơn nữa trong thời gian tới để thúc đẩy hòa bình, sự phát triển bền vững và quyền con người trên thế giới”.
    Việt Nam luôn cầu thị học hỏi và nỗ lực làm tốt nhất trong vấn đề bảo đảm nhân quyền cho mọi người dân. Trong một số báo cáo chính thức của Việt Nam trước các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc đã thẳng thắn nêu lên những khó khăn Việt Nam gặp phải trong công tác nhân quyền, từ đó đề ra những giải pháp để cải thiện trong thời gian tới. Thực tế không có bất kỳ quốc gia nào trên thế giới tự cho mình là bảo đảm tuyệt đối về vấn đề nhân quyền.
    Mặc dù thực tế chúng ta đạt nhiều thành tựu về kinh tế - xã hội, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị trong nâng cao chất lượng đời sống nhân dân song nguồn lực của đất nước vẫn còn hạn chế nên việc đầu tư cơ sở vật chất cho văn hóa, giáo dục, khoa học, y tế... còn thiếu thốn, ảnh hưởng đến việc hưởng thụ đầy đủ quyền của người dân, nhất là khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.
    Nhìn về quá khứ, từ một nước bị chiến tranh tàn phá, bị bao vây cấm vận, qua hơn 37 năm đổi mới, Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, vươn lên mạnh mẽ, đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện. Kỷ niệm 75 năm Ngày Nhân quyền quốc tế (10/12/1948 – 10/12/2023) Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam có quyền tự hào về những kết quả đã đạt được trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người; đẩy lùi những hành động chống phá, luận điệu sai trái, xuyên tạc./.

Báo Công an nhân dân 

CHIẾN THẮNG CỦA CHÍNH NGHĨA

    Chiến thắng ngày 7-1-1979 không chỉ là thắng lợi chung, thể hiện nghĩa tình sâu nặng giữa hai dân tộc Việt Nam-Campuchia mà còn là chiến thắng của chính nghĩa.

       Tự vệ và giúp bạn

       Lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam đã vượt qua muôn vàn thử thách cam go, hiến dâng cả máu đào của mình, chiến đấu và chiến thắng trong cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc, hết lòng vì sự nghiệp cách mạng của nhân dân Campuchia, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế cao cả. Theo Giáo sư Pankaj Jha của Trường Quan hệ Quốc tế Jindal (Ấn Độ), chính Việt Nam là quốc gia đã giúp Campuchia "thoát khỏi nỗi thống khổ của chế độ diệt chủng" và trong cuộc chiến ấy, những người lính Việt Nam "đã trải qua không biết bao nhiêu gian khổ".

"Mặc dù phần lớn lịch sử của cuộc chiến đã được ghi chép lại nhưng sự hy sinh của Quân đội Việt Nam để giúp giải phóng người dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng tàn bạo đã từng có thời điểm chưa được ghi nhận tương xứng... Tượng đài hữu nghị tại thủ đô Phnom Penh phản ánh rõ vai trò của Việt Nam trong việc lật đổ tập đoàn Pol Pot", Giáo sư Pankaj Jha khẳng định khi trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Quân đội nhân dân.

       Là một nhà nghiên cứu thường xuyên theo dõi sát sao các vấn đề liên quan tới Việt Nam, Lào và Campuchia, nhất là giai đoạn từ sau năm 1975, Giáo sư Carlyle Thayer tại Đại học New South Wales (Australia) nhấn mạnh, dưới ách cai trị của tập đoàn Pol Pot, các vụ thảm sát hàng loạt xảy ra thường xuyên và mấy triệu người đã bị giết hại tại Campuchia. Những ngôi mộ tập thể được phát hiện sau đó chính là bằng chứng cho tội ác của tập đoàn Pol Pot. Nếu như chế độ diệt chủng tàn bạo tại Campuchia không bị lật đổ thì "số người dân Campuchia bị chúng giết hại sẽ còn lớn hơn nhiều".

       Giáo sư Carlyle Thayer cho biết, hiện nay, giới học giả quốc tế đều có chung nhận định về những lý do Việt Nam đưa quân tình nguyện sang Campuchia vào cuối thập niên 1970. "Đó là một hành động tự vệ xét theo luật pháp quốc tế, đồng thời phản ánh một chuẩn mực mới của cộng đồng quốc tế-trách nhiệm bảo vệ thường dân vô tội trước tội ác diệt chủng, tội ác chiến tranh, sự thanh lọc sắc tộc, tội ác chống lại loài người", vị học giả người Australia khẳng định với phóng viên Báo Quân đội nhân dân.

       Trong khi đó, theo tờ The Times of India, sự phối hợp giữa các lực lượng Việt Nam và Campuchia giải phóng thủ đô Phnom Penh vào ngày 7-1-1979 đã "mang lại hy vọng đặt dấu chấm hết cho cơn ác mộng" của người dân đất nước chùa tháp. Quân tình nguyện Việt Nam đã được người dân Campuchia chào đón "như là những người giải phóng họ khỏi sự tàn bạo và nỗi kinh hoàng" trong những năm tháng sống dưới ách cai trị của tập đoàn Pol Pot. "Yêu cầu cấp bách đặt ra với Việt Nam khi đó là phải bảo vệ biên giới trước các cuộc tấn công gia tăng của tập đoàn Pol Pot, đồng thời lật đổ tập đoàn Pol Pot vì lý do nhân đạo. Nếu chế độ diệt chủng tiếp tục tồn tại, chúng sẽ gây ra những tổn thất không thể khắc phục được cho Campuchia và leo thang các cuộc tấn công biên giới thành một cuộc chiến tranh toàn diện với Việt Nam", tờ The Times of India nêu rõ.

       "Hành động của Việt Nam là đúng đắn"

       Sau khi thủ đô Phnom Penh được giải phóng vào ngày 7-1-1979, Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia đã được thành lập và tiếp tục đề nghị Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp truy quét tàn quân Pol Pot cũng như củng cố chính quyền cách mạng. Ngoài hoạt động quân sự, Việt Nam đã cử nhiều chuyên gia sang giúp Campuchia xây dựng chính quyền cơ sở, hỗ trợ vật chất giúp phục hồi kinh tế-xã hội từ đống đổ nát do chế độ diệt chủng để lại. "Người Việt Nam đã hỗ trợ khôi phục những tuyến đường giao thông huyết mạch, tạo điều kiện cho việc vận chuyển hàng viện trợ quốc tế. Trường học mở cửa trở lại, các hoạt động của Phật giáo được khôi phục, người dân quay trở lại các thành phố, giao thương trong nước nở rộ... Đến tháng 6-1980, Việt Nam đã hỗ trợ Campuchia 180.000 tấn lương thực và thóc giống bất chấp những khó khăn của riêng mình", tờ The Times of India khẳng định.

       Qua quá trình kề vai sát cánh chiến đấu, xây dựng, với sự hỗ trợ của Việt Nam, lực lượng cách mạng và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, đủ khả năng tự lực bảo vệ thành quả cách mạng và hồi sinh đất nước. Từ thực tiễn đó, theo thỏa thuận giữa hai bên, năm 1989, Việt Nam rút hết quân tình nguyện về nước trong niềm tự hào, vinh quang, với những tình cảm lưu luyến, thắm thiết nghĩa tình của nhân dân Campuchia. “Trong những năm cực kỳ bi thảm dưới chế độ diệt chủng Pol Pot, trên thế giới này không biết bao nhiêu kẻ mạnh, kẻ giàu, nhưng duy nhất chỉ có người bạn láng giềng nghèo Việt Nam đến cứu sống dân tộc ta mà thôi”, báo Pracheachon (Nhân Dân) của Campuchia khẳng định trong bài xã luận vào ngày Quân tình nguyện Việt Nam về nước.

       Sau nhiều năm xét xử với hàng trăm nghìn tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 16-11-2018, Tòa án đặc biệt xét xử tội ác chế độ Pol Pot tại Campuchia (ECCC) do Liên hợp quốc bảo trợ đã chính thức ra phán quyết các cựu thủ lĩnh của tập đoàn Pol Pot phạm tội ác diệt chủng chống lại nhân loại. Dù mấy chục năm đã trôi qua, nhưng phán quyết này một lần nữa đã khẳng định tính chính nghĩa sáng ngời và sự giúp đỡ vô tư, trong sáng của Việt Nam dành cho Campuchia. “Bản án đối với các cựu thủ lĩnh của tập đoàn Pol Pot có ý nghĩa gì? Đây chính là sự công nhận của Liên hợp quốc rằng hành động của Việt Nam là đúng đắn...”, tờ Khmer Times dẫn lời Samdech Techo Hun Sen, Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) cầm quyền.

       

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHIẾN THẮNG CHUNG CỦA NHÂN DÂN HAI NƯỚC VIỆT NAM CAMPUCHIA

     Sáng 7-1, tại Hà Nội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và UBND TP Hà Nội phối hợp tổ chức Lễ kỷ niệm 45 năm Ngày Chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng (7-1-1979/7-1-2024). Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dự lễ kỷ niệm!
    Tham dự lễ kỷ niệm về phía Việt Nam còn có: Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương; đồng chí Lê Minh Khái, Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ; đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể của Trung ương, TP Hà Nội và các tỉnh biên giới giáp với Campuchia; đại diện Hội hữu nghị Việt Nam-Campuchia; các đồng chí lão thành cách mạng, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; đại diện các cựu quân tình nguyện, cựu chuyên gia Việt Nam tại Campuchia; đại diện thanh niên và sinh viên Việt Nam.

    Về phía Campuchia và quốc tế có: Ngài Neth Savoeun, Ủy viên Ban Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Campuchia (CPP), Phó thủ tướng Vương quốc Campuchia; các thành viên đoàn đại biểu cấp cao Campuchia; Đại sứ Campuchia, các đại sứ, đại diện Đại sứ quán các nước Đông Nam Á tại Việt Nam.

    Tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng, chí nghĩa, chí tình
Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước đọc diễn văn kỷ niệm, Phó thủ tướng Lê Minh Khái cho biết, trong chuyến thăm cấp Nhà nước đến Campuchia (tháng 7-2017), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Lịch sử không bao giờ bị lãng quên và không ai bị quên lãng. Vinh quang đời đời thuộc về những người con ưu tú đã ngã xuống vì Tổ quốc của hai dân tộc”. Với tinh thần đó, hôm nay, hai nước Việt Nam-Campuchia cùng nhau ôn lại lịch sử đoàn kết gắn bó mật thiết, kề vai sát cánh bên nhau qua những lúc khó khăn, hoạn nạn cũng như trong hòa bình và phát triển.

    Sau chiến thắng năm 1975, nhân dân Việt Nam và Campuchia thiết tha mong muốn được sống trong hòa bình để khôi phục và phát triển đất nước sau nhiều năm chiến tranh hy sinh, gian khổ. Tuy nhiên, ngay sau khi lên cầm quyền vào tháng 4-1975, tập đoàn Pol Pot đã lợi dụng thành quả cách mạng, phản bội nhân dân Campuchia, thi hành chế độ diệt chủng, đưa đất nước Campuchia rơi vào thảm họa khủng khiếp chưa từng có trong lịch sử. Cùng với đó, tập đoàn Pol Pot huy động phần lớn sức mạnh quân chủ lực tiến hành xâm lược biên giới Tây Nam, xâm phạm nghiêm trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, xuyên tạc lịch sử, khiêu khích, kích động hận thù dân tộc, chà đạp lên những giá trị tốt đẹp của mối quan hệ hữu nghị truyền thống, láng giềng tốt đẹp giữa hai dân tộc.

    Đáp ứng lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, của nhân dân Campuchia và để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài sản của người dân Việt Nam, Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Việt Nam đã thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình, đập tan các hành động xâm lược, cùng với lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng tàn bạo vào ngày 7-1-1979.

    “Đó là hành động phù hợp pháp lý và đạo lý, thể hiện tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng, chí nghĩa, chí tình, sẵn sàng hy sinh xương máu vì mối quan hệ gắn bó thủy chung, lâu đời giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước; là sự tiếp nối truyền thống đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung của hai dân tộc. Chiến thắng lịch sử này là chiến thắng chung của nhân dân hai nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia và Việt Nam, khép lại một trang sử đen tối nhất của đất nước Campuchia; cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng; mở ra kỷ nguyên mới, phát triển trong độc lập, tự do, hòa bình, trung lập, phồn vinh. Chiến thắng chế độ diệt chủng Pol Pot cũng đã góp phần quan trọng giữ vững hòa bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới”, Phó thủ tướng Lê Minh Khái nhấn mạnh.

    Sau ngày giải phóng, hàng nghìn cán bộ chuyên gia, hàng vạn quân tình nguyện Việt Nam tiếp tục sát cánh cùng nhân dân Campuchia thực hiện công cuộc hồi sinh dân tộc và ngăn chặn sự quay trở lại của chế độ diệt chủng. Trong cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ, ác liệt đó, biết bao anh hùng, chuyên gia, quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia đã hy sinh hoặc để lại một phần xương máu của mình trên chiến trường. “Với truyền thống uống nước nhớ nguồn, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các anh hùng liệt sĩ Việt Nam và Campuchia đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập, tự do của mỗi nước, vì vận mệnh chung và tình hữu nghị, đoàn kết của hai dân tộc Việt Nam-Campuchia. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công lao to lớn của các đồng chí quân tình nguyện, cán bộ chuyên gia Việt Nam đã không quản ngại hy sinh, vượt muôn vàn khó khăn gian khổ trong cuộc đấu tranh chính nghĩa bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc, kề vai sát cánh cùng quân và dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pol Pot tàn bạo, hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả”, Phó thủ tướng Lê Minh Khái khẳng định.

    Khẳng định tính chính nghĩa sáng ngời
    Sau nhiều năm xét xử với hàng trăm nghìn tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 16-11-2018, Tòa án đặc biệt xét xử tội ác chế độ Pol Pot tại Campuchia (ECCC) do Liên hợp quốc bảo trợ đã chính thức ra phán quyết các cựu thủ lĩnh của tập đoàn Pol Pot phạm tội ác diệt chủng chống lại nhân loại. “Phán quyết này đã trả lại công lý cho những nạn nhân vô tội bị sát hại bởi bè lũ diệt chủng Pol Pot và một lần nữa khẳng định tính chính nghĩa sáng ngời, sự giúp đỡ vô tư, trong sáng của lực lượng chuyên gia, quân tình nguyện Việt Nam. Có thể thấy, sự kiện ngày 7-1 có ý nghĩa vô cùng quan trọng, thể hiện tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng, bảo vệ, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”, Phó thủ tướng Lê Minh Khái nêu rõ.

    Theo Phó thủ tướng Lê Minh Khái, nhìn lại chặng đường 45 năm kể từ chiến thắng 7-1-1979, chúng ta vui mừng nhận thấy đất nước Campuchia sau khi được sự giúp đỡ của Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Việt Nam cũng như bạn bè quốc tế đã hồi sinh mạnh mẽ, lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia không ngừng trưởng thành và lớn mạnh, tự gánh vác sứ mệnh bảo vệ và xây dựng, phát triển đất nước. Kế thừa truyền thống đoàn kết và tinh thần anh dũng quật cường của Chiến thắng 7-1-1979, sự gắn bó và giúp đỡ lẫn nhau, Việt Nam và Campuchia tiếp tục đưa quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài phát triển lên một tầm cao mới. “Trong buổi lễ trang trọng hôm nay, thay mặt Đảng, Nhà nước, tôi xin gửi tới các đồng chí thương binh, bệnh binh, cựu chuyên gia, cựu quân tình nguyện, các gia đình có người thân đã tham gia chiến đấu, hy sinh trên chiến trường Campuchia qua các thời kỳ, lòng biết ơn sâu sắc, lời thăm hỏi ân tình nhất. Nhân dịp này, tôi chân thành cảm ơn sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu của Campuchia đã dành cho Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Trước sau như một, Việt Nam luôn coi trọng, dành ưu tiên cao cho việc không ngừng củng cố và tăng cường mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện với Campuchia, vì lợi ích của người dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới”, Phó thủ tướng Lê Minh Khái phát biểu.

“Bài học lịch sử tốt đẹp”
Về phần mình, Phó thủ tướng Neth Savoeun nhấn mạnh Lễ kỷ niệm 45 năm Ngày Chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc. Phó thủ tướng Neth Savoeun nêu rõ, chiến thắng 7-1-1979 đã thấm sâu vào trái tim người dân Campuchia, khép lại kỷ nguyên cay đắng, mở ra một kỷ nguyên mới với đất nước Campuchia, được xem là ngày sinh lần thứ hai của dân tộc Campuchia. Nếu không có Chiến thắng 7-1-1979 thì không có Campuchia ngày nay. Chiến thắng 7-1-1979 là “bài học lịch sử tốt đẹp” để các thế hệ mai sau ghi nhớ tới tấm gương anh dũng, tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau của quân và dân hai nước Campuchia-Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ đất nước.

“Nhân dịp này, xin kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ tới hàng triệu đồng bào cùng các chiến sĩ Campuchia và Việt Nam đã hy sinh giúp Campuchia thoát khỏi chế độ đen tối”, Phó thủ tướng Neth Savoeun bày tỏ.

    Phó thủ tướng Neth Savoeun bày tỏ vui mừng trước những bước phát triển của “mối quan hệ quý giá” giữa Campuchia và Việt Nam thời gian qua theo phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”; nhấn mạnh quan hệ Campuchia-Việt Nam là một điển hình về tình cảm thủy chung giữa hai nước láng giềng; khẳng định Campuchia ưu tiên cao cho việc giữ gìn, củng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa hai nước.

    Tại buổi lễ, đại diện cựu quân tình nguyện, cựu chuyên gia Việt Nam giúp cách mạng Campuchia đã ôn lại ký ức về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia đầy khó khăn, gian khổ, tinh thần đoàn kết quốc tế, sự thủy chung, trọn vẹn nghĩa tình giữa hai dân tộc Việt Nam-Campuchia, cũng như sự chăm sóc, đùm bọc, chở che của nhân dân Campuchia đối với những người lính tình nguyện Việt Nam.

    May mắn được sinh ra và lớn lên khi đất nước đã được hoàn toàn giải phóng, được sống trong hòa bình, độc lập, được tạo cơ hội để học tập, rèn luyện, khẳng định mình, góp sức trẻ dựng xây đất nước, đại diện thế hệ trẻ Việt Nam và Campuchia khi phát biểu tại lễ kỷ niệm đều bày tỏ vô cùng tự hào về Chiến thắng 7-1-1979, về mối tình hữu nghị bền chặt, sắt son giữa nhân dân hai nước, đồng thời ý thức được sứ mệnh của mình trong việc chung tay giữ gìn, vun đắp mối quan hệ Việt Nam-Campuchia ngày càng đi vào chiều sâu và mãi mãi bền vững./. 

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 07 THÁNG 01 NĂM 1946!

   “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành”!

    Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Bài nói tại trường cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh: “...Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 136, ngày 8-1- 1946; trong bối cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời, đang đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức lớn, đặt ra yêu cầu đối với Đảng ta phải củng cố, xây dựng, phát huy cao độ vai trò các tổ chức, các lực lượng, nhất là vai trò gương mẫu, đi đầu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kháng chiến, kiến quốc.
Hồ Chí Minh đã chỉnh huấn, yêu cầu cán bộ, chiến sĩ trong các trường quân sự của Đảng, Nhà nước phải nắm vững nhiệm vụ cách mạng, vai trò tiên phong của cán bộ, đảng viên, cán bộ tự vệ; nêu cao tinh thần yêu nước, tham gia kháng chiến, kiến quốc; gương mẫu đi đầu trong hành động, tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, gắn bó giúp nhân dân, chống mọi biểu hiện: nói nhiều, nói suông; nói không đi đôi với làm, đoàn kết chiến đấu chống “thù trong, giặc ngoài”, bảo vệ thành quả cách mạng.
    Thấm nhuần lời nói của Người, ngay từ đầu năm 1946, Trường cán bộ tự vệ Hồ Chi Minh và các trường quân sự đã được lãnh đạo, chỉ huy trong các nhà trường quân đội quán triệt sâu sắc, chuyển hóa thành kế hoạch hành động cách mạng, thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo cán bộ quân sự đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của cách mạng; đồng thời, thôi thúc toàn quân, toàn dân tích cực đóng góp trí tuệ, công sức để xây dựng và bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc.
    Hiện tại, lời năm xưa của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các nhà trường quân đội nghiên cứu học tập, vận dụng sáng tạo vào giáo dục-đào tạo, với phương châm gắn nhà trường với đơn vị; lý luận với thực hành, lấy thực hành làm chính; nêu cao vai trò gương mẫu của đội ngũ giảng viên, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ sĩ quan quân đội vừa "hồng", vừa "chuyên", đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới./.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHIẾN THẮNG CHUNG CỦA NHÂN DÂN HAI NƯỚC VIỆT NAM CAMPUCHIA!

     Sáng 7-1, tại Hà Nội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và UBND TP Hà Nội phối hợp tổ chức Lễ kỷ niệm 45 năm Ngày Chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng (7-1-1979/7-1-2024). Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng dự lễ kỷ niệm!
Tham dự lễ kỷ niệm về phía Việt Nam còn có: Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương; đồng chí Lê Minh Khái, Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ; đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể của Trung ương, TP Hà Nội và các tỉnh biên giới giáp với Campuchia; đại diện Hội hữu nghị Việt Nam-Campuchia; các đồng chí lão thành cách mạng, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; đại diện các cựu quân tình nguyện, cựu chuyên gia Việt Nam tại Campuchia; đại diện thanh niên và sinh viên Việt Nam.

Về phía Campuchia và quốc tế có: Ngài Neth Savoeun, Ủy viên Ban Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Campuchia (CPP), Phó thủ tướng Vương quốc Campuchia; các thành viên đoàn đại biểu cấp cao Campuchia; Đại sứ Campuchia, các đại sứ, đại diện Đại sứ quán các nước Đông Nam Á tại Việt Nam.

Tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng, chí nghĩa, chí tình
Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước đọc diễn văn kỷ niệm, Phó thủ tướng Lê Minh Khái cho biết, trong chuyến thăm cấp Nhà nước đến Campuchia (tháng 7-2017), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Lịch sử không bao giờ bị lãng quên và không ai bị quên lãng. Vinh quang đời đời thuộc về những người con ưu tú đã ngã xuống vì Tổ quốc của hai dân tộc”. Với tinh thần đó, hôm nay, hai nước Việt Nam-Campuchia cùng nhau ôn lại lịch sử đoàn kết gắn bó mật thiết, kề vai sát cánh bên nhau qua những lúc khó khăn, hoạn nạn cũng như trong hòa bình và phát triển.

Sau chiến thắng năm 1975, nhân dân Việt Nam và Campuchia thiết tha mong muốn được sống trong hòa bình để khôi phục và phát triển đất nước sau nhiều năm chiến tranh hy sinh, gian khổ. Tuy nhiên, ngay sau khi lên cầm quyền vào tháng 4-1975, tập đoàn Pol Pot đã lợi dụng thành quả cách mạng, phản bội nhân dân Campuchia, thi hành chế độ diệt chủng, đưa đất nước Campuchia rơi vào thảm họa khủng khiếp chưa từng có trong lịch sử. Cùng với đó, tập đoàn Pol Pot huy động phần lớn sức mạnh quân chủ lực tiến hành xâm lược biên giới Tây Nam, xâm phạm nghiêm trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, xuyên tạc lịch sử, khiêu khích, kích động hận thù dân tộc, chà đạp lên những giá trị tốt đẹp của mối quan hệ hữu nghị truyền thống, láng giềng tốt đẹp giữa hai dân tộc.

Đáp ứng lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, của nhân dân Campuchia và để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài sản của người dân Việt Nam, Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Việt Nam đã thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình, đập tan các hành động xâm lược, cùng với lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng tàn bạo vào ngày 7-1-1979.

“Đó là hành động phù hợp pháp lý và đạo lý, thể hiện tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng, chí nghĩa, chí tình, sẵn sàng hy sinh xương máu vì mối quan hệ gắn bó thủy chung, lâu đời giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước; là sự tiếp nối truyền thống đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung của hai dân tộc. Chiến thắng lịch sử này là chiến thắng chung của nhân dân hai nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia và Việt Nam, khép lại một trang sử đen tối nhất của đất nước Campuchia; cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng; mở ra kỷ nguyên mới, phát triển trong độc lập, tự do, hòa bình, trung lập, phồn vinh. Chiến thắng chế độ diệt chủng Pol Pot cũng đã góp phần quan trọng giữ vững hòa bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới”, Phó thủ tướng Lê Minh Khái nhấn mạnh.

Sau ngày giải phóng, hàng nghìn cán bộ chuyên gia, hàng vạn quân tình nguyện Việt Nam tiếp tục sát cánh cùng nhân dân Campuchia thực hiện công cuộc hồi sinh dân tộc và ngăn chặn sự quay trở lại của chế độ diệt chủng. Trong cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ, ác liệt đó, biết bao anh hùng, chuyên gia, quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia đã hy sinh hoặc để lại một phần xương máu của mình trên chiến trường. “Với truyền thống uống nước nhớ nguồn, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các anh hùng liệt sĩ Việt Nam và Campuchia đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập, tự do của mỗi nước, vì vận mệnh chung và tình hữu nghị, đoàn kết của hai dân tộc Việt Nam-Campuchia. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công lao to lớn của các đồng chí quân tình nguyện, cán bộ chuyên gia Việt Nam đã không quản ngại hy sinh, vượt muôn vàn khó khăn gian khổ trong cuộc đấu tranh chính nghĩa bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc, kề vai sát cánh cùng quân và dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pol Pot tàn bạo, hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả”, Phó thủ tướng Lê Minh Khái khẳng định.

Khẳng định tính chính nghĩa sáng ngời
Sau nhiều năm xét xử với hàng trăm nghìn tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 16-11-2018, Tòa án đặc biệt xét xử tội ác chế độ Pol Pot tại Campuchia (ECCC) do Liên hợp quốc bảo trợ đã chính thức ra phán quyết các cựu thủ lĩnh của tập đoàn Pol Pot phạm tội ác diệt chủng chống lại nhân loại. “Phán quyết này đã trả lại công lý cho những nạn nhân vô tội bị sát hại bởi bè lũ diệt chủng Pol Pot và một lần nữa khẳng định tính chính nghĩa sáng ngời, sự giúp đỡ vô tư, trong sáng của lực lượng chuyên gia, quân tình nguyện Việt Nam. Có thể thấy, sự kiện ngày 7-1 có ý nghĩa vô cùng quan trọng, thể hiện tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng, bảo vệ, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”, Phó thủ tướng Lê Minh Khái nêu rõ.

Theo Phó thủ tướng Lê Minh Khái, nhìn lại chặng đường 45 năm kể từ chiến thắng 7-1-1979, chúng ta vui mừng nhận thấy đất nước Campuchia sau khi được sự giúp đỡ của Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Việt Nam cũng như bạn bè quốc tế đã hồi sinh mạnh mẽ, lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia không ngừng trưởng thành và lớn mạnh, tự gánh vác sứ mệnh bảo vệ và xây dựng, phát triển đất nước. Kế thừa truyền thống đoàn kết và tinh thần anh dũng quật cường của Chiến thắng 7-1-1979, sự gắn bó và giúp đỡ lẫn nhau, Việt Nam và Campuchia tiếp tục đưa quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài phát triển lên một tầm cao mới. “Trong buổi lễ trang trọng hôm nay, thay mặt Đảng, Nhà nước, tôi xin gửi tới các đồng chí thương binh, bệnh binh, cựu chuyên gia, cựu quân tình nguyện, các gia đình có người thân đã tham gia chiến đấu, hy sinh trên chiến trường Campuchia qua các thời kỳ, lòng biết ơn sâu sắc, lời thăm hỏi ân tình nhất. Nhân dịp này, tôi chân thành cảm ơn sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu của Campuchia đã dành cho Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Trước sau như một, Việt Nam luôn coi trọng, dành ưu tiên cao cho việc không ngừng củng cố và tăng cường mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện với Campuchia, vì lợi ích của người dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới”, Phó thủ tướng Lê Minh Khái phát biểu.

“Bài học lịch sử tốt đẹp”
Về phần mình, Phó thủ tướng Neth Savoeun nhấn mạnh Lễ kỷ niệm 45 năm Ngày Chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc. Phó thủ tướng Neth Savoeun nêu rõ, chiến thắng 7-1-1979 đã thấm sâu vào trái tim người dân Campuchia, khép lại kỷ nguyên cay đắng, mở ra một kỷ nguyên mới với đất nước Campuchia, được xem là ngày sinh lần thứ hai của dân tộc Campuchia. Nếu không có Chiến thắng 7-1-1979 thì không có Campuchia ngày nay. Chiến thắng 7-1-1979 là “bài học lịch sử tốt đẹp” để các thế hệ mai sau ghi nhớ tới tấm gương anh dũng, tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau của quân và dân hai nước Campuchia-Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ đất nước.

“Nhân dịp này, xin kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ tới hàng triệu đồng bào cùng các chiến sĩ Campuchia và Việt Nam đã hy sinh giúp Campuchia thoát khỏi chế độ đen tối”, Phó thủ tướng Neth Savoeun bày tỏ.

Phó thủ tướng Neth Savoeun bày tỏ vui mừng trước những bước phát triển của “mối quan hệ quý giá” giữa Campuchia và Việt Nam thời gian qua theo phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”; nhấn mạnh quan hệ Campuchia-Việt Nam là một điển hình về tình cảm thủy chung giữa hai nước láng giềng; khẳng định Campuchia ưu tiên cao cho việc giữ gìn, củng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa hai nước.

Tại buổi lễ, đại diện cựu quân tình nguyện, cựu chuyên gia Việt Nam giúp cách mạng Campuchia đã ôn lại ký ức về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia đầy khó khăn, gian khổ, tinh thần đoàn kết quốc tế, sự thủy chung, trọn vẹn nghĩa tình giữa hai dân tộc Việt Nam-Campuchia, cũng như sự chăm sóc, đùm bọc, chở che của nhân dân Campuchia đối với những người lính tình nguyện Việt Nam.

May mắn được sinh ra và lớn lên khi đất nước đã được hoàn toàn giải phóng, được sống trong hòa bình, độc lập, được tạo cơ hội để học tập, rèn luyện, khẳng định mình, góp sức trẻ dựng xây đất nước, đại diện thế hệ trẻ Việt Nam và Campuchia khi phát biểu tại lễ kỷ niệm đều bày tỏ vô cùng tự hào về Chiến thắng 7-1-1979, về mối tình hữu nghị bền chặt, sắt son giữa nhân dân hai nước, đồng thời ý thức được sứ mệnh của mình trong việc chung tay giữ gìn, vun đắp mối quan hệ Việt Nam-Campuchia ngày càng đi vào chiều sâu và mãi mãi bền vững./.






Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 07 THÁNG 01 NĂM 1946!

         “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành”!
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Bài nói tại trường cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh: “...Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 136, ngày 8-1- 1946; trong bối cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời, đang đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức lớn, đặt ra yêu cầu đối với Đảng ta phải củng cố, xây dựng, phát huy cao độ vai trò các tổ chức, các lực lượng, nhất là vai trò gương mẫu, đi đầu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kháng chiến, kiến quốc.
Hồ Chí Minh đã chỉnh huấn, yêu cầu cán bộ, chiến sĩ trong các trường quân sự của Đảng, Nhà nước phải nắm vững nhiệm vụ cách mạng, vai trò tiên phong của cán bộ, đảng viên, cán bộ tự vệ; nêu cao tinh thần yêu nước, tham gia kháng chiến, kiến quốc; gương mẫu đi đầu trong hành động, tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, gắn bó giúp nhân dân, chống mọi biểu hiện: nói nhiều, nói suông; nói không đi đôi với làm, đoàn kết chiến đấu chống “thù trong, giặc ngoài”, bảo vệ thành quả cách mạng.
Thấm nhuần lời nói của Người, ngay từ đầu năm 1946, Trường cán bộ tự vệ Hồ Chi Minh và các trường quân sự đã được lãnh đạo, chỉ huy trong các nhà trường quân đội quán triệt sâu sắc, chuyển hóa thành kế hoạch hành động cách mạng, thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo cán bộ quân sự đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của cách mạng; đồng thời, thôi thúc toàn quân, toàn dân tích cực đóng góp trí tuệ, công sức để xây dựng và bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc.
Hiện tại, lời năm xưa của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các nhà trường quân đội nghiên cứu học tập, vận dụng sáng tạo vào giáo dục-đào tạo, với phương châm gắn nhà trường với đơn vị; lý luận với thực hành, lấy thực hành làm chính; nêu cao vai trò gương mẫu của đội ngũ giảng viên, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ sĩ quan quân đội vừa "hồng", vừa "chuyên", đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới./.
Môi trường ST.

Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2024

 CHIẾN THẮNG CỦA CHÍNH NGHĨA

       Chiến thắng ngày 7-1-1979 không chỉ là thắng lợi chung, thể hiện nghĩa tình sâu nặng giữa hai dân tộc Việt Nam-Campuchia mà còn là chiến thắng của chính nghĩa.

       Tự vệ và giúp bạn

       Lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam đã vượt qua muôn vàn thử thách cam go, hiến dâng cả máu đào của mình, chiến đấu và chiến thắng trong cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc, hết lòng vì sự nghiệp cách mạng của nhân dân Campuchia, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế cao cả. Theo Giáo sư Pankaj Jha của Trường Quan hệ Quốc tế Jindal (Ấn Độ), chính Việt Nam là quốc gia đã giúp Campuchia "thoát khỏi nỗi thống khổ của chế độ diệt chủng" và trong cuộc chiến ấy, những người lính Việt Nam "đã trải qua không biết bao nhiêu gian khổ".

"Mặc dù phần lớn lịch sử của cuộc chiến đã được ghi chép lại nhưng sự hy sinh của Quân đội Việt Nam để giúp giải phóng người dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng tàn bạo đã từng có thời điểm chưa được ghi nhận tương xứng... Tượng đài hữu nghị tại thủ đô Phnom Penh phản ánh rõ vai trò của Việt Nam trong việc lật đổ tập đoàn Pol Pot", Giáo sư Pankaj Jha khẳng định khi trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Quân đội nhân dân.

       Là một nhà nghiên cứu thường xuyên theo dõi sát sao các vấn đề liên quan tới Việt Nam, Lào và Campuchia, nhất là giai đoạn từ sau năm 1975, Giáo sư Carlyle Thayer tại Đại học New South Wales (Australia) nhấn mạnh, dưới ách cai trị của tập đoàn Pol Pot, các vụ thảm sát hàng loạt xảy ra thường xuyên và mấy triệu người đã bị giết hại tại Campuchia. Những ngôi mộ tập thể được phát hiện sau đó chính là bằng chứng cho tội ác của tập đoàn Pol Pot. Nếu như chế độ diệt chủng tàn bạo tại Campuchia không bị lật đổ thì "số người dân Campuchia bị chúng giết hại sẽ còn lớn hơn nhiều".

       Giáo sư Carlyle Thayer cho biết, hiện nay, giới học giả quốc tế đều có chung nhận định về những lý do Việt Nam đưa quân tình nguyện sang Campuchia vào cuối thập niên 1970. "Đó là một hành động tự vệ xét theo luật pháp quốc tế, đồng thời phản ánh một chuẩn mực mới của cộng đồng quốc tế-trách nhiệm bảo vệ thường dân vô tội trước tội ác diệt chủng, tội ác chiến tranh, sự thanh lọc sắc tộc, tội ác chống lại loài người", vị học giả người Australia khẳng định với phóng viên Báo Quân đội nhân dân.

       Trong khi đó, theo tờ The Times of India, sự phối hợp giữa các lực lượng Việt Nam và Campuchia giải phóng thủ đô Phnom Penh vào ngày 7-1-1979 đã "mang lại hy vọng đặt dấu chấm hết cho cơn ác mộng" của người dân đất nước chùa tháp. Quân tình nguyện Việt Nam đã được người dân Campuchia chào đón "như là những người giải phóng họ khỏi sự tàn bạo và nỗi kinh hoàng" trong những năm tháng sống dưới ách cai trị của tập đoàn Pol Pot. "Yêu cầu cấp bách đặt ra với Việt Nam khi đó là phải bảo vệ biên giới trước các cuộc tấn công gia tăng của tập đoàn Pol Pot, đồng thời lật đổ tập đoàn Pol Pot vì lý do nhân đạo. Nếu chế độ diệt chủng tiếp tục tồn tại, chúng sẽ gây ra những tổn thất không thể khắc phục được cho Campuchia và leo thang các cuộc tấn công biên giới thành một cuộc chiến tranh toàn diện với Việt Nam", tờ The Times of India nêu rõ.

       "Hành động của Việt Nam là đúng đắn"

       Sau khi thủ đô Phnom Penh được giải phóng vào ngày 7-1-1979, Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia đã được thành lập và tiếp tục đề nghị Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp truy quét tàn quân Pol Pot cũng như củng cố chính quyền cách mạng. Ngoài hoạt động quân sự, Việt Nam đã cử nhiều chuyên gia sang giúp Campuchia xây dựng chính quyền cơ sở, hỗ trợ vật chất giúp phục hồi kinh tế-xã hội từ đống đổ nát do chế độ diệt chủng để lại. "Người Việt Nam đã hỗ trợ khôi phục những tuyến đường giao thông huyết mạch, tạo điều kiện cho việc vận chuyển hàng viện trợ quốc tế. Trường học mở cửa trở lại, các hoạt động của Phật giáo được khôi phục, người dân quay trở lại các thành phố, giao thương trong nước nở rộ... Đến tháng 6-1980, Việt Nam đã hỗ trợ Campuchia 180.000 tấn lương thực và thóc giống bất chấp những khó khăn của riêng mình", tờ The Times of India khẳng định.

       Qua quá trình kề vai sát cánh chiến đấu, xây dựng, với sự hỗ trợ của Việt Nam, lực lượng cách mạng và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, đủ khả năng tự lực bảo vệ thành quả cách mạng và hồi sinh đất nước. Từ thực tiễn đó, theo thỏa thuận giữa hai bên, năm 1989, Việt Nam rút hết quân tình nguyện về nước trong niềm tự hào, vinh quang, với những tình cảm lưu luyến, thắm thiết nghĩa tình của nhân dân Campuchia. “Trong những năm cực kỳ bi thảm dưới chế độ diệt chủng Pol Pot, trên thế giới này không biết bao nhiêu kẻ mạnh, kẻ giàu, nhưng duy nhất chỉ có người bạn láng giềng nghèo Việt Nam đến cứu sống dân tộc ta mà thôi”, báo Pracheachon (Nhân Dân) của Campuchia khẳng định trong bài xã luận vào ngày Quân tình nguyện Việt Nam về nước.

       Sau nhiều năm xét xử với hàng trăm nghìn tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 16-11-2018, Tòa án đặc biệt xét xử tội ác chế độ Pol Pot tại Campuchia (ECCC) do Liên hợp quốc bảo trợ đã chính thức ra phán quyết các cựu thủ lĩnh của tập đoàn Pol Pot phạm tội ác diệt chủng chống lại nhân loại. Dù mấy chục năm đã trôi qua, nhưng phán quyết này một lần nữa đã khẳng định tính chính nghĩa sáng ngời và sự giúp đỡ vô tư, trong sáng của Việt Nam dành cho Campuchia. “Bản án đối với các cựu thủ lĩnh của tập đoàn Pol Pot có ý nghĩa gì? Đây chính là sự công nhận của Liên hợp quốc rằng hành động của Việt Nam là đúng đắn...”, tờ Khmer Times dẫn lời Samdech Techo Hun Sen, Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) cầm quyền.

       




KHẲNG ĐỊNH THÀNH TỰU NHÂN QUYỀN, LAN TỎA VỚI THẾ GIỚI


Xuyên suốt các giai đoạn cách mạng, nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, tất cả vì con người, vì nhân dân và lấy con người làm trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự phát triển… được thể hiện, chứng minh trong mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước và thực tế thành tựu nước ta đạt được.
Không thể phủ nhận thành tựu nhân quyền của Việt Nam
Bên cạnh những nỗ lực xây dựng và hoàn thiện thể chế về quyền con người, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người trên các phương diện của đời sống xã hội. Các quyền con người về dân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa ở Việt Nam được quy định rõ trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Quyền bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý nhà nước và xã hội của người dân được phát huy. Các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền bình đẳng của các dân tộc; quyền sống, được tôn trọng về nhân phẩm và bất khả xâm phạm về thân thể; quyền tự do đi lại và cư trú… của người dân được tôn trọng. Việt Nam đã thành công về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quyền con người. Cụ thể như sau:
Một là, công tác xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả nổi bật; đời sống của người dân ngày càng được nâng lên. Tỷ lệ hộ nghèo từ gần 60% vào năm 1986 giảm xuống còn dưới 3% vào năm 2022. GDP bình quân đầu người tăng từ 86 USD năm 1986 lên 4.110 USD năm 2022. Nước ta về đích trước thời hạn theo mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) và phát triển bền vững (SDG) của Liên hợp quốc; thực sự trở thành điểm sáng của thế giới, được nhân dân cả nước và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Hai là, chất lượng an sinh xã hội ngày càng được nâng cao. Việc bảo đảm an sinh xã hội đã chuyển từ hỗ trợ nhân đạo sang bảo đảm quyền an sinh của công dân. Số người hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên tăng hằng năm và đạt 3,3 triệu người năm 2022. Trong 3 năm phòng, chống dịch COVID -19 đã hỗ trợ với số tiền trên 120.000 tỷ đồng và trên 200.000 tấn gạo cho trên 68 triệu lượt người dân gặp khó khăn. Nhà nước đóng vai trò chủ đạo và huy động, phát huy vai trò quan trọng của cá nhân, doanh nghiệp, xã hội. Đã dành nguồn lực khoảng 20% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho chính sách xã hội. Việt Nam đã hoàn thành trước hạn nhiều Mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ (MDG). Theo Liên hợp quốc, chỉ số phát triển con người (HDI) ở Việt Nam liên tục tăng qua từng năm và hiện lọt vào nhóm phát triển con người cao, xếp thứ 115/191 quốc gia và vùng lãnh thổ…
Ba là, không ngừng được mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp. Tỷ lệ tham gia BHXH năm 2022 đạt 38,08% và bảo hiểm thất nghiệp đạt 31,18% lực lượng lao động trong độ tuổi; tỉ lệ tham gia BHXH tự nguyện ngày càng tăng đến nay đạt 1,46 triệu người. Người dân tiếp cận ngày càng tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản. Về giáo dục, trẻ em đi học đúng tuổi cấp tiểu học đạt 99% từ năm 2015, cấp trung học cơ sở đạt trên 95% từ năm 2020. Năm 2022, 92% người dân tham gia BHYT; 90% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ... Về nhà ở, đến năm 2020, đã hỗ trợ chỗ ở cho 648.000 hộ nghèo nông thôn, 323.000 căn nhà cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn.
Bốn là, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thúc đẩy. Tính đến nay, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau với trên 26,7 triệu tín đồ, trên 55 nghìn chức sắc, khoảng 135 nghìn chức việc; trên 29 nghìn cơ sở thờ tự. Ngoài ra, hàng năm ở nước ta có trên 8.000 lễ hội về tín ngưỡng, tôn giáo, quy tụ hàng vạn tín đồ tham gia; cơ quan Nhà nước tạo điều kiện tối đa cho các hoạt động tự do tín ngưỡng tôn giáo, đúng pháp luật.
Năm là, trong thực hiện bình đẳng giới, phụ nữ là một trong những đối tượng được ưu tiên trong chiến lược phát triển của Việt Nam. Năm 2022, Việt Nam đứng thứ 60 trên thế giới, đứng thứ 4 ở châu Á và đứng đầu trong Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam Á về tỷ lệ nữ tham gia cơ quan dân cử; đứng thứ 3 trong khu vực ASEAN và thứ 47/187 quốc gia trên thế giới tham gia xếp hạng về bình đẳng giới trong tham chính và trong công tác quản lý. Trong lĩnh vực kinh tế, cơ hội lao động, việc làm của phụ nữ như nam giới. Đánh giá chung, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; diện mạo đất nước có nhiều thay đổi theo hướng tích cực; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; kinh tế, xã hội phát triển toàn diện và hài hòa. Chính vì thế đã củng cố niềm tin của người dân, khẳng định quyền con người dưới chế độ XHCN ở nước ta luôn được quan tâm, chú trọng, thực thi hiệu quả.
Tích cực đóng góp vào hoạt động nhân quyền của Liên hợp quốc
Cùng với những thành tựu trên, Việt Nam còn tham gia tích cực, là thành viên có trách nhiệm trong các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc từ khi cơ quan này được thành lập từ năm 2006 đến nay. Trong đó, nổi bật là chúng ta đã tham gia tích cực các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền, thúc đẩy các sáng kiến thể hiện dấu ấn, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, nhất là việc tham gia Nhóm nòng cốt tại Hội đồng Nhân quyền về “Biến đổi khí hậu và quyền con người”, đảm nhiệm thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế. Không phải ngẫu nhiên cách đây hơn một năm, vào ngày 11/10/2022 tại New York, Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN đã trúng cử với số phiếu cao, trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Việt Nam đã thúc đẩy thông điệp ứng cử “Tôn trọng và hiểu biết, đối thoại và hợp tác, tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người”, được các nước đồng tình, ủng hộ.
Trong những ngày đầu tháng 4/2023, tại trụ sở Văn phòng Liên hợp quốc ở Geneva (Thụy Sĩ), khóa họp thường kỳ lần thứ 52 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã hoàn thành chương trình đề ra từ đầu khóa họp với 43 nghị quyết được thông qua, trong đó có Nghị quyết về kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền. Nghị quyết là một dấu ấn nổi bật của Việt Nam tại khóa họp trên cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, thể hiện đóng góp thực chất, trách nhiệm của Việt Nam vào công việc của Hội đồng Nhân quyền. Nghị quyết đã truyền tải đi nhiều thông điệp lớn và tích cực, trong đó có tăng cường hơn nữa sự hợp tác và tinh thần đoàn kết quốc tế trước tình trạng một số khu vực trên thế giới thời gian qua xung đột, chia rẽ sâu sắc.
Tham gia vào các công ước quốc tế về quyền con người là một chủ trương thường xuyên và nhất quán của Việt Nam, thể hiện cam kết cũng như quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Việt Nam trong việc bảo đảm và thực thi các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế về quyền con người. Đặc biệt, sau khi trở thành thành viên của Liên hợp quốc vào năm 1977, Việt Nam đã tích cực, chủ động tham gia hầu hết vào các công ước quốc tế về quyền con người. Đến nay, chúng ta đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam thực sự là điểm sáng, tiên phong trong thực hiện cam kết.
Việt Nam tuân thủ nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc tham gia. Chúng ta đã trình và bảo vệ thành công tất cả các báo cáo quốc gia liên quan công ước quốc tế về quyền con người. Những thành tựu về đảm bảo quyền con người của Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres đã từng đánh giá: “Việt Nam là một đối tác quan trọng của Liên hợp quốc, đã có nhiều đóng góp thực chất và hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Mối quan hệ tốt đẹp này cần được tăng cường hơn nữa trong thời gian tới để thúc đẩy hòa bình, sự phát triển bền vững và quyền con người trên thế giới”.
Việt Nam luôn cầu thị học hỏi và nỗ lực làm tốt nhất trong vấn đề bảo đảm nhân quyền cho mọi người dân. Trong một số báo cáo chính thức của Việt Nam trước các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc đã thẳng thắn nêu lên những khó khăn Việt Nam gặp phải trong công tác nhân quyền, từ đó đề ra những giải pháp để cải thiện trong thời gian tới. Thực tế không có bất kỳ quốc gia nào trên thế giới tự cho mình là bảo đảm tuyệt đối về vấn đề nhân quyền.
Mặc dù thực tế chúng ta đạt nhiều thành tựu về kinh tế - xã hội, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị trong nâng cao chất lượng đời sống nhân dân song nguồn lực của đất nước vẫn còn hạn chế nên việc đầu tư cơ sở vật chất cho văn hóa, giáo dục, khoa học, y tế... còn thiếu thốn, ảnh hưởng đến việc hưởng thụ đầy đủ quyền của người dân, nhất là khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.
Nhìn về quá khứ, từ một nước bị chiến tranh tàn phá, bị bao vây cấm vận, qua hơn 37 năm đổi mới, Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, vươn lên mạnh mẽ, đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện. Kỷ niệm 75 năm Ngày Nhân quyền quốc tế (10/12/1948 – 10/12/2023) Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam có quyền tự hào về những kết quả đã đạt được trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người; đẩy lùi những hành động chống phá, luận điệu sai trái, xuyên tạc./.
Báo Công an nhân dân
Có thể là hình ảnh về 4 người và trái tim


ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI

 

Mới đây, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp bộ, ngành liên quan tổ chức lễ ra mắt cuốn sách Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Tác phẩm được ra mắt vào thời điểm rất có ý nghĩa, đó là Đảng ta vừa tổ chức thành công Hội nghị giữa nhiệm kỳ và Hội nghị Trung ương 8, khóa XIII.
Công tác đối ngoại, ngoại giao của đất nước thời gian gần đây đã đạt được những kết quả tích cực, mang nhiều dấu ấn sâu sắc, rất cần được tổng kết, xác định những nhiệm vụ mới cao hơn trong thời gian tới.
Cuốn sách gồm 86 bài viết của Tổng Bí thư và 52 ý kiến của các chuyên gia, nhà chính trị, nhà ngoại giao và bạn bè quốc tế về vai trò và những đóng góp của Tổng Bí thư đối với công tác đối ngoại; 152 bức ảnh thể hiện toàn diện các hoạt động của Tổng Bí thư trong các chuyến thăm cấp nhà nước, các cuộc hội đàm với nhiều nước trên thế giới; với các hoạt động đối ngoại ở trong và ngoài nước.
Trong các bài viết của mình, nguyên tắc cơ bản của nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khái quát là: “vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, can trường trước mọi khó khăn, thử thách, vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân; đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc”.
Nội dung cuốn sách cũng khái quát một cách hệ thống, toàn diện sự lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư về công tác đối ngoại, ngoại giao Việt Nam, thể hiện tư duy tầm chiến lược và tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của người đứng đầu Đảng ta.
Cuốn sách giúp bạn đọc thấy rõ vai trò to lớn của công tác đối ngoại, ngoại giao cả trong lịch sử lẫn trong giai đoạn hiện nay; thấy rõ chủ trương, đường lối của Đảng và sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về công tác đối ngoại, ngoại giao qua các thời kỳ; những kết quả nổi bật của đối ngoại, ngoại giao trong những năm qua; thời đại ngày nay và những yêu cầu đặt ra với công tác đối ngoại, ngoại giao và những nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian tới.
Thực tế khẳng định, năm 2023, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, công tác đối ngoại của Việt Nam đã nỗ lực đạt nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử. Sự phối hợp giữa ba trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân nhuần nhuyễn hơn.
Báo cáo của Ban Đối ngoại Trung ương mới đây chỉ rõ: Có thể nói, chưa bao giờ vị thế, uy tín và hình ảnh nước Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển năng động, là bạn bè thủy chung, chân thành, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm lại nổi bật trên trường quốc tế như hiện nay. Những kết quả nêu trên khẳng định bản sắc rất độc đáo của nền ngoại giao Việt Nam dựa trên nền tảng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, thấm đượm tâm hồn, cốt cách, khí phách và truyền thống ngoại giao hòa hiếu của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa tư tưởng của nhân loại.
Trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành một điểm sáng về giữ gìn hòa bình, ổn định và phát triển bền vững, Tổng Bí thư khẳng định: Chúng ta cần tiếp tục kiên trì đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, xử lý hài hòa, khéo léo các vấn đề phức tạp, kiên quyết bảo vệ chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, trong đó ngành ngoại giao có vị trí nòng cốt và giữ vai trò tiên phong.
Thiết nghĩ, các cấp ủy, tổ chức đảng, đặc biệt là các cơ quan làm công tác đối ngoại, ngoại giao, cần tổ chức cho cán bộ, đảng viên đọc, nghiên cứu, quán triệt sâu sắc nội dung cuốn sách; các chi bộ mở sinh hoạt chuyên đề về nội dung cuốn sách; các học viện, trường chính trị, trường đại học, cao đẳng cả nước xây dựng thành tài liệu học tập, nghiên cứu về công tác đối ngoại, ngoại giao trên cơ sở nội dung cuốn sách, nhằm hiểu rõ và quán triệt, tiếp tục cụ thể hóa đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, về công tác đối ngoại, ngoại giao Việt Nam trong thời kỳ mới./.
Theo Báo Nhân dân

KẾ THỪA, BỔ SUNG VÀ PHÁT TRIỂN GIÁ TRỊ MANG TÍNH ĐỊNH HƯỚNG, SOI ĐƯỜNG VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI KỲ MỚI

 

Trong thời kỳ đổi mới, những giá trị mang tính định hướng sâu sắc của Đề cương về văn hóa năm 1943 đã được Đảng ta kế thừa, bổ sung, phát triển và vận dụng sáng tạo trong điều kiện, bối cảnh mới; nhờ đó, lý luận về văn hóa Việt Nam đã có những bước phát triển mới về chất, góp phần đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Văn kiện Đại hội XI của Đảng xác định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” nhấn mạnh, văn hóa phải được đặt ngang hàng với chính trị, kinh tế và xã hội. Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Kế thừa quan điểm đó, Đại hội XII của Đảng xác định mục tiêu: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh””; coi phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Ðảng là then chốt; xây dựng văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần của quá trình phát triển trong thời kỳ mới.
Trong Văn kiện Ðại hội XIII của Ðảng, vấn đề xây dựng, phát triển văn hóa, con người được xác định là một trong các định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hóa. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”. Phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam được xác định vừa là nhiệm vụ trọng tâm, vừa là khâu đột phá có ý nghĩa chiến lược để đẩy mạnh quá trình phát triển đất nước nhanh và bền vững trong thời gian tới.
Văn hóa được xây dựng và bồi đắp nên trong suốt chiều dài lịch sử, làm nên nền tảng tinh thần của một xã hội, giữ vai trò quan trọng vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Thực tiễn cho thấy, văn hóa là một nguồn lực tinh thần nội sinh có sức mạnh to lớn. Lịch sử đã minh chứng rõ rằng, trong những chiến thắng vẻ vang của dân tộc Việt Nam giữa thế kỷ XX có phần không nhỏ là chiến thắng của sức mạnh văn hóa tiềm tàng được hun đúc qua bề dày truyền thống của một dân tộc yêu tự do, đấu tranh kiên cường vì chính nghĩa trước những âm mưu của các thế lực xâm lược phi nghĩa. Văn hóa còn đóng vai trò quan trọng trong việc soi đường cho sự phát triển, tiến bộ của xã hội, của mỗi quốc gia, dân tộc trong hành trình xây dựng và phát triển trong thế kỷ XXI.
Trong bối cảnh hiện nay, sức mạnh kinh tế không còn là yếu tố duy nhất chi phối quyền lực quốc gia, mà “quyền lực mềm” quốc gia gắn với sức mạnh văn hóa ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi đất nước. Thực tế cũng cho thấy, chỉ khi quốc gia - dân tộc phát triển dựa trên nền tảng bản sắc văn hóa truyền thống có tiếp thu chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại thì mới bảo đảm các yếu tố cho phát triển bền vững. Nếu đánh mất bản sắc văn hóa hoặc chỉ dựa trên những trào lưu văn hóa du nhập, vay mượn hoặc sùng bái văn hóa ngoại lai thì một dân tộc thậm chí có thể sẽ biến mất. Đồng thời, sự phát triển toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường và nhất là văn hóa mới bảo đảm sự phát triển thực sự bền vững.
Thời gian càng lùi xa, chúng ta càng thấy rõ hơn tầm vóc và những giá trị to lớn của bản Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943. Trong hơn 80 năm qua, lịch sử cách mạng Việt Nam trải qua các thời kỳ phát triển khác nhau, có cả thăng trầm, nhưng những tư tưởng của Đề cương vẫn là ngọn đuốc soi đường, còn vẹn nguyên giá trị thời sự, mang tính định hướng to lớn, sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn phát triển mới./.

KỶ NIỆM 78 NĂM NGÀY TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN BẦU QUỐC HỘI VIỆT NAM (6/1/1946 - 6/1/2024)

 

Ngày 6-1-1946: Ngày diễn ra cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên.
Tổng tuyển cử trong cả nước bầu đại biểu Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Đây là một sự kiện quan trọng sau Lễ Tuyên ngôn Độc lập diễn ra vào ngày 2-9-1945 chỉ hơn 4 tháng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích: Đây là lần đầu tiên người dân Việt Nam được thể hiện quyền làm chủ của mình trong một quốc gia theo chính thể Cộng hòa - Dân chủ.
Ngày 5-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu, trong đó có đoạn: “Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình”, "Khuyên đồng bào nam nữ 18 tuổi trở lên hôm nay tất cả đều đi bỏ phiếu, để bầu những người đại biểu xứng đáng, vào Quốc hội đầu tiên của nước ta".
Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ quốc, toàn thể nhân dân Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược, từ miền Bắc đến miền Nam, từ nông thôn đến thành thị, không phân biệt gái trai, già trẻ đã dành trọn ngày lịch sử - ngày 6-1-1946: Toàn dân đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội.
Công việc Tổng tuyển cử diễn ra trong điều kiện giặc ngoài thù trong, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội hết sức khó khăn, vừa kháng chiến ở miền Nam, vừa phải giải quyết những nhiệm vụ rất cấp bách hằng ngày đặt ra, vừa thực hiện sách lược tạm thời hòa hoãn với quân Tưởng ở miền Bắc, đồng thời lại vừa phải đấu tranh để chống lại những hành động phá hoại điên cuồng của chúng. Trong điều kiện như thế, đây không phải là một cuộc Tổng tuyển cử thông thường, mà thực chất là một cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh dân tộc hết sức quyết liệt.
Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên đã diễn ra trong cả nước, kể cả các vùng đang có chiến sự ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Ở Hà Nội, ứng cử viên Hồ Chí Minh đến phòng bỏ phiếu đặt tại nhà số 10, phố Hàng Vôi, Hà Nội để thực hiện nghĩa vụ công dân của mình.
Theo những số liệu được công bố ngày hôm đó, một cuộc phổ thông đầu phiếu diễn ra trên cả nước đã bầu chọn 333 đại biểu Quốc hội đại diện cho nhiều địa phương, đảng phái chính trị, tầng lớp xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với số phiếu cao nhất (98,4%).
Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở Việt Nam đã hoàn toàn thắng lợi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam ra đời, đánh dấu mốc phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam./.
Cổng thông tin điện tử Quốc hội