Thứ Hai, 8 tháng 1, 2024

Mức thu phí đường bộ mới áp dụng từ ngày 1/2/2024






Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2023/NĐ-CP quy định mức thu, chế độ thu, nộp, miễn, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ.

Theo đó, đối tượng chịu phí sử dụng đường bộ là các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đã đăng ký (có giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe), kiểm định để lưu hành (được cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường), bao gồm: Xe ô tô, xe đầu kéo và các loại xe tương tự (ô tô).

Xe ô tô nêu trên trong một số trường hợp không chịu phí sử dụng đường bộ.

Zalo

Zalo

Phương thức tính, nộp phí sử dụng đường bộ

Đối với xe ô tô của các tổ chức, cá nhân đăng ký tại Việt Nam (trừ xe ô tô của lực lượng quốc phòng, công an), Nghị định quy định đối với xe ô tô kiểm định lần đầu, thời điểm tính phí sử dụng đường bộ tính từ ngày phương tiện được cấp Giấy chứng nhận kiểm định. Đối với xe ô tô cải tạo, chuyển đổi công năng hoặc chuyển đổi sở hữu từ tổ chức sang cá nhân (và ngược lại) thì mức thu phí tính từ ngày chuyển đổi công năng hoặc chuyển đổi sở hữu theo Giấy chứng nhận đăng ký mới của xe ô tô.

Phí sử dụng đường bộ tính theo năm, tháng hoặc theo chu kỳ kiểm định của xe ô tô. Đơn vị đăng kiểm cấp Tem nộp phí sử dụng đường bộ tương ứng với thời gian nộp phí. Cụ thể như sau:

Tính, nộp phí sử dụng đường bộ theo chu kỳ kiểm định

+ Đối với xe ô tô có chu kỳ kiểm định từ 01 năm trở xuống: Chủ phương tiện thực hiện nộp phí sử dụng đường bộ cho cả chu kỳ kiểm định và được cấp Tem nộp phí sử dụng đường bộ tương ứng với thời gian nộp phí.

+ Đối với xe ô tô có chu kỳ kiểm định trên 01 năm (18 tháng, 24 tháng và 36 tháng): Chủ phương tiện phải nộp phí sử dụng đường bộ theo năm (12 tháng) hoặc nộp cho cả chu kỳ kiểm định (18 tháng, 24 tháng và 36 tháng).

Trường hợp nộp phí theo chu kỳ kiểm định (18 tháng, 24 tháng và 36 tháng): Đơn vị đăng kiểm cấp Tem nộp phí sử dụng đường bộ tương ứng với chu kỳ kiểm định. Hết thời hạn nộp phí (chu kỳ kiểm định), chủ phương tiện phải đến đơn vị đăng kiểm để kiểm định và nộp phí cho chu kỳ kiểm định tiếp theo.

Trường hợp nộp phí theo năm (12 tháng): Đơn vị đăng kiểm cấp Tem nộp phí sử dụng đường bộ tương ứng với thời gian nộp phí 12 tháng. Hết thời hạn nộp phí (12 tháng), chủ phương tiện phải đến đơn vị đăng kiểm nộp phí và được cấp Tem nộp phí sử dụng đường bộ của thời gian tiếp theo (12 tháng hoặc thời gian còn lại của chu kỳ đăng kiểm).

+ Trường hợp chủ phương tiện đến kiểm định sớm hơn hoặc chậm hơn thời gian theo chu kỳ kiểm định quy định, đơn vị đăng kiểm kiểm tra xe và tính tiền phí sử dụng đường bộ nối tiếp từ thời điểm cuối của khoảng thời gian đã nộp phí sử dụng đường bộ lần trước cho đến hết chu kỳ kiểm định của kỳ tiếp theo (nếu chu kỳ kiểm định tiếp theo trên 12 tháng, chủ phương tiện có thể nộp đến 12 tháng hoặc nộp cả chu kỳ kiểm định). Trường hợp thời gian tính phí không tròn tháng thì số phí phải nộp sẽ tính bằng số ngày lẻ chia 30 ngày nhân với mức phí của 01 tháng.

+ Trường hợp chủ phương tiện chưa nộp phí sử dụng đường bộ của các chu kỳ kiểm định trước theo thời hạn quy định thì ngoài số phí phải nộp cho chu kỳ tiếp theo, chủ phương tiện còn phải nộp số phí chưa nộp của chu kỳ trước. Đơn vị đăng kiểm sẽ truy thu số phí phải nộp của chu kỳ trước, số phí phải nộp bằng mức thu phí của 01 tháng nhân với thời gian nộp chậm.

+ Trường hợp chủ phương tiện muốn nộp phí sử dụng đường bộ cho thời gian dài hơn chu kỳ kiểm định, đơn vị đăng kiểm thu phí và cấp Tem nộp phí sử dụng đường bộ tương ứng với thời gian nộp phí.

+ Đối với xe ô tô bị tịch thu, bị thu hồi bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; xe ô tô của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập (mang biển kiểm soát màu xanh); xe ô tô của lực lượng quốc phòng, công an thanh lý; xe ô tô thế chấp bị tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thu hồi mà trong thời gian bị tịch thu, thu hồi, chờ thanh lý không kiểm định để lưu hành sau đó được bán phát mại, thanh lý thì chủ mới của phương tiện chỉ phải nộp phí sử dụng đường bộ từ thời điểm mang xe đi kiểm định để lưu hành.

Khi kiểm định lưu hành, chủ phương tiện phải xuất trình cho cơ quan đăng kiểm các giấy tờ liên quan như: Quyết định tịch thu hoặc thu hồi của cấp có thẩm quyền; quyết định thu hồi tài sản thế chấp; quyết định cho phép thanh lý tài sản đối với các tài sản thuộc sở hữu của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng quốc phòng, công an; biên bản hoặc hợp đồng thực hiện hoàn tất thủ tục mua tài sản được bán thanh lý, bán đấu giá.

Trường hợp xe bán thanh lý, phát mại đã nộp phí qua thời điểm đi kiểm định lại để lưu hành thì chủ phương tiện nộp phí tính từ thời điểm nối tiếp theo kỳ hạn đã nộp phí của chu kỳ trước.

Nộp phí sử dụng đường bộ theo năm dương lịch

Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu nộp phí sử dụng đường bộ theo năm dương lịch gửi thông báo bằng văn bản (lần đầu hoặc khi phát sinh tăng, giảm phương tiện) đến đơn vị đăng kiểm và thực hiện nộp phí sử dụng đường bộ theo năm dương lịch đối với các phương tiện của mình.

Hàng năm, trước ngày 01 tháng 01 của năm tiếp theo, chủ phương tiện phải đến đơn vị đăng kiểm nộp phí cho năm tiếp theo. Khi thu phí, đơn vị đăng kiểm cấp Tem nộp phí sử dụng đường bộ cho từng xe tương ứng thời gian nộp phí.

Nộp phí sử dụng đường bộ theo tháng

Doanh nghiệp có số phí sử dụng đường bộ phải nộp từ 30 triệu đồng/tháng trở lên được thực hiện nộp phí theo tháng. Doanh nghiệp có văn bản (lần đầu hoặc khi phát sinh tăng, giảm phương tiện) gửi đơn vị đăng kiểm và thực hiện nộp phí đối với các phương tiện của mình.

Hàng tháng, trước ngày 01 của tháng tiếp theo, doanh nghiệp phải đến đơn vị đăng kiểm (đã đăng ký nộp phí theo tháng) nộp phí sử dụng đường bộ cho tháng tiếp theo. Khi thu phí, tổ chức thu phí cấp Tem nộp phí sử dụng đường bộ tương ứng thời gian nộp phí.

Nghị định quy định khi thu phí sử dụng đường bộ, tổ chức thu phí phải lập và cấp biên lai thu phí cho người nộp phí theo quy định tại Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về hóa đơn, chứng từ và văn bản hướng dẫn thực hiện của Bộ Tài chính.

Nghị định 90/2023/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/2/2024.

Các trường hợp bị đình chỉ, thu hồi giấy phép hành nghề y


Có hiệu lực từ 1/1/2024, Luật số 15/2023/QH15 khám bệnh, chữa bệnh quy định các trường hợp đình chỉ hành nghề, thu hồi giấy phép hành nghề y.

Cụ thể, người hành nghề bị đình chỉ hành nghề trong các trường hợp sau đây:

+ Bị Hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 101 của Luật này xác định có sai sót chuyên môn kỹ thuật đến mức phải đình chỉ hành nghề nhưng chưa đến mức bị thu hồi giấy phép hành nghề;

+ Bị cơ quan có thẩm quyền kết luận có vi phạm đạo đức nghề nghiệp nhưng chưa đến mức phải thu hồi giấy phép hành nghề;

+ Không đủ sức khỏe để hành nghề.

Tùy theo tính chất, mức độ sai sót chuyên môn kỹ thuật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, tinh trạng sức khỏe, người hành nghề bị đình chỉ hành nghề trong thời hạn từ 01 tháng đến 24 tháng.

Sau khi bị đình chỉ hành nghề, tùy tính chất, mức độ sai sót chuyên môn kỹ thuật mà người hành nghề phải cập nhật kiến thức y khoa theo kết luận của Hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 101 của Luật này.

Giấy phép hành nghề bị thu hồi trong trường hợp sau đây:

a) Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hành nghề không đúng quy định;

b) Giả mạo tài liệu trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hành nghề;

c) Cấp sai chức danh chuyên môn hoặc phạm vi hành nghề trong giấy phép hành nghề so với hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hành nghề;

d) Người hành nghề không hành nghề trong thời gian 24 tháng liên tục, trừ trường hợp tham gia chương trình đào tạo chuyên khoa;

đ) Người hành nghề thuộc một trong các trường hợp bị cấm hành nghề quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều 20 của Luật này;

e) Người hành nghề bị Hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 101 của Luật này xác định có sai sót chuyên môn kỹ thuật đến mức phải thu hồi giấy phép hành nghề;

g) Người hành nghề lần thứ hai bị Hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 101 của Luật này xác định có sai sót chuyên môn kỹ thuật đến mức phải đình chỉ hành nghề trong thời hạn của giấy phép hành nghề;

h) Người hành nghề lần thứ hai bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là có vi phạm đạo đức nghề nghiệp đến mức phải đình chỉ hành nghề trong thời hạn của giấy phép hành nghề;

i) Người hành nghề tự đề nghị thu hồi giấy phép hành nghề;

k) Trường hợp khác do Chính phủ quy định sau khi đã báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Sau khi thu hồi giấy phép hành nghề, trường hợp muốn tiếp tục hành nghề, người hành nghề phải đề nghị cấp mới giấy phép hành nghề quy định tại điểm c khoản 1 Điều 30 của Luật này hoặc đề nghị cấp lại giấy phép hành nghề quy định tại điểm c khoản 1 Điều 31 của Luật này.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: RÈN LUYỆN PHẨM CHẤT "LIÊM", "CHÍNH" - YẾU TỐ NỀN TẢNG XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH!

     Xây dựng và rèn luyện phẩm chất 'Liêm', 'Chính' của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới là một trong những yếu tố nền tảng nhằm xây dựng Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện!
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hợp tác xã nông nghiệp Tân Lập, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây (năm 1958)_Ảnh: Tư liệu
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hợp tác xã nông nghiệp Tân Lập, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây (năm 1958)_Ảnh: Tư liệu

“LIÊM”, “CHÍNH” - PHẨM CHẤT QUAN TRỌNG CỦA NGƯỜI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Trên phương diện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “Liêm” là “trong sạch, không tham lam”, “luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân”, “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của nhà nước, của nhân dân”, không “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng...”(1). Người có đức “Liêm” là tự trọng, biết phải trái, đúng sai và hổ thẹn khi trót làm điều xấu; biết tự răn mình để tránh điều xấu, để tâm trí luôn trong sáng. Không có đức “Liêm” thì con người sẽ bị tha hóa trầm trọng về nhân cách. Người có đức “Chính” là người ngay thẳng, công tâm, luôn dũng cảm đứng lên đấu tranh để bảo vệ lẽ phải; hành động quang minh chính đại, trong lòng không có chút tư lợi nào. “Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng phải Chính mới là người hoàn toàn”(2). “Chính” là bản chất con người cần hướng tới, giống như cây có gốc rễ vững vàng, uy vũ không thể quy phục, phú quý cám dỗ không dễ khuất phục, nghèo khổ không làm nhụt chí tiến thủ. Do đó, “Chính” là đức khó thực hiện nhất trong “tứ đức” (Cần, Kiệm, Liêm, Chính), là kết quả tất yếu của Cần, Kiệm, Liêm và là biểu hiện hoàn thiện về nhân cách con người.

Liêm - Chính là giá trị đạo đức cơ bản, là nguyên tắc, thước đo, chuẩn mực đối với người cán bộ, đảng viên trong công tác cũng như trong cuộc sống thường ngày dựa trên sự tuân thủ đạo đức công vụ, đạo đức cá nhân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn thực hành Liêm - Chính thì cán bộ, đảng viên phải ghi nhớ trên ba phương diện: Đối với mình, “chớ tự kiêu, tự đại; luôn luôn cầu tiến bộ; luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình. Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình”(3); Đối với người, “phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ. Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới”; Đối với công việc “phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà”, “đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm”, “việc phải thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc trái thì dù nhỏ mấy cũng tránh” với tinh thần “việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, phải hết sức tránh”.

Phẩm chất Liêm - Chính của người cán bộ, đảng viên trong hoạt động công vụ chính là hết lòng phục vụ nhân dân, sẵn sàng hy sinh lợi ích riêng để phục vụ lợi ích chung, sử dụng quyền lực đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn, phân minh trong phân định lợi ích công - tư. Phẩm chất Liêm - Chính đối lập với một số biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân như: địa phương cục bộ, thói hẹp hòi, bè cánh, quan liêu, hách dịch cửa quyền, tư túi, tham ô tham nhũng...

RÈN LUYỆN PHẨM CHẤT “LIÊM”, “CHÍNH” ĐỂ XÂY DỰNG ĐẢNG, XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy thật tốt trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”(4). Theo đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải “rèn luyện đức tính liêm khiết, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí”(5).

Xây dựng Đảng phải bắt đầu từ xây dựng đội ngũ cán bộ. Xây dựng và chỉnh đốn đội ngũ cán bộ trước hết phải bắt đầu từ xây dựng nền tảng đạo đức. Xây dựng nền tảng đạo đức phải đi từ sự Liêm- Chính. Bởi, Liêm - Chính là phẩm chất quan trọng nhất trong nhân cách, đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên có Liêm - Chính là “gốc rễ” quan trọng nhất để xây dựng Đảng Liêm - Chính, “là đạo đức, là văn minh”. Như vậy, xây dựng phẩm chất Liêm - Chính trong đội ngũ cán bộ, đảng viên chính là nền tảng bảo đảm an ninh tư tưởng chính trị và hạt nhân để xây đắp, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, đồng thời phản ánh trí tuệ, văn hóa của Đảng, là cơ sở bảo đảm bản chất “đạo đức, văn minh” tốt đẹp của Đảng.

Giai đoạn hiện nay, chúng ta đang quyết liệt thực hiện nhiều giải pháp nhằm xây dựng chính quyền kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động, phục vụ nhân dân. Việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay tất yếu phải xây dựng được một nền chính trị liêm khiết và một nền công vụ liêm chính. Điều đó đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nền công vụ hiện hành, không chỉ trên phương diện cải cách hành chính, tổ chức bộ máy hay hiện đại hóa trang thiết bị làm việc mà nhất thiết phải bắt nguồn từ việc “Liêm - Chính hóa” đội ngũ cán bộ, đảng viên thực thi công vụ. Do đó, xây dựng và thực hành Liêm - Chính trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là điều kiện, yêu cầu tất yếu khách quan của việc xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động, phục vụ nhân dân.

Mặt khác, trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay cũng đã và đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về xây dựng văn hóa Liêm - Chính trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Báo cáo tại Hội nghị Tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022 nêu rõ: “Từ 2012-2022, Ủy ban Kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng với hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý...”. Đây là những con số nhức nhối về sự “bất liêm”, “bất chính” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; bên cạnh những thiệt hại, hậu quả về mặt kinh tế - xã hội, còn gây xói mòn niềm tin của nhân dân với Đảng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến trình trạng tham nhũng, tiêu cực diễn ra “phổ biến, khó kiểm soát” là do những yếu kém, hạn chế, bất cập trong quản lý kinh tế - xã hội của nền công vụ. Chính vì thế, trên bình diện quốc gia - dân tộc, xây dựng được một nền công vụ Liêm - Chính, nền văn hóa Liêm - Chính còn là cách định hình giá trị và đảm bảo trước thế giới về một quốc gia hòa bình, văn minh tiến bộ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh và tiến bộ”. Theo đó, mức độ Cần, Kiệm, Liêm, Chính trong Đảng mà trực tiếp của mỗi cán bộ, đảng viên chính là thước đo, tiêu chí đánh giá trình độ văn minh, sự phát triển văn hóa tiến bộ của một dân tộc, vì Đảng ta là Đảng cầm quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên là người trực tiếp thực thi nền hành chính công vụ.

Xét trên phương diện xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhà nước và giải quyết căn cơ sự suy thoái về mặt tư tưởng, đạo đức lối sống, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên đều đòi hỏi khởi nguồn từ việc xây dựng, rèn luyện phẩm chất Liêm - Chính của cán bộ đảng viên. Do đó, vấn đề xây dựng và rèn luyện phẩm chất Liêm - Chính trong cán bộ, đảng viên hiện nay là một trong những nội dung “gốc rễ”, nền tảng nhằm xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

ĐỂ XÂY DỰNG, RÈN LUYỆN PHẨM CHẤT “LIÊM”, “CHÍNH” TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN
Trước hết, trong Đảng và cả về mặt nhận thức xã hội, cần quán triệt và khẳng định rõ Liêm - Chính là phẩm chất “gốc”, chuẩn mực, thước đo để đánh giá phẩm chất đạo đức lối sống, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tổ chức, hướng dẫn, tuyên truyền thực hiện mọi chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, là trụ cột trong quá trình điều hành, quản lý và phát triển quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(6), “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”(7); “Đảng làm tốt là do các chi bộ đều tốt, chi bộ tốt là do đảng viên tốt”. Theo đó, trong tình hình hiện nay, uy tín của Đảng phụ thuộc rất lớn vào việc xây dựng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng mà trên hết, trước hết là đức Liêm - Chính của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vì vậy, mỗi cán bộ đảng viên phải xác định việc rèn luyện, tu dưỡng và thực hành Liêm - Chính như một yêu cầu, nguyên tắc đạo đức bắt buộc, phải thực hiện thường xuyên trên 3 khía cạnh: đối với mình, đối với người và đối với công việc.

Trong bối cảnh đất nước mở cửa hội nhập ngày càng sâu rộng, nền kinh tế thị trường diễn ra hết sức sôi động, đan xen cả mặt tích cực lẫn tiêu cực; cùng với đó là sự du nhập các yếu tố văn hóa ngoại lai, những cám dỗ tiền tài vật chất, lối sống xa hoa, hưởng thụ, phô trương, thực dụng... đã và đang tạo nên những “cạm bẫy ngọt ngào” mà ở đó người cán bộ, đảng viên nếu không giữ vững đạo đức cách mạng, không rèn luyện phẩm chất Liêm - Chính sẽ rất dễ đánh mất mình, dễ tha hóa biến chất, “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”. Cho nên, xét đến cùng, phẩm chất Liêm - Chính chính là thước đo thể hiện năng lực, bản lĩnh của cán bộ, đảng viên.

Thứ hai, xác định xây dựng phẩm chất Liêm - Chính trong cán bộ, đảng viên là yêu cầu vừa cấp thiết, cơ bản, vừa kiên trì, thường xuyên, lâu dài; là nền tảng để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; là gốc rễ của công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hiện nay.

Thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vì tham vọng quyền lực, ham muốn vật chất đã không thắng nổi “những viên đạn bọc đường” mà sa ngã, biến chất, đánh mất sự chính trực, liêm khiết; lạm dụng chức quyền, sa vào tham ô, tham nhũng, tiêu cực... trong đó không ít cán bộ cấp cao và nhiều người trong số đó có học hàm học vị cao. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng nguyên nhân chủ yếu nhất là do những cán bộ, đảng viên này thiếu tu dưỡng rèn luyện, thiếu “gốc” đạo đức, thiếu “rễ” văn hóa… dẫn đến hành động “bất Liêm”, “bất Chính”. Bên cạnh đó cũng cần đặt vấn đề, đó là những sai phạm, vi phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên không phải chỉ diễn ra trong “một sớm một chiều”, thế nhưng tại sao không được ngăn ngừa, phát hiện từ sớm? Phải chăng chúng ta chưa xây dựng được một cơ chế kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng đủ tốt, đủ nghiêm minh, đủ sức răn đe? Phải chăng chúng ta còn chủ quan, lơ là trong nhìn nhận đúng vị trí, vai trò phẩm chất Liêm - Chính trong cán bộ, đảng viên; còn thiếu kịp thời đề ra những giải pháp quyết liệt, triệt để nhằm xây dựng, hình thành văn hóa Liêm - Chính trong Đảng, trong bộ máy công quyền?

Bối cảnh mới đòi hỏi trong quản trị Đảng, quản trị quốc gia, điều hành Chính phủ, thực thi công vụ… phải luôn đặt công tác kiểm tra - giám sát - thi hành kỷ luật Đảng ở vị trí quan trọng cùng với hệ thống quy định về Liêm - Chính - bộ phận quan trọng trong tổng thể các quy tắc, quy định của Đảng và hệ thống chính trị. Đồng thời, tiếp tục củng cố, bổ sung những chế tài đủ sức răn đe, ngăn ngừa; bắt buộc cán bộ phải rèn luyện, thực hành Liêm - Chính; tiếp tục việc hoàn thiện thể chế, cơ chế, quy định pháp luật trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, làm cho phẩm chất Liêm - Chính thực sự trở thành thước đo về đạo đức và sự tuân thủ pháp luật của cán bộ, đảng viên.

Thứ ba, làm tốt nhiệm vụ tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng, bồi đắp lòng yêu nước; xây dựng niềm tin và lý tưởng; khơi dậy khát vọng cống hiến, xây dựng đất nước trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Kiên trì, tích cực bồi dưỡng, bồi đắp từ gốc rễ đạo đức và củng cố nền tảng tư tưởng, niềm tin lý tưởng cộng sản chân chính, tốt đẹp là một trong những giải pháp quan trọng để giúp cán bộ, đảng viên vượt qua được mọi sự cám dỗ, giữ được Liêm - Chính. Bởi, chỉ khi trang bị đầy đủ, sâu sắc thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng, xây dựng được khát vọng lớn lao thì tầm vóc, trí tuệ của cán bộ đảng viên mới mở rộng mở hơn, tầm nhìn bao quát hơn, từ đó hình thành nên bản lĩnh, ý chí kiên định, vững vàng trước những thử thách, khó khăn; vượt qua được những hạn hẹp của thói hư vinh, lòng ham muốn vật chất tầm thường, có ý thức chống lại sự xói mòn về tư tưởng, đạo đức, phẩm chất, lối sống; giữ vững được phẩm chất chính trị của người cộng sản chân chính.

Thứ tư, mỗi cán bộ, đảng viên phải “định vị bản thân”, xây dựng động cơ học tập và làm việc đúng đắn, nêu cao tinh thần trách nhiệm, thượng tôn pháp luật, giữ vững nguyên tắc của Đảng.

Liêm - Chính là những giá trị khó thực hiện nhất trong các “đức” làm người, đòi hỏi sự tự giác, rèn luyện và bản lĩnh, nỗ lực tự thân rất cao ở mỗi người, nhất là trong tình hình hiện nay. Do đó, để phẩm chất Liêm - Chính thể hiện thành văn hóa, ý thức, ứng xử, hành động trong thực thi công vụ thì cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo phải luôn nêu cao ý thức học tập, trau dồi năng lực công tác, nâng cao tinh thần trách nhiệm. Đồng thời định vị rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, bám sát nội dung công việc, chủ động và sáng tạo trong tổ chức thực hiện; tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý có chất lượng, hiệu quả những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn công tác.

Cán bộ, đảng viên khi thực hành công vụ là đang sử dụng quyền lực Nhà nước, do Đảng và nhân dân giao phó. Vì thế, phải thực hiện đúng quyền hạn, tuân thủ các nguyên tắc của Đảng, của tổ chức, hành động theo pháp luật nhằm phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân. Trong mỗi việc làm, mọi hoàn cảnh đều đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải luôn cẩn trọng, tự kiểm tra, giám sát, tự phê bình, tự học hỏi và bồi dưỡng, rèn luyện nhằm nâng cao hiệu quả công việc, đồng thời phải có ý thức quản lý chặt chẽ, nghiêm túc đời sống sinh hoạt hằng ngày của bản thân, gia đình. Từ đó, phẩm chất Liêm - Chính được hình thành, bồi đắp qua mỗi ngày, mỗi việc làm, hành động của cán bộ, đảng viên một cách tự nhiên như mọi hành vi ứng xử văn hóa và những giá trị truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam./.
_______________________
(1) (2) (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự Thật, H, 2011, t.6, tr.127, 129, 129-130.

(4) (5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr.41, 194.

(6) (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t5, tr.309, 208.
Yêu nước ST.

Tư duy độc lập, tự chủ trong việc lựa chọn con đường cách mạng đúng đắn và triệt để cho dân tộc Việt Nam

 Những phẩm chất thiên tài kết hợp với hoạt động thực tiễn phong phú, sinh động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành cơ sở quan trọng trong việc lựa chọn con đường độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam, đồng thời thể hiện rõ tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Người, tiếp tục soi sáng con đường phát triển bền vững cho dân tộc Việt Nam hiện nay.

Mặc dù vô cùng kính trọng và rất khâm phục các bậc tiền bối, nhưng người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành không tán thành các con đường cách mạng của họ. Các cuộc khởi nghĩa, các phong trào đấu tranh theo những khuynh hướng khác nhau với tinh thần “lớp trước ngã xuống, lớp sau tiến lên” nhưng đều đi đến thất bại. Sự nghiệp cứu nước và giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc và bế tắc về đường lối. Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã không tư duy theo lối mòn, rập khuôn, máy móc, mà xuất phát từ lòng yêu nước chân chính, tính mẫn cảm với thời cuộc, có tư duy tự chủ, nhạy bén nên quyết tâm đi tìm một con đường cách mạng mới, đầy táo bạo cho dân tộc Việt Nam. Trả lời nhà thơ, nhà báo người Nga Osip Mandelstam, Người nhấn mạnh: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”(1).

Ngay từ khi gia nhập Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Tất Thành đã thể hiện tính độc lập, chủ động khi tranh luận và đặt vấn đề với các đồng chí của mình là: “Nếu các đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu các đồng chí không đoàn kết với các dân tộc thuộc địa, thì các đồng chí làm thứ cách mạng gì?”(2). Ngày 18-6-1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam ở Pháp, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã gửi tới Hội nghị Hòa bình Véc-xây (Versailles) bản “Yêu sách của nhân dân An Nam”, yêu cầu Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của nhân dân Việt Nam và các nước Đông Dương. Mặc dù không được các nhà chức trách chấp nhận, nhưng hành động này của Người đã gây ra tiếng vang lớn trong dư luận nước Pháp và trên thế giới.

Trong hành trình tìm tòi, khảo nghiệm, Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để nhìn nhận thấu đáo những xu hướng, con đường cách mạng khác nhau trên thế giới. Độc lập, tự do của Trung Quốc sau Cách mạng Tân Hợi (năm 1911) cũng là một thứ độc lập, nhưng chưa phải là độc lập thực sự và triệt để, vì giai cấp tư sản dân tộc Trung Quốc chưa thể đưa nhân dân Trung Quốc thoát khỏi nanh vuốt của chủ nghĩa đế quốc lúc này. Còn cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp (bao gồm cả Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 và cách mạng vô sản - Công xã Paris năm 1871) cũng đã bộc lộ rõ những hạn chế. Người giải đáp một cách ngắn gọn và rõ ràng về vấn đề này: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”(3). Người nhận thấy chế độ tư bản có nhiều khuyết tật cố hữu và đánh giá đúng bản chất của cách mạng tư sản là không triệt để, không đến nơi.

Xuất phát từ tư duy độc lập, tự chủ để dân tộc độc lập hoàn toàn, nhân dân hạnh phúc thật sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”(4). Người xác định chỗ dựa cho cách mạng Việt Nam phải là cách mạng vô sản thế giới, là Cách mạng Tháng Mười Nga và Quốc tế Cộng sản: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới”(5). Người luôn khẳng định vai trò quyết định của yếu tố nội sinh, đề cao tính tự lực trong mọi hoàn cảnh và nhấn mạnh “phải có tinh thần dân tộc vững chắc”. Những yếu tố nội sinh trở thành động lực quan trọng, khi được phát huy và kết hợp với con đường cách mạng đúng đắn thì cách mạng sẽ thành công triệt để.

Việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn cách mạng vô sản thế giới đã tạo ra bước chuyển biến căn bản trong nhận thức tư tưởng của Người, để đi đến kết luận: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Sau đó, Người “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(6).