Thứ Hai, 8 tháng 1, 2024

 

Đưa Nghị quyết vào cuộc sống – Đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn mới

Chính sách xã hội ở Việt Nam là hệ thống chính sách chăm lo cho con người, vì con người, nhằm mục tiêu khơi dậy và phát huy động lực, nguồn lực để phát triển bền vững đất nước. Chăm lo thực hiện tốt chính sách xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn xã hội, thể hiện đặc trưng, bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến việc thực hiện chính sách xã hội. Đại hội lần thứ VI của Đảng xác định thực hiện chính sách xã hội nhằm: “Tạo cơ sở phát triển sức sản xuất, tăng thêm thu nhập quốc dân, từng bước mở rộng quỹ tiêu dùng xã hội, làm cho nó giữ vị trí ngày càng lớn trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa và các sự nghiệp phúc lợi khác”. Kế thừa, phát triển tinh thần đó, trải qua các kỳ đại hội và trong nhiều văn kiện của Trung ương, Đảng ta đều nhất quán khẳng định đẩy mạnh việc hoàn thiện các chính sách xã hội, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; gắn kết chặt chẽ giữa chính sách kinh tế với đảm bảo phúc lợi xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, để nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới.

Qua gần 40 năm đổi mới, đặc biệt là hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020, việc thực hiện chính sách xã hội ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, thể hiện ngày càng rõ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Kinh tế, xã hội phát triển toàn diện và hài hoà hơn, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, chính sách xã hội ở nước ta vẫn còn một số hạn chế, tồn tại, chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 Hội nghị lần thứ 8 BCH TW Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới nhận định: Kết quả giảm nghèo có nơi, có lúc chưa vững chắc, đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn, các dịch vụ xã hội cơ bản chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân… Thời gian tới, trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng hội nhập, thực hiện chuyển đổi số toàn diện nhằm xây dựng nền kinh tế số, chính phủ số và xã hội số, việc thực hiện chính sách xã hội cần có sự đổi mới toàn diện, đồng bộ.

Để hiện thực hóa mục tiêu: “Xây dựng hệ thống chính sách xã hội theo hướng bền vững, tiến bộ và công bằng, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, góp phần cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” mà Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 Hội nghị lần thứ 8 BCH TW Đảng khóa XIII đã xác định, cần triển khai tốt một số nội dung giải pháp sau:

Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò của chính sách xã hội trong bối cảnh phát triển mới của đất nước. Khẳng định, chính sách xã hội ở Việt Nam là dựa trên quyền con người, vì con người, lấy con người làm trung tâm, là chủ thể; phát huy những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, tạo động lực góp phần phát triển đất nước. Đổi mới, nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện chính sách xã hội là hoạt động tất yếu bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hai là, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực để thực hiện đồng bộ các chính sách xã hội. Phương châm là linh hoạt, hiệu quả, trong đó nguồn lực nhà nước giữ vai trò chủ đạo, đồng thời huy động hợp lý nguồn lực xã hội và hợp tác quốc tế. Tăng cường xã hội hoá, hợp tác công – tư trong huy động các nguồn lực cho thực hiện các chính sách xã hội.

Ba là, rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về chính sách xã hội, bảo đảm khả thi, phù hợp, nhất quán, đồng bộ, bám sát thực tiễn phát triển của đất nước, tham khảo và áp dụng một cách khoa học hệ thống tiêu chuẩn của quốc tế và khu vực. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác quản lý nhà nước về chính sách xã hội; từng bước áp dụng mã số an sinh xã hội cho người dân trên cơ sở hệ hống cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành liên quan đến chính sách xã hội.

Bốn là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đi đôi với phát triển, hoàn thiện thị trường lao động theo hướng hiện đại, hội nhập. Từ đó, tạo nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp và nguy cơ tái nghèo cho người dân. Vận dụng linh hoạt các chính sách tín dụng chính sách xã hội nhằm hỗ trợ vốn vay tạo việc làm, sinh kế cho người dân, nhất là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn. Thúc đẩy thực hiện chính sách việc làm công, nhất là trong điều kiện nền kinh tế gặp khó khăn, người lao động mất việc làm, thiếu việc làm.

Năm là, phát huy cao độ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức hội quần chúng trong việc giải quyết tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; nâng cao chất lượng hoạt động giám sát và phản biện xã hội; tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận của hội viên, đoàn viên và Nhân dân trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phối hợp vận động nguồn lực, khuyến khích tổ chức, cá nhân phát triển các loại hình cung cấp dịch vụ xã hội và tích cực tham gia thực hiện chính sách xã hội.

Trước yêu cầu phát triển của đất nước, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính sách xã hội ở nước ta là yêu cầu cấp thiết. Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp cần quán triệt sâu sắc, đầy đủ nội dung Nghị quyết số 42-NQ/TW của Trung ương; có kế hoạch triển khai đồng bộ, sát thực tiễn địa phương, đơn vị. Đồng thời, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia và giám sát thực hiện Nghị quyết. Từ đó, làm cho Nghị quyết thực sự đi sâu vào cuộc sống, làm thay đổi căn bản, toàn diện hệ thống chính sách xã hội “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” ở Việt Nam trong giai đoạn mới.

                 Đào Tăng Dực lại bày trò xuyên tạc

Vừa qua, Đào Tăng Dực đăng bài “Sự tàn ác vô giới hạn” trên “Thongluan-rdp” để xuyên tạc giá trị Hiến pháp năm 2013. Là một công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi đọc bài này, tôi cảm thấy bất bình và cho rằng Đào Tăng Dực là một kẻ mơ hồ, ấu trĩ về chính trị, nên mới hồ đồ đưa ra những luận điểm vô căn cứ, phiến diện, bóp méo sự thật  để phủ nhận giá trị của bản Hiến pháp năm 2013.

Như chúng ta đã biết, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là văn kiện chính trị – pháp lý quan trọng nhất của một quốc gia dân tộc, đó là đạo luật cơ bản, luật gốc của Nhà nước. Hiến pháp phản ánh ý chí, nguyện vọng, lợi ích của toàn dân tộc. Chúng ta không phủ nhận việc xây dựng Hiến pháp trên cơ sở học hỏi, tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia – dân tộc khác, nhưng chúng ta không thể chấp nhận sự áp đặt một mô hình Hiến pháp nào đó cho mình. Xây dựng và hoàn thiện Hiến pháp Việt Nam cần dựa vào chính kinh nghiệm lịch sử, những thành quả của cách mạng của dân tộc, những giá trị mà chúng ta phải bảo vệ. Trên tinh thần đó Hiến pháp năm 2013 đã kế thừa các Hiến pháp trước đồng thời hướng tới đáp ứng sự phát triển của đất nước trong tình hình mới. Mặt khác, cũng như các quốc gia khác, Hiến pháp phải được thông qua theo nguyên tắc dân chủ tập trung bởi những đại biểu hợp hiến. Hiến pháp không xây dựng bởi những góp ý, “gợi ý”, bình luận của nhóm này, bloger kia, nhà khoa học khác. Bởi vậy, những tuyên bố, của nhóm này, cá nhân kia đối với Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 là không có giá trị về mặt chính trị, pháp lý và đạo lý.

Trong bài viết Đào Tăng Dực còn đưa ra các tiêu chuẩn mới về luật hiến pháp nhằm áp dụng cho Việt Nam, trong đó có tiêu chuẩn đòi “đa nguyên chính trị và thể chế đa đảng”, đồng thời phê phán Điều 4 Hiến pháp năm 2013 vi phạm tiêu chuẩn đa nguyên đa đảng. Đây là một phán xét sằng bậy, vô căn cứ, mục đích cuối cùng là nhằm xóa bỏ Điều 4 khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, và hướng lái chúng ta xây dựng nhà nước ta theo chế độ cộng hòa tổng thống với thể chế tam quyền phân lập… Đây là điều mà chúng ta không thể chấp nhận.

Trong Điều 4 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi như sau: “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Về mặt chính trị, những nội dung trong Điều 4 Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa nhận thức về vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Về mặt xã hội, nội dung này “làm rõ hơn bản chất, vai trò và trách nhiệm của Ðảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, cụ thể:

Một là, tiếp tục khẳng định sứ mệnh lịch sử và vị thế lãnh đạo nhà nước và xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hai là, luôn khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân mà còn là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam; khẳng định sự thừa nhận của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời đặt Đảng ở vị trí phải phấn đấu, nỗ lực nhiều hơn nữa để xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân.

Do vậy, chúng ta không cho phép Đào Tăng Dực hay bất cứ tổ chức, cá nhân nào xuyên tạc, cản trở việc thực hiện hoặc thoái thác trách nhiệm tuân thủ Hiến pháp. Mọi người cần tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc giá trị Hiến Pháp năm 2013 của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân trong mọi tình huống./.

 

LOA MÓP VOA LẠI “GÀO THUÊ”, “KHÓC MƯỚN”!

Chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã kết thúc tốt đẹp, đây là một dấu mốc lịch sử mới, đưa quan hệ giữa hai Đảng, hai nước lên tầm cao mới, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích chung của nhân dân hai nước, vì hòa bình, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới. Một trong những kết quả đó là “hai bên nhất trí xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, nỗ lực vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và pháp luật quốc tế, trên nguyên tắc tôn trọng với nhau, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, kiên trì giải quyết bất đồng thông qua biện pháp hòa bình”.

Đi ngược với lợi ích quốc gia, dân tộc, các kênh truyền thông, trang mạng xã hội thiếu thiện chí với Việt Nam, cùng các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tìm mọi cách xuyên tạc về công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta. Điển hình, trang “Votiengviet” tán phát bài: “Tập Cận Bình ở Hà Nội: Hai bên nhất trí về ‘cộng đồng chia sẻ tương lai’; giới bất đồng phản đối”. Trong bài viết, cái loa móp VOA lại cố tình “gào thuê”, “khóc mướn” cho những kẻ phản động, chống cộng cực đoan như JB Nguyễn Hữu Vinh, Lê Hồng Hiệp và một số Bloger, Facebooker tự xưng là nhà “hoạt động dân chủ”, nhà “báo tự do”, “chuyên gia về các vấn đề chính trị và chiến lược của Việt Nam”. VOA dễ dãi trích dẫn, đăng những nhận định võ đoán, vô căn cứ cùng với lời bình luận tiêu cực về công tác đối ngoại của Việt Nam nói chung và chuyến thăm cấp cao Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình nói riêng. VOA trích lời JB Nguyễn Hữu Vinh: “tôi phản đối rước giặc vào nhà”, “tôi tỏ thái độ bất bình về chuyện rước giặc vào nhà”, “đường lối ngoại giao cây tre” của Việt Nam là “thực dụng nhưng không khôn ngoan”, rồi lớn tiếng “cảnh báo” về “bẫy nợ” của Trung Quốc. Hay trích lời Lê Hồng Hiệp: “Sự mất lòng tin của người dân Việt Nam đối với Trung Quốc ngày càng sâu sắc”, “người dân Việt Nam chấp nhận “chung vận mệnh” với Trung Quốc là rất ít hoặc không có”.

Vậy, VOA có biết JB Nguyễn Hữu Vinh, Lê Hồng Hiệp là ai? Chúng đang ở đâu, cơ sở nào mà biết người dân Việt Nam phản đối và mất lòng tin vào đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước? Chúng đã đóng góp, cống hiến gì cho đất nước Việt Nam hay chỉ là những kẻ phản động, chống phá? Chúng coi đất nước Việt Nam là “nhà mình” thì tại sao lại “ném đá”, “bôi nhọ” nhà mình và hành xử theo kiểu “cắn càn” như thế? Từ lâu, ai cũng biết rõ: Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), nhất là kênh Tiếng Việt luôn nhân danh tự do báo chí, tự do ngôn luận để vi phạm một cách trắng trợn, xuyên tạc, bịa đặt, bình luận tiêu cực, truyền bá luận điệu vu cáo, vu khống và tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động chống phá Việt Nam. Mặc dù là kênh truyền thông nhưng VOA không hề dựa trên nguyên tắc cơ bản nhất của báo chí là sự thật, nhất là việc tôn trọng sự thật khách quan một cách tuyệt đối, toàn vẹn. Rõ ràng, sự thật ẩn giấu đằng sau những nội dung, ngôn từ giật gân, câu khách, gây sự chú ý của VOA là những thủ pháp ẩn chứa thông điệp kích động, chống phá, hằn học, gièm pha,… hết sức phi lý nhằm chống phá Việt Nam, nhất là đường lối ngoại giao của Đảng, Nhà nước ta. Việc đồng loã, cổ suý, tâng bốc những kẻ vi phạm pháp luật, phản quốc hại dân vốn không phải là trò gì mới mẻ mà chỉ là “bổn cũ soạn lại” của các thế lực xấu. Sự lặp đi lặp lại chiêu bài này phơi bày bản chất, tâm địa của các cá nhân, tổ chức luôn lớn tiếng rêu rao các mỹ từ “dân chủ”, “nhân quyền” thực chất như thế nào, đồng thời cũng cho thấy sự yếu thế, “gà què ăn quẩn” của những kẻ chống phá.

Những kiểu lợi dụng truyền thông, nhân danh tự do ngôn luận, tự do báo chí một cách trắng trợn, tinh vi, có hệ thống như VOA cần phải bị phê phán thích đáng, bất kể chúng ở đâu, nói về vấn đề gì đi chăng nữa. Chỉ một lẽ đơn giản, sự thật cần phải được đề cao, bảo đảm và tôn trọng một cách trọn vẹn. Kết quả, thành tựu đường lối ngoại giao đúng đắn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là thực tiễn sinh động và minh chứng hùng hồn bác bỏ luận điệu xấu xa của VOA và các thế lực thù địch phản động. Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam cần hết sức cảnh giác, tỉnh táo không bị “mắc bẫy truyền thông” mà VOA giăng ra để không loan tin không công cho chúng. Đồng thời kiên quyết đấu tranh vạch trần mọi mưu mô, thủ đoạn của VOA, bởi đây là địa chỉ đội lốt truyền thông, sẵn sàng tung tin giả, tin vịt và không đáng tin cậy./.

 

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN QUAN HỆ ĐỐI TÁC HỢP TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, hai nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo; quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, Trung Quốc-Việt Nam là ưu tiên trong quan hệ đối ngoại của mỗi nước. Trong những năm qua, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc không ngừng được củng cố, phát triển, vì lợi ích của mỗi nước và đóng góp tích cực cho hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển của khu vực và thế giới.

Vậy mà, nhân chuyến thăm Việt Nam từ ngày 12 đến 13-12-2023 của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động ra sức xuyên tạc, phá hoại mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống đang diễn ra rất tốt đẹp giữa hai Đảng, hai Nhà nước và Nhân dân hai nước Việt Nam – Trung Quốc. Trên trang “Baotiengdan”, kẻ tự xưng Trương Nhân Tuấn đã đưa ra những luận điệu hết sức phản động, như: “Việt Nam tự nguyện rập khuôn Trung Quốc; Việt Nam là một mô hình thu nhỏ của Trung Quốc”Trương Nhân Tuấn còn rất hỗn xược khi cho rằng: “Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc; Việt Nam là một “chư hầu” thời hiện đại của Trung Quốc”. Thực chất, đây là những luận điệu hoàn toàn sai sự thật, cố ý kích động hòng gây ra sự hoài nghi và hoang mang trong dư luận xã hội, hạ thấp vai trò của Việt Nam trong mối quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam với Trung Quốc; kích động, lôi kéo những người thiếu hiểu biết và các phần tử bất mãn chống phá Đảng và Nhà nước ta. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần tỉnh táo và cảnh giác để không bị mắc mưu của kẻ xấu.

Như chúng ta đã biết, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là quốc gia đầu tiên trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 18/01/1950; năm 1999, hai nước ký Hiệp ước biên giới trên đất liền và xác định khuôn khổ quan hệ: Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai; năm 2000, hai nước ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ; năm 2004, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam; năm 2005, xác định mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc là: Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt; năm 2008, hoàn thành toàn bộ công tác phân giới cắm mốc và thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc; năm 2009, ký kết 3 văn kiện về quản lý đường biên giới trên đất liền; năm 2011, ký kết Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển; năm 2016, Việt Nam là thị trường xuất khẩu lớn thứ 6 của Trung Quốc, đối tác thương mại lớn nhất trong ASEAN; năm 2017, ký Bản ghi nhớ hợp tác về kết nối giữa khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai” với sáng kiến “Vành đai và con đường”.

Kể từ khi Việt Nam với Trung Quốc thiết lập quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện đến nay, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã thăm chính thức Việt Nam ba lần, vào tháng 11-2015; tháng 11-2017; tháng 12-2023. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thăm chính thức Trung Quốc hai lần vào các năm 2015 và 2022. Quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước phát triển ngày càng thực chất, vững chắc và toàn diện trên mọi lĩnh vực; hiểu biết và tin cậy chính trị giữa hai Đảng, hai Nhà nước được nâng cao; quan hệ thương mại song phương giữa hai nước phát triển vượt bậc: Năm 2008 đạt khoảng 20 tý USD; năm 2022 đạt gần 180 tỷ USD, gấp khoảng 9 lần. Hợp tác quốc phòng trở thành một trụ cột trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong khuôn khổ chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình, hai bên đã ra Tuyên bố chung và ký kết 36 văn kiện hợp tác, bao gồm: 3 văn kiện hợp tác giữa các ban của hai Đảng; 5 văn kiện hợp tác trong lĩnh vực ngoại giao – quốc phòng – an ninh – tư pháp; 28 văn kiện hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học, môi trường.

Những kết quả, thành công rất tốt đẹp của hoạt động đối ngoại, ngoại giao của Việt Nam trong những năm qua, đóng góp rất quan trọng vào khẳng định: Cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước ta chưa bao giờ có được như ngày hôm nay. Đó cũng là sự khẳng định đường lối đối ngoại, ngoại giao độc lập, tự chủ, đúng đắn của Đảng, Nhà nước, trường phái đối ngoại, ngoại giao “cây tre Việt Nam”; trong đó, những kết quả nổi bật trong quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc là không thể phủ nhận; sự thật như đã nêu ở trên là bằng chứng đanh thép, bác bỏ hoàn toàn những luận điệu sai trái, xuyên tạc, chống phá của các phần tử phản động như Trương Nhân Tuấn. Tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần đề cao cảnh giác cách mạng, đoàn kết một lòng, nỗ lực thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động như Trương Nhân Tuấn, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống bình yên của nhân dân ta./.

Phát triển kinh tế – xã hội nâng tầm vị thế quốc tế của Việt Nam

Thời gian gần đây, chuyến thăm chính thức cấp Nhà nước Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đến Việt Nam đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của truyền thông quốc tế và trong nước. Bên cạnh những đánh giá khách quan, ghi nhận trung thực, khẳng định vị trí, ý nghĩa đặc biệt quan trong của sự kiện này, tạo dấu ấn lịch sử trong quan hệ ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc, thì vẫn có những luận điệu xuyên tạc, những góc nhìn lệch lạc, bôi nhọ tình hình đất nước, nói xấu Đảng, Nhà nước, kích động dư luận nhằm phá hoại mối quan hệ truyền thống tốt đẹp giữa hai quốc gia, hai dân tộc. Trên nhiều diễn đàn phản động, các bài viết về chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình xuất hiện với tần suất dày đặc, tựa “nấm sau mưa”. Nguy hiểm hơn, còn có nhiều videoclip được phát tán trên các nền tảng mạng xã hội như: Youtube, facebook, twiter… với nội dung xuyên tạc, phản ánh sai bản chất của sự kiện này. Luận điệu xuyên tạc được chúng đề cập đến nhiều nhất là: Việt Nam đang thể hiện thế yếu trước Trung Quốc..; Việt Nam đang là một đất nước gia công lắp ráp, không phát triển được công nghệ sản xuất cho riêng mình … nên phải dựa vào lời hứa hẹn của Tập Cận Bình để hồi sinh… Do đó, chúng ta cần nêu cao cảnh giác, nhận diện và đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc này trên một số vấn đề sau:

Thứ nhất, sự phát triển kinh tế – xã hội nâng tầm vị thế đất nước ta hiện nay là hiện thực không thể phủ nhận. Việt Nam chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đó là hiện thực khách quan không gì có thể phủ nhận được. Thành quả này có được là từ sự gắn kết, đồng thuận giữa “ý Đảng” với “lòng dân”. Sau hơn 37 năm đổi mới, đến năm 2022, quy mô GDP Việt Nam đạt khoảng 406,45 tỷ USD, tăng khoảng 50 lần, đứng thứ 37 thế giới và thứ 5 trong khu vực ASEAN. Giai đoạn 1986 – 2022, Việt Nam lọt top 5 nước có quy mô kinh tế tăng nhiều nhất thế giới. Bên cạnh những con số thống kê “biết nói”, nhìn thẳng vào hiện thực đời sống kinh tế – xã hội có thể nhận rõ, chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của người Việt được nâng lên từng ngày. Số người giàu ở Việt Nam được xếp hạng thế giới ngày càng nhiều, tầng lớp trung lưu gia tăng nhanh trong xã hội; nạn đói nghèo, mù chữ cơ bản được xóa bỏ. Về công nghệ, người Việt Nam đã và đang từng bước vươn lên làm chủ các công nghệ lõi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Từ tháng 11/2020, ba nhà mạng lớn Viettel, MobiFone và VinaPhone đã lần lượt công bố kế hoạch thử nghiệm và triển khai mạng 5G tại Việt Nam, và đã từng bước thương mại hóa công nghệ này. Đây là bước tiến nhanh so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, là các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), chuỗi khối (Blockchain, học máy (Machine Learning) được tiếp nhận và phát triển bởi người Việt đã góp phần tạo nên hệ sinh thái số quan trọng để Việt Nam phát triển mạnh mẽ kinh tế số, xã hội số… Những thành tựu đó của Việt Nam được các quốc gia, các định chế tài chính lớn trên thế giới thừa nhận, tôn vinh. Việt Nam đang tự lực, tự cường để “chuyển mình” mạnh mẽ, không phải dựa dẫm vào bất kỳ một “liều thuốc thần kỳ” từ bên ngoài như luận điệu xuyên tạc của những kẻ chống đối. Những kẻ cố tình “nhắm mắt, bịt tai”, muốn xuyên tạc tình hình đất nước vì những mưu lợi cá nhân thấp hèn đã tự đặt mình ra khỏi cộng đồng người Việt, hoàn toàn không xứng đáng là người Việt Nam, đáng bị lên án và tẩy chay.

Thứ hai, vị thế, uy tín quốc tế ngày càng lớn là cơ sở để Việt Nam tăng cường mối quan hệ ngoại giao “khác về chất” với các cường quốc trên thế giới, trong đó có Trung Quốc. Chưa bao giờ tiếng nói của Việt Nam lại có trọng lượng lớn trên các diễn đàn chính trị thế giới như hiện nay. Cho đến nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 193 nước, trong đó có tất cả các nước lớn, có giao lưu kinh tế với hơn 230 nước và vùng lãnh thổ, là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, WTO và hàng loạt các tổ chức chuyên môn trên mọi lĩnh vực. Tiếng nói của Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng, được các cường quốc lắng nghe, ghi nhận trong giải quyết các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội trên thế giới. Bạn bè quốc tế đánh giá cao về nỗ lực, thành tựu cũng như tiềm năng phát triển và đóng góp tích cực của Việt Nam trong các hoạt động đa phương. Việt Nam được xem là một tấm gương của các nước đang phát triển, luôn ủng hộ chủ nghĩa đa phương, đề cao vai trò của Liên hợp quốc, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, vận dụng tốt chiến lược mở cửa, thúc đẩy thương mại, đầu tư làm động lực cho tăng trưởng, phát triển kinh tế – xã hội. Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình một lần nữa, là minh chứng rõ nét cho vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam. Đây là hành động thiết thực để tiếp tục nâng tầm quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc. Giáo sư Shen Yi, tại Đại học Phúc Đán (Trung Quốc) cho rằng chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình là sự phản ánh: “Trung Quốc coi trọng các nước láng giềng và những nước đáp lại thiện chí đối với nguyên tắc của Trung Quốc về sự thân thiện, chân thành, cùng có lợi và bao trùm trong quan hệ với các nước láng giềng”. Những kẻ luôn muốn “bới lông tìm vết”, muốn lợi dụng mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc để phá hoại đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hoá, cản trở sự phát triển của Việt Nam chắc hẳn không thể nhận ra hiện thực khách quan đó. Tất cả những điệu điệu xuyên tạc dù nham hiểm, thâm độc đến đâu cũng không thể phủ nhận được thành tựu phát triển kinh tế – xã hội nâng tầm vị thế quốc tế của Việt Nam, không thể phá hoại được quan hệ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, trên tinh thần “4 tốt”: láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt của Việt Nam và Trung Quốc.

Tóm lại, chuyến thăm chính thức cấp Nhà nước Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình một lần nữa minh chứng cho cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam. Đồng thời, là bằng chứng đanh thép, đáp trả thích đáng những luận điệu của các thế lực thù địch muốn xuyên tạc tình hình đất nước, phủ nhận thành tựu phát triển kinh tế – xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản của dân tộc Việt Nam./.

 

NGOẠI GIAO CÂY TRE LÀ BẢN LĨNH CỦA VIỆT NAM

Gần đây, trên nhiều diễn đàn phản động đã đồng loạt phát tán bài viết “Nhân chuyến công du của Tập Cận Bình, đánh giá sách lược ngoại giao cây tre của CSVN” của Đào Tăng Dực. Với nhận thức thiển cận và góc nhìn lệch lạc, người viết đã cố tình xuyên tạc đường lối ngoại giao của Đảng, Nhà nước ta; bôi nhọ quan hệ đoàn kết hữu nghị của hai Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam – Trung Quốc.

Chúng ta đều biết rằng, cây tre là hình ảnh biểu tượng cho lịch sử, văn hóa và tính cách và bản lĩnh của người Việt. Tre có thể sinh trưởng, tồn tại một cách dẻo dai, kiên cường ở những vùng đất khô cằn, luôn vững vàng trong gió bão, thiên tai. Tre sống thành bụi, thành lũy, đan cài, bấu víu vào nhau để tồn tại, tre già thì măng mọc, không bao giờ tàn lụi. Giống như người Việt Nam, dù luôn phải sống trong cảnh “sáng chắn bão dông, chiều ngăn nắng lửa”, “ngăn bước quân thù phía Nam, phía Bắc” nhưng không bao giờ thui chột ý chí tự lực, tự cường, luôn đoàn kết một lòng, “mang sức ta để giải phóng cho ta”. Cây tre đã bao bọc, chở che, cùng người dân Việt Nam vượt qua nhiều cơn hoạn nạn. Tre đi vào cuộc sống, lịch sử, văn hóa và tâm hồn người Việt. Ông cha ta thường nhắc nhở cháu con, trong mọi mối quan hệ phải luôn nhớ câu “lạt mềm buộc chặt”, nếu “già néo” sẽ “đứt dây”. Mang hình ảnh cây tre, văn hóa cây tre xâm nhập vào một lĩnh vực đặc thù – ngoại giao để giải quyết thỏa đáng, khéo léo các mối quan hệ đa dạng, phức tạp từ bên ngoài là sự sáng tạo của Đảng, Nhà nước và những nhà ngoại giao Việt Nam. Đây cũng là sự bổ sung quan trọng của Việt Nam vào kho tàng lý luận và thực tiễn hoạt động ngoại giao thế giới, được nhiều quốc gia trân trọng, noi theo. Với đường lối ngoại giao khéo léo, mềm mỏng nhưng luôn kiên định, vững vàng, Việt Nam luôn khẳng định được bản lĩnh, giữ được nét riêng, không bị “hòa tan” trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập.

Thực tế, với đường lối ngoại giao đúng đắn, Việt Nam luôn kiên cường, hiên ngang khẳng định vị thế và uy tín trên trường quốc tế, bất chấp thời cuộc đang có những diễn biến phức tạp, khó lường. Ngoại giao cây tre không chỉ giúp Việt Nam xử lý mềm dẻo, hiệu quả các mối quan hệ, mà qua đó còn truyền đạt một thông điệp Việt Nam luôn muốn đoàn kết, gắn bó chặt chẽ, đan cài lợi ích, cùng có lợi với các quốc gia trên thế giới, không phân biệt thể chế chính trị. Trong thế giới ngày nay, không một quốc gia nào có thể “đứng một mình”, mà luôn phải dựa vào nhau, đan cài xen kẽ các lợi ích, giống như loài tre luôn mọc sát bên nhau, dựa vào nhau để tạo nên thành lũy. Đường lối ngoại giao cây tre đã giúp Việt Nam vững vàng vượt qua những khó khăn chồng chất do hậu quả chiến tranh và bao vây cấm vận; tranh thủ được sự giúp đỡ chân tình của các quốc gia trên thế giới, thu hút được nguồn ngoại lực cho công cuộc tái thiết và phát triển đất nước. Qua 38 năm đổi mới, Việt Nam được các cường quốc hàng đầu thế giới tôn trọng, đánh giá cao, thể hiện bằng những chuyến công du của các nhà lãnh đạo cấp cao, bằng các hiệp định đối tác chiến lược toàn diện. Các nước đang phát triển, chậm phát triển thì ngưỡng mộ Việt Nam, từ lịch sử dựng nước, giữ nước đến thành tựu của công cuộc đổi mới. Không mềm mỏng, khéo léo trong đối ngoại liệu Việt Nam có được những thành tựu vĩ đại đó?!

Hiện nay, ngoại giao cây tre còn mang hình ảnh Việt Nam lan tỏa trong tâm hồn của tất cả những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Việt Nam – Cờ đỏ sao vàng – Hồ Chí Minh – Võ Nguyên Giáp là những ngôn từ, biểu tượng in đậm trong tâm hồn bè bạn bè quốc tế. Ở những vùng xa xôi, kém phát triển của thế giới, hình ảnh Việt Nam là nguồn động lực, cổ vũ người dân các quốc gia vươn lên, phấn đấu vì một cuộc sống tự do, hạnh phúc. Tất cả đều khẳng định chung một điều, ngoại giao cây tre là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của Việt Nam mà không luận điệu nào có thể phủ nhận được.

Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình – một lần nữa là minh chứng hùng hồn cho tính ưu việt của đường lối ngoại giao cây tre Việt Nam. Việt Nam – Trung Quốc là láng giềng, hữu nghị, núi liền núi, sông liền sông, có nhiều nét tương đồng về lịch sử, văn hóa. Trung Quốc hiện là một cường quốc hàng đầu, có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia. Nhiều quốc gia sẵn sàng chào đón nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc tới thăm để mở ra cơ hội nâng tầm ngoại giao với họ. Nhưng, lựa chọn thuộc về Trung Quốc. Với vị thế và uy tín của Việt Nam hiện nay, nhà lãnh đạo cao nhất Trung Quốc đến thăm là thể hiện rõ sự trân trọng và mong muốn nâng tầm ngoại giao, mở ra một định vị mới trong quan hệ giữa hai Đảng, hai nước Trung Quốc và Việt Nam không chỉ phù hợp với lợi ích chung của hai Đảng, hai chính phủ và nhân dân hai nước, mà còn đóng góp cho hòa bình, phát triển của khu vực và trên thế giới. Ngoại giao cây tre rõ ràng đã tạo cho Việt Nam một bản lĩnh mới, một uy tín, vị thế mới mà không quốc gia nào có được.

Chỉ những kẻ thiển cận, thiếu hiểu biết về văn hóa, lịch sử dân tộc, mù mờ trong nhận thức thời cuộc như Đào Tăng Dực mới có thể thốt lên những lời xàm bậy: “ngoại giao cây tre Việt Nam là gió chiều nào nghiêng chiều đó”. Thành tựu phát triển đất nước, uy tín, vị thế quốc tế của Việt Nam là hiện thực khách quan không thể phủ nhận, là minh chứng rõ nét cho tính đúng đắn, khoa học, hợp thời của đường lối ngoại giao cây tre Việt Nam. Đây cũng là bằng chứng phản biện sâu sắc nhất trước những luận điệu xuyên tạc của Đào Tăng Dực và các phần tử chống đối, thù địch./.

 

 TINH THẦN THÂN THIỆN HIẾU KHÁCH CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

Gần đây, sự xuất hiện bài viết “Mười lý do nhân dân Việt Nam không chào đón Tập Cận Bình” của Trần Trung Đạo trên các diễn đàn phản động đã gây bức xúc trong dư luận xã hội. Nội dung bài viết xuyên tạc sự thật, phủ nhận ý nghĩa chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình; đồng thời trà đạp lên tinh thần thân thiện, hiếu khách của người dân Việt Nam. Từ góc nhìn lệch lạc mang theo mưu đồ không trong sáng, y lớn tiếng cho rằng nhân dân Việt Nam dứt khoát không có lý do gì để chào đón Tập Cận Bình. Tuy nhiên, những gì đã diễn ra xung quanh chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình lại chứng minh điều ngược lại. Người dân Việt Nam chào đón nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc bằng tất cả tình cảm thân thiện, sự chân thành và tinh thần hiếu khách vốn có của mình.

Hiếu khách là truyền thống tốt đẹp bao đời nay của dân tộc ta và cũng là một trong những giá trị cốt lõi để thu hút du khách đến Việt Nam. Với vị trí địa chính trị có tầm quan trọng đặc biệt, trải qua chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn phải đương đầu với thiên tai, địch họa. Để trường tồn và phát triển cha ông ta đã xây dựng, vun đắp nên tinh thần thân thiện, hiếu khách. Thân thiện, hiếu khách để thêm bạn, bớt thù, là kế sách giữ nước vững bền mà cha ông truyền lại. Trong thời đại ngày nay, tinh thần ấy vẫn được phát huy mạnh mẽ, cao độ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trở thành thế mạnh của Việt Nam trong thu hút đầu tư và khách du lịch nước ngoài. Sự thân thiện, hiếu khách của nhân dân ta không chỉ để lại ấn tượng sâu sắc đối với du khách quốc tế, mà còn đối với chính khách của các quốc gia khi đến thăm Việt Nam. Tác giả Matthew Pike của trang The Culture Trip (chuyên trang du lịch uy tín thế giới) rất ấn tượng về lòng hiếu khách của người Việt Nam. Anh viết: “Không có gì lạ khi các nhóm khách du lịch được người Việt mời vào nhà ăn cơm. Khi người Việt có sự kiện để ăn mừng, họ thường làm những mâm tiệc to và rất ngon miệng – những bữa tiệc có thể kéo dài đến tận đêm khuya”. Sự thân thiện, lòng hiếu khách của người dân là điều lôi cuốn tác giả này, cũng như nhiều du khách quốc tế trở lại Việt Nam. Chủ tịch Thượng viện Bỉ – bà Stephanie D’Hose trong chuyến công du đến Việt Nam (tháng 8/2023) đã chia sẻ “Người dân Việt Nam có lẽ là những người hiếu khách và thân thiện nhất trên thế giới”. Sau chuyến thăm này, bà cho biết sẽ có nhiều phái đoàn từ Bỉ tới thăm, với mong muốn thúc đẩy quan hệ hợp tác, đầu tư với Việt Nam. Đây là hai trong nhiều câu chuyện thể hiện rõ nét tinh thần thân thiện, hiếu khách của người Việt. Rõ ràng là, với một du khách bình thường hay một chính khách đại diện cho các quốc gia, khi đến với Việt Nam, đều được người dân chào đón nồng nhiệt, chân thành. Vậy cớ gì để Trần Trung Đạo nói người dân Việt Nam không chào đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình. Phải chăng y muốn tách ra khỏi cộng đồng người Việt nên đã cố tình xuyên tạc, bôi đen truyền thống thân thiện, hiếu khách của dân tộc!?

Trên thực tế, việc chào đón nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc đến thăm đã được Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương ở Hà Nội chuẩn bị chu đáo, trọng thị. Cảnh quan đường phố được chỉnh trang sáng – xanh – sạch – đẹp. Trong ngày đón tiếp, phía ngoài khu vực sân bay Nội Bài, đông đảo quần chúng nhân dân Việt Nam và cán bộ, người lao động, lưu học sinh Trung Quốc tại Việt Nam vẫy cờ hai nước, cùng các băng rôn khẩu hiệu “Nhiệt liệt chào mừng Tổng Bí thư Tập Cận Bình, Chủ tịch nước Tập Cận Bình và Phu nhân đến thăm Việt Nam”, “Tình hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc mãi mãi trường tồn”… Lễ đón trọng thể Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và Phu nhân được tổ chức theo nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia, do Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và phu nhân chủ trì. Tham dự còn có các nhà lãnh đạo cấp cao của Nhà nước, Chính phủ Việt Nam. 21 phát súng đại bác được bắn để chào mừng. Sự trân trọng, hiếu khách của người dân Việt Nam còn được thể hiện tại tiệc trà thân mật giữa những nhà lãnh đạo cấp cao, trong các hoạt động đối thoại giao lưu giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc với nhân sĩ hữu nghị và thế hệ trẻ Việt Nam. Những hoạt động này được truyền thông trong và ngoài nước thường xuyên cập nhật, đưa tin rộng rãi. Không có một biểu hiện nào về cái gọi là nhân dân Việt Nam không chào đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình như lời Trần Trung Đạo rêu rao.

Sự thật hiển nhiên mà không chịu thừa nhận, vẫn cố chấp xuyên tạc bằng nhiều luận điệu xảo trá đã vạch trần bản chất đen tối trong con người của Trần Trung Đạo. Cố tình vin vào các sự kiện đã xảy ra trong lịch sử, những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc để kích động dư luận là mưu đồ nham hiểm của y, hòng tiếp tay, “nối giáo” cho các thế lực thù địch tiến hành những âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam. Hành động đó, rõ ràng đã đi ngược lợi ích quốc gia, dân tộc, cần lên án và nghiêm trị.

 

Đưa Nghị quyết Hội nghị TW8 khóa XIII vào cuộc sống – Đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn mới

Chính sách xã hội ở Việt Nam là hệ thống chính sách chăm lo cho con người, vì con người, nhằm mục tiêu khơi dậy và phát huy động lực, nguồn lực để phát triển bền vững đất nước. Chăm lo thực hiện tốt chính sách xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn xã hội, thể hiện đặc trưng, bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến việc thực hiện chính sách xã hội. Đại hội lần thứ VI của Đảng xác định thực hiện chính sách xã hội nhằm: “Tạo cơ sở phát triển sức sản xuất, tăng thêm thu nhập quốc dân, từng bước mở rộng quỹ tiêu dùng xã hội, làm cho nó giữ vị trí ngày càng lớn trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa và các sự nghiệp phúc lợi khác”. Kế thừa, phát triển tinh thần đó, trải qua các kỳ đại hội và trong nhiều văn kiện của Trung ương, Đảng ta đều nhất quán khẳng định đẩy mạnh việc hoàn thiện các chính sách xã hội, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; gắn kết chặt chẽ giữa chính sách kinh tế với đảm bảo phúc lợi xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, để nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới.

Qua gần 40 năm đổi mới, đặc biệt là hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020, việc thực hiện chính sách xã hội ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, thể hiện ngày càng rõ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Kinh tế, xã hội phát triển toàn diện và hài hoà hơn, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, chính sách xã hội ở nước ta vẫn còn một số hạn chế, tồn tại, chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 Hội nghị lần thứ 8 BCH TW Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới nhận định: Kết quả giảm nghèo có nơi, có lúc chưa vững chắc, đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn, các dịch vụ xã hội cơ bản chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân… Thời gian tới, trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng hội nhập, thực hiện chuyển đổi số toàn diện nhằm xây dựng nền kinh tế số, chính phủ số và xã hội số, việc thực hiện chính sách xã hội cần có sự đổi mới toàn diện, đồng bộ.

Để hiện thực hóa mục tiêu: “Xây dựng hệ thống chính sách xã hội theo hướng bền vững, tiến bộ và công bằng, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, góp phần cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” mà Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 Hội nghị lần thứ 8 BCH TW Đảng khóa XIII đã xác định, cần triển khai tốt một số nội dung giải pháp sau:

Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò của chính sách xã hội trong bối cảnh phát triển mới của đất nước. Khẳng định, chính sách xã hội ở Việt Nam là dựa trên quyền con người, vì con người, lấy con người làm trung tâm, là chủ thể; phát huy những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, tạo động lực góp phần phát triển đất nước. Đổi mới, nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện chính sách xã hội là hoạt động tất yếu bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hai là, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực để thực hiện đồng bộ các chính sách xã hội. Phương châm là linh hoạt, hiệu quả, trong đó nguồn lực nhà nước giữ vai trò chủ đạo, đồng thời huy động hợp lý nguồn lực xã hội và hợp tác quốc tế. Tăng cường xã hội hoá, hợp tác công – tư trong huy động các nguồn lực cho thực hiện các chính sách xã hội.

Ba là, rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về chính sách xã hội, bảo đảm khả thi, phù hợp, nhất quán, đồng bộ, bám sát thực tiễn phát triển của đất nước, tham khảo và áp dụng một cách khoa học hệ thống tiêu chuẩn của quốc tế và khu vực. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác quản lý nhà nước về chính sách xã hội; từng bước áp dụng mã số an sinh xã hội cho người dân trên cơ sở hệ hống cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành liên quan đến chính sách xã hội.

Bốn là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đi đôi với phát triển, hoàn thiện thị trường lao động theo hướng hiện đại, hội nhập. Từ đó, tạo nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp và nguy cơ tái nghèo cho người dân. Vận dụng linh hoạt các chính sách tín dụng chính sách xã hội nhằm hỗ trợ vốn vay tạo việc làm, sinh kế cho người dân, nhất là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn. Thúc đẩy thực hiện chính sách việc làm công, nhất là trong điều kiện nền kinh tế gặp khó khăn, người lao động mất việc làm, thiếu việc làm.

Năm là, phát huy cao độ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức hội quần chúng trong việc giải quyết tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; nâng cao chất lượng hoạt động giám sát và phản biện xã hội; tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận của hội viên, đoàn viên và Nhân dân trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phối hợp vận động nguồn lực, khuyến khích tổ chức, cá nhân phát triển các loại hình cung cấp dịch vụ xã hội và tích cực tham gia thực hiện chính sách xã hội.

Trước yêu cầu phát triển của đất nước, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính sách xã hội ở nước ta là yêu cầu cấp thiết. Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp cần quán triệt sâu sắc, đầy đủ nội dung Nghị quyết số 42-NQ/TW của Trung ương; có kế hoạch triển khai đồng bộ, sát thực tiễn địa phương, đơn vị. Đồng thời, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia và giám sát thực hiện Nghị quyết. Từ đó, làm cho Nghị quyết thực sự đi sâu vào cuộc sống, làm thay đổi căn bản, toàn diện hệ thống chính sách xã hội “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” ở Việt Nam trong giai đoạn mới.

                Chính sách xã hội vì hạnh phúc của Nhân dân

Thời gian vừa qua, lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong thực hiện chính sách xã hội, các thế lực thù địch đã xuyên tạc rằng: dưới sự cai trị của cộng sản: Chính sách xã hội chỉ mang lại lợi ích cho bộ máy cầm quyền dẫn đến phân hoá giàu – nghèo trong xã hội ngày càng gia tăng; đời sống một bộ phận người dân, nhất là những người yếu thế trong xã hội không được quan tâm, đang bị bỏ rơi, bần cùng hoá. Thực tế, các thế lực thù địch đang cố tình xuyên tạc chính sách xã hội tốt đẹp của Đảng, Nhà nước ta.

1. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá XIII) “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”, khẳng định: Trong hơn 10 năm qua, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá XI) một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, thể hiện ngày càng rõ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao; người có hoàn cảnh khó khăn được hỗ trợ kịp thời. Các chính sách xã hội không ngừng được hoàn thiện theo hướng tiến bộ và công bằng, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Tuy nhiên, Đảng ta cũng thừa nhận: chính sách xã hội vẫn còn một số hạn chế, yếu kém, chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Kết quả giảm nghèo có nơi, có lúc chưa vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn cao, phân hoá giàu – nghèo có xu hướng gia tăng; đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn. Chính vì vậy, phải không ngừng nâng cao chất lượng chính sách xã hội trong thời kỳ mới.

2. Đảng ta khẳng định: Chính sách xã hội là chính sách chăm lo cho con người, vì con người, lấy con người làm trung tâm, là chủ thể, mục tiêu, động lực, nguồn lực để phát triển bền vững đất nước; là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn xã hội; thể hiện đặc trưng, bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa; tăng trưởng kinh tế gắn với bảo đảm chính sách xã hội; tạo điều kiện để Nhân dân được thụ hưởng thành quả của sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống. Vì vậy, đầu tư cho chính sách xã hội là đầu tư cho phát triển.

3, Mục tiêu, xây dựng hệ thống chính sách xã hội phải theo hướng toàn diện, bền vững, tiến bộ và công bằng, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội cho Nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển đất nước và xây dựng con người Việt Nam toàn diện. Phấn đấu Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có chỉ số phát triển con người (HDI) cao trên thế giới. Hoàn thiện chính sách an sinh xã hội đa dạng, đa tầng, toàn diện, hiện đại, bao trùm, bền vững; tạo cơ hội cho Nhân dân, nhất là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, người sống ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là về y tế, giáo dục, nhà ở, thông tin; người cao tuổi, hộ nghèo, cận nghèo được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định; bảo đảm mức sống tối thiểu cho người có hoàn cảnh khó khăn; trợ cấp xã hội cho hộ nghèo không có khả năng thoát nghèo; xoá bỏ hoàn toàn tình trạng nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu. Tiếp tục nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội theo hướng bảo đảm mức sống tối thiểu, sàn an sinh xã hội quốc gia; Nhà nước ưu tiên hỗ trợ cho người yếu thế. Phát triển mạng lưới dịch vụ trợ giúp xã hội đối với những người yếu thế; đẩy mạnh công tác phòng ngừa, phát hiện, can thiệp sớm, hỗ trợ kịp thời người yếu thế trong cuộc sống, góp phần xây dựng cộng đồng phát triển bền vững; hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng sinh kế, từng bước nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống lâu dài cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Có thể khẳng định, với những mục tiêu trên của chính sách xã hội, Đảng ta đã và đang làm tất cả vì hạnh phúc của nhân dân.

4. Để hiện thực hoá các mục tiêu trên, phải tiến hành đồng bộ các giải pháp. Trong đó, tập trung kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về chính sách xã hội từ Trung ương đến cơ sở; tăng cường vai trò giám sát của Nhân dân; kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm hành vi trục lợi chính sách xã hội, vi phạm pháp luật. Đồng thời, lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của Nhân dân làm tiêu chí để đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức liên quan đến thực hiện chính sách xã hội.

Việc các thế lực thù địch bôi nhọ, vu cáo, trắng trợn, xuyên tạc chính sách xã hội của Việt Nam, là đi ngược lại chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và lợi ích nguyện vọng, chính đáng của nhân dân ta. Do đó, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh vạch rõ bộ mặt phản động của chúng./.

 

                SỰ THẬT VỀ VỤ VIỆC VƯỜN RAU LỘC HƯNG

Thời gian qua, lợi dụng những bức xúc, những tồn tại trong giải quyết vấn đề thu hồi, giải phóng mặt bằng đất đai làm công trình phục vụ nhu cầu công cộng, phúc lợi xã hội, các thế lực thù địch đã tìm cách can thiệp, kích động, âm mưu biến vụ việc thành điểm nóng, khoét sâu mâu thuẫn giữa người dân với chính quyền. Vừa qua, trên Bloger của “Voatiengviet”, VOV có bài viết: “Vườn rau Lộc Hưng: Chính quyền đưa lực lượng đến rào đất cưỡng chế, dân phản đối”, cho rằng việc cưỡng chế, thu hồi đất ở khu vực vườn rau Lộc Hưng thuộc phường 6, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là trái pháp luật; người dân phải được đền bù theo giá cả thị trường chứ không phải hỗ trợ theo kiểu ‘tuỳ lòng hảo tâm” của Chính quyền. Thực tế, VOV đang cố tình không hiểu quy định của pháp luật về đất đai ở Việt Nam. Sự việc này chúng ta cần hiểu và thống nhất nhận thức là:

1. Uỷ ban nhân dân quận Tân Bình khẳng định, khu đất ở vườn rau Lộc Hưng thuộc phường 6, quận Tân Bình rộng 4,8 ha. Trước năm 1975, khu đất này thuộc Nha Viễn thông chính quyền Sài Gòn quản lý. Sau năm 1975, nhà nước giao cho Trung tâm Viễn thông 3 quản lý, làm đài phát tín. Đến 1991, khu đất được bàn giao cho Bưu điện Thành phố quản lý. Năm 2008, Uỷ ban nhân dân Thành phố quyết định thu hồi khu đất công trên, giao cho quận Tân Bình làm dự án công trình công cộng và chung cư phục vụ tái định cư. Sau đó, cơ quan chức năng điều chỉnh quy hoạch để xây trường học, phần còn lại sẽ làm đường, công viên. Ngày 5/8/2013, Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định cho phép Uỷ ban nhân dân quận Tân Bình tổ chức thực hiện việc hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, chuẩn bị đầu tư dự án xây dựng trường học công lập theo tiêu chuẩn quốc gia. Ngày 8/10/2018, Hội đồng nhân dân Thành phố cũng đã ban hành Nghị quyết 21/NQ-HĐND, quyết định chủ trương đầu tư các dự án đầu tư công trên địa bàn, trong đó có 3 dự án trường học và 1 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng tại khu đất trên. Như vậy, cần khẳng định rằng khu đất tại vườn rau Lộc Hưng thuộc phường 6 không được chính quyền các cấp giao cho người dân sử dụng. Vì vậy, không thể đền bù, mà chỉ được hỗ trợ theo quy định của Luật đất đai.

2. Theo Uỷ ban nhân dân quận Tân Bình, trong thời gian triển khai các thủ tục pháp lý cần thiết để thực hiện dự án thì nhiều hộ dân canh tác trồng rau tại khu đất trên đã tự ý tiến hành xây dựng nhà không phép với nhiều mục đích khác nhau như để ở, cho thuê phòng trọ, kinh doanh quán ăn… Mặc dù các cơ quan chức năng của quận và phường đã có nhiều giải pháp như: Ngăn chặn không cho chở vật liệu xây dựng, phát thông báo, phát loa tuyên truyền, vận động người dân chấp hành… nhưng vẫn không hiệu quả. Tình trạng xây dựng không phép tại khu vực này vẫn diễn ra nhiều năm nay. Không những vậy, tại đây còn phát sinh nhiều hệ lụy như lừa đảo mua bán nhà, đất trái phép; tệ nạn xã hội, mất mỹ quan đô thị… gây mất an ninh trật tự. Chính vì vậy, Uỷ ban nhân dân quận Tân Bình chỉ đạo Uỷ ban nhân dân phường 6 phối hợp với Đội Thanh tra địa bàn thuộc Sở Xây dựng tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, ban hành quyết định đình chỉ thi công, quyết định cưỡng chế tháo dỡ. Tuy nhiên, quá trình lực lượng chức năng thực hiện nhiệm vụ thì các cá nhân vi phạm đã có hành vi không hợp tác, cản trở và chống đối người thi hành công vụ. Do vậy, ngày 4/1/2019, Uỷ ban nhân dân quận Tân Bình tổ chức cưỡng chế với các trường hợp vi phạm để bảo đảm kỷ cương, phép nước. Như vậy, việc các hộ dân tự ý xây dựng nhà ở trên khu đất do nhà nước trực tiếp quản lý mà chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng là vi phạm pháp luật. Việc chính quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế, tháo dỡ đối với công trình xây dựng bất hợp pháp trên khu đất này là cần thiết và đúng pháp luật.

Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định, sẽ hỗ trợ theo chính sách đất nông nghiệp đối với các hộ dân có quá trình canh tác trên đất do Nhà nước quản lý theo quy định của Luật đất đai, đơn giá đất để tính hỗ trợ do Uỷ ban nhân dân thành phố phê duyệt. Tuy nhiên, khi giải tỏa nhiều người dân tự ý canh tác tại khu vườn rau Lộc Hưng khiếu nại, muốn nâng mức hỗ trợ nên dự án kéo dài. Cuối tháng 2/2022, Uỷ ban nhân dân Thành phố đã có quyết định bố trí vốn ngân sách để thực hiện dự án này. Trong 20 ngày, từ 11 đến 30/11/2023, Uỷ ban nhân dân quận Tân Bình đã niêm yết công khai phương án hỗ trợ. Hiện mức hỗ trợ cho người dân là 11.250.000 đồng/m2. Đã có 106 người làm thủ tục kê khai, hoàn chỉnh hồ sơ nhận hỗ trợ. Từ 5/12/2023, bắt đầu chi trả cho những trường hợp đồng thuận. Như vậy, việc Uỷ ban nhân dân quận Tân Bình thực hiện các thủ tục pháp lý để triển khai thực hiện dự án và hỗ trợ người dân là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Luật Đất đai quy định, người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại cho Nhà nước, cho người khác, ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật còn phải bồi thường theo mức thiệt hại thực tế cho Nhà nước hoặc cho người bị thiệt hại.

Việc các thế lực thù địch bôi nhọ, vu cáo, trắng trợn, xuyên tạc vụ việc ở vườn rau Lộc Hưng, là đi ngược lại chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và lợi ích nguyện vọng, chính đáng của nhân dân ta. Do đó, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh vạch rõ bộ phản động của chúng để nhân dân hiểu rõ và cảnh giác.

 

 

Luận điệu lợi dụng hành vi “lệch chuẩn” để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam cần được lên án

Dù hành vi “lệch chuẩn” phổ biến ở bất kỳ xã hội nào, kể cả nước chậm phát triển, đang phát triển và phát triển, thế nhưng với bản chất thù địch, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, những đối tượng cực đoan, suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” lại sẵn sàng xuyên tạc, bịa đặt.

Từ hành vi “lệch chuẩn” xảy ra do mâu thuẫn trong gia đình đến các hành vi tham nhũng, làm trái các quy định pháp luật của một bộ phận cán bộ, đảng viên đều bị chúng gán ghép, quy chụp là hiển nhiên của chế độ xã hội chủ nghĩa, là do “độc đảng toàn trị” sinh ra.

Trước các luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, trắng trợn đổi trắng thay đen đó, thứ nhất, mỗi chúng ta cần nêu cao cảnh giác, nhận biết rõ đúng, sai trên cơ sở hiểu rõ: Thế nào được gọi là hành vi “lệch chuẩn”? Hành vi “lệch chuẩn” tại sao lại có? Và hành vi “lệch chuẩn” có thực sự chỉ xảy ra ở Việt Nam?

Để trả lời các câu hỏi này, chúng ta cần biết rằng, mỗi quốc gia có các thang giá trị, chuẩn mực khác nhau, nên có cách đánh giá hành vi “lệch chuẩn” khác nhau, song nhìn chung, ở mỗi nước, hành vi “lệch chuẩn” được hiểu là hành vi sai lệch, không đúng với giá trị, chuẩn mực, quy tắc, quy ước xã hội; sai, trái với các quy định của pháp luật. Hành vi này được nảy sinh do mỗi cá nhân, nhóm, tổ chức, lực lượng xem nhẹ các giá trị, chuẩn mực xã hội, coi thường pháp luật; do thiết chế xã hội có những hạn chế trong điều chỉnh, hướng dẫn và kiểm soát hành vi con người; do sự vận động, biến đổi của kinh tế và các quan hệ xã hội.

Vì thế, hành vi “lệch chuẩn” được biết đến trên thế giới, kể cả các nước tư bản phát triển là hoạt động ngoài vòng pháp luật của các băng đảng tội phạm ở Italia, Nhật Bản, Mêxicô; các vụ cướp có vũ trang, xả súng vào phụ nữ, trẻ em, người vô tội ở Mỹ; các vụ án tham nhũng như: Thượng nghị sĩ Ron Calderon của tiểu bang California (Mỹ) nhận 400 năm tù vì “làm luật” để nhận hối lộ; cựu tổng thống Philippines Joseph Estrada nhận án tù chung thân vì tham nhũng.v.v..

Với Việt Nam, hành vi “lệch chuẩn” xảy ra trong gia đình như vụ việc ba người con gái đổ xăng đốt nhà mẹ ruột ở Hưng Yên; hay hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng, gian dối xảy ra ở Công ty Việt Á, Tập đoàn Tân Hoàng Minh, Tập đoàn FLC, Cục Lãnh sự/ Bộ Ngoại giao và một số vụ việc liên quan đến cán bộ cấp cao, sỹ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang, chủ yếu có nguyên nhân: Một mặt, do sự vận động, phát triển của kinh tế thị trường, xem nhẹ các giá trị, chuẩn mực xã hội, coi thường pháp luật của một số cá nhận, tổ chức; mặt khác, do tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên,… không tuân thủ các nguyên tắc của Đảng. Những hành vi “lệch chuẩn” này đã và đang bị xã hội lên án, được các cơ quan điều tra, xét xử nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.

Thứ hai, mỗi chúng ta cần phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, lợi dụng hành vi “lệch chuẩn” để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam của các thế lực thù địch, theo đó:

Chúng ta phải nhận biết rõ dã tâm, mục tiêu xuyên suốt của chúng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; hướng lái người dân, dư luận tin theo chế độ mà chúng đang tôn thờ, nương náu.

Chúng ta phải thấu triệt rằng, chỉ có những kẻ cực đoan, lực lượng thù địch và cá nhân suy thoái tư tưởng chính trị, “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa”, thường xuyên có các hành vi “lệch chuẩn” lại là những kẻ luôn nuôi ảo vọng và tiến hành các thủ đoạn lợi dụng hành vi “lệch chuẩn” để chống phá.

Chúng ra cần luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước trong xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước; xây dựng chỉnh đốn Đảng, đấu tranh không khoan nhượng với tham nhũng, với mọi biểu hiện, hành vi vi phạm pháp luật, quy tắc, giá trị, chuẩn mực xã hội.

Mỗi chúng ta cần có những hoạt động thiết thực, viết bài, chia sẻ, lan tỏa những tấm gương tốt, hành vi chuẩn mực, nhân văn, nhân ái trên truyền thông đại chúng và truyền thông xã hội; nỗ lực phấn đấu, phát triển bản thân thành những công dân hữu ích, cống hiến cho sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa; ngày càng nâng cao cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế; sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, bịa đặt, quy chụp, gán ghép, lợi dụng hành vi “lệch chuẩn” để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam của các thế lực thù địch.

Ác không thể thắng thiện là chân lý muôn đời. Mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm tuyên truyền cho cái ác, lợi dụng cái xấu, cái tiêu cực để phủ nhận cái tốt đẹp, ưu việt, nhân văn, nhân ái của chế độ xã hội chủ nghĩa; phủ nhận những thành quả cách mạng của dân tộc Việt Nam chắc chắn sẽ thất bại.

Đấu tranh phản bác cái ác, cái xấu, cái tiêu cực, lợi dụng hành vi “lệch chuẩn” để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam của các phần tử cực đoan, lực lượng thù địch, cá nhân bất mãn, cơ hội, suy thoái tư tưởng chính trị, “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” là trách nhiệm của mỗi công dân và toàn xã hội. Cuộc đấu tranh này có sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, thì chắc chắn mọi mưu đồ của chúng sẽ bị vạch trần, nhận diện và bác bỏ./.