Thứ Hai, 8 tháng 1, 2024

Dấu ấn đối ngoại, ngoại giao của Việt Nam trên trường quốc tế

 Các hoạt động đối ngoại theo tinh thần “ngoại giao cây tre” đã củng cố vững chắc cục diện đối ngoại để Việt Nam có môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao hơn nữa vị thế, uy tín quốc tế của đất nước. Thực tiễn ngoại giao trong hai năm qua cũng tiếp tục làm phong phú và sâu sắc hơn các bài học quý báu về đối ngoại trong công cuộc đổi mới. Đó là: Càng đứng trước khó khăn, thử thách, càng phải kiên định trong nguyên tắc, linh hoạt, sáng tạo trong sách lược; xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và đoàn kết, hợp tác quốc tế, giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế.

Cuốn sách đăng tải 52 ý kiến của các chuyên gia, nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu, bạn bè quốc tế về vai trò, đóng góp của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong việc hình thành và phát triển trường phái ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. Đó là những kỷ niệm, tình cảm, những câu chuyện của các đại sứ, các cán bộ làm công tác đối ngoại, ngoại giao, các nhà báo, người Việt Nam ở nước ngoài được tháp tùng, được gặp Tổng Bí thư trong các chuyến thăm và làm việc ở trong và ngoài nước.

Bàn về những thành tựu đối ngoại và dấu ấn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đồng chí Thongsavanh Phomvihane, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khẳng định: “Những thành tựu của Việt Nam nói chung, những thành tựu trong công tác đối ngoại nói riêng cũng chính là những thành tựu, là bài học kinh nghiệm quý báu cho đất nước Lào”(23); “Đặc biệt, Đảng, Nhà nước Lào đánh giá cao ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong việc nhấn mạnh 6 nhóm vấn đề là mục tiêu, nhiệm vụ to lớn, nặng nề nhưng đầy vẻ vang trong việc triển khai thực hiện đường lối đối ngoại của Việt Nam”(24). Trong bài viết “Giá trị thời đại của trường phái ngoại giao mang bản sắc “cây tre Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng”, đồng chí Hàn Phương Minh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc, Chủ tịch Học hội ngoại giao và quan hệ quốc tế CHARHAR, nhận định: “Ngoại giao “cây tre Việt Nam”... là vừa kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vừa tích cực mở rộng trong lĩnh vực ngoại giao, bảo vệ và phát triển lợi ích quốc gia của Việt Nam, kết hợp nhuần nhuyễn tính linh hoạt và tính nguyên tắc, nỗ lực thích ứng với thế giới không ngừng biến đổi; mặt khác, cùng với việc phát triển các quan hệ ngoại giao hiện có, thiết lập các quan hệ hợp tác mới. Đây chính là nền tảng ngoại giao để Việt Nam vẫn phát triển ổn định, lành mạnh dù đứng trước tình hình thế giới vô cùng phức tạp”(25). Qua bài viết “Ấn tượng về Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong ngoại giao văn hóa Việt Nam - Nhật Bản”, ông Kuroiwa Yuji, Thống đốc tỉnh Kanagawa, Nhật Bản không chỉ bày tỏ tình cảm yêu mến, kính trọng đối với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bởi sự gần gũi, thân thiện của đồng chí dành cho người dân tỉnh Kanagawa, mà còn thể hiện niềm tin tưởng rằng: việc giao lưu được thúc đẩy ở cấp độ chính quyền địa phương hai nước sẽ góp phần giúp quan hệ hai nước được “mở rộng, uyển chuyển và vững chắc”, thực sự là kết quả triển khai trên thực tiễn “ngoại giao cây tre Việt Nam”(26). Còn rất nhiều nhận định, khẳng định quý báu và đầy tâm huyết qua nội dung của các bài viết “Ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - kiên cường và ngày càng phát triển”; “Ngoại giao Việt Nam cung cấp mô hình tốt hơn cho các quốc gia trên thế giới”; “Trường phái ngoại giao mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” đã được Việt Nam áp dụng thành công trong thực tiễn”;... Hay đơn giản, ngắn gọn như tiêu đề “Ấn tượng Việt Nam”, song lại chứa đựng suy ngẫm và tình cảm sâu sắc của bà Lorena Pena Mendoza, Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ quốc tế, về những kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam và hệ thống lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam; từ đó hun đúc nên niềm hy vọng về một tương lai tươi sáng cho cuộc đấu tranh mà chúng ta đang tiến hành vì một thế giới hòa bình, công bằng, đa cực, nơi quyền của các dân tộc và đặc biệt là quyền của phụ nữ và trẻ em gái được tôn trọng đầy đủ(27). Có thể khẳng định, chính phong cách ngoại giao mang đậm cốt cách văn hóa dân tộc Việt Nam của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm sâu sắc thêm tình cảm quý trọng, ngưỡng mộ và sự tin cậy của bạn bè quốc tế đối với Đảng ta và đất nước ta, trở thành một trong những nhân tố làm nên sức mạnh của ngoại giao Việt Nam.

Bên cạnh việc đề cập những ý kiến, đánh giá và suy ngẫm của bạn bè quốc tế, cuốn sách cũng góp phần khẳng định sự ủng hộ và đồng thuận to lớn của nhân dân Việt Nam đối với đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng ta dưới sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; đồng thời, thể hiện sự kính trọng, tình cảm trân quý và sự tri ân sâu sắc của nhân dân đối với Tổng Bí thư, từ đó thêm tin tưởng, tự hào về những thành tựu to lớn của đất nước, trong đó có đóng góp quan trọng của công tác đối ngoại, ngoại giao Việt Nam. Đó là “Đôi dòng về người lĩnh xướng ngoại giao “cây tre Việt Nam””, “Về trường phái ngoại giao Việt Nam hiện đại”, là ấn tượng với “Phong cách ngoại giao nhân văn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng”, ““Ngoại giao vì con người” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng”,...; hay nhẹ nhàng mà vô cùng sâu sắc, như “Những năm tháng quý giá - những kỷ niệm không quên với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng” - câu chuyện của một người làm Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng 12 năm, trong đó có tới 10 năm dưới sự chỉ đạo trực tiếp và được chuẩn bị, phục vụ các hoạt động đối ngoại của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Qua đó, người đọc càng thêm ấn tượng về phong cách ngoại giao của Tổng Bí thư: “Tổng Bí thư không quá chú ý đến trang phục, bài trí mà có thể nói là rất giản dị, khiêm nhường, lễ tân ứng xử với khách quốc tế luôn rất chân thành, cởi mở, thân thiện với nụ cười đôn hậu, cái bắt tay nồng ấm, lúc trao đổi với khách luôn khúc chiết, chặt chẽ, dí dỏm, tác phong khoan thai, phong nhã”(28), để rồi từ đó như thấu tỏ: Tổng Bí thư của chúng ta là thế - luôn hiểu và tôn trọng bạn bè quốc tế.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, việc thấm nhuần triết lý và thực hành hiệu quả trường phái ngoại giao mang bản sắc “cây tre Việt Nam” có ý nghĩa vô cùng quan trọngCuốn sách thực sự là cuốn cẩm nang, tài liệu tham khảo hữu ích, không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ lý luận và thực tiễn hoạt động đối ngoại của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, mà còn hiểu rõ và đồng thuận với chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Bí thư - một trường phái ngoại giao đặc sắc của thời đại Hồ Chí Minh, thấm đượm tâm hồn và khí phách của dân tộc Việt Nam./.

Bản sắc “ngoại giao cây tre”: Lấy độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, đa dạng hóa và đa phương hóa làm kim chỉ nam

 Trong 37 năm đổi mới vừa qua, kế thừa và phát huy truyền thống đối ngoại vẻ vang của dân tộc, nhất là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người đặt nền móng cho nền ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh, Đảng ta đã kế thừa và không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở vì hòa bình, hợp tác và phát triển, thực thi chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh quyết tâm “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(10).

Đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương khẳng định: Cuốn sách có giá trị vô cùng to lớn bởi đây là công trình đầu tiên mang tính hệ thống, tập hợp những phát biểu, bài viết của Tổng Bí thư về lĩnh vực đối ngoại, ngoại giao. Các bài viết thể hiện một cách cụ thể, sâu sắc và sinh động sự đóng góp to lớn, quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư trên nhiều cương vị khác nhau trước đây và với cương vị là lãnh đạo cao nhất của Đảng ta hiện nay trong việc xây dựng và phát triển đường lối đối ngoại của Việt Nam; đồng thời, khẳng định sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, toàn diện, xuyên suốt của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đối với công tác đối ngoại trên cả ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân(11).

Từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng đến nay, chúng ta tiếp tục mở rộng, làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, trọng tâm là các nước láng giềng, đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống.

Đối với quan hệ song phương, các bài nói, bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn thể hiện sự đánh giá cao mối quan hệ hữu nghị, hợp tác với các quốc gia trên nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi. Phát huy truyền thống hòa hiếu của cha ông, Tổng Bí thư khẳng định cần tiếp tục đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các nước láng giềng, đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và bạn bè truyền thống, tăng cường tin cậy, phát huy điểm đồng, linh hoạt, sáng tạo trong xử lý các tranh chấp và thúc đẩy hòa bình, hợp tác cùng phát triển nhằm củng cố vững chắc cục diện đối ngoại ổn định, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đối với mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, Tổng Bí thư khẳng định: “Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, việc tăng cường và củng cố tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào có ý nghĩa hết sức quan trọng, là một nhân tố bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước”(12); Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam “hết sức coi trọng và dành ưu tiên hàng đầu cho mối quan hệ đặc biệt vừa là đồng chí, vừa là anh em giữa hai Đảng, hai nước chúng ta”(13). Trong quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc, Tổng Bí thư coi đây là cơ sở quan trọng, định hướng chiến lược lâu dài, thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước phát triển tốt đẹp, ổn định và bền vững. Trong Điện mừng gửi đồng chí Tập Cận Bình nhân dịp được bầu lại là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XX, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Tôi luôn luôn hết sức coi trọng và sẵn sàng cùng đồng chí tiếp tục dành sự quan tâm cao độ, chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương hai bên quán triệt, thực hiện tốt các thỏa thuận và nhận thức chung cấp cao, đưa quan hệ láng giềng hữu nghị và đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc lên một tầm cao mới, ổn định, lành mạnh, bền vững, đáp ứng lợi ích căn bản, lâu dài của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới”(14). Đối với quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững, Tổng Bí thư khẳng định: “Sự hiểu biết lẫn nhau, hoàn cảnh của nhau, tôn trọng các lợi ích chính đáng của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau là những nguyên tắc cơ bản, có ý nghĩa rất quan trọng trong quan hệ hai nước và quan hệ quốc tế. Việt Nam đánh giá cao và coi trọng sự khẳng định của Hoa Kỳ ủng hộ một nước Việt Nam “mạnh, độc lập, tự cường và thịnh vượng””(15)...

Chủ trương đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương còn được thể hiện qua nhiều bài viết, bài phát biểu và trả lời phỏng vấn: “Phát huy mối quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài Việt Nam - Campuchia”; “Không ngừng vun đắp tình hữu nghị đặc biệt và quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Cuba”; “Không ngừng củng cố quan hệ hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Lao động Triều Tiên trong giai đoạn mới”; “Việt Nam luôn coi trọng và ưu tiên củng cố, tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Liên bang Nga”; “Tăng cường tin cậy chính trị, củng cố quan hệ hữu nghị, thúc đẩy hợp tác thực chất, tạo lập bước phát triển mới trong quan hệ Việt Nam - Inđônêxia”; “Nhật Bản là một trong những đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu và lâu dài của Việt Nam”... Qua đó, khẳng định Việt Nam sẵn sàng tham gia vào các cơ chế hợp tác đa phương, các tổ chức khu vực, quốc tế và các khuôn khổ hợp tác cũng như trong những vấn đề quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện của đất nước.

Trong quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, các đảng cầm quyền và các đảng dân chủ, vì hòa bình, tiến bộ trên thế giới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn dành sự quan tâm đặc biệt, có đóng góp quan trọng về cả lý luận và thực tiễn vào kho tàng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh từ công cuộc đổi mới của Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng một xã hội công bằng và tiến bộ, thật sự vì con người; khẳng định Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Tổng Bí thư nhấn mạnh: Đảng Cộng sản Việt Nam “luôn coi trọng quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, với các đảng cộng sản, công nhân và bạn bè truyền thống”(16); “Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”(17); “Chủ nghĩa Mác - Lênin đã, đang và sẽ tiếp tục là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam trong thời đại mới... Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn coi trọng và sẵn sàng mở rộng hợp tác với các chính đảng mácxít và lực lượng tiến bộ trên thế giới”(18). Đặc biệt, theo Tổng Bí thư, để giữ gìn một khu vực hòa bình, ổn định, đoàn kết và thống nhất trên cơ sở luật pháp quốc tế, cần định vị chỗ đứng, tiếp tục phát huy vai trò và giá trị cốt lõi của ASEAN, “hoạt động của AIPO ngày càng đi vào thực chất hơn, các nghị quyết của AIPO phải thực sự đi vào đời sống chính trị của mỗi quốc gia”(19), “Vì một AIPA hướng tới cộng đồng của nhân dân, vì nhân dân,  đùm bọc và chia sẻ”(20), đồng thời tận dụng tốt những cơ hội từ khi gia nhập WTO và phát huy những lợi thế, ưu việt của phong trào hợp tác xã quốc tế trong phát triển kinh tế - xã hội...

Trong các bài viết, bài phát biểu, tư tưởng “đối ngoại là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị” cũng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhất quán chỉ đạo; trong đó, đặc biệt coi trọng vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, coi đây là hai mặt có mối quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau, nhằm phát triển nền kinh tế nước ta ngày càng vững mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo Tổng Bí thư, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ không có nghĩa là coi nhẹ vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế. Trái lại, hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung trong đường lối kinh tế, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, kết hợp nội lực với ngoại lực để tạo ra sức mạnh tổng hợp của sự nghiệp phát triển đất nước. Hội nhập kinh tế quốc tế cũng chính là nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đáp ứng yêu cầu và lợi ích của quốc gia; đồng thời, thông qua hội nhập kinh tế quốc tế để phát huy vai trò và tiềm năng của nước ta trong quá trình hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới.

Nằm trong tổng thể nội dung “đối ngoại là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị”, Tổng Bí thư gửi gắm sự quan tâm và tình cảm đặc biệt đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, cũng như người dân nước sở tại. Đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Tổng Bí thư khẳng định: “Bà con kiều bào dù ở bất cứ nơi đâu, luôn luôn là một phần máu thịt không thể tách rời của Tổ quốc”(21); Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài “là “chất xúc tác” quan trọng đối với những thành công của hoạt động ngoại giao nhân dân nước ta trong công cuộc đổi mới. Thông qua các hoạt động giao lưu văn hóa, tôn giáo, bà con kiều bào ta đã và đang góp phần giữ gìn bản sắc và quảng bá những giá trị văn hóa dân tộc, xây dựng hình ảnh Việt Nam ở nước ngoài, thúc đẩy, lan tỏa và giành được sự yêu mến của bạn bè các nước, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế”(22). Đối với nhân dân các nước sở tại: Lào, Cu-ba, Trung Quốc, Liên bang Nga, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hung-ga-ri..., Tổng Bí thư nhấn mạnh việc chia sẻ những giá trị tương đồng và tiềm năng để đẩy mạnh giao lưu, hợp tác, nỗ lực hình thành các thỏa thuận và cơ chế hữu hiệu để duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh chung, ngăn ngừa xung đột và chiến tranh, đối phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, đồng thời tăng cường hiểu biết lẫn nhau, củng cố tình hữu nghị và kiến tạo nền tảng xã hội cho quan hệ giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới.

Trường phái đối ngoại và ngoại giao đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”

 Phát biểu tại buổi Lễ ra mắt cuốn sách Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương khẳng định: Cuốn sách của Tổng Bí thư là kim chỉ nam đường lối, chủ trương của Đảng về công tác đối ngoại; đóng góp to lớn, góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận và cơ sở thực tiễn về xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.

Với dung lượng hơn 800 trang, cuốn sách được chia làm 3 phần, bao gồm bài tổng quan “Kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, quyết tâm xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”” và 85 bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn, thư, điện đối ngoại,... của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, 52 ý kiến của các nhà chính trị, chuyên gia, học giả và bạn bè quốc tế. Nội dung cuốn sách khẳng định quan điểm toàn diện, nhất quán, thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy sắc sảo, quyết đoán của người đứng đầu Đảng ta đối với công tác đối ngoại, ngoại giao, góp phần thực hiện chủ trương của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng về “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”(1), bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, nâng cao vị thế và uy tín đất nước.

Ngoại giao “Cây tre Việt Nam” thể hiện phẩm chất và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam

Ngoại giao “cây tre Việt Nam” là khái niệm được nhiều nhà ngoại giao nhắc đến khi đề cập chính sách đối ngoại của Việt Nam. Khái niệm này không phải là một trường phái ngoại giao mới, mà là sự đúc kết, hình tượng hóa đường lối đối ngoại mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang thực hiện với những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước.

 

Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29 (tháng 8-2016), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định trường phái ngoại giao độc đáo, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. Tiếp đó, đến Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (tháng 12-2021), Tổng Bí thư tiếp tục khẳng định và bổ sung, phân tích, làm sâu sắc thêm về trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”: “Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đối ngoại, ngoại giao Việt Nam đã kế thừa và phát huy bản sắc, cội nguồn văn hóa và truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hình thành nên trường phái đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. Đó là vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, can trường trước mọi khó khăn, thử thách, vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân; đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc”(2).

Nội dung này được làm rõ thông qua bài viết tổng quan và 7 bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, hội nghị ngoại giao, Hội nghị đối ngoại toàn quốc. Theo đồng chí Bùi Thanh Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, bài viết tổng quan là điểm nhấn nổi bật của phần này cũng như cả cuốn sách, bởi đây là bài viết mới nhất của Tổng Bí thư về đối ngoại và lần đầu tiên được công bố, đã tổng kết toàn diện, sâu sắc và khái quát hóa lý luận và thực tiễn đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. 

Xuyên suốt các bài phát biểu, bài viết, Tổng Bí thư đặc biệt nhấn mạnh và khẳng định quan điểm: “Đối ngoại là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, quản lý tập trung của Nhà nước; sự gắn kết chặt chẽ, nhịp nhàng giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”(3). Đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân gắn bó chặt chẽ và hỗ trợ cho nhau, cùng hướng tới mục tiêu chung là lợi ích quốc gia - dân tộc. Việc triển khai đồng bộ, sự phối hợp chặt chẽ và nhuần nhuyễn giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân sẽ phát huy thế mạnh của từng trụ cột đối ngoại, tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền ngoại giao Việt Nam. Đây vừa là truyền thống quý báu, vừa thể hiện sự sáng tạo, độc đáo của nghệ thuật đối ngoại, ngoại giao Việt Nam, được Tổng Bí thư phân tích, lý giải và định hướng cụ thể bằng nhãn quan chính trị sâu sắc và tầm tư duy chiến lược, cho thấy bước phát triển về tư duy đối ngoại Việt Nam, vừa là yêu cầu cấp thiết, vừa có ý nghĩa lâu dài, đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới.

Cùng với việc khẳng định vai trò tiên phong của đối ngoại, ngoại giao trong tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước, sự phát triển trong tư duy đối ngoại của Đảng còn thể hiện ở sự kiên định mục tiêu đối ngoại và có những bước đi phù hợp trong giải quyết mối quan hệ giữa giữ vững độc lập, tự chủ và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; việc ứng xử linh hoạt, mềm dẻo, đa dạng về phương thức, biện pháp trước thực tiễn phức tạp và nhiều biến động của tình hình quốc tế, đặc biệt là trong kiến tạo điểm tương đồng, xử lý bất đồng để đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu với các quốc gia trên thế giới.

Trong những năm qua, công tác đối ngoại, ngoại giao Việt Nam đã đạt được những kết quả nổi bật, đóng góp quan trọng vào thành tựu chung to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta sau gần 40 năm đổi mới; truyền tải thông điệp về một quốc gia thân thiện, sẵn sàng hợp tác, giúp đỡ và sẻ chia với cộng đồng quốc tế: “Việt Nam luôn luôn lấy con người làm trung tâm, luôn sẵn lòng hỗ trợ bất cứ ai, dù mang quốc tịch nào”(4). Từ đó, góp phần quan trọng trong việc tạo dựng nên một thực tế không thể phủ nhận, đó là “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(5).

Những cái nhìn sai lệch của tổ chức CIVICUS

 Cuối năm 2023, một số tổ chức phi chính phủ có trụ sở ở nước ngoài lại đưa ra công bố, báo cáo xếp hạng các quốc gia về tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có những cái nhìn lệch lạc, định kiến với Việt Nam. Một trong số đó là tổ chức CIVICUS Monitor.

Luận điệu “bẻ lái” chính sách ân giảm án tử hình

 Ngày 27/12/2023, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã ký quyết định ân giảm hình phạt tử hình xuống tù chung thân cho 18 bị án có đơn xin ân giảm gửi Chủ tịch nước.

"ĐỘI QUÂN NHÀ PHẬT" - THẮM TÌNH QUỐC TẾ THIÊNG LIÊNG!

 

Cách đây 45 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quân và dân Việt Nam không chỉ chung sức đồng lòng đánh bại tập đoàn Pon Pol xâm lược biên giới nước ta (1975 - 1978) mà Quân đội Nhân dân Việt Nam còn tình nguyện sang giúp bạn lật đổ chế độ diệt chủng, hồi sinh đất nước (1979 - 1989). Sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của Quân tình nguyện Việt Nam đã trở thành biểu tượng sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần quốc tế trong sáng, thiêng liêng và được nhân dân Campuchia trìu mến gọi là "Đội quân nhà Phật".

 



 

          Nói đến Phật giáo là nói đến "Từ bi, hỷ xả", cứu khổ, cứu nạn. Ở một đất nước tôn sùng Phật giáo, coi đạo Phật là quốc đạo, phải đối mặt với hành động vô nhân tính của tập đoàn Pol Pot, nhân dân Campuchia chỉ còn biết chắp tay khẩn cầu tiên, Phật tới cứu khổ, cứu nạn. Bởi, tháng 4 - 1975, một chế độ diệt chủng Khmer Đỏ được dựng lên, cả nước Campuchia biến thành "con số không": "Không tự do đi lại, không tự do hội họp, không tự do ngôn luận, không tự do tín ngưỡng, không tự do học hành, không tự do hôn nhân, không tiêu tiền, không buôn bán, không chùa chiền... và không có cả nước mắt để khóc trước cảnh đau thương của dân tộc. Chỉ còn căm thù và uất hận"... Chưa đầy 4 năm cầm quyền, chính quyền Khmer Đỏ do tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary đứng đầu, không chỉ giết hại hơn 3 triệu người Campuchia, tương đương 25% dân số lúc đó, biến đất nước Campuchia trở thành một nhà tù, một địa ngục khổng lồ mà còn tàn sát người dân Việt Nam vô tội ở các tỉnh chung biên giới với Campuchia. Trước tình hình đó, những người lính Việt Nam vừa trở về từ cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc bảo vệ Tổ quốc lại tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới Tây Nam và nghĩa vụ quốc tế thiêng liêng theo tinh thần vừa tự vệ, vừa giúp bạn: "Giúp bạn là tự giúp chính mình". "Bộ đội Cụ Hồ" đã chiến đấu vì chính nghĩa và sẵn sàng hy sinh cho nước bạn hồi sinh!

Trước hành động man rợ của quân Pôn Pốt và đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, ngày 23 - 12 - 1978, Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang Campuchia đã mở cuộc tổng phản công - tiến công trên toàn tuyến biên giới. Ngày 26 - 12-  1978, toàn bộ hệ thống phòng thủ vòng ngoài của quân Pôn Pốt bị phá vỡ. Đến ngày 31 - 12 - 1978, quân và dân ta đã hoàn thành nhiệm vụ đánh đuổi quân Pôn Pốt, thu hồi toàn bộ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc bị kẻ thù lấn chiếm. Ngày 2 - 1 - 1979, ba cụm quân chủ lực của Pôn Pốt, mỗi cụm 5 sư đoàn, án ngữ các trục đường tiến về Phnôm Pênh (đường 1, đường 7 và đường 2) cơ bản bị tiêu diệt và làm tan rã. Trên tất cả các hướng về thủ đô, quân Pôn Pốt không cản được Quân tình nguyện Việt Nam truy kích và tiến sát về Phnôm Pênh. Ngày 7 - 1 - 1979, sau 2 ngày tổng công kích, thủ đô Phnôm Pênh hoàn toàn được giải phóng. Ngày 8 - 1 - 1979, Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia được thành lập ra tuyên bố: Xóa bỏ hoàn toàn chế độ diệt chủng của tập toàn Pôn Pốt, thành lập chế độ Cộng hòa nhân dân Campuchia. Việt Nam cùng nhiều nước đã công nhận Nhà nước Campuchia.

          Ngày 7 - 1 - 1979 trở thành biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Campuchia: "Chúng tôi không thể nào quên được ngày 7 - 1 - 1979. Nếu như không có quân đội nhân dân Việt Nam, mặt trận giải phóng dân tộc Campuchia, quân đội nhân dân Campuchia thì sẽ không thể nào thoát khỏi họa diệt chủng của Pol Pot. Từ đó đến nay, mối quan hệ đoàn kết hữu nghị Việt Nam – Campuchia ngày càng bền vững và phát triển”. Nhân dân Campuchia đã giành tình cảm đặc biệt cho "Bộ đội Cụ Hồ" - "Bộ đội nhà Phật" - những người cùng chung lưng đấu cật, đồng cam cộng khổ, kề vai sát cánh với họ để khép lại một trang sử đen tối, đau thương nhất trong lịch sử Campuchia, thực hiện công cuộc hồi sinh dân tộc, mở ra kỷ nguyên độc lập, hòa bình, tự do cho đất nước Chùa Tháp. Vì vậy, mỗi lần trở lại Campuchia để thăm chiến trường xưa, những người lính tình nguyện Việt Nam đã không khỏi vui mừng khi được chứng kiến cuộc sống hòa bình và những thay đổi to lớn trên đất nước Angkor. Họ luôn tự hào đã đóng góp một phần nhỏ công sức vào sự hồi sinh đó. “Chúng tôi cảm nhận rất rõ tình cảm của nhân dân Campuchia dành cho các cựu Quân tình nguyện Việt Nam. Tôi cũng nghẹn lòng khi nghĩ về những đồng đội thân yêu đã ngã xuống tại Campuchia. Máu của người Việt Nam chúng ta đã giúp nở hoa trên đất nước chùa Tháp, vun đắp tình hữu nghị giữa hai nước thêm bền chặt”.

Sau chiến thắng ngày 7 - 1 - 1979, theo như kế hoạch ban đầu, bộ đội Việt Nam sẽ rút quân khỏi Campuchia ngay trong năm 1979. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Campuchia chưa đủ sức chống lại Pol Pot và cần thời gian để củng cố lực lượng cũng như khôi phục nền kinh tế của mình. Nếu Việt Nam rút quân và Pol Pot quay trở lại được, thì sẽ càng nhiều người Campuchia bị giết. “Chính phủ Việt Nam không muốn để quân ở lại. Phía chúng tôi đã yêu cầu họ như thế. Sau đó chúng tôi đồng ý, họ sẽ thử giảm bớt các lực lượng của họ vào năm 1982. Chính phủ Việt Nam giảm quân số, còn chúng tôi sẽ tăng lực lượng của mình lên”.

Đến tháng 6 - 1989, theo thỏa thuận giữa hai Đảng, hai Nhà nước, Việt Nam rút hết quân tình nguyện về nước, hoàn thành nghĩa vụ quốc tế vẻ vang, thiêng liêng. Người dân Campuchia đứng hai bên đường vẫy chào, chia tay quân tình nguyện Việt Nam về nước - "Đội quân nhà Phật" đã cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng. Trên báo Pracheachon (Nhân dân) của Campuchia đăng bài xã luận, số ra ngày 29 - 6 - 1989: "Trong những năm cực kỳ bi thảm dưới chế độ diệt chủng Pol Pot trên thế giới này có không biết bao nhiêu kẻ mạnh, kẻ giàu, nhưng duy nhất chỉ có người bạn láng giềng nghèo Việt Nam đến cứu sống dân tộc ta mà thôi".

          Nhìn lại chặng đường lịch sử đã qua, chúng ta vui mừng nhận thấy, biết bao thăng trầm, quan hệ “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” luôn được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp đang tiếp tục không ngừng được củng cố và phát triển tốt đẹp, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước. Bộ đội Việt Nam cũng giúp Campuchia phục hồi chùa chiền, khôi phục hoạt động của giới sư sãi. Vì vậy, bên cạnh bày tỏ lòng biết ơn ân nhân cứu mạng, người dân Campuchia còn coi Bộ đội Việt Nam là “Đội quân nhà Phật”. Năm 1995, Chủ tịch nước Lê Đức Anh sang thăm Campuchia, Quốc vương Shihanouk ra tận chân cầu thang máy bay đón và thốt lên rằng: "Tôi xin chào ngài với tư cách một người dẫn đầu đội quân nhà Phật sang cứu giúp đất nước Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, chỉ có Việt Nam mới làm được việc đó". Sau đó, vua sãi Tep Vong đã đưa "Đội quân nhà Phật" vào kinh Phật của Campuchia. Trong những lần gặp lãnh đạo cấp cao của Việt Nam sang thăm Campuchia, vua sãi Tep Vong đều nhắc lại câu "Đội quân nhà Phật" để tỏ lòng biết ơn Việt Nam đã giúp đất nước chùa Tháp hồi sinh, nhân dân thoát khỏi hoạ diệt chủng chủng ghê rợn nhất trong lịch sử loài người.

          "Đội quân nhà Phật" trở thành tài sản thiêng liêng tiếp tục được kế thừa và phát huy lên tầm cao mới, gắn bó, thuỷ chung để hai Đảng, Nhà nước và hai dân tộc Việt Nam - Campuchia không ngừng được củng cố và phát triển, mang lại những lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển trong khu vực và trên thế giới. Đúng như Thủ tướng Campuchia Hun Sen đã phát biểu: "Nhân dân Campuchia có niềm tin, chỉ có tiên, có Phật mới cứu giúp được những phận người khi gặp khó khăn khốn cùng. Đúng vào lúc người dân Campuchia sắp chết, chỉ còn biết chắp tay khẩn cầu tiên, Phật tới cứu thì Bộ đội tình nguyện Việt Nam xuất hiện. Bộ đội Việt Nam chính là đội quân nhà Phật". Lời phát biểu của Thủ tướng Campuchia cũng chính là "vũ khí" sắc bén chống lại các quan điểm sai trái, thù địch đã và đang chống phá, chia rẽ tình đoàn kết thuỷ chung, tinh thần kề vai sát cánh Việt Nam - Campuchia trong sự nghiệp chống kẻ thù chung, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Không bao giờ có chuyện Việt Nam đưa quân sang xâm lược Campu chia - Đó là luận điệu sai trái! Mỗi người Việt Nam phải tỉnh táo, đề cao cảnh giác với những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Đồng thời, bản thân phải hiểu biết sâu sắc về lịch sử, bảo vệ lẽ phải, chính nghĩa; bảo vệ tình đoàn kết keo sơn thuỷ chung của hai nước, tiếp tục đẩy mạnh quan hệ hợp tác, chung sức đồng lòng cùng phát triển đất và, khu vực ngày càng phát triển, thịnh vượng.

                                                                                                                     BT

ĐỘI LỐT TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

 

Tài khoản mạng của tổ chức phản động “Người Thượng vì công lý” vừa phát tán video clip có nội dung vu khống chính quyền, công an địa phương “đàn áp” các tín đồ Tin lành đấng Christ tại buôn Cuôr Knia 2, xã Êa Bar, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk; kêu gọi các tổ chức trong và ngoài nước “lên án” các hành động trên của chính quyền, yêu cầu Việt Nam cho phép người dân được tự do sinh hoạt, thời tự tôn giáo.



Trước hết phải khẳng định rằng: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam được thể hiện rõ ràng trong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam. Điều 24 Hiến pháp năm 2013, khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Điều 3 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 cũng nêu rõ: “1. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân. 3. Nhà nước bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo.”… Các quy định pháp lý của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với tinh thần và nội dung về tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được nêu trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Điều 18 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.

Ở Việt Nam đạo Tin lành có nhiều tổ chức hệ phái. Nhưng những tín đồ “Tin lành đấng Christ”, “Tin lành đấng Christ Việt Nam” hay “Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” mà trang “Người Thượng vì công lý” nói đến ở đây đều không được công nhận tại Việt Nam. Việc tổ chức này không được công nhận là hoàn toàn đúng pháp luật Việt Nam và phù hợp với các văn bản chính trị quan trọng của Liên hợp quốc. Theo báo Công an nhân dân điện tử ngày 24/9/2021 có bài viết “Lật tẩy bộ mặt của tổ chức phản động “Tin lành đấng Christ””. Bài viết đã nêu rõ: “Với chiêu bài lợi dụng niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo, tổ chức “Tin lành đấng Christ” bị phát hiện đang tập hợp lực lượng, kích động ly khai, tự trị, thành lập “Nhà nước Đêga” ở Tây Nguyên”

Pháp luật Việt Nam quy định rõ những hành vi bị nghiêm cấm, đó là: “Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo. Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo. Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo…”.

Thực chất Tin lành đấng Christ không phải là tổ chức tôn giáo mà chỉ là tổ chức phản động đội lốt tôn giáo, là công cụ để tập hợp lực lượng nhằm phục vụ cho những mưu đồ chống phá Việt Nam. Do không được công nhận, không có tư cách pháp nhân nên mọi hoạt động liên quan đến tổ chức này đều là trái với pháp luật. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Tuy nhiên, mọi hoạt động lợi dụng, đội lốt tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm an ninh quốc gia đều sẽ bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Việc quản lý các tôn giáo, hoạt động liên quan đến tôn giáo bằng pháp luật và xử lý những hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật ở Việt Nam là hết sức bình thường nhằm đảm bảo sinh hoạt tôn giáo lành mạnh, đúng pháp luật, giữ vững sự ổn định về an ninh trật tự. Luận điệu cho rằng: Việt Nam “đàn áp” các tín đồ Tin lành đấng Christ mà trang “Người Thượng vì công lý” rêu rao thực chất vẫn là chiêu trò đội lốt tôn giáo để chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động mà thôi./.

                                                                                                BT

CUỘC CHIẾN TRANH BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VÀ TÂY NAM - KHÔNG THỂ LÃNG QUÊN!

 

Khi chúng ta nói đến những mốc son lịch sử chói lọi của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ở thế kỷ XX, người Việt Nam đều nhớ các sự kiện: Thắng lợi của cánh mạng Tháng Tám 1945, chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng năm 1975, sự nghiệp đổi mới... Song, không ít người Việt Nam quên sự kiện lịch sử, mà dân tộc ta phải đối mặt với kẻ thù xâm lăng bờ cõi vùng biên giới phía Bắc và Tây Nam. Vì vậy, cần phải nhắc lại, để dân ta nhớ, biết ơn và tôn vinh những chiến sĩ và đồng bào - những người con trung hiếu của dân tộc đã hy sinh để bảo vệ màu xanh bình yên dải đất biên cương của Tổ quốc. Chúng ta không thể và không được phép quên lãng!

          Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nguyện vọng tha thiết của người dân Việt Nam là được sống trong hoà bình, độc lập, tự do để xây dựng, phát triển đất nước. Song, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chống phá cách mạng Việt Nam, chúng ráo riết thực hiện "kế hoạch hậu chiến", chiến lược "phá hoại nhiều mặt" và "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ nhằm tiêu diệt nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong các thế lực đó, có tập đoàn Pôn Pốt ở phía Tây Nam. Chúng không chỉ tàn sát nhân dân Campuchia, mà còn xuyên tạc lịch sử, gieo rắc tư tưởng hận thù, thực thi chính sách thù địch chống Việt Nam. Chúng liên tục gây ra xung đột, lấn chiếm biên giới, cướp phá, giết hại nhân dân ta. Khước từ mọi đề đề nghị thương lượng hoà bình của Việt Nam, ngày 3/5/1975, chính quyền Pôn Pốt cho quân đổ bộ lên đảo Phú Quốc và sau đó chiếm đảo Thổ Chu của Việt Nam. Tháng 4/1977, Pôn Pốt ra thông báo coi Việt Nam là "kẻ thù truyền kiếp", "kẻ thù số 1", đồng thời huy động 19 trong tổng số 23 sư đoàn quân chủ lực tiến hành chiến tranh quy mô lớn tấn công tỉnh Tây Ninh nhằm tiến sâu đánh chiến Thành phố Hồ Chí Minh.

          Ở phía Bắc, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng xấu đi. Tháng 4/1978, Trung Quốc công khai thi hành chính sách chống phá Việt Nam. Cùng với việc gây ra vụ "nạn kiều", vu khống Việt Nam xua đuổi người Hoa, Trung Quốc liên tiếp gia tăng các vụ xung đột vũ trang lấn chiếm biên giới nước ta. Ngày 17/2/1979, Trung Quốc sử dụng 60 vạn quân của 30 sư đoàn chủ lực tấn công trên toàn tuyến biên giới Bắc Việt Nam dài 1.400km, bao gồm các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh...

          Trước tình hình trên, ngày 23/5/1977, Thường vụ Quân uỷ Trung ương đã chỉ thị cho lực lượng vũ trang ở phía Nam phải kiên quyết bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, không dung thứ một hành động xâm lấn nào của lực lượng khiêu khích và phản động Pôn Pốt vào lãnh thổ những không được quên việc phải tôn trọng chủ quyền lãnh thổ Campuchia. Cùng với quyết tâm đánh bại bọn Pôn Pốt ở phía Nam và bọn phản động Bắc Kinh ở phía Bắc, Đảng, Nhà nước ta đã kết hợp cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Nam với làm nhiệm vụ quốc tế thiêng liêng, phối hợp với nhân dân Campuchia tiêu diệt bè lũ phản động.

          Biết bao nhiêu máu xương của quân đội và nhân dân Việt Nam tiếp tục đổ xuống ở mặt trận biên giới phía Bắc, như mặt trận Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, phía Tây Nam: đảo Thổ Chu, Tây Ninh... và sẵn sàng hy sinh để đổi lại sự sống cho nhân dân Campuchia, giúp đất nước Chùa Tháp hồi sinh. Thắng lợi này một lần nữa khẳng định nhân dân Việt Nam với ý chí độc lập, tự chủ, kiên cường, bất khuất và tinh thần đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng, đã sẵn sàng lên đường đập tan mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực phản động, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; đồng thời thể hiện tinh thần quốc tế cao cả, mối quan hệ truyền thống gắn bó thủy chung, lâu đời, sự giúp đỡ trong sáng, chí nghĩa, chí tình của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Campuchia.





          Vậy mà, với những luận điệu thâm độc của các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chống phá, xuyên tạc sự thật về cuộc chiến bảo vệ hai đầu biên giới nước ta. Đó là những luận điệu sai trái, hòng xuyên tạc sự thật lịch sử! Chúng ta phải hết sức tỉnh táo khi đọc những nội dung sai sự thật ấy trên không gian mạng, đồng thời, luôn đề cao trách nhiệm của bản thân: "Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam". Mỗi chúng ta không thể và không được phép lãng quên lịch sử - đặc biệt là cuộc chiến tranh bảo vệ vùng biên cương hai đầu đất nước. Đó là tội - tội với Tổ quốc, với những người đã dấng hiến tất cả vì độc lập, tự do, hoà bình cho nước ta hôm nay. Tưởng niệm về cha anh đã dâng hiến trong cuộc chiến ấy, cũng chính là sự tiếp nhận "sòng phẳng" với lịch sử, để không bị lợi dụng hay bị các thế lực thù địch kích động, gây hận thù dân tộc. Chúng ta phải lên tiếng để thế giới hiểu Việt Nam trong cuộc chiến bảo vệ đất nước và giúp đỡ đất nước bạn Capuchia là chính nghĩa!

                                                                                                          BT

Chủ Nhật, 7 tháng 1, 2024

CHIÊU TRÒ CŨ CỦA VIỆT TÂN

 

Trang Facebook Việt Tân giật tít ʽʽ Họ đã bất chấp dư luậnˮ về một sự việc xảy ra đã khá lâu nhằm kích thích sự tò mò của người xem, đồng thời đưa thông tin không đầy đủ, gây hoang mang trong dư luận, giảm sút niềm tin của quần chúng vào chế độ. Trong một thời gian ngắn khi bài viết xuất hiện, đã có nhiều lượt tương tác và bình luận không đúng bản chất. Vậy, bản chất của vụ việc này là gì?





Ngày 07/9/2023, UBND tỉnh Bình Thuận đã tổ chức họp báo thông tin về Dự án hồ chứa nước Ka Pét (Hàm Thuận Nam, Bình Thuận), buổi họp báo do ông Nguyễn Hồng Hải, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận chủ trì. Tham dự buổi họp báo còn có ông Dương Văn An, Ủy viên Trung ương đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Thuận. Theo ông An, sau khi vụ chuyển mục đích hơn 600 ha rừng để làm hồ chứa nước Ka Pét thông tin trên báo chí đã có nhiều ý kiến trái chiều, dư luận lo ngại việc "hy sinh" đất rừng để làm hồ chứa nước này.

Hồ thủy lợi Ka Pét được xây dựng ở Huyện Hàm Thuận Nam (Bình Thuận), có sức chứa 51,2 triệu m3 nước (nếu hoàn thành sẽ xếp thứ 4/50 hồ thủy lợi ở Bình Thuận). Tổng mức kinh phí đầu tư là 874 tỉ đồng. Đây là Dự án quan trọng cấp Quốc gia, cấp quyết định chủ trương đầu tư là Quốc hội (Nghị quyết 93/2019/QH14), cấp quyết định đầu tư là Thủ tướng Chính phủ, chủ quản đầu tư là Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận, đơn vị quản lý điều hành dự án là Ban QLDA đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp & PTNT tỉnh.

Tổng diện tích sử dụng đất của dự án xây dựng hồ thủy lợi Ka Pét là 693,31 ha, trong đó diện tích có rừng là hơn 680 ha (680,41 ha). Cụ thể, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đặc dụng là 162,55 ha; rừng phòng hộ là 0,91 ha; rừng sản xuất là 471,09 ha, rừng nằm ngoài quy hoạch 3 loại rừng là 45,85 ha và diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 12,9 ha. Để thay thế cho 680,41 ha diện tích rừng tự nhiên bị ngập tại hồ thủy lợi Ka Pét, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành chức năng tổ chức khảo sát trồng mới với diện tích 1.844 ha (gấp 3 lần diện tích rừng dùng để xây dựng Hồ chứa nước Ka Pét).

Mục tiêu của dự án là cấp nước tưới cho khoảng 7,762 ha đất sản xuất nông nghiệp của huyện Hàm Thuận Nam. Cấp nước thô cho khu công nghiệp Hàm Kiệm II; tạo nguồn nước thô để cấp cho sinh hoạt người dân khu vực huyện Hàm Thuận Nam và thành phố Phan Thiết. Phòng, chống lũ và cải tạo môi trường, điều tiết nước cho vùng hạ du khu vực huyện Hàm Thuận Nam và tỉnh Bình Thuận; tăng dòng chảy trong mùa khô, góp phần cải thiện môi trường sinh thái vùng hạ du nhất là đoạn qua thành phố Phan Thiết, góp phần phát triển du lịch, dịch vụ của Tỉnh.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, nhất là tình hình hạn hán diễn ra khốc liệt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân, với việc đầu tư xây dựng hồ chứa nước Ka Pét có quy mô dung tích chứa 51,2 triệu m3 để cấp nước sẽ góp phần quan trọng trong việc khắc phục tình trạng hạn hán và phát triển kinh tế xã hội cho huyện Hàm Thuận Nam và vùng phía Nam Bình Thuận. Dự án ra đời mang lại lợi ích cấp nước tưới cho khoảng 12.000 hộ dân, với khoảng 51.108 nhân khẩu ở 11/12 xã của huyện Hàm Thuận Nam. Trong đó, có 820 hộ là dân tộc thiểu số (tập trung ở khu vực các xã Mỹ Thạnh, Hàm Cần và Hàm Thạnh). Số người được hưởng lợi từ việc cấp nước cho sinh hoạt là khoảng 120.000 người, trong đó thành phố Phan Thiết là khoảng 60.000 người.

Kết thúc buổi họp báo đã tổ chức thông tin rộng rãi, tiến hành tuyên truyền tới mọi người dân, tạo được sự đồng tình, thống nhất cao của dư luận. Dự án hồ Ka Pét là món quà vô cùng to lớn cho nhân dân huyện Hàm Thuận Nam và tỉnh Bình Thuận, là tâm tư, nguyện vọng và mong muốn của bà con từ hơn 20 năm nay. Với niềm hy vọng lớn, trong năm tới dự án sẽ đủ điều kiện để khởi công, công trình ra đời nhân dân vùng hưởng lợi sẽ không còn lo lắng về vấn đề nước cho sản xuất, cho sinh hoạt mà hàng năm cứ đến mùa khô kiệt là chồng chất nổi âu lo, vì không đủ nguồn nước phục vụ cho sản xuất, sinh họat và cuộc sống.

Trong sự việc này ở thời điểm đó, trang Facebook Việt Tân cũng đã có nhiều bài viết nhằm chống phá nhưng đều bị bác bỏ, phủ nhận. Đến nay, khi dự án đã được triển khai bước đầu thì lại bới móc với những thông tin mập mờ, không căn cứ, nhằm khơi lại sự tò mò của người xem, đánh tráo khái niệm, gây sự hoang mang, nghi ngờ trong cộng đồng mạng. Tuy nhiên, mọi người đã quá quen thuộc với các chiêu trò của Việt Tân. Chỉ có một số ít phần tử phản động, chống đối vẫn tung hô lẫn nhau, đẩy lượt tương tác của bài viết lên cao, kiếm chút lợi lộc từ các tổ chức phản động, chống đối. Phải chăng, tổ chức phản động Việt Tân đã cạn ý tưởng để chống phá đất nước ta?

                                                                BT

HOÀNG LAN MỘC CHÂU CỐ TÌNH BÔI NHỌ HÌNH TƯỢNG LÃNH TỤ

 

Lợi dụng việc Đảng, Nhà nước Việt Nam đang quyết liệt ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, chế độ, Hoàng Lan Mộc Châu cho đăng tải trên trang “Vietnamthoibao” bài viết: “Nguyễn Tất Thành ông tổ tự chuyển hóa, tự diễn biến” với mục đích xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời xuyên tạc chủ trương phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Đảng Cộng sản Việt Nam.



          Sự việc này đã được đề cập trên rất nhiều trang mạng xã hội, nhiều bài viết đã phân tích rất sâu sắc, phản bác lại quan điểm của Hàng Lan Mộc Châu (nhất là trên trang “Nhân văn Việt”). Theo đó, có thể nhận thấy  Hoàng Lan Mộc Châu đã cố tình đánh tráo khái niệm “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vốn được hiểu là quá trình tự thay đổi theo hướng tiêu cực trong tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên, thành nghĩa tất cả những gì thay đổi (cả tích cực và tiêu cực) một cách tự nhiên. Từ đó, y nói rằng: “Người tự diễn biến, tự chuyển hóa đầu tiên, nhiều nhất và tích cực nhất là Nguyễn Tất Thành”. Luận điệu này của y thật trẻ con, thể hiện rõ sự thiếu hiểu biết và sự vô lễ của Mộc Lan. Đồng thời, cũng cho thấy những luận điệu này hết sức ngây ngô, buồn cười. Nếu là một người trưởng thành, có đầu óc bình thường, chẳng ai lại hiểu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách vớ vẩn như vậy. Nhân vật này đã thể hiện rõ sự vô ơn với một bậc vĩ nhân, người mà cả thế giới phải khâm phục, kính trọng vì tài năng, đức độ, người đã hiến cả đời mình cho sự nghiệp độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Việt Nam hòa bình, no ấm ngày hôm nay mà hắn và gia đình, họ hàng hắn được sống, chính là nhờ công lao to lớn của Hồ Chí Minh, nhưng bản thân Mộc Lan lại tỏ ra là người rất vô ơn!

Quá trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc và hoạt động cách mạng của Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh là quá trình chuyển biến, chuyển hóa về chất từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản, từ một thanh niên thành người chiến sĩ cách mạng, chứ tuyệt nhiên không phải là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo cái nghĩa ngây ngô, khốn nạn mà Hoàng Lan Mộc Châu vẽ ra. Quá trình chuyển từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản của Hồ Chí Minh là một con đường khổ công tìm tòi, nghiên cứu, học tập, là sự thống nhất biện chứng giữa nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan thời đại. Nếu là người có lương tâm và biết suy nghĩ, Hoàng Lan Mộc Châu hãy tỏ ra là người có học và biết trân trọng những người đã có công với Tổ quốc với nhân dân trong nước và thế giới. Hãy luôn nhớ hình tượng Hồ Chí Minh là một biểu tượng của nhân dân Việt Nam và thế giới!

                                                                                                                     BT    

 

CẢNH GIÁC VỚI HIỆN TƯỢNG LỢI DỤNG, XUYÊN TẠC HÌNH ẢNH BỘ ĐỘI CỤ HỒ

Gần đây, trên không gian mạng xuất hiện ngày càng nhiều tài khoản TikTok, Facebook, YouTube... với những tên gọi “rất kêu”, chẳng hạn như: “Yêu bộ đội”; “Yêu lính”; “Màu xanh biên cương”; “Bộ đội của dân”...

Thoạt nhìn, không ít người lầm tưởng đó là tài khoản chính thức của một cơ quan, đơn vị nào đó trong Quân đội, song kỳ thực không phải như vậy. Đây là những trang cá nhân đang lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để "câu view", "câu like", đánh bóng tên tuổi, bán hàng, xuyên tạc... nhằm thu hút và “thao túng tâm lý” người xem. Đáng lo ngại hơn là một số cán bộ, đảng viên chưa nhìn nhận một cách thấu đáo hiện tượng này, đã vội vàng ủng hộ bằng cách nhấn yêu thích, thả tim và có những bình luận tỏ ra a dua, đồng lõa.

Chiếc áo không làm nên thầy tu

Qua theo dõi và tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng các trang này phần lớn là của những người thiếu hiểu biết về Quân đội, trong đó có không ít bạn trẻ đã lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để kiếm tiền một cách bất chính. Đáng nói là mặc dù họ muốn làm giàu nhưng năng lực tư duy lại hạn chế, không có khả năng sáng tạo nội dung mà thường xuyên cóp nhặt, cắt ghép, dàn dựng, đăng tải những thông tin, hình ảnh làm sai lệch bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam và thuần phong mỹ tục của dân tộc.

Việc một số cá nhân lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để trục lợi ngày càng nhiều trên không gian mạng, gây ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín, danh dự của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Còn nhớ, đầu tháng 7-2023, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai xuất hiện một đối tượng tự xưng là Phan Quốc Khải, công tác tại Ban CHQS huyện Xuân Lộc, gọi điện cho ông Nguyễn Duy Sáu, chủ cửa hàng dụng cụ nông nghiệp tại huyện Cẩm Mỹ để chèo kéo, môi giới nhằm thực hiện hành vi lừa đảo nhưng bất thành. Ông Sáu cho biết: Họ thường đặt một số mặt hàng giá trị lớn mà cửa hàng không có, sau đó cung cấp một đơn vị khác có những loại hàng hóa trên để chúng tôi đặt mua qua mạng cho kịp thời gian giao hàng và thanh toán bằng hình thức chuyển khoản.

Tiếp đó, trên cổng thông tin chính thức của một số bệnh viện uy tín như: Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Bệnh viện Quân y 175, Bệnh viện Quân y 103 cũng đã đưa ra cảnh báo về việc gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều trang, nhóm mạo danh các cơ sở y tế quân sự để thực hiện hành vi chào bán thuốc, thực phẩm chức năng, dịch vụ y tế kém chất lượng, làm tổn hại sức khỏe của người dân, ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của ngành y học Quân đội. Tất nhiên, các đối tượng này đã bị vạch trần và xử lý theo pháp luật.

Nguy hại hơn, lợi dụng sự phát triển của công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), nhiều đối tượng đã giả mạo một số chức danh lãnh đạo, chỉ huy, quản lý của các cơ quan, đơn vị Quân đội để gọi video trực tuyến, nhắn tin qua Messenger, Zalo... “thông báo” đến các gia đình có quân nhân tại ngũ về một số vấn đề liên quan đến pháp luật, kỷ luật như: Làm hư hỏng, thất thoát tài sản chung, phải bồi thường; tham gia cá độ, chơi lô đề, cờ bạc, vay nặng lãi quá khả năng chi trả; mất đoàn kết, gây thương tích... Từ đó đe dọa, buộc gia đình phải chuyển tiền vào tài khoản để “chạy án”, nếu không sẽ bị “xử lý nghiêm khắc”...

Có thể thấy rằng, trong những vụ việc nêu trên, mặc dù thủ đoạn của các đối tượng lừa đảo rất đa dạng, tinh vi, xảo quyệt nhưng đều có chung một phương thức, đó là lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để “mua chuộc” lòng tin của nhân dân nhằm phục vụ hành vi lừa đảo. Nếu không tỉnh táo, không chủ động xác minh thông tin kỹ lưỡng, chúng ta sẽ bị đánh lừa bởi những “vở kịch” mà kẻ gian đã công phu dàn dựng, để rồi... “tiền mất tật mang”.

Không dừng lại ở đó, một số tài khoản vốn đã núp bóng Bộ đội Cụ Hồ nhưng lại thường xuyên tuyên truyền xuyên tạc về hình ảnh người quân nhân cách mạng theo kiểu “ăn không nói có”, “chuyện bé xé ra to”, “vơ đũa cả nắm”... Đặc biệt, các đối tượng xấu còn thường xuyên giật tít “rất kêu” nhằm kích thích sự tò mò của cộng đồng mạng, dạng như: “Thông tin mật”, “góc khuất của lính”, “ma cũ bắt nạt ma mới”, “sự thật về bộ đội”... Thời điểm đăng tải, tán phát thông tin cũng rất nhạy cảm, nhất là những lúc đơn vị thực hiện nhiệm vụ khó khăn, đột xuất; trước mỗi mùa tuyển quân; trong các kỳ huấn luyện chiến sĩ mới; khi quân nhân chuẩn bị hoàn thành nghĩa vụ quân sự... Từ đó gây tâm lý hoài nghi, dao động, làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào môi trường quân ngũ.

Ví dụ như vụ việc xảy ra tại Trường Quân sự Quân khu 7 hồi tháng 1-2023. Chỉ vỏn vẹn vài giờ sau khi bị cáo Nguyễn Lê Tấn Tài đăng tải nội dung bịa đặt, sai sự thật về việc một nữ sinh viên bị hiếp dâm tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh trên fanpage UFH Confession, bài viết đã tạo ra “làn sóng” tương tác dữ dội với hàng trăm nghìn lượt tiếp cận, bình luận, chia sẻ. Trong đó có rất nhiều người phản ứng một cách thái quá, mặc dù chưa rõ bản chất của vấn đề. Đây chính là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá. Hậu quả là Tòa án Quân sự Quân khu 7 đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Lê Tấn Tài mức án 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đưa trái phép thông tin mạng máy tính” theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Quân đội là trường học lớn của tuổi trẻ. Bên cạnh hàng vạn cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm ra sức thi đua huấn luyện giỏi, rèn luyện tốt, kỷ luật nghiêm, vẫn còn đó những quân nhân, những cán bộ, đảng viên chưa thực sự gương mẫu, tự giác trong chấp hành điều lệnh, điều lệ, dẫn tới vi phạm các chế độ quy định. Tuy nhiên, cấp ủy, chỉ huy các cấp tuyệt đối không bao che, giấu giếm khuyết điểm mà đã xem xét, xử lý nghiêm minh; đồng thời thông báo rộng rãi để rút kinh nghiệm trong toàn đơn vị nói riêng, toàn quân nói chung. Điều đó lại càng khẳng định bản chất tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng; đúng với tư tưởng: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngọc càng mài càng sáng...

Trong bom đạn, giữa tâm bão hay trên tuyến đầu chống dịch... không có bất cứ nơi nào trên đất nước này vắng bóng Bộ đội Cụ Hồ. Chính bởi gần dân, trọng dân, sẵn sàng hy sinh vì dân mà các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã được nhân dân gửi trọn niềm tin. Do đó, không thể vì một vài sự việc đơn thuần, cộng thêm hành động “hà hơi thổi ngạt” của những đối tượng xấu mà dễ dàng làm lay chuyển tình cảm, phai nhạt truyền thống gắn bó keo sơn, máu thịt giữa quân với dân.

Không chỉ sáng trong lòng nhân dân mà Bộ đội Cụ Hồ còn đẹp trong lòng bạn bè quốc tế. Tinh thần "tương thân tương ái", “lá lành đùm lá rách”, giúp bạn như giúp mình, trong hoạn nạn vẫn dốc lòng, dốc sức giúp đỡ về tài chính, thiết bị, vật tư y tế để nước bạn Lào, Campuchia, Myanmar... chống dịch Covid-19; hay gần đây, trước thảm họa động đất kinh hoàng tại Thổ Nhĩ Kỳ, đoàn cứu hộ của Quân đội ta đã không quản khó khăn, gian khổ, ngày đêm tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai... là minh chứng sống cho những nỗ lực, quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ hôm nay trong việc gìn giữ, phát huy truyền thống ông cha.

Tại Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 6, nhiệm kỳ 2020-2025, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã căn dặn: “Quân đội đã làm tốt rồi, nay cần làm tốt hơn nữa”; đã là Bộ đội Cụ Hồ thì phải luôn “chủ động đến với nhân dân, giúp nhân dân những thứ nhân dân cần, hỗ trợ nhân dân những thứ nhân dân thiếu”. Bên cạnh đó, người lãnh đạo cao nhất của Đảng ta cũng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên cần đề cao trách nhiệm, quyết tâm thực hiện “7 dám”: “Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, và dám hành động vì lợi ích chung”, để có đủ phẩm chất, năng lực phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.

Có thể thấy rằng, từ lịch sử đến hiện tại; từ chức năng, nhiệm vụ đến thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, công tác... của Quân đội nhân dân Việt Nam đều hoàn toàn khác xa với những gì mà các TikToker, Facebooker, YouTuber vì bị “đồng tiền làm mờ con mắt” nên đã thường xuyên thêu dệt, đăng đàn một cách phiến diện, làm méo mó cách nhìn của một bộ phận công chúng, nhất là trong cộng đồng mạng về hình ảnh và phẩm chất cao đẹp trong nhân cách người quân nhân cách mạng. Và những hành động đáng xấu hổ, đáng lên án ấy cũng tựa như tư duy tầm gửi, mặc dù đã mang “phận ký sinh”, sống nhờ dinh dưỡng từ “cây mẹ” nhưng chẳng những không làm cho “vật chủ” tốt lên mà còn làm phương hại đến chính “nguồn sống” của bản thân mình.

Để góp phần phòng ngừa, ngăn chặn tác động tiêu cực của những thông tin xấu độc, sai sự thật đến đời sống tinh thần của bộ đội và nhân dân, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sĩ cần đề cao trách nhiệm trong đăng tải, chia sẻ thông tin, hình ảnh liên quan đến cá nhân, đơn vị và Quân đội lên các nền tảng mạng xã hội; hay nói cách khác là phải “cắt nguồn cung”, không “tự tạo cớ”, không a dua, cổ xúy, tiếp tay... để đối tượng xấu lợi dụng xuyên tạc, chống phá. Bởi lẽ, Quân đội là môi trường đặc thù nên không phải ai cũng có thể dễ dàng tự do, tự tiện quay phim, ghi hình, chụp ảnh để đăng đàn. Hơn nữa, nếu mỗi người mỗi ngày đều lan tỏa những hình ảnh đẹp, đúng với bản chất người quân nhân cách mạng và thực tiễn những gì diễn ra trong môi trường quân ngũ thì đâu có “tài nguyên” để cho những kẻ trục lợi “chế biến”, nhào nặn?

Hơn ai hết, mỗi quân nhân đều nhận thức sâu sắc được những thông tin, hình ảnh nào là sai sự thật về bản chất Bộ đội Cụ Hồ. Do đó, bên cạnh việc “cắt cung”, chúng ta cũng cần “giảm cầu” đối với những sản phẩm do các đối tượng lợi dụng tán phát trên nền tảng mạng. Phải tự nâng cao “sức đề kháng” cho chính bản thân, tuyệt đối không tiếp cận, tương tác với những nội dung xấu độc để tránh “nối dài cánh tay” kiếm tiền bất chính của kẻ xấu và âm mưu, thủ đoạn chống phá Quân đội của các thế lực thù địch.