Thứ Hai, 8 tháng 1, 2024

 

ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG GÓP PHẦN BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA

Như chúng ta đã biết, chính sách quốc phòng của Việt Nam mang đậm tính chất hòa bình, tự vệ, nhân văn, nhân đạo; kiên quyết, kiên trì giải quyết bất đồng bằng biện pháp đối thoại hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; phát huy tương đồng, hóa giải bất đồng, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh từ sớm, từ xa. Đối ngoại quốc phòng của Việt Nam luôn nhất quán, kiên định thực hiện nguyên tắc: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Điều đó khẳng định quyết tâm và đóng góp tích cực của Việt Nam cho hòa bình, ổn định của khu vực và trên thế giới, được các nước tin tưởng, đánh giá cao; qua đó khẳng định vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam và của Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện toàn diện công tác đối ngoại quốc phòng, hội nhập quốc tế và đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Đối ngoại quốc phòng đã tích cực, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước giải quyết rất tốt các vấn đề chiến lược về quân sự, quốc phòng, an ninh, biên giới lãnh thổ, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; xử lý tốt quan hệ quốc phòng với các nước láng giềng, nước lớn, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, tạo nên thế đan xen chiến lược, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc; củng cố tình hữu nghị, đoàn kết quốc tế, thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng, góp phần tăng cường tiềm lực, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, củng cố lòng tin chiến lược giữa Việt Nam với các nước, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và quân đội trên trường quốc tế.

Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam thiết lập quan hệ quốc phòng với quân đội hơn 100 nước, trong đó có 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 3 tổ chức vũ trang quốc tế của Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu (EU), Tổ chức Thủy đạc quốc tế (IHO). Thiết lập quan hệ quốc phòng với tất cả các đối tác hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện với Lào, Campuchia, Cuba; đối tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc, Nga, Ấn Độ… Đến nay, đã có 31 nước đặt Phòng Tùy viên Quốc phòng thường trú tại Việt Nam; 20 nước kiêm nhiệm. Việt Nam đặt Phòng Tùy viên Quốc phòng tại 32 nước, Liên hợp quốc và EU.

Việt Nam chủ động đề xuất sáng kiến tại các diễn đàn hợp tác quốc phòng đa phương khu vực và quốc tế như: Hội nghị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ASEAN, Đối thoại Shangri-La, Hội nghị an ninh quốc tế Moscow, Diễn đàn Hương Sơn – Bắc Kinh, Đối thoại Quốc phòng Seoul… Đặc biệt, Việt Nam đã cử hơn 500 lượt cán bộ, nhân viên, với 4 lượt bệnh viện dã chiến cấp 2 đến phái bộ Gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc tại Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi và trụ sở Liên Hợp Quốc, cử Đội Công binh đi làm nhiệm vụ tại Phái bộ An ninh lâm thời của Liên Hợp Quốc tại khu vực Abyei (UNISFA); cử 76 quân nhân tham gia cứu hộ, cứu nạn sau thảm họa động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ.

Năm 2022, Bộ Quốc phòng tổ chức rất thành công Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam, góp phần tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng; quảng bá năng lực công nghệ, vũ khí trang bị do Việt Nam sản xuất; đa dạng hóa các kênh hợp tác mua sắm, tiếp nhận chuyển giao công nghệ của nước ngoài để sản xuất vũ khí, trang thiết bị, đáp ứng yêu cầu của lực lượng vũ trang và tìm hiểu xu hướng phát triển của công nghiệp quốc phòng trên thế giới. Triển lãm đã đón 52 đoàn khách quốc tế và lãnh đạo Bộ Quốc phòng của các nước; Quân đội 30 nước, cùng hơn 170 doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng của các quốc gia và vùng lãnh thổ đến tham gia; đã đón hơn 60.000 lượt người dân, gần 10.000 lượt cán bộ, chiến sĩ tới tham quan.

Sau 37 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đối ngoại quốc phòng góp phần rất quan trọng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ trong thời bình, không để xảy ra xung đột, kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.

Đại hội XIII của Đảng xác định, tình hình thế giới, khu vực diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó lường. Độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định của đất nước luôn có nguy cơ bị đe dọa. Chính vì vậy, để thực hiện tốt kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, đòi hỏi công tác đối ngoại quốc phòng phải tiếp tục quán triệt sâu sắc hơn nữa và nghiêm túc thực hiện tốt phương châm: Tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả. Không ngừng đổi mới, tham mưu đúng, trúng với Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc; để có đối sách đúng đắn, kịp thời, giành thắng lợi trên bàn đàm phán, chiến thắng trên mặt trận ngoại giao, đẩy mạnh hợp tác quốc phòng, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; nâng cao sức mạnh chiến đấu; sẵn sàng chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa; không để Tổ quốc bị động, bất ngờ./.

luận điệu xuyên tạc của Âu Dương Thệ cần được lên án

Lợi dụng chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình vừa qua, trên mạng internet, Âu Dương Thệ đã đăng tải bài viết với tựa đề “Tương lai lại tự chui vào rọ! Nguyễn Phú Trọng hớn hở nhất trí với Tập Cận Bình “xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc”!”. Nội dung bài viết xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Hắn tự cho mình là một “nhà phân tích tài ba” để đánh giá việc “xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc” với những lời lẽ xuyên tạc, thô thiển, tráo trở nhằm tô vẻ, tạo dựng nên bức tranh ảm đảm về tương lai Việt Nam. Thực chất, đằng sau những luận điệu xuyên tạc này là âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, gây ra sự hoài nghi, hoang mang trong xã hội về sự lãnh đạo của Đảng và tương lai đất nước.

Hắn suy diễn việc 2 nước nhất trí “xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc” làm cho tương lai nước ta bị “lệ thuộc”, “dưới quyền” nước khác. Thực chất đây là những chiêu bài không mới nhưng rất thâm độc, mục đích của chúng nhằm kích động thù hằn dân tộc, chia rẽ quan hệ hợp tác láng giềng hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Như chúng ta biết, sau 15 năm kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện vào năm 2008 đến nay và với phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, hợp tác trên các lĩnh vực đã đạt được nhiều tiến triển tích cực, toàn diện, quan hệ hai Đảng, hai nước không ngừng mở rộng và đi vào chiều sâu.

Từ việc coi trọng cao độ quan hệ giữa hai Đảng, hai nước, với những thành tựu của quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện trong 15 năm qua và trước những yêu cầu mới, hai bên nhất trí xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, nỗ lực vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại, phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc và luật pháp quốc tế, trên nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, hợp tác bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, kiên trì giải quyết bất đồng thông qua biện pháp hòa bình.

Đường lối đối ngoại nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại cũng như đường lối quốc phòng “4 không”; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Việt Nam coi phát triển quan hệ với Trung Quốc là ưu tiên hàng đầu và là sự lựa chọn chiến lược; ủng hộ nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa phát triển lớn mạnh, đóng góp ngày càng quan trọng hơn vào sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của nhân loại. Vì vậy, việc nhất xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc là góp phần củng cố mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước vì lợi ích chung của nhân dân hai nước, vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại chứ không phải như những lời lẽ xuyên tạc thiếu thiện chí của Âu Dương Thệ.

Do vậy, những lời lẽ thô thiển và suy diễn vô căn cứ của Âu Dương Thệ càng chứng tỏ y là một kẻ phản động chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nêu cao cảnh giác, kiên quyết vạch trần và đấu tranh bác bỏ./.

 

 TINH THẦN THÂN THIỆN HIẾU KHÁCH CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐIỀU KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

Gần đây, sự xuất hiện bài viết “Mười lý do nhân dân Việt Nam không chào đón Tập Cận Bình” của Trần Trung Đạo trên các diễn đàn phản động đã gây bức xúc trong dư luận xã hội. Nội dung bài viết xuyên tạc sự thật, phủ nhận ý nghĩa chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình; đồng thời trà đạp lên tinh thần thân thiện, hiếu khách của người dân Việt Nam. Từ góc nhìn lệch lạc mang theo mưu đồ không trong sáng, y lớn tiếng cho rằng nhân dân Việt Nam dứt khoát không có lý do gì để chào đón Tập Cận Bình. Tuy nhiên, những gì đã diễn ra xung quanh chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình lại chứng minh điều ngược lại. Người dân Việt Nam chào đón nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc bằng tất cả tình cảm thân thiện, sự chân thành và tinh thần hiếu khách vốn có của mình.

Hiếu khách là truyền thống tốt đẹp bao đời nay của dân tộc ta và cũng là một trong những giá trị cốt lõi để thu hút du khách đến Việt Nam. Với vị trí địa chính trị có tầm quan trọng đặc biệt, trải qua chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn phải đương đầu với thiên tai, địch họa. Để trường tồn và phát triển cha ông ta đã xây dựng, vun đắp nên tinh thần thân thiện, hiếu khách. Thân thiện, hiếu khách để thêm bạn, bớt thù, là kế sách giữ nước vững bền mà cha ông truyền lại. Trong thời đại ngày nay, tinh thần ấy vẫn được phát huy mạnh mẽ, cao độ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trở thành thế mạnh của Việt Nam trong thu hút đầu tư và khách du lịch nước ngoài. Sự thân thiện, hiếu khách của nhân dân ta không chỉ để lại ấn tượng sâu sắc đối với du khách quốc tế, mà còn đối với chính khách của các quốc gia khi đến thăm Việt Nam. Tác giả Matthew Pike của trang The Culture Trip (chuyên trang du lịch uy tín thế giới) rất ấn tượng về lòng hiếu khách của người Việt Nam. Anh viết: “Không có gì lạ khi các nhóm khách du lịch được người Việt mời vào nhà ăn cơm. Khi người Việt có sự kiện để ăn mừng, họ thường làm những mâm tiệc to và rất ngon miệng – những bữa tiệc có thể kéo dài đến tận đêm khuya”. Sự thân thiện, lòng hiếu khách của người dân là điều lôi cuốn tác giả này, cũng như nhiều du khách quốc tế trở lại Việt Nam. Chủ tịch Thượng viện Bỉ – bà Stephanie D’Hose trong chuyến công du đến Việt Nam (tháng 8/2023) đã chia sẻ “Người dân Việt Nam có lẽ là những người hiếu khách và thân thiện nhất trên thế giới”. Sau chuyến thăm này, bà cho biết sẽ có nhiều phái đoàn từ Bỉ tới thăm, với mong muốn thúc đẩy quan hệ hợp tác, đầu tư với Việt Nam. Đây là hai trong nhiều câu chuyện thể hiện rõ nét tinh thần thân thiện, hiếu khách của người Việt. Rõ ràng là, với một du khách bình thường hay một chính khách đại diện cho các quốc gia, khi đến với Việt Nam, đều được người dân chào đón nồng nhiệt, chân thành. Vậy cớ gì để Trần Trung Đạo nói người dân Việt Nam không chào đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình. Phải chăng y muốn tách ra khỏi cộng đồng người Việt nên đã cố tình xuyên tạc, bôi đen truyền thống thân thiện, hiếu khách của dân tộc!?

Trên thực tế, việc chào đón nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc đến thăm đã được Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương ở Hà Nội chuẩn bị chu đáo, trọng thị. Cảnh quan đường phố được chỉnh trang sáng – xanh – sạch – đẹp. Trong ngày đón tiếp, phía ngoài khu vực sân bay Nội Bài, đông đảo quần chúng nhân dân Việt Nam và cán bộ, người lao động, lưu học sinh Trung Quốc tại Việt Nam vẫy cờ hai nước, cùng các băng rôn khẩu hiệu “Nhiệt liệt chào mừng Tổng Bí thư Tập Cận Bình, Chủ tịch nước Tập Cận Bình và Phu nhân đến thăm Việt Nam”, “Tình hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc mãi mãi trường tồn”… Lễ đón trọng thể Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và Phu nhân được tổ chức theo nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia, do Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và phu nhân chủ trì. Tham dự còn có các nhà lãnh đạo cấp cao của Nhà nước, Chính phủ Việt Nam. 21 phát súng đại bác được bắn để chào mừng. Sự trân trọng, hiếu khách của người dân Việt Nam còn được thể hiện tại tiệc trà thân mật giữa những nhà lãnh đạo cấp cao, trong các hoạt động đối thoại giao lưu giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc với nhân sĩ hữu nghị và thế hệ trẻ Việt Nam. Những hoạt động này được truyền thông trong và ngoài nước thường xuyên cập nhật, đưa tin rộng rãi. Không có một biểu hiện nào về cái gọi là nhân dân Việt Nam không chào đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình như lời Trần Trung Đạo rêu rao.

Sự thật hiển nhiên mà không chịu thừa nhận, vẫn cố chấp xuyên tạc bằng nhiều luận điệu xảo trá đã vạch trần bản chất đen tối trong con người của Trần Trung Đạo. Cố tình vin vào các sự kiện đã xảy ra trong lịch sử, những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc để kích động dư luận là mưu đồ nham hiểm của y, hòng tiếp tay, “nối giáo” cho các thế lực thù địch tiến hành những âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam. Hành động đó, rõ ràng đã đi ngược lợi ích quốc gia, dân tộc, cần lên án và nghiêm trị.

 

 KÊU GỌI “TỰ DO DÂN CHỦ” Ở VIỆT NAM LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CẦN PHẢN BÁC

Sau 37 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực thúc đẩy, bảo vệ quyền con người. Xã hội ngày càng văn mình thì ngày càng đề cao quyền con người, bao gồm cả quyền chính trị, quyền dân sự, quyền xã hội như là trung tâm, động lực và mục tiêu của phát triển. Vì vậy, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là vấn đề quan trọng, là nội dung cơ bản của bất kỳ một bản hiến pháp nào trên thế giới. Tuy nhiên, cùng với việc cố tình phủ nhận thành tựu, kết quả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đạt được, các thế lực thù địch, tổ chức phản động, đối tượng cơ hội chính trị ở trong nước và ở nước ngoài không ngừng thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” với tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt, trong đó “dân chủ, nhân quyền” là chiêu bài mà các đối tượng vẫn thường dùng để lợi dụng kích động, gây rối, phá hoại, gây mất ổn định chính trị – xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên trang “thongluan-rdp” có đăng tải bài phỏng vấn giữa RFA và Cao Quang Ánh với những lời lẽ kêu gọi “tự do nhân quyền”, “hệ thống nhiều đảng” ở Việt Nam.

Dân biểu Cao Quang Ánh, là con của một một sĩ quan phục vụ chế độ ngụy quyền, sang định cư tại Mỹ từ năm 8 tuổi, từng là cựu dân biểu thuộc Đảng Cộng hòa đại diện cho khu bầu cử quốc hội số 2 của tiểu bang Louisiana trong Hạ viện Hoa Kỳ từ năm 2009 đến 2011. Là người Mỹ gốc Việt đầu tiên phục vụ trong Quốc hội Hoa Kỳ. Trước khi trở thành dân biểu, Quang Ánh là một luật sư tại vùng New Orleans. Ấy vậy mà một người đã chấp nhận từ bỏ quê hương để phục vụ cho một đất nước khác lại luôn có những lý lẽ đấu tranh đòi “tự do dân chủ” cho người Việt Nam? Đòi hỏi Việt Nam phải thay đổi Hiến pháp, luận lệ; Dân biểu này cho rằng “nếu những người không thuộc về Đảng tham gia tranh cử thì quyền lợi của Đảng yếu đi; Đảng sợ dân có quyền lên tiếng”… Thực chất, đây chỉ là chiêu bài để kích động, gây rối, phá hoại nền độc lập, tự do, dân chủ ở Việt Nam mà thôi.

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định việc thực thi quyền con người là một trong những mục tiêu quan trọng đã được thể hiện rất rõ trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cụ thể tại Điều 3, Hiến pháp 2013 quy định “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Trên cơ sở Hiến pháp, các quy định về quyền con người tiếp tục được quy định cụ thể trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành như Luật Tín ngưỡng Tôn giáo năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Báo chí năm 2016…

Trên trường quốc tế, Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người như: Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966 (ICCPR), gia nhập ngày 24/9/1982; Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa 1966, gia nhập ngày 24/9/1982; Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ 1979… và những đóng góp lớn được cộng đồng quốc tế công nhận. Đặc biệt, ngày 11/10/2022, Việt Nam đã trúng cử trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 tại phiên họp của Đại hội đồng Liên Hợp quốc khóa 77. Kết quả này không chỉ là minh chứng rõ ràng nhất về thành tựu nhân quyền ở Việt Nam mà còn là lời khẳng định sự tín nhiệm của quốc tế đối với Việt Nam trong lĩnh vực này. Theo đánh giá của Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) về Phát triển con người toàn cầu 2021-2022, ngay cả trong giai đoạn khó khăn nhất của đại dịch COVID-19, Việt Nam vẫn thực hiện tốt việc đảm bảo quyền con người. Chỉ số phát triển con người tăng 2 bậc trong bảng xếp hạng toàn cầu, lên thứ 115 năm 2021. Về chỉ số phát triển giới, Việt Nam đứng thứ 65 trong số 162 quốc gia, nằm trong nhóm cao nhất trong 5 nhóm trên thế giới.

Thực tế khách quan đã chứng minh không có việc Việt Nam vi phạm nhân quyền thông qua các hoạt động tố tụng. Ở Việt Nam không có khái niệm, danh xưng nào gọi những đối tượng vi phạm pháp luật là những nhà “hoạt động nhân quyền”,“bất đồng chính kiến” hay “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị” như những luận điệu mà các tổ chức chống phá đưa ra. “Báo cáo nhân quyền” mà các tổ chức lấy danh về nhân quyền đưa ra hằng năm nhằm cáo buộc tình hình vi phạm nhân quyền ở Việt Nam là dựa trên những thông tin thu thập theo kiểu cóp nhặt, phiến diện, xuyên tạc có chủ đích theo một chiều, không phản ánh đúng hiện thực khách quan. Do đó, những luận điệu của các cá nhân, tổ chức thù địch, thiếu thiện chí lấy cớ nhân quyền để quy chụp, chống phá Việt Nam chỉ là những luận điệu lạc lõng.

Vì vậy, những luận điệu mà Cao Quang Ánh đưa ra đã thể hiện sự phản động, xuyên tạc về vấn đề  “tự do nhân quyền” ở Việt Nam cũng như đòi hỏi phi lý “đa đảng đa chính quyền”, nhằm hướng tới mục tiêu xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Do đó, chúng ta cần luôn đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ bản chất xấu xa và mục đích đen tối của Cao Quang Ánh và các thế lực thù địch. Kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tình hình mới.

 

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC “SÁCH” CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG!

Lợi dụng việc tuyên truyền cuốn sách “Cả nước đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, RFA đã đăng tải bài viết: “Sách của ông Trọng & cuộc “đánh bóng” cuối đường đua!” trên trang Facebook: Đài Á Châu tự do với những nội dung xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh của Tổng Bí thư cũng như công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi vậy, cần đấu tranh và khẳng định một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, việc tuyên truyền sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là sự chuyển tải trực tiếp về đường lối, chủ trương của Đảng. Tuyên truyền có vai trò rất quan trọng đối với một chính Đảng cầm quyền. Nhiệm vụ thứ nhất của bất cứ một chính đảng nào có trọng trách đối với tương lai là thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược của mình. Công tác tuyên truyền là một hoạt động trọng yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam để xây dựng, bồi đắp nền tảng tư tưởng chính trị trong xã hội, tạo nên không khí phấn khởi, cổ vũ, động viên các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên và nhân dân nỗ lực vượt lên khó khăn, thách thức, chung sức đồng lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng đã đề ra.

Theo đó, mục đích của việc tuyên truyền, giới thiệu nội dung cuốn sách “Cả nước đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng” nhằm quán triệt, nâng cao nhận thức và xác định quyết tâm hành động dám nghĩ, dám làm, cả nước chung sức đồng lòng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, phát triển đất nước nhanh, bền vững. Nhờ có những đóng góp tích cực của công tác tuyên truyền, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khơi dậy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh của các ngành, các cấp, hệ thống chính trị; sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không phải là việc tuyên truyền “không còn phù hợp”, “hoàn toàn sáo rỗng” hoặc chỉ là sự “đánh bóng”, “chỉ để ca ngợi” như RFA đã viết.

Thứ hai, nội dung sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là sự tổng kết và những kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng thông qua thực tiễn. Nội dung cuốn sách gồm 40 bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là những khái quát, đánh giá nửa đầu nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, là những chỉ đạo thực hiện phương hướng phát triển kinh tế – xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh đối với các vùng kinh tế – xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tại các Hội nghị Trung ương, hội nghị toàn quốc, các chuyến thăm, buổi làm việc với một số địa phương, cũng như những chỉ đạo đối với các lĩnh vực, các lực lượng, với từng ngành. Trong đó, nổi bật là các chỉ đạo tiếp tục đổi mới, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nâng cao sức mạnh tổng hợp, năng lực nghiên cứu, dự báo, chủ động ngăn ngừa xung đột, chiến tranh từ sớm, từ xa; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội. Các bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chỉ ra một số khó khăn, thách thức của từng cấp, từng ngành và cả địa phương cần nỗ lực vượt qua; những cơ hội phải nhanh chóng nắm bắt để hoàn thành thắng lợi các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định. Điều này, khẳng định những trích dẫn, lập luận cho rằng nội dung cuốn sách không “đưa ra những kinh nghiệm”, “hữu ích” hay không đóng góp “điều hành quốc gia” của RFA là sai trái.

Mọi người dân Việt Nam cần tỉnh táo nhận diện, tích cực đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, bẻ cong sự thật, chống phá của những kẻ như RFA! Đồng thời, đoàn kết, nâng cao trách nhiệm trong quán triệt, hiện thực những tư tưởng, quan điểm và định hướng lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược, toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành tốt các mục tiêu đề ra trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng.

 

 PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM  TỐI THƯỢNG

Từ lâu, pháp luật luôn là một phạm trù đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức và điều chỉnh các mối quan hệ trong đời sống kinh tế – xã hội, trên cả cơ sở lý luận và thực tiễn. Trải qua nhiều sự biến đổi không ngừng để đáp ứng những yêu cầu của từng thời kỳ nhất định, song pháp luật vẫn giữ những thuộc tính, đặc trưng vốn có của nó. Một trong số các đặc trưng đó có thể kể đến là việc pháp luật đóng vai trò như một công cụ để bảo đảm tự do của người này không xâm phạm tự do của người khác. Tại Việt Nam, quyền tự do chân chính của người dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Do đó bài viết của Hồng Dân đăng trên “Doithoaionline” với luận điểm cho rằng “Quyền tự do của người dân là tự do trong khuôn khổ do Đảng quy định” hay là “Tự do pháp luật quy định là tự do trong khuôn khổ do Đảng quy định” là hoàn toàn sai sự thật, cố tình không hiểu hay cố tình lèo kéo đi theo theo hướng khác nhằm hạ thấp vai trò của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Như chúng ta đã biết, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đồng thời các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật được hiến định tại Điều 4, Hiến pháp năm 2013. Bởi xuất phát từ bản chất, mục đích của Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam được xây dựng và phát triển không có mục đích gì khác ngoài mục đích “vì Nhân dân”. Trong thực tiễn hơn 90 năm chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam, trải qua rất nhiều khó khăn, thách thức, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định bản chất vì nhân dân. Song song với việc đó, từ khi trở thành Đảng cầm quyền, Đảng luôn điều chỉnh để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng là phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, đồng thời khẳng định Ðảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Đặc biệt, trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam cũng xác định: “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là một trong các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng”, như vậy có nghĩa là Đảng hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, chứ không phải Đảng hoạt động ngoài pháp luật hay cái gọi là “Tự do do pháp luật quy định là tự do trong khuôn khổ do Đảng quy định” như bài viết của Hồng Dân.

Nhà nước có vị trí không thể thay thế trong việc tổ chức thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng, đưa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng trở thành hiện thực trong đời sống xã hội. Nhà nước pháp quyền là nhà nước thượng tôn pháp luật, do đó đòi hỏi mọi chủ thể trong xã hội, bao gồm cả đảng cầm quyền, đều phải chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Đảng là tổ chức cao nhất, là đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách lớn của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật và tổ chức để Nhân dân thực hiện. Đảng định ra các quan điểm, nguyên tắc xây dựng Hiến pháp và pháp luật, luật tổ chức các cơ quan nhà nước. Vì vậy, khi đã có Hiến pháp và pháp luật thì Đảng chịu sự điều chỉnh của Hiến pháp và pháp luật bình đẳng như mọi chủ thể chính trị, xã hội khác.

Nguyên tắc “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” được ghi trong Hiến pháp còn nhằm bảo đảm cho Đảng giữ vững bản chất, mục tiêu, lý tưởng của mình, phòng, chống mọi nguy cơ thoái hóa, biến chất có thể xảy ra trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam. Trong nhà nước pháp quyền thì việc thượng tôn pháp luật là yêu cầu tất yếu, mọi tổ chức và công dân đều phải sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, dù Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước song Đảng cũng không đứng trên hay đứng ngoài pháp luật, mà chính Hiến pháp và pháp luật đã quy định rõ vị trí, vai trò cầm quyền của Đảng. Hiến pháp và pháp luật cũng đồng thời bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội, bảo đảm các hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên đúng với chủ trương, quy định của Đảng và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.

 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Quyền tự do của mọi người trên lãnh thổ Việt Nam được bảo đảm bằng pháp luật của Việt Nam và mọi người dân đều được bình đẳng trước pháp luật, sống và làm việc theo pháp luật, quyền và nghĩa vụ luôn song hành. Do đó quyền tự do của người dân được quy định trong Hiến pháp và pháp luật chứ không phải trong khuôn khổ do Đảng quy định, bởi vì Đảng cũng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Do đó, mọi người cần tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc, không đúng sự thật, nhằm làm thất bại mọi hoạt động chống phá của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước ta hiện nay./.

 

ĐẤT ĐAI THUỘC SỞ HỮU TOÀN DÂN – TƯ TƯỞNG TIẾN BỘ CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Lợi dụng việc Nhà nước ta tổ chức lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), các thế lực thù địch đã ra sức tuyên truyền, xuyên tạc Luật đất đai ở Việt Nam. Vừa qua, trên Bloger của “Vietnamthoibao”, bút danh Người Tân Định có bài viết: “Cộng sản sẽ không còn là cộng sản”, cho rằng đất đai thuộc sở hữu toàn dân là hạn chế quyền sử dụng; tước quyền sở hữu đất đai của người dân và việc bồi thường thu hồi đất là cộng sản đang thâu tóm đất đai để làm giàu bất chính. Thực tế, Người Tân Định đang cố tình không hiểu tình hình quản lý đất đai ở Việt Nam.

1. Đất đai là một bộ phận quan trọng của lãnh thổ quốc gia, được hình thành, tồn tại và phát triển cùng với chiều dài lịch sử. Đây chính là thành quả của sự nghiệp dựng nước và giữ nước lâu dài của cả dân tộc, là công sức, xương máu của các thế hệ người Việt Nam, cho nên không thể để cho một tầng lớp hay nhóm người nào đó có quyền độc chiếm sở hữu. Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân thì đất đai của quốc gia phải thuộc sở hữu của toàn dân và được sử dụng phục vụ cho mục đích chung của nhân dân. Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Điều 54 quy định: Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ, Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật. Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai và Điều 4 Luật đất đai năm 2013 quy định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Như vậy, có thể khẳng định, đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân, tất cả người dân Việt Nam thực hiện quyền sở hữu của mình thông qua người đại diện là Nhà nước. Người dân chỉ có quyền sử dụng, không có quyền sở hữu riêng đối với đất đai. Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép người sử dụng đất chuyển mục đích sử dụng đất đều là các hoạt động trao quyền sử dụng đất từ Nhà nước cho người sử dụng nhằm bảo đảm cho đất đai được phân phối và phân phối lại cho các đối tượng sử dụng hợp pháp, đúng mục đích, đạt hiệu quả cao, thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, tiến đến thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nếu đa dạng hóa, tư nhân hóa sở hữu đất đai có thể gây ra những rối ren chính trị – xã hội, khó lường trước hậu quả, đe dọa mục tiêu phát triển đất nước, chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

2. Luật Đất đai năm 2013 quy định việc bồi thường thu hồi đất được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất. Đồng thời, được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm…Việc bồi thường và hỗ trợ phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật. Hiện nay, mức bồi thường thu hồi đất được tính trên bảng giá đất do các tỉnh, thành ban hành dựa trên khung giá đất. Vì thế, tiền bồi thường được cho là chưa tương xứng với giá thị trường dẫn đến tình trạng khiếu kiện, tranh chấp kéo dài. Để chống tiêu cực và bảo đảm quyền lợi cho người dân khi bị thu hồi đất dự thảo Luật Đất đai sửa đổi chuẩn bị thông qua quy định: bỏ khung giá đất áp dụng đền bù giá đất theo giá cả thị trường sẽ giúp vấn đề bồi thường khi bị thu hồi đất được thỏa đáng hơn, việc giải phóng mặt bằng được thực hiện nhanh chóng và tiến độ của các dự án cũng đẩy nhanh hơn; hạn chế hiện tượng đầu cơ đất đai; người dân có nhu cầu mua nhà, đất để ở sẽ có cơ hội mua đúng giá hơn, tránh được tình trạng giới đầu cơ ôm đất thổi giá. Bên cạnh đó, Luật Đất đai quy định người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại cho Nhà nước, cho người khác, ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật còn phải bồi thường theo mức thiệt hại thực tế cho Nhà nước hoặc cho người bị thiệt hại. Như vậy, với Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung khi được thông qua sẽ mang lại lợi ích cao nhất cho người dân; chống tham nhũng, tiêu cực.

Việc các thế lực thù địch bôi nhọ, vu cáo, trắng trợn, xuyên tạc Luật Đất đai, là đi ngược lại chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và lợi ích nguyện vọng, chính đáng của nhân dân ta. Do đó, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh vạch rõ bộ mặt phản động của chúng để nhân dân hiểu rõ và cảnh giác.

Mức thu phí đường bộ mới áp dụng từ ngày 1/2/2024






Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2023/NĐ-CP quy định mức thu, chế độ thu, nộp, miễn, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ.

Theo đó, đối tượng chịu phí sử dụng đường bộ là các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đã đăng ký (có giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe), kiểm định để lưu hành (được cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường), bao gồm: Xe ô tô, xe đầu kéo và các loại xe tương tự (ô tô).

Xe ô tô nêu trên trong một số trường hợp không chịu phí sử dụng đường bộ.

Zalo

Zalo

Phương thức tính, nộp phí sử dụng đường bộ

Đối với xe ô tô của các tổ chức, cá nhân đăng ký tại Việt Nam (trừ xe ô tô của lực lượng quốc phòng, công an), Nghị định quy định đối với xe ô tô kiểm định lần đầu, thời điểm tính phí sử dụng đường bộ tính từ ngày phương tiện được cấp Giấy chứng nhận kiểm định. Đối với xe ô tô cải tạo, chuyển đổi công năng hoặc chuyển đổi sở hữu từ tổ chức sang cá nhân (và ngược lại) thì mức thu phí tính từ ngày chuyển đổi công năng hoặc chuyển đổi sở hữu theo Giấy chứng nhận đăng ký mới của xe ô tô.

Phí sử dụng đường bộ tính theo năm, tháng hoặc theo chu kỳ kiểm định của xe ô tô. Đơn vị đăng kiểm cấp Tem nộp phí sử dụng đường bộ tương ứng với thời gian nộp phí. Cụ thể như sau:

Tính, nộp phí sử dụng đường bộ theo chu kỳ kiểm định

+ Đối với xe ô tô có chu kỳ kiểm định từ 01 năm trở xuống: Chủ phương tiện thực hiện nộp phí sử dụng đường bộ cho cả chu kỳ kiểm định và được cấp Tem nộp phí sử dụng đường bộ tương ứng với thời gian nộp phí.

+ Đối với xe ô tô có chu kỳ kiểm định trên 01 năm (18 tháng, 24 tháng và 36 tháng): Chủ phương tiện phải nộp phí sử dụng đường bộ theo năm (12 tháng) hoặc nộp cho cả chu kỳ kiểm định (18 tháng, 24 tháng và 36 tháng).

Trường hợp nộp phí theo chu kỳ kiểm định (18 tháng, 24 tháng và 36 tháng): Đơn vị đăng kiểm cấp Tem nộp phí sử dụng đường bộ tương ứng với chu kỳ kiểm định. Hết thời hạn nộp phí (chu kỳ kiểm định), chủ phương tiện phải đến đơn vị đăng kiểm để kiểm định và nộp phí cho chu kỳ kiểm định tiếp theo.

Trường hợp nộp phí theo năm (12 tháng): Đơn vị đăng kiểm cấp Tem nộp phí sử dụng đường bộ tương ứng với thời gian nộp phí 12 tháng. Hết thời hạn nộp phí (12 tháng), chủ phương tiện phải đến đơn vị đăng kiểm nộp phí và được cấp Tem nộp phí sử dụng đường bộ của thời gian tiếp theo (12 tháng hoặc thời gian còn lại của chu kỳ đăng kiểm).

+ Trường hợp chủ phương tiện đến kiểm định sớm hơn hoặc chậm hơn thời gian theo chu kỳ kiểm định quy định, đơn vị đăng kiểm kiểm tra xe và tính tiền phí sử dụng đường bộ nối tiếp từ thời điểm cuối của khoảng thời gian đã nộp phí sử dụng đường bộ lần trước cho đến hết chu kỳ kiểm định của kỳ tiếp theo (nếu chu kỳ kiểm định tiếp theo trên 12 tháng, chủ phương tiện có thể nộp đến 12 tháng hoặc nộp cả chu kỳ kiểm định). Trường hợp thời gian tính phí không tròn tháng thì số phí phải nộp sẽ tính bằng số ngày lẻ chia 30 ngày nhân với mức phí của 01 tháng.

+ Trường hợp chủ phương tiện chưa nộp phí sử dụng đường bộ của các chu kỳ kiểm định trước theo thời hạn quy định thì ngoài số phí phải nộp cho chu kỳ tiếp theo, chủ phương tiện còn phải nộp số phí chưa nộp của chu kỳ trước. Đơn vị đăng kiểm sẽ truy thu số phí phải nộp của chu kỳ trước, số phí phải nộp bằng mức thu phí của 01 tháng nhân với thời gian nộp chậm.

+ Trường hợp chủ phương tiện muốn nộp phí sử dụng đường bộ cho thời gian dài hơn chu kỳ kiểm định, đơn vị đăng kiểm thu phí và cấp Tem nộp phí sử dụng đường bộ tương ứng với thời gian nộp phí.

+ Đối với xe ô tô bị tịch thu, bị thu hồi bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; xe ô tô của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập (mang biển kiểm soát màu xanh); xe ô tô của lực lượng quốc phòng, công an thanh lý; xe ô tô thế chấp bị tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thu hồi mà trong thời gian bị tịch thu, thu hồi, chờ thanh lý không kiểm định để lưu hành sau đó được bán phát mại, thanh lý thì chủ mới của phương tiện chỉ phải nộp phí sử dụng đường bộ từ thời điểm mang xe đi kiểm định để lưu hành.

Khi kiểm định lưu hành, chủ phương tiện phải xuất trình cho cơ quan đăng kiểm các giấy tờ liên quan như: Quyết định tịch thu hoặc thu hồi của cấp có thẩm quyền; quyết định thu hồi tài sản thế chấp; quyết định cho phép thanh lý tài sản đối với các tài sản thuộc sở hữu của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng quốc phòng, công an; biên bản hoặc hợp đồng thực hiện hoàn tất thủ tục mua tài sản được bán thanh lý, bán đấu giá.

Trường hợp xe bán thanh lý, phát mại đã nộp phí qua thời điểm đi kiểm định lại để lưu hành thì chủ phương tiện nộp phí tính từ thời điểm nối tiếp theo kỳ hạn đã nộp phí của chu kỳ trước.

Nộp phí sử dụng đường bộ theo năm dương lịch

Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu nộp phí sử dụng đường bộ theo năm dương lịch gửi thông báo bằng văn bản (lần đầu hoặc khi phát sinh tăng, giảm phương tiện) đến đơn vị đăng kiểm và thực hiện nộp phí sử dụng đường bộ theo năm dương lịch đối với các phương tiện của mình.

Hàng năm, trước ngày 01 tháng 01 của năm tiếp theo, chủ phương tiện phải đến đơn vị đăng kiểm nộp phí cho năm tiếp theo. Khi thu phí, đơn vị đăng kiểm cấp Tem nộp phí sử dụng đường bộ cho từng xe tương ứng thời gian nộp phí.

Nộp phí sử dụng đường bộ theo tháng

Doanh nghiệp có số phí sử dụng đường bộ phải nộp từ 30 triệu đồng/tháng trở lên được thực hiện nộp phí theo tháng. Doanh nghiệp có văn bản (lần đầu hoặc khi phát sinh tăng, giảm phương tiện) gửi đơn vị đăng kiểm và thực hiện nộp phí đối với các phương tiện của mình.

Hàng tháng, trước ngày 01 của tháng tiếp theo, doanh nghiệp phải đến đơn vị đăng kiểm (đã đăng ký nộp phí theo tháng) nộp phí sử dụng đường bộ cho tháng tiếp theo. Khi thu phí, tổ chức thu phí cấp Tem nộp phí sử dụng đường bộ tương ứng thời gian nộp phí.

Nghị định quy định khi thu phí sử dụng đường bộ, tổ chức thu phí phải lập và cấp biên lai thu phí cho người nộp phí theo quy định tại Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về hóa đơn, chứng từ và văn bản hướng dẫn thực hiện của Bộ Tài chính.

Nghị định 90/2023/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/2/2024.