Chủ Nhật, 7 tháng 1, 2024

 

CẨM NANG VÔ GIÁ CỦA CÔNG CUỘC XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng và là lãnh tụ đặc biệt coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức. Khi định nghĩa “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, Người đã đặt đạo đức lên hàng đầu và coi đạo đức là đặc trưng bản chất của Đảng.

Từ khi xã hội loài người hình thành thì đạo đức xã hội đã xuất hiện nhưng đạo đức mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng là đạo đức mới-đạo đức cách mạng, tức là đạo đức của người cách mạng và đạo đức để phụng sự cách mạng. Với quan niệm “mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”, Hồ Chí Minh đề cập đến vấn đề này trong rất nhiều bài viết và có riêng hai bài viết đều mang tên “Đạo đức cách mạng” (tháng 6-1955 và tháng 12-1958).

Tuy nhiên, tác phẩm “Đạo đức cách mạng” được Người viết dưới bút danh Trần Lực và in lần đầu trên Tạp chí Học tập (nay là Tạp chí Cộng sản) cách đây tròn 65 năm, là tác phẩm tập trung đầy đủ nhất những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng.

Vào thời điểm năm 1958, miền Bắc đang trong giai đoạn cải tạo xã hội chủ nghĩa để chuẩn bị bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội; sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà đang bị Mỹ- Diệm ra sức phá hoại. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng miền Nam-những nhiệm vụ cách mạng vô cùng hệ trọng, liên quan đến sự sống còn của cả dân tộc vào thời điểm đó đều phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thách thức. Tình hình đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải phát huy tinh thần hy sinh, gương mẫu, giữ vững đạo đức cách mạng.

Tuy nhiên, một số cán bộ, đảng viên “lầm tưởng rằng miền Bắc không còn thực dân và phong kiến nữa, thì tức là cách mạng thành công rồi. Do đó mà họ để chủ nghĩa cá nhân chớm nở, họ yêu cầu hưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi”, “không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó cho họ”. Những biểu hiện, diễn biến đó nếu không ngăn chặn sẽ làm Đảng suy yếu, làm nhân dân mất lòng tin vào Đảng và chế độ. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng” để mỗi tổ chức đảng và đảng viên nhìn nhận, soi xét, sửa mình, tu dưỡng, phấn đấu sao cho xứng đáng với tư cách của người cách mạng.

Là người có tư duy hệ thống, Hồ Chí Minh bàn về đạo đức cách mạng một cách rất toàn diện.

Trước hết, Người nhấn mạnh tầm quan trọng của đạo đức cách mạng. Với sự trải nghiệm của một nhà cách mạng lão luyện, Người khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.

Đạo đức cách mạng giúp cho người đảng viên đúng mực trong mọi hoàn cảnh, thắng không kiêu, bại không nản; gặp những thử thách khốc liệt của hoàn cảnh thì sẵn sàng hy sinh thân mình để giữ trọn lòng trung thành với Đảng, với nhân dân và Tổ quốc. Lịch sử của Đảng đầy vinh quang và Đảng thu phục được lòng dân là nhờ có những chiến sĩ cách mạng như thế.

Tuy nhiên, trong mỗi con người, đạo đức cách mạng và chủ nghĩa cá nhân luôn song hành tồn tại; cái nào yếu thì cái đối lập sẽ thắng thế. Nếu đảng viên không giữ được đạo đức cách mạng thì chủ nghĩa cá nhân “sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng” và thải loại người cách mạng khỏi vị trí cao quý của người chiến sĩ tiên phong.

Sự suy thoái không có điểm dừng; khi không còn nhiệt huyết đi đầu, tất yếu họ trở thành những người lừng chừng, chậm tiến và “dần dần họ xa rời Đảng, thậm chí phá hoại chính sách và kỷ luật của Đảng”, trở thành kẻ phản bội lại tổ chức. Ngay cả khi vẫn đi theo Đảng, nếu người cán bộ không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân, bởi nhân dân chỉ tin yêu những người có đạo đức thực sự và đủ sự tinh tường để nhận ra ai có đạo đức thực sự. Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, đạo đức của mỗi cá nhân không còn là “tư đức” mà là vấn đề “công đức” bởi gắn với đó là uy tín của chính thể, lòng tin của dân.

Với tư duy khoa học, Hồ Chí Minh quan niệm: “Ta xây dựng con người cũng phải có ý định rõ ràng như nhà kiến trúc”, tức là phải có định hướng rõ ràng về tiêu chí, chuẩn mực. Chuẩn mực đạo đức cách mạng của đảng viên thực chất là các giá trị đạo đức cộng sản đã được cụ thể hóa vào Việt Nam và trở thành cái để phân biệt người đảng viên với đông đảo quần chúng.

Việc xác định các chuẩn mực đạo đức cách mạng là vấn đề đặc biệt quan trọng bởi đó chính là hình mẫu con người đại diện cho lý tưởng cộng sản, cho chế độ tốt đẹp mà Đảng, Nhà nước đang xây dựng. Để cán bộ, đảng viên có phương hướng phấn đấu, Hồ Chí Minh chỉ ra các biểu hiện cơ bản của đạo đức cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng không phải là “sáo ngữ” mà là những hành động rất cụ thể: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”-đây là điều chủ chốt nhất; là “ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng”; là “đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.

Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”; là “ra sức học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”. Đạo đức cách mạng còn là hòa mình với quần chúng, tin quần chúng, hiểu quần chúng, làm gương cho quần chúng và làm cho quần chúng tin yêu.

Nói một cách ngắn gọn nhất: “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”, là không cúi đầu trước mọi kẻ địch, mọi khó khăn, gian khổ; hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao; toàn tâm, toàn ý phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Đạo đức cách mạng của từng đảng viên làm nên đạo đức của toàn Đảng và uy tín của Đảng trước dân tộc.

Nếu trí tuệ con người ít nhiều có yếu tố bẩm sinh thì đạo đức là một sự lựa chọn giá trị sống. Sự tu dưỡng đạo đức cách mạng hoàn toàn không dễ dàng; ngược lại, quá trình ấy không khác gì “gạo đem vào giã bao đau đớn”. Để giúp các tổ chức đảng và đảng viên có phương hướng thực hiện, Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn ra hệ thống giải pháp nhằm nâng cao đạo đức cách mạng.

Muốn giữ vững đạo đức cách mạng, mỗi tổ chức, mỗi đảng viên phải kiên trì tự giác đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân-thứ “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, thứ căn bệnh “mẹ” đẻ ra “trăm thứ bệnh nguy hiểm”. Hồ Chí Minh kết luận: “Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”. Tuy nhiên, Người luôn nhắc nhở: Chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là “giày xéo” lên cá nhân; ngược lại, phải tạo điều kiện để mỗi con người phát huy hết đặc tính, năng lực của mình và cống hiến nhiều hơn cho cách mạng.

Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng ta sở dĩ tồn tại và phát triển ngày càng mạnh mẽ là do “khéo dùng cái vũ khí sắc bén phê bình và tự phê bình”, đặc biệt là sự phê bình của quần chúng bởi chỉ có quần chúng mới biết rõ, người cán bộ có hành động vì lợi ích của họ hay không. Hồ Chí Minh nói rõ, phê bình và tự phê bình là làm cho “phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi” để giúp người khác tránh được khuyết điểm tương tự và để Đảng đi đến sự thống nhất, đoàn kết hơn nữa.

Ngược lại, những ai chỉ muốn “phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh những cán bộ ngoài Đảng” thì nhất định sẽ rơi vào tình trạng lạc hậu, thoái bộ và bị quần chúng bỏ rơi.

Tu dưỡng đạo đức suốt đời là giải pháp trọng yếu của người cách mạng bởi, một việc tốt, một ngày tốt không làm nên một đời tốt nhưng một đời tốt lại dễ dàng bị hủy hoại bởi một việc xấu, một ngày xấu nếu cái xấu ở mức độ trầm trọng. Hồ Chí Minh đúc kết chân lý: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Không ai có thể không khổ luyện mà thành tài; càng không ai có thể không rèn đức mà đức sáng. Nghị lực và ý thức tự giác tu dưỡng đạo đức suốt đời vừa là giải pháp thực thi đạo đức cách mạng, vừa là biểu hiện của đạo đức cách mạng bởi người tốt thực sự sẽ không bao giờ thấy cái tốt của mình là đã đủ để không cần tu dưỡng nữa. 

Tác phẩm “Đạo đức cách mạng” thực sự là một “đại tổng kết” về đạo đức cách mạng. Chăm lo cái gốc đạo đức của Đảng là chủ thuyết sâu sắc của Hồ Chí Minh. Vì thế, nhà sử học Trần Văn Giàu từng đúc kết rằng: “Quả có một đạo đức học Hồ Chí Minh”. Với dung lượng 12 trang-đủ để làm một tài liệu học tập trong Đảng, tác phẩm “Đạo đức cách mạng” chứa đựng tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng một Đảng chân chính cách mạng trong điều kiện cầm quyền.

Cảnh báo của Người về sự nguy hại của chủ nghĩa cá nhân, về tình trạng “tự tha hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên từ 65 năm trước, nay đang là những nguy cơ rất lớn trong Đảng. Nếu “một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ” như lời Lênin thì mỗi đảng viên, mỗi tổ chức đảng phải biết tự bảo vệ mình trước sự tha hóa của chính mình.

Đất nước đang bước vào thời kỳ phát triển mới. Trọng trách trước Đảng, trước nhân dân đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ vị trí lãnh đạo phải giữ gìn đạo đức cách mạng như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Bất kể ai, ở vị trí nào, nếu không rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng mà trở nên kiêu ngạo, tự tôn, tự tác, coi mình cao hơn tổ chức thì “cái chết về chính trị” là điều khó thoát, khó tránh. Với trách nhiệm của người sáng lập và rèn luyện Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao truyền lại cho Đảng “vũ khí” hữu hiệu để xây dựng Đảng “từ gốc”.

Mỗi tổ chức đảng, mỗi cá nhân đảng viên phải thực sự “mở lòng” đón nhận từ Người những thông điệp đạo đức cao cả để “giữ mắt cho trong, giữ lòng cho sáng” nhằm đưa dân tộc tiến bước cùng thời đại.

 

NHẬN THỨC TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ, CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC

Là đảng cách mạng, ngay từ khi được thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuân thủ những nguyên tắc của Đảng kiểu mới do V.I.Lênin đề ra. Nguyên tắc tập trung dân chủ được đặt lên hàng đầu và đã sáng tỏ trong nhận thức trên những vấn đề căn bản.

Là đảng cách mạng, ngay từ khi được thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuân thủ những nguyên tắc của Đảng kiểu mới do V.I.Lênin đề ra. Nguyên tắc tập trung dân chủ được đặt lên hàng đầu và đã sáng tỏ trong nhận thức trên những vấn đề căn bản. Đảng thống nhất nhận thức lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm học thuyết lý luận, khoa học và là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”. Cùng với tuân theo học thuyết lý luận, mọi tổ chức đảng và đảng viên phải theo lý tưởng cách mạng, ra sức đấu tranh theo Cương lĩnh, đường lối của Đảng, tuyệt đối trung thành với lý tưởng, mục tiêu cách mạng Đảng đã đề ra, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung của Đảng và đề cao trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên. Phải thực hiện nghiêm chỉnh kỷ luật và các quy định của Điều lệ Đảng và đảng viên phải sinh hoạt trong một tổ chức đảng là chi bộ.

Từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng và yêu cầu xây dựng Đảng, Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960) đã xác định: “Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức căn bản của Đảng. Nội dung của nó là tập trung trên cơ sở dân chủ và dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung. Mục đích của nó một mặt là phát huy và nâng cao tính tích cực cách mạng, tính sáng tạo của đông đảo đảng viên và các tổ chức của Đảng, mặt khác là bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động và gìn giữ kỷ luật của Đảng. Đảng phải luôn luôn nắm vững lãnh đạo tập thể là nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng thời kết hợp với phân công phụ trách. Đảng chống mọi hiện tượng phân tán, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, tự do vô kỷ luật cũng như chống mọi hiện tượng tập trung quan liêu, sự vụ, gia trưởng, độc đoán, coi thường tập thể, coi thường cấp dưới”. Đó là bản chất cách mạng, khoa học và tính đúng đắn của nguyên tắc tập trung dân chủ và được thực hiện nhất quán trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, các đảng cộng sản cầm quyền ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam và chủ nghĩa xã hội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy vậy, mô hình chủ nghĩa xã hội đã bộc lộ những hạn chế, khuyết điểm chậm được sửa chữa. Điều đó dẫn tới khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô (1989-1991). Nguyên nhân khách quan là chủ nghĩa đế quốc thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. Nguyên nhân chủ quan là các đảng cộng sản cầm quyền đã rời bỏ nền tảng tư tưởng, lý luận và Chủ nghĩa Mác-Lênin, đã hạ vũ khí trên mặt trận tư tưởng trước sự tiến công hiểm độc của kẻ thù. Các đảng cộng sản đã không kiên định và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, để cho những quan điểm sai trái về đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, công khai hóa, dân chủ hóa lộng hành dẫn tới sự rối loạn trong Đảng và xã hội, Đảng không kiểm soát được tình hình và mất vai trò lãnh đạo, cầm quyền.

Ở Việt Nam, lợi dụng tình hình xấu đi của các nước xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch ở trong nước và lưu vong ra sức phá hoại hòng đưa đất nước rời bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng. Với bản lĩnh chính trị vững vàng, ngay từ năm 1989, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới, khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu, đúng đắn mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; Chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân Việt Nam; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa... Về nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng nhấn mạnh: “Mở rộng dân chủ các lĩnh vực của đời sống xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là dân chủ xã hội chủ nghĩa, không phải dân chủ tư sản. Dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật, pháp luật, với ý thức trách nhiệm công dân. Dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo để phát huy dân chủ đúng hướng; mặt khác lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ trên cơ sở phát huy dân chủ. Dân chủ với nhân dân nhưng phải nghiêm trị những kẻ phá hoại thành quả cách mạng, an ninh trật tự và an toàn xã hội”.

Trung thành, vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng đã lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) trong tổng kết công tác xây dựng Đảng đã nêu rõ kinh nghiệm hàng đầu là: “Nâng cao bản lĩnh chính trị; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng; kịp thời tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để đổi mới sáng tạo, chống bảo thủ, trì trệ, đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện cơ hội chính trị”.

Thực hiện nghiêm các nguyên tắc, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng và Nhà nước đã xử lý thành công các nội dung cơ bản:

Một là, thực hiện tốt mối quan hệ giữa lãnh đạo tập trung của Đảng, Nhà nước với thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội. Sự lãnh đạo tập trung trước hết phải thống nhất về nền tảng tư tưởng, học thuyết lý luận là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lãnh đạo bằng đường lối đổi mới, cương lĩnh, chính sách, pháp luật không ngừng được bổ sung, phát triển, bảo đảm tính đúng đắn, hiện thực và hiệu quả. Phát huy dân chủ trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội dựa trên nâng cao trình độ trí tuệ và nâng cao dân trí. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Kiên quyết chống tập trung quan liêu, lộng quyền, lạm quyền, tha hóa quyền lực, phải có cơ chế kiểm soát quyền lực. Khắc phục biểu hiện dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan và lợi dụng dân chủ để gây mất ổn định chính trị, xã hội.

Hai là, xử lý tốt mối quan hệ giữa mở rộng dân chủ với tăng cường, siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Dân chủ thực chất là mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đề cao trách nhiệm, trí tuệ, quyền hạn, góp phần xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật và tự giác thực hiện. Kỷ luật, kỷ cương của Đảng đòi hỏi cá nhân phục tùng tập thể, tổ chức, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương. Phải giữ nghiêm kỷ luật từ trên xuống dưới. Lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng đã xử lý đúng đắn những mối quan hệ lớn. Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung “mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”.

Ba là, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn luôn được thực hiện trong mối quan hệ thống nhất, đồng bộ với các nguyên tắc khác về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đó là các nguyên tắc tự phê bình và phê bình; đoàn kết thống nhất trong Đảng; gắn bó mật thiết với nhân dân, hiểu dân, tin dân và vì dân; thực hiện chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Sự thống nhất của các nguyên tắc đó bảo đảm không ngừng nâng cao bản chất cách mạng và sức chiến đấu của Đảng. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ một số hạn chế trong việc thực hiện các nguyên tắc của Đảng “Nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện chưa nghiêm, thậm chí có nơi còn vi phạm nghiêm trọng. Nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện hiệu quả thấp, tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”. Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách cần được quy định cụ thể, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm nêu gương.

Các thế lực thù địch đang ra sức phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ với luận điệu ở Việt Nam chỉ có một đảng lãnh đạo, không có dân chủ và Đảng độc đoán, chuyên quyền. Đó là sự xuyên tạc, nhắm mắt trước sự thật, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, Đảng phải không ngừng hoàn thiện và thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn nguyên tắc tập trung dân chủ, tiếp tục xử lý đúng đắn quan hệ giữa lãnh đạo tập trung và phát huy dân chủ, bảo đảm nguyên tắc đó không chỉ cần thiết của Đảng cầm quyền mà còn trở thành nguyên tắc quản lý của một xã hội văn minh, hiện đại.

Thước đo năng lực lãnh đạo của Đảng là những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Trong công cuộc đổi mới, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ từ một nước nghèo kém phát triển trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Chính trị ổn định. Văn hóa, xã hội phát triển. Đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao, từ 58% hộ nghèo năm 1993, nay còn dưới 3%. Quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc. Đối ngoại và hội nhập quốc tế không ngừng mở rộng. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ. Trong phòng, chống đại dịch Covid-19, Việt Nam là một điểm sáng trên thế giới. Cả hệ thống chính trị và toàn dân tập trung hành động vừa phát triển kinh tế, vừa kiểm soát dịch bệnh. Lực lượng các ngành y tế, quân đội, công an thật sự là “lá chắn thép” bảo vệ nhân dân. Điều đó tỏ rõ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bản chất của Đảng Cộng sản, của chủ nghĩa xã hội là hòa bình, hữu nghị, hợp tác bình đẳng. Hiện nay, Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam có quan hệ tốt với hơn 200 đảng cầm quyền, đảng chính trị trên thế giới, trong đó có những đảng cầm quyền ở các nước tư bản hàng đầu. Nhà nước Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 187 nước trong 193 nước thành viên Liên hợp quốc, quan hệ kinh tế, thương mại với 224 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam được bầu là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu gần như tuyệt đối 192/193. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) nhận được hơn 500 điện, thư chúc mừng của các đảng, các tổ chức, các nhà hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội trên thế giới. Việt Nam đang từng bước sánh vai với các cường quốc trên thế giới như ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Thực tiễn luôn luôn là tiêu chuẩn của chân lý. Tập trung dân chủ là nguyên tắc mang tính khoa học và hiện thực trong xây dựng Đảng và có vai trò rất quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, bảo đảm phát huy dân chủ thực chất và giữ vững kỷ luật, kỷ cương. Nguyên tắc đó vì thế có giá trị bền vững trong lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

 

QUÀ TẾT HAY "NỊNH" TẾT?


Năm cũ sắp qua đi, năm mới sắp đến, người Việt Nam có phong tục tặng quà. Con cái tặng quà cha, mẹ, ngược lại cha mẹ tặng quà con cái; học trò tặng quà thầy, cô… nhỏ thì hộp mứt, gói kẹo, tập sách, cuốn vở, lớn hơn là bộ quần áo kèm theo những lời chúc tốt lành. Đó thực sự là một nét đẹp văn hóa đáng trân trọng. Nếu quà tặng cuối năm cứ giữ đúng phong cách, ý nghĩa ấy thì chẳng có gì đáng bàn. Tết Giáp Thìn đang đến ngày một gần và chuyện tặng quà cuối năm đang nóng từng ngày.

Đâu đó đã có những cách tặng quà khác nhau như: tặng vé tàu cho sinh viên về quê ăn Tết hay ở nhiều địa phương có chính sách tặng quà cho người nghèo, trẻ em lang thang cơ nhỡ và những người khuyết tật… Hàng tỉ đồng, hàng trăm ngôi nhà đã được dành cho người nghèo trên cả nước. Những nghĩa cử cao đẹp đó là rất đúng với bản chất của xã hội ta, đáng được hoan nghênh và cần được nhân rộng.

Tuy nhiên, chuyện quà Tết, dù chẳng nói ra nhưng lâu nay xã hội đã ngầm hiểu với nhau, Tết là dịp để "cảm ơn, chạy chọt, xin xỏ"... Một phong tục tốt đẹp của dân tộc từ lâu rồi đã bị một số phần tử lợi dụng để mưu cầu tư lợi. Thế mới có cảnh, cứ gần Tết là dân thường được phen trố mắt thấy xe con nườm nượp ra vào nhà một sếp này, sếp nọ.

Dư luận đã không ít lần “phát hoảng” khi một vài vị lãnh đạo cấp tỉnh, thành phố công khai đem sung công quỹ hàng tỉ đồng quà Tết để làm từ thiện... Đấy là những con số, những người dám công khai, còn những con số “bí mật” thì chắc là không biết đằng nào mà lần. Đây cũng là một trong những nguyên nhân tạo nên sự mất đoàn kết nội bộ, vì rằng anh được đi chúc Tết, tôi không được đi, trưởng được tặng quà, phó lại không, ngành này có Tết, ngành kia không... Quà cáp, biếu xén đầy âm mưu, sự toan tính cũng chính là mảnh đất tốt cho tham nhũng, lãng phí sinh sôi.

Tết năm nào cũng vậy, lãnh đạo Đảng, Nhà nước thường có chỉ thị, công văn, chủ trương nhắc nhở yêu cầu, mọi tổ chức Đảng, chính quyền các cấp phải quán triệt tổ chức Tết cho nhân dân một cách vui tươi, lành mạnh và tiết kiệm; Không được dùng công quỹ để đi thăm và tặng quà, biếu xén cấp trên và cá nhân.

Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng luôn luôn đề cập, chống việc tặng quà Tết bị biến tướng thế nhưng xem ra việc thực hiện rất khó. Mấy ngày qua, trên các trang mạng, dư luận thêm những kinh ngạc, băn khoăn khi quà Tết được không ít người lựa chọn ở mức giá trị hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng… Chỉ với một món quà có giá trị như thế, người nghèo đã có Tết to!

Đất nước đang bước vào thời kỳ hội nhập, mọi vấn đề đang được minh bạch hóa, công khai dân chủ. Nhân dân mong rằng mọi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu mọi tổ chức, địa phương, đơn vị hãy gương mẫu thực hiện tốt, để củng cố lòng tin của nhân dân.

Sự giám sát của dư luận xã hội, của các cơ quan truyền thông, sự chuyển biến về ý thức, sự cải thiện chế độ thu nhập cho công chức là rất cần thiết, nhưng đi cùng với nó là những chế tài nghiêm khắc. Nếu không động từ “cấm” chỉ là để trang trí cho một khẩu hiệu nhàm tai nào đó.

Vì vậy, cần tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán, giám sát, phát hiện và xử lý nghiêm người nào cố tình vi phạm. Cần phát động nhân dân tố giác, phát hiện người cho và nhận quà quá mức bình thường trong dịp Tết, để từ đó có chế độ khen thưởng người phát hiện, kỷ luật nặng những người vi phạm.

Làm kiên quyết triệt để như thế cũng là tự làm sạch nội bộ, làm trong sạch đạo đức cán bộ, đảng viên và bồi dưỡng đạo đức, nếp sống tốt đẹp của dân tộc, củng cố lòng tin của nhân dân. Đừng để năm nào cũng có chỉ thị, công văn nhưng chưa được như mong muốn./.

 

“PHẢI THẮNG LỢI TO LỚN HƠN NỮA”

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị lần thứ tám của Quân ủy Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 vừa diễn ra mới đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đã nhấn mạnh:“Với tinh thần công việc của năm 2023 đã tốt rồi, thì năm 2024 sẽ tốt hơn nữa và phải thắng lợi to lớn hơn nữa”.

Đây là lời động viên, khích lệ, thể hiện niềm tin tưởng to lớn, cũng là yêu cầu rất cao của đồng chí Tổng Bí thư đối với Đảng bộ Quân đội và toàn quân. Chỉ đạo của Tổng Bí thư nhanh chóng được các đồng chí lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lãnh đạo, chỉ huy các cấp quán triệt sâu sắc, phổ biến tại nhiều hội nghị và nhanh chóng lan tỏa đến các cơ quan, đơn vị trong toàn quân. 

Nhìn lại năm 2023 và sau nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đứng trước những khó khăn, thách thức, nhưng đất nước ta vẫn đạt nhiều kết quả rất đáng trân trọng, tự hào. Kết quả đó có một phần nguyên nhân là bởi cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp, các ngành đã mạnh dạn xác định chỉ tiêu, mục tiêu phấn đấu hằng năm với yêu cầu rất cao về mức độ hoàn thành; đồng thời tập trung sức lãnh đạo, chỉ đạo, quyết liệt tổ chức triển khai thực hiện bằng nỗ lực, quyết tâm cao nhất.

Tuy vậy, năm qua cũng xuất hiện không ít hiện tượng đáng phải băn khoăn, suy ngẫm về tinh thần trách nhiệm, tác phong công tác của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Vẫn còn đó những cá nhân mang tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, không dám làm, hoặc né tránh, đùn đẩy công việc cho nhau. Một số khác lại có tư duy bàn lùi, ngại khó, ngại khổ, không dám đương đầu với khó khăn, thử thách, ngại việc mới và nhất là không thường xuyên đặt ra các mục tiêu phấn đấu với yêu cầu ngày càng cao... Chính thực tế đó gây nên tắc nghẽn, khiến cho công việc không trôi chảy, làm giảm tiến độ, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ ở nhiều tổ chức, cá nhân.

Năm mới nhắc lại chuyện cũ như vậy để mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên có nhìn nhận thấu tỏ hơn; đồng thời xác định tâm thế mới trước những nhiệm vụ mới nặng nề hơn, yêu cầu cao hơn. Theo đó, để hoàn thành nhiệm vụ ở mức độ tốt hơn và giành nhiều thắng lợi to lớn hơn so với năm 2023, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp phải nhanh chóng cụ thể hóa mục tiêu, quyết tâm chính trị thành hành động cách mạng sôi nổi, rộng khắp của quần chúng; khẩn trương xây dựng chương trình, kế hoạch công tác năm 2024 với tinh thần rõ người, rõ việc, rõ thời gian để tập trung, chủ động thực hiện quyết liệt, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Đặc biệt, từ yêu cầu “phải tốt hơn năm trước” của lãnh đạo Đảng, qua từng cấp phải được cụ thể hóa thành những chỉ tiêu cụ thể; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, giao việc, khoán việc, gắn với trách nhiệm người đứng đầu ở từng cấp, từng bộ phận, bảo đảm hoàn thành đúng tiến độ, chất lượng. Trong đó, với trọng trách được giao phó, người đứng đầu phải thực sự là những cán bộ “6 dám”, mẫu mực nêu gương; biết khơi dậy và phát huy tinh thần phấn đấu học tập, công tác, ra sức dấn thân vì công việc và lợi ích chung.

Cùng với đó, quá trình thực hiện nhiệm vụ, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và cơ quan chức năng cần sớm nhận diện, khắc phục triệt để các biểu hiện “đầu voi, đuôi chuột”; “trên nóng, dưới lạnh”, “trên vất vả chỉ đạo, dưới thong thả triển khai”... trong thực hiện các nhiệm vụ. Làm tốt những phần việc này thì chắc chắn, năm 2024 sẽ đạt kết quả tốt hơn và thu gặt nhiều thắng lợi to lớn hơn năm 2023.

 

Căng thẳng trên Biển Đỏ đe dọa thương mại toàn cầu

                                                            

          Suốt một tháng qua, hơn 100 vụ tấn công bằng tên lửa và máy bay không người lái đã được Phong trào Houthi ở Yemen thực hiện vào các tàu thuyền trên Biển Đỏ. Đây là tuyến đường huyết mạch vận chuyển khoảng 1.000 tỷ USD giá trị hàng hóa toàn cầu. Mỹ đã phát động chiến dịch an ninh đa quốc gia tuần tra tại vùng biển này. Hàng loạt hãng vận tải biển lớn đã tạm dừng lịch trình qua Biển Đỏ. Thị trường dầu theo sát căng thẳng.

          Biển Đỏ - tuyến vận tải biển quan trọng

          Phong trào Houthi ở Yemen tuyên bố sẽ không dừng các cuộc tấn công vào tàu thuyền trên Biển Đỏ bất chấp việc Mỹ thông báo lập liên minh hàng hải nhằm đảm bảo an ninh cho tuyến giao thông huyết mạch này. Biển Đỏ nối với Địa Trung Hải qua kênh đào Suez, hình thành nên tuyến vận tải biển ngắn nhất kết nối châu Âu và châu Á. Khoảng 15% lưu lượng vận tải biển của thế giới đi qua kênh đào này.

          Các cuộc tấn công tại Biển Đỏ làm tăng chi phí vận tải

          Hiện một loạt hãng vận tải đường biển lớn trên thế giới như Hapag Lloyd, MSC và Maersk... đã đồng loạt tạm dừng việc khai thác tuyến vận tải này. Sự gián đoạn được dự báo có thể khiến chi phí vận chuyển đường biển gia tăng mạnh trong thời gian tới.

          CNBC trích dẫn mới nhất cho thấy, tính đến ngày 21/12, giá cước vận chuyển một container 40 feet từ Trung Quốc đến Anh đã tăng vọt chỉ trong vài giờ, lên 10.000 USD, tức cao gấp 4 lần so với tuần trước. Chi phí vận tải bằng đường hàng không cũng tăng 13% trong tuần này, trong khi chi phí chở hàng bằng xe tải tại Trung Đông tăng gấp đôi. Các doanh nghiệp châu Âu được cho là chịu nhiều ảnh hưởng nhất, bởi chuỗi cung ứng của họ phụ thuộc nhiều vào tuyến đường đi qua Biển Đỏ.

          Thị trường dầu theo dõi sát căng thẳng tại Biển Đỏ

          Đó là những ảnh hưởng ban đầu với giá cước vận tải. Thị trường dầu cũng đang theo dõi sát các diễn biến tại khu vực. Bởi mỗi năm có hơn 17.000 tàu chở dầu và khoảng 12% lượng dầu thô vận chuyển bằng đường biển của thế giới đi qua vùng biển này. Nỗi lo nguồn cung đang đẩy giá dầu tăng những ngày cuối năm 2023, dự báo sang cả quý I năm sau. Các tác động trước mắt là giá dầu tăng hơn 1% trong các phiên giao dịch tuần qua. Dầu Brent lên trên 79 USD/thùng, mức cao nhất kể từ đầu tháng 12. Trong khi đó, giá dầu ngọt nhẹ WTI giao tháng 1/2024 giao dịch hơn 73 USD/thùng, cũng là mức cao nhất trong hơn 2 tuần qua.

          Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), lượng dầu vận chuyển qua biển Đỏ chiếm khoảng 12% tổng lượng dầu giao dịch bằng đường biển toàn cầu trong nửa đầu năm 2023. Trong thông báo mới nhất, các công ty dầu mỏ hàng đầu gồm BP và Frontline đều thông báo sẽ tránh di chuyển qua tuyến đường biển này.

"Sau khi phương Tây siết chặt lệnh trừng phạt với dầu thô Nga, vai trò của khu vực Biển Đỏ trở nên quan trọng hơn. Khoảng 74% lượng dầu xuất khẩu bằng đường biển của Nga đến châu Á là đi về phía Nam Suez thay vì 30% như năm 2021. Trong khi đó, châu Âu cũng đang tăng cường nhập khẩu dầu từ Trung Đông. Việc nhiều tàu chở dầu phải đổi hướng vòng qua châu Phi, thay vì tạm thời dừng di chuyển qua khu vực Biển Đỏ đã khiến thời gian giao hàng kéo dài thêm khoảng 18 ngày. Do vậy tôi cho rằng, nguồn cung đến các nhà máy lọc dầu cũng sẽ hạn chế hơn và nguồn cung dầu tạm thời sẽ bị thắt chặt hơn trong ngắn hạn", ông Dương Đức Quang, Phó Tổng giám đốc, Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), cho hay.

          Goldman Sachs cho biết với giả thuyết toàn bộ các tàu chở tổng cộng 7 triệu thùng dầu/ngày đi qua tuyến đường biển này chuyển hướng sẽ khiến giá dầu thô giao ngay tăng thêm 3 - 4 USD mỗi thùng so với giá kỳ hạn. "Xu hướng giá dầu trong thời gian tới có thể sẽ có những biến động khó đoán. Căng thẳng ở khu vực Biển Đỏ cùng với việc OPEC+ cắt giảm sản lượng tự nguyện có thể hỗ trợ cho giá dầu vào đầu năm sau. Dầu WTI nhiều khả năng sẽ tăng nhẹ và đạt mức trung bình khoảng 78 - 82 USD/thùng trong quý I năm sau", ông Dương Đức Quang nhận định.

          Nguy cơ gián đoạn thương mại quốc tế trên Biển Đỏ

          Trên thực tế, ngày càng nhiều tàu chở hàng quyết định neo đậu trên Biển Đỏ trong khi các tàu khác tắt các hệ thống định vị, các nhà buôn phải điều chỉnh lịch trình và chi phí vận chuyển. Sự gián đoạn của một trong những tuyến vận tải huyết mạch Đông - Tây của thế giới càng làm gia tăng tâm lý lo ngại rằng, thương mại quốc tế đứng trước nguy cơ tiếp tục gián đoạn khi chỉ vừa chớm phục hồi sau đại dịch COVID-19. Các dữ liệu mới nhất cho thấy, đã có ít nhất hơn 100 tàu container đã quyết định thay đổi lộ trình di chuyển, đi vòng xuống cực Nam châu Phi thay vì qua Biển Đỏ. Từ đây họ sẽ phải qua eo biển Gibraltar vào Địa Trung Hải sau đó tới các cảng của châu Âu.

          Điều này có thể khiến quãng đường vận tải kéo dài thêm 6.000 hải lý và thời gian giao hàng kéo dài 3 - 4 tuần, từ đó làm tăng đáng kể chi phí vận chuyển.

"Giá cước vận chuyển container đã tăng lên. Chúng đã tăng lên mức cao nhất vào năm 2023. Dù mức giá này là thấp so với khủng hoảng chuỗi cung ứng thời COVID nhưng vẫn cao hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong năm 2023", ông Jan Hoffmann, Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), đánh giá. "Tôi nghĩ về tác động đến chuỗi cung ứng toàn cầu, tác động đến lạm phát mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ hơn. Liên quan đến những gì đang xảy ra với sự chậm trễ ở Biển Đỏ, thật không may những điều đó dường như cũng đang leo thang", ông Marco Forgione, Tổng Giám đốc Viện Xuất khẩu và Thương mại Quốc tế, cho biết.

          Tuy nhiên theo giới phân tích, mức độ tác động cũng sẽ tùy thuộc vào việc cuộc khủng hoảng sẽ kéo dài bao lâu.

          "Mùa mua sắm cuối năm nay sẽ vẫn an toàn, bởi hàng hóa phục vụ lễ Giáng sinh và năm mới hiện đã đến các cảng ở châu Âu, và không còn bị tác động bởi gián đoạn ở Biển Đỏ. Dù vậy ngay sau dịp lễ, các nút thắt cổ chai sẽ xuất hiện trở lại và gây khó khăn cho các cửa hàng cũng như người tiêu dùng", ông Carsten Brzeski, chuyên gia kinh tế trưởng, Ngân hàng ING tại Đức, nhìn nhận.

Cũng theo ông Carsten Brzeski, nếu khủng hoảng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, người tiêu dùng sẽ không nhận thấy điều gì, ngoại trừ giá năng lượng tăng cao. Nó sẽ chỉ là tạm thời. "Nếu kéo dài lâu hơn, chúng ta sẽ thấy lạm phát tăng trở lại, không ở mức độ như chúng ta đã thấy vào năm 2021 nhưng rõ ràng, khi đó chúng ta sẽ có một câu chuyện hoàn toàn mới, không phải là lạm phát đang trên đà giảm mà là lạm phát sẽ tăng trở lại vào tháng đầu tiên của năm 2024", ông Carsten Brzeski nhận định.

 

 

13 BIỆN PHÁP BẢO VỆ AN NINH MẠNG MỚI NHẤT

         

          1. An ninh mạng là gì?

          Theo khoản 1 Điều 2 Luật an ninh mạng năm 2018 thì an ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

          2. 13 biện pháp bảo vệ an ninh mạng mới nhất

          13 biện pháp bảo vệ an ninh mạng theo khoản 1 Điều 5 Luật an ninh mạng năm 2018 gồm:

          - Thẩm định an ninh mạng;

          - Đánh giá điều kiện an ninh mạng;

          - Kiểm tra an ninh mạng;

          - Giám sát an ninh mạng;

          - Ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng;

          - Đấu tranh bảo vệ an ninh mạng;

          - Sử dụng mật mã để bảo vệ thông tin mạng;

          - Ngăn chặn, yêu cầu tạm ngừng, ngừng cung cấp thông tin mạng; đình chỉ, tạm đình chỉ các hoạt động thiết lập, cung cấp và sử dụng mạng viễn thông, mạng Internet, sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến theo quy định của pháp luật;

          - Yêu cầu xóa bỏ, truy cập xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

          - Thu thập dữ liệu điện tử liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng;

          - Phong tỏa, hạn chế hoạt động của hệ thống thông tin; đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu ngừng hoạt động của hệ thống thông tin, thu hồi tên miền theo quy định của pháp luật;

          - Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;

          - Biện pháp khác theo quy định của pháp luật về an ninh quốc gia, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

          3. Các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng

          Các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng theo Điều 8 Luật an ninh mạng năm 2018 như sau:

          - Sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi sau đây:

          + Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật an ninh mạng năm 2018 ;

          + Tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

          + Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc;

          + Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác;

          + Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng;

          + Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.

          - Thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; gây sự cố, tấn công, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

          - Sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử; phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử; xâm nhập trái phép vào mạng viễn thông, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử của người khác.

          - Chống lại hoặc cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng; tấn công, vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng.

          - Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi.

          - Hành vi khác vi phạm quy định của Luật an ninh mạng năm 2018.

 

Thi đua yêu nước, phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp cách mạng

Nhắc tới Đại tướng Nguyễn Chí Thanh-một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta nhớ tới hình ảnh một vị tướng luôn lăn lộn với thực tế chiến trường, với cuộc sống lao động sản xuất của nhân dân để tổng kết, khái quát và phát động các phong trào thi đua yêu nước, nhằm phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp cách mạng.

Trên từng cương vị, chức trách, đồng chí đều chú trọng công tác xây dựng phong trào, chỉ đạo quá trình thực hiện. Rất nhiều phong trào đã ghi dấu ấn sâu đậm về khả năng tổ chức tài tình của Đại tướng.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người thực hiện xuất sắc tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí được quân và dân ta gọi bằng các danh xưng rất gần gũi, thân thương, giản dị như: “Đại tướng của nông dân”, “Đại tướng của phong trào” hay “Đại tướng bám đội, lội đồng”... Trong giai đoạn cách mạng mới, việc đúc kết, làm rõ nghệ thuật về tổ chức các hoạt động thi đua yêu nước của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhằm phát huy cao độ nhân tố con người và khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; đồng thời, là cơ sở để tham khảo, tổ chức các phong trào thi đua đạt hiệu quả cao hơn. Nghệ thuật này được thể hiện sinh động trên một số phong trào tiêu biểu sau:

Người khởi xướng, dẫn dắt Phong trào thi đua “Ba nhất”

Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã vận dụng một cách sáng tạo vào chỉ đạo tổ chức công tác thi đua thành hành động cách mạng của hàng triệu quần chúng, bộ đội. Ngay sau khi được Đảng, Chính phủ điều động vào Quân đội và giao trọng trách Phó bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, tại Hội nghị cán bộ chính trị chuẩn bị cho Chiến dịch Biên giới năm 1950, đồng chí đã căn dặn cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chính trị các đơn vị tham gia chiến dịch phải làm thật tốt các hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị; đặc biệt, cần phải phát động một cuộc vận động lập công.

Trong những năm 1954-1958, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã cùng với Tổng Quân ủy, Tổng cục Chính trị đề ra chủ trương và chỉ đạo toàn quân đẩy mạnh các phong trào thi đua nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện, xây dựng Quân đội chính quy, hiện đại, góp phần củng cố, bảo vệ miền Bắc và sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Quán triệt chủ trương này, Lữ đoàn 364 pháo binh mở phong trào học tập, rèn luyện trở thành “Pháo thủ toàn năng”. Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 305 bộ binh phát động phong trào “Vượt lên hàng đầu”. Quân khu Tả Ngạn phát động và lãnh đạo phong trào rèn luyện thể lực mang tên “Đại đội gió”, bắt đầu từ Đại đội 2, Trung đoàn 50... Trước những diễn biến này, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã thường xuyên theo dõi, chỉ đạo chặt chẽ các đơn vị, tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm đưa phong trào thi đua vào chiều sâu, có chất lượng và hiệu quả. Trên cơ sở đó, tháng 11-1958, Tổng Quân ủy phát động Phong trào thi đua “Tiến nhanh hoàn thành vượt mức kế hoạch xây dựng Quân đội”.

Để phong trào thi đua đạt được hiệu quả, thiết thực, cần phải tìm ra các nhân tố mới, phát hiện các điển hình tiên tiến; đồng thời, chú trọng công tác tổng kết kinh nghiệm để phát huy. Thấu triệt quan điểm đó, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn dành thời gian đến với các đơn vị cơ sở để phát hiện và tạo dựng phong trào. Ngay khi đến Đại đội 2, Trung đoàn 68 pháo binh, Đoàn Vinh Quang (Sư đoàn 304), đồng chí đi sâu tìm hiểu tình hình và phát hiện, đơn vị đã dựa vào chi bộ, chi đoàn để phát động quần chúng và đề ra khẩu hiệu “Tiến công vào khoa học-kỹ thuật, làm chủ vũ khí, trang bị mới”. Với sự lan tỏa mạnh mẽ của phong trào và ý chí quyết tâm của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, ở hội thi bắn đạn thật toàn quân (tháng 6-1960), Sư đoàn 304 đạt đơn vị bắn giỏi nhất, đoàn có nhiều phân đội tham gia nhất, thành tích đều nhất. Tại lễ trao Huân chương tặng Đại đội 2, Trung đoàn 68 pháo binh, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã khái quát những thành tích của đơn vị là “Ba nhất”. Nội dung của “Ba nhất” (nhất về huấn luyện quân sự, rèn luyện kỹ thuật; nhất về mặt gương mẫu, kỷ luật; nhất về lao động và sản xuất) đã lôi cuốn các đơn vị trong toàn quân, mở rộng ra cả những đơn vị dân quân, thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa bộ đội thường trực và lực lượng hậu bị, củng cố khối đoàn kết công-nông-binh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

“Ba nhất” được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng phát động thành phong trào thi đua trong toàn quân. Đó là một phong trào thi đua, một hình tượng thi đua điển hình vừa cụ thể vừa sinh động, lấy huấn luyện chiến đấu, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu làm trung tâm, lấy việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị mình làm mục tiêu thi đua cụ thể. Với ý nghĩa đó, “Ba nhất” được nêu lên như một khẩu hiệu hành động có sức hấp dẫn mạnh mẽ, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ toàn quân hăng say thi đua sáng tạo, lập công.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Ảnh tư liệu: TTXVN 

Dấu ấn phong trào thi đua “Gió Đại Phong”

Những năm đầu thập niên 1960, miền Bắc bước vào thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960) đề ra. Do yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Đảng điều động và phân công làm Trưởng ban Công tác nông thôn (sau đổi là Ban Nông nghiệp Trung ương). Từ một vị tướng cầm quân đánh giặc, Đại tướng được giao trọng trách người đứng đầu, là “Tư lệnh ngành” để chỉ đạo một lĩnh vực kinh tế trọng yếu của đất nước, trực tiếp liên quan đến sự đói no của hàng chục triệu con người, đến nguồn lương thực cung cấp cho miền Nam đánh Mỹ. Thời điểm này, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, đưa nông dân vào làm ăn tập thể còn gặp không ít khó khăn, khi phần lớn nông dân Việt Nam đã quen với cách làm ăn manh mún, nhỏ lẻ và rất ngại thay đổi.

Sau khi nhận nhiệm vụ Trưởng ban Công tác nông thôn, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn canh cánh trong lòng lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phong trào mới nhóm, trầm trầm. Chú hãy cố gắng tìm cho được điển hình tốt, rút kinh nghiệm và phát huy nó lên, để đánh tan bầu không khí kém phấn khởi”(1). Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã đi nhiều địa phương, xuống nhiều hợp tác xã, từ đồng bằng đến miền núi, từ những địa phương thuận lợi đến những địa phương còn khó khăn. Ngay sau khi được giao nhiệm vụ, đồng chí đã lên huyện Bằng Mạc, tỉnh Bắc Giang nghiên cứu Hợp tác xã Nà Cà, đi tiếp lên một bản huyện Lộc Bình, Lạng Sơn chưa lập hợp tác xã xem nguyên nhân do đâu..., đồng thời tranh thủ tìm hiểu tình hình về hợp tác hóa nông nghiệp ở một số nước bạn như Trung Quốc, Triều Tiên. Trên cơ sở thực tiễn, đồng chí đã phân tích, đánh giá, rút kinh nghiệm và xây dựng điển hình tiên tiến là Hợp tác xã Đại Phong (huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình).

Hợp tác xã Đại Phong ban đầu chỉ có 24 hộ với 24 mẫu ruộng. Đây là quy mô khá khiêm tốn so với nhiều hợp tác xã ở miền Bắc lúc đó. Sau khi nắm bắt tình hình, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã nêu khẩu hiệu “phá xiềng 3 sào”; đồng thời, giúp hợp tác xã quản lý tốt, phân công lao động hợp lý, vừa khuyến khích khai hoang, phục hóa, vừa tăng cường xen canh, gối vụ, tăng năng suất... Chỉ trong vòng 3 năm, Hợp tác xã Đại Phong đã phát triển thành hợp tác xã bậc cao với 455 hộ và 1.113 mẫu ruộng. Cơ sở vật chất, kỹ thuật phát triển, đời sống xã viên ngang với mức trung nông.

Đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã kịp thời chỉ đạo công tác tổng kết, rút kinh nghiệm và đề nghị với Trung ương Đảng phát động Phong trào thi đua “Học tập, đuổi kịp và vượt hợp tác xã Đại Phong”. Sau gần hai tháng phát động, đã có hơn 1.000 hợp tác xã đăng ký thi đua với Đại Phong. Một trong những xã có phong trào thi đua sôi nổi và đạt nhiều thành tựu về mọi mặt, được ví như “Đại Phong của miền Bắc” đó là Hợp tác xã Tòng Bạt ở Ba Vì (Hà Nội). Điều đó chứng tỏ sức mạnh to lớn của nông dân nước ta trên con đường hợp tác hóa, xây dựng đời sống hạnh phúc, ấm no, đem lại những thành tựu quan trọng về phát triển hợp tác xã và sản xuất nông nghiệp; góp phần to lớn vào việc xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Khi đánh giá về phong trào này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đó là một phong trào rất tốt và rất mạnh mẽ, nó chứng tỏ tinh thần hăng hái, lực lượng to lớn và khả năng dồi dào của đồng bào nông dân ta"(2).

Kiến tạo các phong trào thi đua giết giặc, lập công

Từ năm 1964, đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh và chư hầu vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường Việt Nam. Đây là thời điểm có tính bước ngoặt chiến lược của cuộc chiến tranh. Cách mạng Việt Nam đứng trước thử thách mới. Tháng 10-1964, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quân ủy Trung ương điều vào miền Nam cùng Trung ương Cục trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, với cương vị Bí thư Trung ương Cục, kiêm Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã phân tích: “Mỹ vào miền Nam trong thế thua, thế bị động về chiến lược, Mỹ có cả một đống vũ khí nhưng lại vấp phải cả một đống mâu thuẫn, Mỹ là tỷ phú về đô la nhưng quân và dân ta lại tỷ phú về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, có đường lối chiến tranh, chiến thuật đúng, bắt Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta, chúng bị tréo giò như “ăn cháo bằng dĩa”, nên ta nhất định thắng”(3). Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Chí Thanh cùng Bộ tư lệnh Miền chỉ đạo đánh thắng Mỹ ngay từ những trận đầu. Cùng với đó, quân và dân ta tiếp tục thực hiện tư tưởng chiến lược tiến công và sáng tạo nhiều cách đánh mới trên chiến trường. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã chỉ đạo tổ chức Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua các LLVT giải phóng miền Nam lần thứ nhất từ ngày 2 đến 6-5-1965 tại Chiến khu Dương Minh Châu, nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước và ý chí giải phóng quê hương miền Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã nêu khẩu hiệu nổi tiếng “Cứ tìm Mỹ mà đánh sẽ tìm ra cách đánh thắng”.

Luôn sâu sát thực tiễn, nắm bắt nhanh nhạy thực tiễn chiến đấu của các đơn vị, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã tổng kết nên các phương châm chỉ đạo tác chiến quan trọng, trở thành những khẩu hiệu hành động cách mạng, nhanh chóng đi vào lòng người và lan tỏa thành các phong trào thi đua giết giặc lập công trên toàn chiến trường miền Nam như: “Ở gần đánh gần”, “Không cho Mỹ, ngụy phân tuyến”, “Vành đai diệt Mỹ”, thi đua “Tìm Mỹ mà đánh, gặp ngụy là diệt”, phấn đấu trở thành “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt xe tăng”... Đặc biệt, chiến thuật đánh áp sát của Quân Giải phóng miền Nam với phương châm “Nắm thắt lưng địch mà đánh” gắn liền với tên tuổi của Đại tướng. Với cách đánh này, vừa phát huy được nghệ thuật quân sự của quân ta, vừa hạn chế tối đa ưu thế vốn có của quân đội Mỹ.

Trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, nếu như Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng Phong trào Thi đua yêu nước dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc, thì Đại tướng Nguyễn Chí Thanh chính là người thực hiện xuất sắc tư tưởng thi đua yêu nước của Người trong hai cuộc kháng chiến. Bất cứ ở đâu, trên các cương vị khác nhau, đồng chí đã kiến tạo nên các phong trào thi đua yêu nước tiêu biểu, động viên sức mạnh của hàng triệu con người vào sự nghiệp cách mạng. “Ba nhất”, “Gió Đại Phong” hay “Nắm thắt lưng địch mà đánh”... đã, luôn và mãi được nhắc đến như những phong trào thi đua tiêu biểu gắn liền với vai trò to lớn của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Đó là những bài học còn nguyên giá trị để chúng ta vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào các phong trào thi đua hiện nay, nhằm khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

------

(1) Nguyễn Chí Thanh của chúng ta, NXB Thuận Hóa, Huế, 1987, tr.167.

(2) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 13, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 113.

(3) Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh-Nhà chính trị quân sự lỗi lạc, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr.16.

Đại tá, TS NGUYỄN VĂN TRƯỜNG

Chủ nhiệm khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị

BÁO QĐND

Nghệ thuật tác chiến phản công và tiến công bảo vệ biên giới Tây Nam

Điểm nhấn về nghệ thuật quân sự trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam là nghệ thuật chỉ đạo tác chiến của Đảng ta từ thế bị động nhanh chóng chuyển sang chủ động phản công và tiến công sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả.

Từ tháng 5-1975 đến tháng 4-1977, quân Pol Pot xâm chiếm các đảo Phú Quốc, Thổ Chu và xâm phạm chủ quyền lãnh thổ biên giới Tây Nam nước ta. Tháng 12-1978, tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary tập trung nhiều sư đoàn mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, giết và làm bị thương nhiều dân thường, phá hủy nhiều nhà cửa, tài sản của nhân dân ta.

Trước hành động gây hấn và mở rộng chiến tranh xâm lược của quân Pol Pot, Đảng và Nhà nước ta đã kiềm chế và kiên trì chính sách hòa bình, hữu nghị với nhà nước Campuchia Dân chủ, nhưng càng kiềm chế thì kẻ địch càng lấn tới, buộc chúng ta phải đứng lên thực hiện quyền tự vệ chính đáng. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua quyết tâm mở cuộc tổng phản công và tiến công chiến lược tiêu diệt quân địch trên tuyến biên giới Tây Nam; đồng thời sẵn sàng hỗ trợ các lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia nổi dậy. Thực hiện phương châm tác chiến từ thế bị động sang chủ động phản công và tiến công là quyết định đúng đắn, sáng tạo của Đảng, thể hiện tư tưởng tích cực tiến công, nghĩa là tiến hành phản công địch bằng tiến công, lấy tiến công làm loại hình tác chiến chủ yếu.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Pháo binh của ta bảo vệ biên giới Tây Nam, tháng 9-1977. Ảnh: TTXVN 

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định sử dụng 18 sư đoàn thuộc 3 quân đoàn (2, 3, 4); các Quân khu 5, 7, 9, các quân chủng và binh chủng cùng 600 xe tăng, bọc thép, 137 máy bay, 160 tàu chiến đấu và vận tải, tham gia cuộc phản công và tiến công lịch sử này (theo cuốn Lịch sử Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân). Quân ta vận dụng loại hình chiến dịch phản công và tiến công hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn, tiến hành đồng thời và kế tiếp nhau, giữa các chiến dịch không có khoảng cách.

Theo kế hoạch, từ ngày 23 đến 31-12-1978, ta mở cuộc tổng phản công và tiến công, mở đầu bằng một loạt chiến dịch quy mô cấp quân đoàn, từ 2 đến 3 sư đoàn của các quân đoàn 2, 3, 4; hoặc cụm sư đoàn của các Quân khu 5, 7, 9 được không quân chi viện, tiến công đồng thời từ 5 hướng (Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9 và Quân đoàn 2, Quân đoàn 3, Quân đoàn 4), trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, dài hơn 1.200km. Trong các chiến dịch phản công và tiến công, ta vận dụng phương pháp tác chiến chủ yếu là luồn sâu, ém sẵn và thọc sâu bằng lực lượng mạnh (quy mô cấp sư đoàn), kết hợp đột phá chính diện, hình thành thế bao vây nhiều tầng, chia cắt địch ra nhiều khu vực để tiêu diệt chúng. Bằng cách đánh đó, trên hướng Quân đoàn 3, chỉ trong một ngày, ta phá vỡ tuyến phòng ngự của 4 sư đoàn địch; trên hướng Quân đoàn 2 và Quân khu 9, trong hai ngày đánh tan 2 sư đoàn địch...

Đến ngày 31-12-1978, quân ta trên các hướng tiến công đã đẩy quân Pol Pot ra khỏi biên giới, hoàn thành thắng lợi cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc. Theo yêu cầu của nhân dân và Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, các đơn vị bộ đội Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang yêu nước Campuchia tiến hành chiến dịch tiến công kế tiếp, bằng phương pháp tiến công trong hành tiến, với các đòn tiến công hiệp đồng tác chiến quân, binh chủng từ nhiều hướng, giải phóng thủ đô Phnom Penh ngày 7-1-1979.

BÁO QĐND