Thứ Hai, 8 tháng 1, 2024

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÒNG NGỪA, NGĂN CHẶN THAM NHŨNG TRONG THIẾT CHẾ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

Một số giải pháp góp phần hoàn thiện cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng ở Việt Nam trong thời gian tới. Trên cơ sở đánh giá thực trạng và nhận diện những điểm nghẽn trong xây dựng và vận hành cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng của thiết chế quyền lực nhà nước, cần tìm kiếm và đề xuất một số giải pháp phòng, chống tham nhũng từ sớm, từ xa, xử lý cả “ngọn” lẫn “gốc”, không có ngoại lệ, không có vùng cấm.
Tham nhũng là một hiện tượng xuất hiện gắn liền với sự ra đời của nhà nước, nảy sinh khi những người được trao quyền tìm mọi cách lạm dụng quyền lực để biến nguồn lực, tài sản công thành tài sản riêng, làm giàu bất hợp pháp. Đây là một vấn nạn không chỉ làm tổn hại đến lợi ích chung của toàn xã hội, làm thất thoát tài sản công và làm suy giảm niềm tin của người dân vào chế độ chính trị, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia. Do đó, việc thiết lập các cơ chế phòng ngừa và ngăn chặn tham nhũng là nhiệm vụ tất yếu của mọi thể chế, ở mọi quốc gia.
Những năm qua, với quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị, công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta theo đúng tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn công tác phòng, chống tham nhũng còn bộc lộ không ít khó khăn, hạn chế và điểm nghẽn. Mặc dù đã bị đẩy lùi một bước, song vấn nạn tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và tệ quan liêu vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn, tinh vi, phức tạp hơn, nếu không được ngăn chặn kịp thời, sẽ làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, về lâu dài có thể đe dọa đến sự tồn vong của chế độ và sự phát triển của đất nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở một số địa phương, bộ, ngành chưa có chuyển biến rõ rệt; công tác phòng ngừa tham nhũng ở một số nơi còn hình thức…; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong một số cơ quan, đơn vị khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được đẩy lùi. Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội”.
Thực tế cho thấy, việc phát hiện, xử lý có hiệu quả các vụ, việc tham nhũng là công việc rất cần thiết, nhưng quan trọng hơn chính là việc hoàn thiện, tổ chức vận hành có hiệu quả các cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng để những người được giao quyền không thể tham nhũng, không dám tham nhũng và không cần tham nhũng. Từ góc độ thực thi quyền lực nhà nước, để làm được điều này, cần dựa trên những yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, thực tiễn công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta thời gian qua, đồng thời cần đáp ứng yêu cầu của các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng..., theo đó, tập trung thực hiện tốt một số giải pháp chính sau:
Một là, hoàn thiện chính sách, pháp luật để “không thể” và “không dám” tham nhũng.
Từ góc độ thực thi quyền lực nhà nước, để phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng, việc đẩy nhanh xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, khắc phục những sơ hở, bất cập trong các quy định về quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng là giải pháp căn bản, quan trọng hàng đầu trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Trong đó, đặc biệt quan tâm đến những lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, như quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản; cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; thu, chi ngân sách; đầu tư xây dựng; tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan; các chế độ, định mức, tiêu chuẩn... Xóa bỏ cơ chế xin - cho trong quản lý kinh tế - xã hội, hoàn thiện các quy định về quản lý tài sản công, đấu thầu các dự án, đ.ấ.u gi.á tài sản công bảo đảm công khai, minh bạch, chặt chẽ và đồng bộ; khắc phục những hạn chế, lường trước và “bịt kín” các “lỗ hổng” có khả năng làm phát sinh tham nhũng, “tham nhũng vặt”, “sách nhiễu”, “vòi vĩnh” trong việc thực hiện thủ tục hành chính.
Hoàn thiện các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm của người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch trong hoạt động công vụ; về kiểm soát tài sản, thu nhập và xử lý tài sản không rõ nguồn gốc của cán bộ, công chức, viên chức; về cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ có dũng khí đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; về xác định giá trị thiệt hại, giá trị tài sản phải thu hồi, phải bồi thường trong các vụ án tham nhũng, kinh tế... Quy định các giao dịch có giá trị lớn của cán bộ, công chức, viên chức, người có chức vụ, quyền hạn phải được thực hiện thông qua ngân hàng để kiểm soát, ngăn ngừa giao dịch bất hợp pháp, rửa tiền, tham nhũng.
Tăng nặng các chế tài pháp lý, từ xử lý kỷ luật, xử lý hành chính cho đến xử lý hình sự, bảo đảm tính nghiêm khắc và khả năng răn đe mạnh mẽ hơn đối với các vi phạm liên quan đến tham nhũng. Đồng thời, có cơ chế giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm đủ mạnh để xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm, lợi dụng, lạm dụng quyền lực để tham nhũng.
Chú trọng kiểm soát chặt chẽ để hạn chế sự tác động tiêu cực của “nhóm lợi ích”, “sân sau”, “tư duy nhiệm kỳ” vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật, làm “méo mó”, giảm hiệu lực và hiệu quả của các cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế - xã hội. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật; khắc phục tình trạng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước không thiếu, nhưng thực hiện không nghiêm, không hiệu quả.
Vừa qua, Bộ Chính trị ban hành 3 văn bản rất quan trọng về phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng là: Quy định số 114-QĐ/TW, Quy định số 131-QĐ/TW, Quy định số 132-QĐ/TW. Theo đó, việc thể chế hóa nội dung của các quy định này là rất quan trọng trong việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi các cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng.
Hai là, đẩy mạnh phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
Để công tác phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng có hiệu quả và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng trong chính công tác cán bộ có ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt. Theo đó, cần chú trọng xây dựng, sửa đổi, hoàn thiện các quy định về công tác cán bộ, nhất là xây dựng chính sách tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc. Sửa đổi, bổ sung và thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động cán bộ... theo hướng công khai, minh bạch hóa tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ nhân sự; cung cấp thông tin và giải trình khi có yêu cầu. Xác minh, xử lý kịp thời, hiệu quả, hợp lý thông tin phản ánh từ các tổ chức, cá nhân và phương tiện thông tin đại chúng về phẩm chất đạo đức, năng lực và uy tín của cán bộ. Cụ thể hóa các nội dung và triển khai thực hiện nghiêm túc Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, của Bộ Chính trị, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung", Nghị định số 73/2023/NĐ-CP, ngày 29-9-2023, của Chính phủ, “Quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”.
Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ theo hướng: Quy định chế tài xử lý thật nghiêm đối với các đối tượng có biểu hiện, hành vi chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển... Thể chế hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả Quy định số 114-QĐ/TW của Bộ Chính trị.
Đẩy mạnh kiểm tra, giám sát công tác tổ chức và cán bộ, kiên quyết chống chạy chức, chạy quyền. Chú trọng kiểm tra, giám sát cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và cán bộ được quy hoạch vào các vị trí lãnh đạo, quản lý; cán bộ, công chức, viên chức có biểu hiện tham nhũng, có nhiều đơn, thư phản ánh, tố cáo tham nhũng. Không để lọt những người không xứng đáng, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhưng cũng không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài. Kịp thời xử lý, điều chuyển, thay thế cán bộ lãnh đạo, quản lý khi có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, uy tín thấp; xử lý nghiêm những cán bộ có sai phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu, cũng như những cán bộ nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Kiên quyết hủy bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm, có hành vi tham nhũng trong công tác cán bộ. Thực hiện có hiệu quả chủ trương bố trí một số chức danh cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, cấp huyện không phải là người địa phương.
Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với mục đích “trị bệnh cứu người”, cảnh tỉnh, răn đe. Do đó, phải quán triệt phương châm: Phòng ngừa chặt chẽ, ngăn chặn từ gốc, phát hiện sớm, xử lý từ đầu, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn.
Thể chế hóa, cụ thể hóa các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về mở rộng dân chủ, thực hiện có hiệu quả cơ chế dân biết, dân bàn, dân làm, dân giám sát công tác cán bộ, trong xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ. Phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử; tăng cường cơ chế chất vấn, giải trình trong công tác cán bộ. Nghiên cứu mở rộng các hình thức lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với từng đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị một cách phù hợp.
Tiếp tục hoàn thiện các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; kiểm soát xung đột lợi ích trong công tác cán bộ; xử lý tài sản, thu nhập tăng thêm của cán bộ, công chức, viên chức khi không giải trình được một cách hợp lý nguồn gốc tài sản, thu nhập. Cùng với đó, cần sớm có đề án cụ thể và triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác nội chính - tư pháp có bản lĩnh vững vàng, liêm chính, trung thực, có kiến thức, kỹ năng chuyên sâu, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Ba là, củng cố tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế thanh tra, kiểm toán.
Để phát huy có hiệu quả thiết chế thanh tra trong phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng ở Việt Nam, cần nghiên cứu sửa đổi Luật Thanh tra theo hướng làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của cơ quan thanh tra; tăng cường tính chủ động, độc lập và tự chịu trách nhiệm của các cơ quan thanh tra trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về phòng ngừa tham nhũng trong hoạt động thanh tra, như: Phòng ngừa các hành vi can thiệp trái pháp luật vào giai đoạn chuẩn bị thanh tra (sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng thanh tra; cung cấp thông tin không đúng phạm vi nhiệm vụ được giao; loại bỏ một số đối tượng, nội dung cần thanh tra ra khỏi diện phải tiến hành thanh tra vì mục đích cá nhân); giai đoạn tiến hành thanh tra (thanh tra vượt quá phạm vi, nội dung của quyết định thanh tra; lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ thanh tra để xử lý công việc cá nhân; kéo dài thời gian thanh tra; làm sai lệch hồ sơ vụ việc trong quá trình thanh tra; bỏ qua sai phạm của đối tượng thanh tra); giai đoạn kết thúc thanh tra (báo cáo kết quả thanh tra thiếu khách quan, trung thực; tiết lộ nội dung báo cáo kết quả thanh tra khi chưa được người có thẩm quyền cho phép...).
Hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động thanh tra, nhất là đối với hoạt động thanh tra hành chính và việc công khai kết luận thanh tra, kết quả xử lý sau thanh tra. Sửa đổi quy định về quy tắc ứng xử, phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng trong ngành thanh tra nhằm kiểm soát chặt chẽ xung đột lợi ích trong hoạt động thanh tra. Xây dựng các tiêu chí, điều kiện, tiêu chuẩn và công cụ thanh tra; coi trọng công tác giám sát, kiểm tra nội bộ, không để xảy ra tình trạng dễ dãi, nể nang, né tránh khi xử lý các vấn đề vi phạm của nội bộ trong hoạt động thanh tra.
Tiếp tục đổi mới cơ chế giám sát hoạt động của đoàn thanh tra, bảo đảm hoạt động của đoàn thanh tra đúng pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi tiêu cực, sách nhiễu trong hoạt động thanh tra, tránh lạm quyền gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng thanh tra. Hoàn thiện các quy định về quyền hạn, trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ trì hoạt động thanh tra hoặc quản lý trực tiếp công chức tham gia đoàn thanh tra trong từng khâu của quy trình, quy chế thanh tra (từ khi chuẩn bị cho đến khi kết thúc hoạt động thanh tra). Đặc biệt, cần chú trọng cụ thể hóa nội dung và thực hiện nghiêm các quy định mới của Đảng về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động thanh tra, kiểm toán và trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án (Quy định số 131-QĐ/TW và Quy định số 132-QĐ/TW của Bộ Chính trị).
Cơ quan thanh tra nhà nước cấp trên cần chú trọng hơn đến việc xem xét, đánh giá những kết luận thanh tra của cơ quan thanh tra nhà nước cấp dưới để kịp thời phát hiện, tổ chức thanh tra lại nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật, không để bỏ lọt hành vi vi phạm hoặc kiến nghị xử lý không nghiêm, không tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm. Hoàn thiện các quy định, quy chế phối hợp giữa cơ quan thanh tra với các cơ quan kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử trong phát hiện, xử lý tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng.
Đối với thiết chế kiểm toán nhà nước, cần xác định hoạt động kiểm toán là khâu điều tra cơ bản, làm rõ giá trị thiệt hại về tài sản do hành vi tham nhũng gây ra; qua đó, cung cấp kịp thời, đầy đủ hồ sơ cho các cơ quan điều tra xem xét, xử lý khi nhận thấy đối tượng kiểm toán có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Theo đó, cần xây dựng, hoàn thiện các quy trình, nghiệp vụ kiểm toán chặt chẽ, nhất là quy trình kiểm toán điều tra, kiểm toán trách nhiệm kinh tế, hạn chế tối đa việc can thiệp vào kết quả kiểm toán của các cuộc kiểm toán nhằm phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng trong hoạt động này. Hoàn thiện pháp luật về kiểm toán theo hướng xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, quan hệ phối hợp của cơ quan kiểm toán với cơ quan điều tra, kiểm sát để phòng ngừa việc lạm dụng quyền lực, bỏ lọt tội phạm do không chuyển vụ việc có dấu hiệu tham nhũng hoặc không khởi tố các hành vi tham nhũng (nếu có).
Tiếp tục thực hiện nghiêm Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018; các quy trình, chuẩn mực, quy tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán và các văn bản chỉ đạo của ngành để tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động kiểm toán. Thực hiện công khai rộng rãi kết quả kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.
Tăng cường thanh tra, kiểm soát việc thực hiện đạo đức nghề nghiệp và văn hóa ứng xử của kiểm toán viên nhà nước; chú trọng công tác kiểm tra đột xuất đối với kiểm toán viên khi thực hiện kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán. Có chế độ xử phạt nghiêm khắc đối với kiểm toán viên có hành vi tham nhũng, bảo đảm kiểm toán viên không dám tham nhũng. Kiên quyết xử lý những kiểm toán viên có vi phạm đạo đức nghề nghiệp, lạm dụng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi khi thi hành công vụ bằng các hình thức, như: tước thẻ ngành, sa thải khỏi ngành, truy cứu trách nhiệm hình sự...
Bốn là, nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử trong phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng.
Để phát huy hiệu lực, hiệu quả giám sát của các cơ quan dân cử trong phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng, trước hết, cần tăng cường tính đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả của các hình thức giám sát của Quốc hội, như giám sát chuyên đề, chất vấn, lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm... Đổi mới nội dung, phương thức tổ chức hoạt động giám sát để bảo đảm hoạt động giám sát có hiệu lực, hiệu quả và thực sự là một kênh quan trọng để Quốc hội đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, của chính sách, pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng. Việc giám sát công tác phòng, chống tham nhũng của Quốc hội cần được tiến hành theo kế hoạch, có trọng tâm, trọng điểm. Trong quá trình này, cùng với việc xem xét các báo cáo của các cơ quan nhà nước, cần chú ý tới các nguồn thông tin khác để phục vụ hoạt động giám sát, nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời mọi hành vi tham nhũng, tiêu cực.
Quy định rõ hơn về trách nhiệm của đối tượng giám sát và các chế tài đối với việc thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát. Trong hoạt động chất vấn, cần tiếp tục quan tâm hơn tới việc ban hành nghị quyết sau chất vấn, việc đánh giá báo cáo kết quả thực hiện các nghị quyết sau chất vấn tại kỳ họp Quốc hội...
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp theo hướng tăng cường giám sát giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo cụ thể về hoạt động tư pháp; giám sát việc chấp hành pháp luật của các chức danh tư pháp; giám sát công tác phòng, chống tham nhũng trong hoạt động tư pháp; giám sát các vụ án cụ thể, những vấn đề lớn, bức xúc trong đời sống kinh tế - xã hội có liên quan tới phòng, chống tham nhũng.
Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội; tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách là thành viên các ủy ban của Quốc hội và tăng cường bộ máy giúp việc của Quốc hội. Bảo đảm về kinh phí, cơ sở vật chất cho cơ quan dân cử, đại biểu dân cử trong hoạt động giám sát. Có cơ chế huy động các nhà khoa học, các chuyên gia tham gia vào việc phản biện, tư vấn, đóng góp ý kiến cho hoạt động giám sát của Quốc hội cũng như của hội đồng nhân dân các cấp./.
CĐ,VS (st)

 

Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về làm gương, nêu gương và noi gương của cán bộ, đảng viên và giải pháp thực hiện

ThS TRẦN THỊ THANH THỦY
Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên

(LLCT) - Từ tư tưởng, đạo đức, lối sống đến phong cách Hồ Chí Minh luôn thể hiện sự thống nhất trong làm gương, nêu gương và noi gương. Thực hành làm gương, nêu gương, noi gương theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cách thức tốt nhất để xây dựng Đảng, đồng thời ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên.
 


1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về làm gương, nêu gương và noi gương

Thứ nhất, về mối quan hệ giữa làm gương, nêu gương và noi gương

Trước tiên, làm gương có khi được đồng nhất với nêu gương; làm gương tương đồng với nêu gương vì đều tạo ra một tấm gương sống cho người khác học tập và làm theo noi gương (noi theo). Làm gương và nêu gương đều nhằm để được noi gương (hay làm theo tấm gương). Tính khác biệt là ở chỗ: Làm gương là gốc của nêu gương, noi gương. Nêu gương là tuyên truyền hay lan tỏa làm gương nhằm nhân rộng, noi gương tấm gương sáng. Noi gương việc học tập, làm theo của tấm gương và được nêu gương. Mấu chốt của nêu gương, noi gương là sự lan tỏa, học tập, đi theo việc làm gương (tấm gương). Các hành vi, hành động nêu gương, noi gương là học tập, thực hành để xã hội hóa nhân cách cá nhân hướng theo tấm gương. Làm gương, noi gương chủ yếu phụ thuộc vào yếu tố chủ quan, còn nêu gương thiên về yếu tố khách quan.    

Theo Hồ Chí Minh, chỉ tự mình làm gương thì mới nêu gương được và mới lan tỏa noi gương. Người chỉ rõ: Trước hết “cán bộ, đảng viên phải làm gương mẫu cho nhân dân. Cán bộ cấp trên phải làm gương mẫu cho cán bộ cấp dưới”(1); từ đó mới có thể nêu gương để mọi người noi gương. Tức là hành vi tốt, hành động tốt, sự việc tốt, con người điển hình tiên tiến được lan tỏa và ảnh hưởng đến người khác, khiến họ khâm phục, tán thành và noi theo. Hồ Chí Minh luôn luôn tự mình gương mẫu làm gương về tư tưởng, đạo đức, phong cách công tác và sinh hoạt thường nhật; trong hoạt động cách mạng và trong đời sống hàng ngày. Đối với Người, việc tự mình làm gương trong tư tưởng, đạo đức, lối sống và phong cách công tác, kể cả trong những hành vi giao tiếp, ứng xử thường nhật, có tác dụng nêu gương và noi gương thuyết phục nhất.

Thứ hai, về sự cần thiết và ý nghĩa của làm gương, nêu gương và noi gương

Theo Hồ Chí Minh, văn hóa, đạo đức phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, luôn coi trọng tình cảm, luôn lấy cái tốt đẹp của người khác để làm tấm gương soi mình,  bởi "một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền"(2). Nói chuyện với cán bộ tỉnh Hà Tây, Người cho rằng, “muốn đẩy mạnh các mặt sản xuất, chiến đấu, văn hóa và các mặt khác, thì trước hết cán bộ, đảng viên, đoàn viên, phải làm đầu tàu, gương mẫu. Muốn làm gương mẫu thì điều quan trọng nhất là các chú từ tỉnh đến huyện, đến xã phải đoàn kết, đoàn kết thật sự, làm sao tự mình nêu gương và giáo dục cho đảng viên, đoàn viên, cán bộ giữ gìn, phát triển đạo đức cách mạng, làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”(3).

Qua tấm gương của cán bộ, đảng viên, “nhân dân ta thường nói: đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Đó là một lời khen chân thành đối với đảng viên và cán bộ chúng ta… Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng như thế”(4).

Theo Hồ Chí Minh, chỉ tự mình làm gương thì mới nêu gương được và mới lan tỏa noi gương. Người chỉ rõ: Trước hết “cán bộ, đảng viên phải làm gương mẫu cho nhân dân. Cán bộ cấp trên phải làm gương mẫu cho cán bộ cấp dưới”; từ đó mới có thể nêu gương để mọi người noi gương. Tức là hành vi tốt, hành động tốt, sự việc tốt, con người điển hình tiên tiến được lan tỏa và ảnh hưởng đến người khác, khiến họ khâm phục, tán thành và noi theo.

Thứ ba, về cách thức làm gương, nêu gương và noi gương

Nội dung này được Hồ Chí Minh bàn rõ ở mục “Tư cách một người cách mệnh” gồm 23 điểm trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” (năm 1927). Theo Người, “tư cách một người cách mạng” là phải chuẩn mực; phải thật sự là tấm gương trong các mối quan hệ: với chính mình, với người khác và với công việc. Cụ thể, tự mình phải: “Cần kiệm. Hòa mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất. Bí mật. Đối với người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người. Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể”(5).

Về cách thức, để nêu gương, theo Người, trước hết bản thân phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên; về mọi mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nói phải đi đôi với làm. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Để nhiều người làm gương, noi gương, trước hết phải giáo dục bằng tấm gương của chính mình, sau đó mới giáo dục bằng lời nói để cảm hóa, giáo dục người khác.

Việc làm gương, nêu gương và noi gương phải được thực hiện cả đối với bản thân mình, đối với người và đối với công việc; phải làm gương, nêu gương và noi gương thường xuyên từ việc nhỏ đến việc lớn, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nói đi đôi với làm. Đối với mình, phải không tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo mà luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân, phải tự phê bình mình như rửa mặt hàng ngày. Đối với người, phải giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc, luôn khoan dung, độ lượng. Đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ nguyên tắc "dĩ công vi thượng", đặt lợi ích quốc gia dân tộc, của tập thể và của nhân dân lên trên hết, trước hết.

Làm gương, nêu gương và noi gương từ trong suy nghĩ và hành động về tư tưởng, đạo đức cả trong thực hiện nhiệm vụ cũng như trong sinh hoạt thường ngày; cần phải coi trọng việc nêu gương những người có những hành động bình thường mà anh hùng, xứng đáng được học tập, tôn vinh và ai cũng có thể làm theo, noi theo; “lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”(6). Làm gương, nêu gương và noi gương phải là một công việc thường xuyên, liên tục và nghiêm túc: Thế hệ đi trước làm gương, nêu gương cho thế hệ đi sau noi theo; cha mẹ làm gương, nêu gương cho các con noi theo; anh, chị làm gương, nêu gương cho em noi theo; ông, bà làm gương, nêu gương cho con cháu noi theo; lãnh đạo làm gương, nêu gương cho cán bộ, nhân viên noi theo và đảng viên phải làm gương, nêu gương cho quần chúng noi theo.

Thứ tư, về trách nhiệm làm gương, nêu gương và noi gương của cán bộ, đảng viên

Hồ Chí Minh yêu cầu: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”(7). Bởi lẽ, "quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước"(8). Cán bộ, đảng viên “càng phải nâng cao tinh thần phụ trách, nêu gương "cần kiệm liêm chính", không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân; phải chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh là nguồn gốc sinh ra tham ô, lãng phí"(9). Và “người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng… Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”(10); “phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân. Nói hay mà không làm thì vô ích”(11). Người căn dặn toàn Đảng: "Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật"(12).

Theo Người, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo phải đi đầu trong “quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí”(13). Hồ Chí Minh yêu cầu: “Các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc…”(14).

Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cá nhân phải luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay, sửa đổi khuyết điểm. Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình; việc gì cũng thiết thực, nói được, làm được.  Người cũng kiên quyết phê phán những cán bộ không tốt, làm gương xấu cho nhân dân, bôi nhọ danh dự của Đảng. Theo Người, “đảng viên và đoàn viên nào còn lười biếng lao động, trốn tránh nghĩa vụ, thiếu đạo đức cách mạng, nêu gương xấu trong nhân dân, thì phải quyết tâm sửa đổi để trở thành đảng viên và đoàn viên tốt. Nếu không thì sẽ bị loại ra ngoài phong trào cách mạng”(15).

Thứ năm, về tấm gương làm gương, nêu gương, noi gương Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh luôn là mẫu mực của thực hành “tự mình” làm gương, nêu gương và noi gương. Người đã thực hành phong cách nêu gương một cách mẫu mực và tự nhiên, như trong việc thực hành tiết kiệm, nhường cơm sẻ áo cho nhân dân. Năm 1945, khi nước nhà ở trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Người “nêu gương nhường cơm sẻ áo, mười ngày nhịn ăn một bữa, và đã đỡ đần cho Hội Cứu đói ra đời”(16). Người viết: “Trong việc cứu nạn đói, mình bảo người ta 10 ngày nhịn ăn một bữa mà chính đến ngày nhịn mình lại cứ chén tỳ tỳ thì nghe sao được. Đáng lý dân nhịn một bữa mình nhịn hai bữa mới phải. Về việc khuyến nông cũng vậy, bảo người ta đào đất trồng ngô, trồng khoai mà lúc người ta làm mình lại ngủ thì sao được. Miệng nói tay phải làm mới được”(17). Người nhất quán thực hành quan điểm: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành…”(18). Chỉ làm gương sáng thực hành, người dân mới tin tưởng, mới được lòng dân và noi theo cán bộ.

Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương mẫu mực về làm gương, nêu gương và noi gương, về tư tưởng, đạo đức, lối sống và phong cách công tác, Người luôn học tập và tự răn mình phải noi theo tấm gương các anh hùng trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam, các bậc vĩ nhân, tấm gương các lãnh tụ của phong trào cộng sản quốc tế và các đảng viên cộng sản kiên trung của Đảng ta. Người kiên trì thực hành “tu thân chính tâm” - việc gì cũng phải làm kiểu mẫu, vì chỉ như thế mới làm gương, nêu gương và noi gương được. Ở Người đã đạt tới sự thống nhất nhuần nhuyễn giữa nói và làm, giữa làm gương, nêu gương và noi gương với giáo dục đạo đức, lối sống, phong cách công tác; đạt tới sự nhất quán giữa hoạt động cách mạng và đời tư, giữa đạo đức, lối sống và phong cách công tác của một nhân cách văn hóa lớn với đạo đức, lối sống và phong cách công tác của một người bình thường.

2. Thực hiện chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về làm gương, nêu gương và noi gương của cán bộ, đảng viên hiện nay

Thực tiễn hiện nay và phương hướng

Cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã chứng minh: theo gương Hồ Chí Minh và gương các nhà cách mạng tiền bối, đội ngũ cán bộ, đảng viên không quản ngại gian khổ, hy sinh đã phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu trong việc làm gương, nêu gương và noi gương nhằm tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Qua đó, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được bảo đảm, niềm tin của nhân dân đối với Đảng luôn được nâng cao, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Tuy vậy hiện nay, bên cạnh những cán bộ, đảng viên gương mẫu, vẫn còn “một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”(19). Đây là nguy cơ đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ.

Để dân hiểu, dân tin, dân theo Đảng thì một yêu cầu có ý nghĩa quan trọng là phải nêu cao trách nhiệm làm gương, nêu gương và noi gương của cán bộ, đảng viên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, "nêu gương là thực hiện đồng thời, gắn kết việc học tập với làm theo Bác và nêu gương. Phát huy hiệu quả mối quan hệ giữa ba nhiệm vụ này, trong đó đề cao vai trò, trách nhiệm tiền phong, gương mẫu với nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị, mà trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng"(20).

Đảng viên, trước hết là đảng viên giữ các chức danh lãnh đạo chủ chốt phải nghiêm chỉnh chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; gương mẫu thực hiện Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư "Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp"; Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị "Về một số việc cần làm ngay để tăng cường trách nhiệm nêu gương". Cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu nêu gương”(21). Kết luận số 01-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương ngày 18-5-2021: "Trong quá trình tổ chức thực hiện, phải đề cao việc phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Việc tự giác nêu gương để khẳng định vai trò lãnh đạo, tính tiên phong, gương mẫu "trên trước, dưới sau", "đảng viên đi trước, làng nước theo sau"(22).

Giải pháp

Một là, thực hiện trách nhiệm làm gương, nêu gương và noi gương của cán bộ, đảng viên

Quán triệt đến toàn thể cán bộ, đảng viên ý thức trách nhiệm làm gương, nêu gương và noi gương, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Đó là: “Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”(23). Do vậy, phải coi trọng bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tinh thần "7 dám" mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu cho cán bộ, đảng viên trong Quân đội là: “Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, và dám hành động vì lợi ích chung”(24). Cụ thể: (1) “Dám nghĩ” là thể hiện được cái tâm, cái tầm, cái trí vì lợi ích chung của tập thể, của xã hội. (2) “Dám nói” là thể hiện được dũng khí phải nói đúng nơi, đúng lúc, đúng thời điểm, đúng người cần nghe trên tinh thần xây dựng, để phản biện xã hội nhằm đạt được sự thống nhất trong nói và làm. (3) “Dám làm” là thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong triển khai, thực hành nhiệm vụ được giao và phát huy được sức mạnh tập thể. (4) “Dám chịu trách nhiệm” là biểu hiện bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý; đồng thời là biểu hiện năng lực dám tiếp nhận phê bình, đóng góp từ tập thể, kể cả từ cấp dưới, từ quần chúng để điều chỉnh, bổ sung và đổi mới sáng tạo cách nghĩ, cách làm phù hợp với thực tế và chịu trách nhiệm đến cùng với quyết định của mình cũng như “dám từ chối”, “dám nói không” với tiêu cực. (5) “Dám đổi mới, sáng tạo” là biểu hiện năng lực tổng hợp nền tảng tri thức khoa học với bản lĩnh chính trị tư tưởng, đạo đức của cán bộ, đảng viên trong việc nắm chắc xu thế phát triển để mạnh dạn dám đổi mới, sáng tạo về cách nghĩ, cách làm nhằm nâng cao hiệu quả công tác. (6) “Dám đương đầu với khó khăn, thử thách” là thước đo thực sự đối với bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, năng lực công tác và lãnh đạo của cán bộ, đảng viên, đặc biệt đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý. (7) “Dám hành động vì lợi ích chung” là biểu hiện tích hợp - tổng hợp của “6 dám” nêu trên nhằm triển khai, thực hiện hiệu lực, hiệu quả công tác để “hữu xạ tự nhiên hương” trong việc làm gương, nêu gương và noi gương.

Hai là, kiên trì bồi dưỡng, tu dưỡng, rèn luyện theo phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách Hồ Chí Minh và nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng để đề cao tính tự giác trong làm gương, nêu gương, noi gương, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, lãng phí và những gương xấu trong cán bộ, đảng viên.

Thúc đẩy nhân rộng cái tốt, cái đẹp. Việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, (là) làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình và kịp thời biểu dương những điển hình tiên tiến, những tấm gương sáng về đạo đức, lối sống.  Các cấp ủy đảng cần quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc các quy định để làm cho việc làm gương, nêu gương, noi gương của cán bộ, đảng viên trở thành lẽ sống hằng ngày; từ đó tạo sức lan tỏa trong Đảng và trong xã hội nhằm thúc đẩy nhân rộng cái tốt, cái đẹp và đẩy lùi cái xấu và cái tiêu cực. Nghiên cứu, đổi mới hình thức tuyên truyền, giáo dục đảng viên cho phù hợp, nhất là thường xuyên rèn luyện tính bền bỉ, không ngại khó, ngại khổ, để việc tự tu dưỡng là nhu cầu không thể thiếu, có sức đề kháng, miễn dịch với mọi thói hư, tật xấu. “Tuyên truyền phải miệng nói tay làm, phải tùy hoàn cảnh mà tổ chức giúp đỡ nhân dân thật sự, không phải chỉ dân vận bằng diễn thuyết”(25).  Người cán bộ lãnh đạo nói là phải làm, tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương, nêu gương cho người khác noi theo. 

Đấu tranh với những gương xấu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên. Tiếp tục chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí; đồng thời phải “xử lý nghiêm những hành vi vi phạm đạo đức, lối sống”(26). Cán bộ, đảng viên khi đứng trước cái xấu phải kiên quyết đấu tranh và lên án; phải đặt lợi ích của tập thể, của nhân dân lên trên hết; phải nghiêm khắc xử lý các hành vi tham nhũng, lãng phí; phải minh bạch, công khai, không bao che, giấu giếm, né tránh trong xử lý các hành vi tham nhũng, lãng phí; người đứng đầu phải kiên quyết, công tâm và đặt lợi ích, lòng tin của nhân dân trong xử lý tham nhũng, lãng phí để xây dựng tổ chức đảng thật sự trong sạch vững mạnh.

“Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”(27). Hiện nay, dưới tác động của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nhiều giá trị đạo đức xã hội đã có sự vận động, biến đổi nhất định. Trước thực tế đó, Đảng đề ra yêu cầu phải chủ động nhận thức, xây dựng những giá trị, chuẩn mực đạo đức mới. Từ đó tạo điều kiện cho cán bộ, đảng viên “tự soi”, “tự sửa” hằng ngày thông qua nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng. Từ đó, xác định phương hướng, giải pháp khắc phục khuyết điểm, phát huy ưu điểm trong thực hành, làm gương, nêu gương, noi gương đạo đức cách mạng.

Ba là, phát huy vai trò của nhân dân trong kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên về tu dưỡng, rèn luyện, làm theo đạo đức, lối sống, phong cách Hồ Chí Minh trong làm gương, nêu gương, noi gương

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “coi trọng kiểm tra, giám sát trong Đảng kết hợp với phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, của Mặt trận Tổ quốc, báo chí và nhân dân đối với cán bộ, đảng viên trong thực hiện các quy định nêu gương”(28). Như vậy, hiện nay cả hệ thống chính trị trở thành chủ thể kiểm tra, giám sát việc thực hiện nêu gương của cán bộ, đảng viên nhằm góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát, như: Thực hiện quyền giám sát gián tiếp (thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội) và giám sát trực tiếp (phản ánh, kiến nghị đến cấp ủy, tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và cơ quan có thẩm quyền) về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và trách nhiệm làm gương, nêu gương, noi gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp.

Để phát huy vai trò của nhân dân trong kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, cần tuyên truyền cho nhân dân nâng cao nhận thức về quyền và trách nhiệm tham gia xây dựng Đảng, chính quyền các cấp ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Cùng với việc tiếp tục hoàn thiện thể chế Nhà nước pháp quyền XHCN, cầntiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách để nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, bảo đảm thực chất, hiệu quả; làm tốt công tác khen thưởng, động viên đối với những người dân phát hiện, tố cáo các sai phạm của cán bộ, đảng viên, kiên quyết xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm, trù dập người dân phát hiện, tố cáo các sai phạm này.

Bốn là, tiếp tục tăng cường gắn xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức với công tác tổ chức, cán bộ nhằm thúc đẩy bồi dưỡng phẩm chất, thực hành làm gương, nêu gương, noi gương, đồng thời ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên

Trong đó, xây dựng Đảng về chính trị có tính chất bao trùm, chi phối xây dựng Đảng về tư tưởng, tổ chức, đạo đức và công tác cán bộ. Xây dựng Đảng về tư tưởng, đạo đức và công tác tổ chức, cán bộ đều xuất phát từ xây dựng Đảng về chính trị và phục vụ nhiệm vụ chính trị. Công tác tổ chức, cán bộ phải giữ vị trí gắn kết then chốt trong xây dựng Đảng nói chung.

Điều kiện cơ bản để gắn kết xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức với công tác tổ chức, cán bộ là: Đảng phải tạo ra được một không khí dân chủ thực sự trong nội bộ, vì thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi vấn đề. Cán bộ, đảng viên trong mỗi tổ chức chi bộ Đảng, cần học tập theo quan điểm của Hồ Chí Minh: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng noi theo. Và, trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự sửa chữa được nhiều”(29).

Sức mạnh to lớn của Đảng ta là ở chỗ khéo kết hợp sức mạnh của toàn Đảng và của toàn chi bộ với sức mạnh của từng đảng viên. Do vậy, mỗi đảng viên phải là một chiến sĩ tích cực, gương mẫu, xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng và của nhân dân. Mỗi chi bộ phải là một hạt nhân vững chắc, lãnh đạo nhân dân thi đua yêu nước, cần kiệm xây dựng đất nước, được thể hiện cơ bản ở làm gương, nêu gương, noi gương của cán bộ, đảng viên.

_________________

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập,t.10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.494.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập,  t.1, Sđd,tr. 284.

(3), (4), (6), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 15, Sđd, tr.393, 546, 672, 546.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd,t.2, tr.280-281.

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Sđd, tr.16.

(9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.13, Sđd,tr.70.

(10), (25) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Sđd, tr.55, 219.

(11), (14), (15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.14, Sđd, tr. 168, 223, 183.

(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr.547.

(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 8, Sđd,tr. 35.

(16), (17), (18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Sđd, tr.126, 117, 171.

(19), (27), (28) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.92, 184, 184.

(20) Xem: http://www.tuyengiao.vn/dua-nghi-quyet-cua-dang-vao-cuoc-song/ra-suc-hoc-tap-no-luc-phan-dau-va-ren-luyen-khong-ngung-lam-theo-tu-tuong-dao-duc-va-phong-cach-cua-chu-tich-133854.

(21) Xem: Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”.

(22) Xem:http://www.tuyengiao.vn/dua-nghi-quyet-cua-dang-vao-cuoc-song/ket-luan-cua-bo-chinh-tri-ve-tiep-tuc-day-manh-hoc-tap-va-lam-theo-tu-tuong-dao-duc-phong-cach-ho-chi-133448.

(23) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Sđd, tr.603.

(24) Xem: Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương tại Hội nghị Quân ủy Trung ương 6 tháng đầu năm 2023, https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/phat-bieu-cua-dong-chi-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-bi-thu-quan-uy-trung-uong-tai-hoi-nghi-quan-uy-trung-uong-6-thang-dau-nam-2023-733222.

(26) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.237.

(29) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Sđd, tr. 284.


 KHAI MẠC PHIÊN HỌP THỨ 29 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Tại phiên họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về việc chuẩn bị Kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội khóa XV và xem xét công tác nhân sự thuộc thẩm quyền.
Chiều 8/1, tại Nhà Quốc hội, Phiên họp thứ 29 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã khai mạc dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ.
Dự phiên họp có Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân; Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang; Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Y Vinh Tơr; cùng đại diện Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Nội chính Trung ương, Ban Kinh tế Trung ương, Kiểm toán Nhà nước, các Bộ, ngành Trung ương…
Phát biểu khai mạc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nêu rõ, Phiên họp thứ 29 là phiên họp thường kỳ đầu tiên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong năm 2024, với nội dung trọng tâm là cho ý kiến các nội dung chuẩn bị cho Kỳ họp bất thường lần thứ 5 của Quốc hội dự kiến khai mạc vào 15/1 tới.
Chủ tịch Quốc hội cho biết, trong 1,5 ngày làm việc, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) và dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi).
Đồng thời, cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia; xem xét việc giải thích quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật Đầu tư công.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng xem xét một số nội dung về tài chính, ngân sách gồm: việc bổ sung Kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách trung ương giai đoạn 2021-2025 từ nguồn dự phòng chung tương ứng với nguồn tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách trung ương năm 2022 cho các nhiệm vụ, dự án đầu tư công và bổ sung Kế hoạch đầu tư công trung hạn cho Tập đoàn điện lực Việt Nam từ nguồn dự phòng của Kế hoạch đầu tư công trung hạn.
Ngoài ra, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ cho ý kiến về việc chuẩn bị Kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội khóa XV và xem xét công tác nhân sự thuộc thẩm quyền.
Nhấn mạnh thời gian họp không dài, nhiều nội dung khó, Chủ tịch Quốc hội đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội tập trung cho ý kiến để bảo đảm chất lượng.
Sau phát biểu khai mạc của Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương điều hành nội dung đầu tiên: Cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia./.
CĐ,VS (st)

ĐỀ XUẤT 100% THANH NIÊN ĐƯỢC THỰC HIỆN NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

 Ông Vũ Trọng Kim, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, nguyên Bí thư thứ nhất T.Ư Đoàn, đề nghị sửa đổi luật Nghĩa vụ quân sự để 100% thanh niên đều được thực hiện nghĩa vụ quân sự, không miễn, giảm nhiều như hiện nay.

Chiều 3.1, Ủy ban Văn hóa - Giáo dục Quốc hội tổ chức Tọa đàm tham vấn nội dung xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về thanh niên, trẻ em qua gần 40 năm đổi mới với sự tham gia của các chuyên gia về công tác thanh niên, trẻ em.
Nêu ý kiến tại tọa đàm, ông Vũ Trọng Kim cho rằng, nhìn lại cả chặng đường dài của lịch sử mới thấy thanh niên Việt Nam may mắn khi có Đảng lãnh đạo sáng suốt, có hệ thống chính trị giúp thanh niên có bệ đỡ phát triển.
Tuy nhiên, nguyên Bí thư thứ nhất T.Ư Đoàn cũng thẳng thắn cho rằng, so với hệ thống quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước thì việc thực hiện các thể chế, chính sách về thanh niên chưa được như mong muốn. Nhiều nghị quyết rất lớn, nhưng tổ chức thực hiện có nhiều vấn đề: thời gian kéo dài, chưa toàn diện, chưa triệt để.
Góp ý cụ thể, ông Vũ Trọng Kim bày tỏ đồng tình khi dự thảo báo cáo về xây dựng, hoàn thiện thể chế, ban hành chính sách phát triển thanh niên qua gần 40 năm đổi mới đã đề cập tới vai trò xung kích của thanh niên trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Cho rằng bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm, nghĩa vụ của thanh niên, ông Kim đề nghị sửa luật Nghĩa vụ quân sự 2015 để làm sao giống như một số nước, mỗi thanh niên đều được trải qua huấn luyện quân sự ít nhất là 2 năm.
"Trong luật Nghĩa vụ quân sự hiện nay có miễn, giảm nên không phải 100% thanh niên chúng ta được tham gia nghĩa vụ quân sự. Tôi mong muốn làm sao mỗi thanh niên đều được tham gia nghĩa vụ quân sự vì nó tạo cho thanh niên nhận thức, tinh thần mới", ông Kim nói.
Nguyên Bí thư thứ nhất T.Ư Đoàn phân tích, Việt Nam trải qua quá nhiều cuộc chiến tranh nên những ai không trải qua quá trình huấn luyện nghĩa vụ quân sự sẽ "cảm thấy thiếu thiếu gì đó". Ông Kim cũng dẫn ví dụ tại Hàn Quốc với chính sách yêu cầu tất cả các thanh niên đều phải thực hiện nghĩa vụ quân sự.
"Các đồng chí biết là ở Hàn Quốc, một thanh niên đá bóng ở nước ngoài giỏi cỡ nào đi nữa anh cũng phải về tập trung thực hiện nghĩa vụ quân sự. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là rất quan trọng và mỗi thanh niên phải thấm trong tim, gan mình về nghĩa vụ này", ông Kim nói thêm.
Dự thảo báo cáo của Ủy ban Văn hóa - Giáo dục về xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về thanh niên trong gần 40 năm qua nêu, luật Thanh niên 2005, luật Thanh niên 2020 quy định trách nhiệm của thanh niên tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, giữ gìn bí mật quốc gia, xung kích đấu tranh chống mọi hành vi xâm hại đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
Cạnh đó, bảo đảm cho thanh niên thực hiện nghĩa vụ quân sự; nghĩa vụ tham gia công an nhân dân, dân quân tự vệ; tham gia quân nhân dự bị và xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân.
Báo cáo cũng nêu, luật Nghĩa vụ quân sự 2015 quy định công dân đủ 18 đến hết 27 tuổi trong độ tuổi gọi nhập ngũ thực hiện nghĩa vụ quân sự đã làm tốt công tác tuyển quân với tỷ lệ thanh niên tình nguyện hàng năm lên đường bảo vệ Tổ quốc đều đạt và vượt so với chỉ tiêu được giao.
Trước đó, tại kỳ họp 5 của Quốc hội giữa năm 2023, nêu ý kiến thảo luận tại tổ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang cũng nêu tình trạng số lượng người đến tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự đông, nhưng số lượng miễn, hoãn lại nhiều. Vì thế, tới đây sẽ sửa luật theo hướng giảm đối tượng được miễn, hoãn.
Theo ông Giang, hiện Việt Nam có khoảng 2 triệu thanh niên đủ điều kiện nhập ngũ nhưng mỗi năm chỉ có 100.000 người thực hiện nghĩa vụ quân sự. "Số lượng người đến tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự của Việt Nam đông, nhưng số lượng miễn, hoãn lại nhiều hay số lượng thanh niên vẽ (xăm - PV) vào người cũng nhiều", ông Giang nói.
Ông Giang cho biết, thời gian tới, Bộ Quốc phòng sẽ cùng Quân ủy T.Ư nghiên cứu và đề nghị sửa luật Nghĩa vụ quân sự để giảm đối tượng được miễn, hoãn thực hiện nghĩa vụ quân sự. "Có thể tăng số lượng lên nhưng giảm thời gian phục vụ trong quân ngũ và tăng cường độ huấn luyện", Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nêu rõ.
Báo thanh niên.

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SỐ TRONG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN

 Có nhiều tiềm năng, lợi thế nên nghề nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam đang phát triển mạnh. Đáng chú ý, thời gian gần đây các bộ, ngành, địa phương và nhân dân tích cực đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong nuôi trồng thủy sản, từ đó, tạo nền tảng xây dựng và phát triển thương mại điện tử cho ngành thủy sản, góp phần tăng cường kết nối các chủ thể trong chuỗi giá trị.

Phòng Khuyến ngư (Trung tâm Khuyến nông quốc gia) cho rằng, những năm qua, hoạt động khuyến ngư đã tập trung chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, bước đầu góp phần thay đổi tư duy của ngư dân từ khai thác, nuôi trồng truyền thống sang kinh tế ngư nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến, phát triển nuôi thủy vực nước ngọt, lợ, mặn theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường đang được thực hiện ở nhiều địa phương, trong đó, khuyến ngư chuyển giao các công nghệ nuôi mới vào sản xuất như: Nuôi thâm canh và bán thâm canh giúp tăng năng suất nuôi cá truyền thống từ 1 đến 2 tấn/ha tăng lên 15 đến 20 tấn/ha, giảm thời gian từ 2 đến 3 tháng/vụ nuôi so với thông thường, lợi nhuận tăng 200 đến 300 triệu đồng/ha.
Ngoài ra, hoạt động khuyến ngư cũng đã góp phần không nhỏ trong phát triển nghề nuôi cá lồng bè trên sông, hồ và biển, giúp thay đổi 100% số lượng lồng bè bằng tre gỗ, năng suất 4 đến 5 kg/m2 sang các vật liệu mới với năng suất 20 đến 30 kg/m2. Theo Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số và Thống kê nông nghiệp Nguyễn Kim Phúc, hiện nay ở một số địa phương và công ty triển khai các mô hình ứng dụng công nghệ số mang lại hiệu quả.
Tại tỉnh Quảng Ninh, mô hình nuôi cá lồng trên biển, kết hợp ứng dụng công nghệ thông minh để giám sát và điều khiển các yếu tố môi trường như: Nhiệt độ, ô-xy hòa tan, thức ăn, sự phát triển của cá...; giúp tăng năng suất cá nuôi, giảm tỷ lệ chết, nâng cao hiệu quả sử dụng nước, thức ăn, giảm tác động tiêu cực tới môi trường.
Chi cục Thủy sản tỉnh Bắc Giang cho biết, đến nay diện tích nuôi thủy sản trên địa bàn là 12.050 ha, sản lượng 54.741 tấn, đứng thứ hai trong 14 địa phương khu vực trung du miền núi phía bắc, trong đó, diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh đạt hơn 4.470 ha; riêng nuôi thâm canh năng suất bình quân 10 tấn/ha, bán thâm canh năng suất bình quân 5 đến 7 tấn/ha.
Việc phát triển diện tích nuôi năng suất cao và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã giúp sản lượng và năng suất cá thương phẩm tăng theo. Còn theo Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bắc Giang, nghề nuôi trồng thủy sản của tỉnh hiện nay dù năng suất cao, nhưng còn nhiều hạn chế như: Tỷ lệ cá sống thấp, thức ăn tiêu tốn lớn, nhiều dịch bệnh, giá cả bấp bênh, chi phí sản xuất cao nên sức cạnh tranh yếu...
Để khắc phục tình trạng này, từ năm 2021 đến 2023, tỉnh đã triển khai mô hình ứng dụng công nghệ số vào nuôi cá thâm canh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế với diện tích 3 ha ở các huyện Tân Yên, Lạng Giang, Hiệp Hòa. Qua ba năm triển khai, tỷ lệ cá sống gần 78%, năng suất 26,2 tấn/ha và sản lượng đạt 78,7 tấn/3 ha. Riêng năm 2022, với 1 ha nuôi cá rô phi đơn tính, sau 6 tháng cho thu lãi 100 triệu đồng, cao hơn 24% so với nuôi thông thường.
Giám đốc Trung tâm Dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp Tân Yên (Bắc Giang) Dương Văn Long chia sẻ: “Tân Yên là địa phương có tiềm năng phát triển thủy sản với diện tích mặt nước hơn 1.400 ha. Những năm gần đây, diện tích nuôi thủy sản thâm canh duy trì hơn 1.000 ha, sản lượng đạt hơn 7.000 tấn/năm. Thời gian qua, nhiều hộ dân đã áp dụng cơ giới hóa, tự động hóa, số hóa vào nuôi thủy sản với diện tích hơn 15 ha góp phần nâng cao sản lượng, năng suất cá thương phẩm. Thực hiện đề án phát triển trang trại nuôi thủy sản thâm canh cao tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011-2015 triển khai tại địa bàn với năm hộ dân thuộc xã Ngọc Châu, thị trấn Cao Thượng tham gia, diện tích gần 20 ha, cho năng suất cá đạt 15,8 tấn/ha, doanh thu ước đạt hơn 300 triệu đồng, tăng 1,5 lần so với trước”.
Ông Nguyễn Đình Lăng, xã Ngọc Thiện, huyện Tân Yên cho biết: “Gia đình tôi nuôi cá 18 năm nay nhưng trước đây năng suất lúc cao đạt từ 4 đến 5 tấn/vụ sau một hoặc hơn một năm nuôi thu nhập chỉ được 70 đến 80 triệu đồng. Từ khi tham gia mô hình ứng dụng công nghệ số vào nuôi cá rô phi thâm canh, hiệu quả tăng rõ rệt. Dự kiến, với diện tích 0,5 ha sau 6 tháng nuôi cho lãi gần 100 triệu đồng”.
Đại diện Trung tâm Khuyến nông quốc gia cho biết, bên cạnh những cơ hội thì ngành thủy sản Việt Nam đang đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức, nhất là nhân tố trong chuỗi giá trị, quản lý các yếu tố đầu vào, môi trường, dịch bệnh, quy trình sản xuất... Một trong những mục tiêu của Chiến lược ngành thủy sản Việt Nam trong tương lai là tối ưu hóa hiệu quả quản lý sản xuất thông qua việc đẩy mạnh chuyển đổi số, bởi chuyển đổi số với việc ứng dụng thiết bị hiện đại, công nghệ thông tin giúp hệ thống hóa số liệu vùng nuôi, hỗ trợ truy xuất nguồn gốc, quản lý môi trường và dịch bệnh, góp phần giảm công lao động, tăng độ chính xác trong quản lý và giám sát...
Do đó, thời gian tới ngành thủy sản cần nghiên cứu, phát triển công nghệ nuôi tiên tiến, tiết kiệm nước và thức ăn, giảm sử dụng kháng sinh; tiếp tục nghiên cứu làm chủ công nghệ đối với sản phẩm cá da trơn, tôm nước lợ; đồng thời chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất; đẩy mạnh xây dựng và phát triển công nghiệp sinh học trên nhóm sản phẩm thủy sản...; tổ chức các hoạt động hợp tác quốc tế, liên kết trong chuyển giao công nghệ và đào tạo khuyến nông viên số, khuyến nông viên công nghệ cao.
Theo Cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), năm 2023 diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 1,3 triệu ha nuôi nội địa, sản lượng đạt 9,269 triệu tấn; giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản ước đạt khoảng 9,2 tỷ USD. Đến nay, diện tích nuôi trồng thủy sản được chứng nhận VietGAP ước đạt 13.000 ha, sản lượng ước đạt 1,65 triệu tấn./.
Theo Báo Nhân dân