Thứ Hai, 8 tháng 1, 2024
Hồ Chí Minh kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin – nền tảng quyết định thành công
NGUYỄN TRUNG THÀNH
NCS Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(LLCT) - Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam, từ đó đã giải đáp những đòi hỏi từ thực tiễn, là nền tảng quyết định thành công của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Ngày nay Đảng ta tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh thực tiễn mới, là cơ sở thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta - Ảnh:dangcongsan.vn
Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn cách mạng nước ta. Đây chính là yếu tố quyết định thành công của Hồ Chí Minh trong giải quyết những đòi hỏi bức thiết từ thực tiễn, nhân tố quyết định những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam.
Chính vì vậy, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh “là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta giành thắng lợi”(1).
Đây là kết quả phát triển nhận thức của Đảng về giá trị to lớn, sức sống trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu bức thiết của sự nghiệp quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Việc nhận thức đầy đủ, đúng đắn và kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là vũ khí sắc bén trong sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, dân tộc ta hiện nay.
1. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin theo những cách thức riêng, độc đáo.
Thứ nhất, khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng mở đầu cuộc xâm lược đất nước ta, dân tộc ta mất quyền độc lập, nhân dân ta phải chịu cảnh mất nước. Chúng không cho nhân dân ta bất cứ quyền tự do, dân chủ nào; bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy, thẳng tay chém giết những người yêu nước, dìm những cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta trong bể máu. Với khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của dân tộc, hàng loạt các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp đã diễn ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau, như: dân chủ tư sản, phong kiến, tiểu tư sản…. song tất cả đều thất bại.
Bằng tư duy độc lập, tự chủ và nhãn quan chính trị đặc biệt, Nguyễn Tất Thành đã phân tích sâu sắc, thấu đáo thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chỉ ra những hạn chế cốt tử của các trào lưu cứu nước đương thời: con đường cứu nước của Cụ Phan Bội Châu “chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”(2), của Cụ Phan Châu Trinh chẳng khác gì “Cầu xin giặc rủ lòng thương”(3), của Cụ Hoàng Hoa Thám “còn nặng cốt cách phong kiến”(4)… Với khát vọng cứu nước cháy bỏng, Nguyễn Tất Thành nhận thức rõ đòi hỏi bức thiết của dân tộc Việt Nam là cần có đường lối cách mạng đúng đắn soi đường.
Ngày 5- 6-1911, Nguyễn Tất Thành lên tàu bắt đầu hành trình sang phương Tây tìm đường cứu nước, với mục đích cao cả “đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”(5). Người đã đi sâu tìm hiểu những gì ẩn chứa đằng sau những chữ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” mà chủ nghĩa tư bản hết lời ca tụng. Tuy nhiên, trái ngược với những mỹ từ mà chúng tuyên truyền ở thuộc địa, Nguyễn Tất Thành đã phát hiện ra bản chất bóc lột tàn bạo của chủ nghĩa thực dân từ chính những điều mắt thấy, tai nghe. Trên cơ sở đó, Người đi đến kết luận: “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”(6).
Tháng 6 - 1919, Nguyễn Ái Quốc cùng với các nhà yêu nước viết bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gồm tám điểm gửi Hội nghị Vécxây để đòi những quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam nhưng không được Hội nghị xem xét. Điều đó đã giúp Người nhận thức rõ hơn bản chất của chủ nghĩa đế quốc. Sau này, Người viết: “Chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịp bợm lớn”(7) và “chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”(8).
Đi sâu phân tích cách mạng tư sản ở Bắc Mỹ năm 1776 và cách mạng tư sản Pháp năm 1791, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”(9).
Thất vọng trước những lý tưởng giả hiệu của chủ nghĩa tư bản nhưng Nguyễn Ái Quốc không hề bi quan, mất niềm tin, trái lại Người luôn khao khát tìm kiếm chân lý cứu nước đúng đắn. Tháng 7 - 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo Nhân đạo (Pháp). Người tỏ rõ sự “cảm động, sáng tỏ và tin tưởng”(10) vào con đường cách mạng do lãnh tụ V.I.Lênin vạch ra. Người khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(11). Trên cơ sở đó, Người quyết định đưa cách mạng Việt Nam đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga. Đây là sự lựa chọn đáp ứng khát vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam, phù hợp với tính chất của thời đại mới - thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vị toàn thế giới.
Thứ hai, bổ sung chủ nghĩa Mác - Lênin “bằng cách đưa vào đó những tư liệu mà đời mình Mác chưa có được”
Học thuyết Mác - Lênin là một khoa học, là đỉnh cao trí tuệ nhân loại, hiểu về chủ nghĩa Mác - Lênin đã khó, vận dụng sáng tạo để không rơi vào tư duy giáo điều, “tả” khuynh, hữu khuynh, chủ quan, duy ý chí càng khó hơn và bổ sung chủ nghĩa Mác - Lênin càng khó hơn nữa.
Nhận thức đúng đắn và sâu sắc tính chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc tự nguyện trở thành và đứng trong hàng ngũ những người cộng sản, luôn ghi nhớ lời căn dặn của Ph.Ăngghen: “Học thuyết của Mác là lý luận của sự phát triển chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”(12).
Người học tập tấm gương của lãnh tụ cộng sản thiên tài V.I.Lênin: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn lạc hậu đối với cuộc sống”(13). Kể từ đây, Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu, khảo nghiệm chủ nghĩa Mác - Lênin trên tinh thần cách mạng triệt để, với quan điểm thực tiễn sâu sắc.
Là người am hiểu sâu sắc xã hội phương Đông và chế độ thuộc địa, Hồ Chí Minh đã có nhiều luận điểm bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin. Ngay sau khi giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, Người chỉ rõ: “chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn là ở châu Âu”(14). Bằng quan điểm thực tiễn sâu sắc, Người đã dũng cảm đưa ra đề xuất táo bạo: “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”(15). Bởi vì, “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”(16).
Theo Người, “xem xét lại chủ nghĩa Mác” không phải là hành động “xét lại” chủ nghĩa Mác - Lênin mà là làm cho chủ nghĩa ấy đứng vững trên mảnh đất hiện thực Việt Nam. Đó càng không phải là sự đối lập giữa tư tưởng của mình với chủ nghĩa Mác - Lênin mà là sự sáng tạo tư tưởng của Người trên nền tảng thế giới quan duy vật và phương pháp luận duy vật biện chứng. Đây có thể coi là tiền đề, xuất phát điểm cho những cống hiến sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin.
Hiểu chủ nghĩa Mác đã là khó khăn với nhiều người vì rõ ràng nó là đỉnh cao trí tuệ nhân loại nhưng dũng cảm đề xuất bổ sung “cơ sở lịch sử cho chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”(17) thì quả thực ít người làm được như Nguyễn Ái Quốc. Theo Người, sở dĩ chủ nghĩa Mác - Lênin là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất” không chỉ vì nó giúp nhân dân Việt Nam nhận thức rõ muốn cứu nước, giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản, mà hơn hết và trên hết đó là “học thuyết mở” cho phép những người cộng sản được sáng tạo lý luận “bằng những kết luận mới rút ra trong thực tiễn sinh động”(18).
Tuy nhiên, học huyết Mác - Lênin là “cẩm nang” thần kỳ”(19) chứ tuyệt nhiên không phải là “kinh thánh”. Là lãnh tụ cách mạng trưởng thành từ thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc nhận thức sâu sắc rằng, không có con đường cách mạng vô sản nào trên thế giới định sẵn đối với dân tộc Việt Nam mà phải dùng phương pháp luận duy vật biện chứng để vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tiễn đất nước. Với cách nhập đề khoa học, biện chứng nêu trên, Nguyễn Ái Quốc đã vạch ra con đường cách mạng Việt Nam với lộ trình, bước đi, biện pháp phù hợp, sáng tạo, độc đáo.
Với kiến thức sâu rộng về lịch sử dân tộc, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước trong sự nghiệp cứu nguy và chấn hưng dân tộc. Yêu nước là truyền thống quý báu, là tình cảm dân tộc thiêng liêng, sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam có sức mạnh lớn lao, “kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(20). Do đó, hành trình vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin của Nguyễn Ái Quốc thực chất là sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, với phương pháp chủ yếu là: “Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản... Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi... nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”(21). Phương pháp “nhân danh Quốc tế Cộng sản” chính là các biện pháp đưa cách mạng Việt Nam đi theo quỹ đạo của cách mạng vô sản thế giới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây hoàn toàn không phải là thủ đoạn chính trị hòng dụ dỗ, lôi kéo quần chúng nhân dân hay thủ thuật “đánh lận con đen” nhằm tranh thủ sự ủng hộ của Quốc tế Cộng sản như các phần tử phản động bóp méo, xuyên tạc.
Tuy nhiên, kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong bối cảnh của một nước thuộc địa là trường hợp chưa có tiền lệ trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, đấu tranh để giải phóng giai cấp là điều kiện tiên quyết để giải phóng con người, giải phóng xã hội. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác kêu gọi: “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp, dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”(22). Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất xã hội Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đặt vấn đề dân tộc lên trên hết, trước hết và xác định giải phóng dân tộc là điều kiện quyết định để giải phóng giai cấp. Bởi vì, “Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(23). Đây là sự vận dụng sáng tạo phương pháp luận duy vật biện chứng vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam; là sự vận dụng quy luật chung vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, tuyệt nhiên không phải là sự “đối lập” hay “xét lại” chủ nghĩa Mác - Lênin.
Thứ ba, kiên trì lấy chủ nghĩa Mác - Lênin “làm cốt”(24) chứ không phải “áp dụng một cách máy móc”(25)
Với quan điểm cách mệnh “trước hết phải có đảng cách mệnh”(26), ngay sau khi giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc nỗ lực vận động thành lập Đảng.
Theo V.I.Lênin, đảng cộng sản ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân. Tuy nhiên, ở Việt Nam, áp dụng công thức này không đem lại kết quả, vì giai cấp công nhân quá nhỏ về số lượng và yếu về chất lượng, lại đang chịu cảnh thực dân phong kiến áp bức. Nguyễn Ái Quốc nhận thấy ở Việt Nam lúc bấy giờ, lực lượng xã hội to lớn, có đủ khả năng hấp thụ chủ nghĩa Mác - Lênin, đó là lực lượng thanh niên yêu nước. Có kiến thức và nhiệt thành yêu nước, tầng lớp thanh niên được Người tin tưởng sẽ là hạt nhân nòng cốt trong việc giác ngộ và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam.
Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô tới Quảng Châu (Trung Quốc), hoạt động cách mạng với nhiệm vụ chuẩn bị công tác lý luận, tuyên truyền, tổ chức và bồi dưỡng cán bộ, tạo cơ sở vững chắc cho việc thành lập Đảng. Tại đây, Người đã cải tổ “Tâm tâm xã” thành tổ chức “Hội Việt Nam cách mạng thanh niên”, sáng lập báo Thanh niên và tổ chức các lớp huấn luyện cán bộ.
Nguyễn Ái Quốc trực tiếp biên soạn tài liệu giảng dạy và truyền đạt những nội dung học tập. Học viên trong các lớp huấn luyện được trang bị những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào cách mạng thế giới và phong trào cách mạng Việt Nam...
Nội dung các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc đã được Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức tập hợp lại thành cuốn sách với tiêu đề Đường Cách mệnh (xuất bản năm 1927).
Đồng thời, để những thanh niên có tinh thần cách mạng trở thành những chiến sĩ cộng sản thực thụ, Nguyễn Ái Quốc đưa họ về Việt Nam hoạt động thông qua phong trào “Vô sản hóa” với mục đích: giác ngộ bản chất giai cấp công nhân và tiếp tục truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin.
Đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở hợp nhất Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn. Đây là phương thức “gián tiếp” để tổ chức ra Đảng, đồng thời qua đó phản ánh tính đặc thù về quy luật ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Kể từ đây, Đảng ta đảm nhiệm trọng trách lịch sử là người chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến những thắng lợi vĩ đại. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ chấm dứt khủng hoảng về đường lối cứu nước mà còn góp phần bổ sung làm sâu sắc thêm kho tàng lý luận Mác - Lênin về quy luật ra đời của đảng cộng sản trong điều kiện một nước thuộc địa, nửa phong kiến.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn đã chứng minh: đây là lần đầu tiên trong lịch sử các dân tộc thuộc địa, dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin, một đảng cách mạng non trẻ mới 15 tuổi đã lãnh đạo toàn dân tộc tiến hành cách mạng thành công trong cả nước.
Tuy nhiên, giành được chính quyền đã khó, giữ vững được chính quyền còn khó khăn, phức tạp hơn nhiều. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt với hàng loạt khó khăn, thách thức của thù trong, giặc ngoài. Tình thế cách mạng lúc này đặc biệt nguy cấp như “Ngàn cân treo sợi tóc”.
Một sách lược quan trọng mà V.I.Lênin căn dặn những người cộng sản là phải nghiên cứu thực tiễn một cách khoa học, tỷ mỷ và thực thi một cách mềm dẻo, khéo léo; nếu có lợi cho cách mạng thì dù có phải thỏa hiệp với bọn kẻ cướp, chúng ta cũng thỏa hiệp.
| Thấm nhuần lợi dạy và bài học giữ vững chính quyền Xô viết của lãnh tụ V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích Nga, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo trong đấu tranh bảo vệ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. | Hồ Chí Minh đã kiên định, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin theo những cách thức riêng, sáng tạo, độc đáo nhằm giải quyết triệt để những nhiệm vụ lịch sử của cách mạng Việt Nam. |
Nhờ kiên trì, linh hoạt, sáng tạo trong thực hiện nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến” đã góp phần phân hóa, cô lập kẻ thù, chủ động kéo dài thời gian hoà hoãn để chuẩn bị thực lực trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Đúng như Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận xét: Đó là những cuộc “hưu chiến” khôn ngoan, đầy bản lĩnh nhờ trí tuệ thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trong điều kiện phải đương đầu với kẻ địch mạnh, nhiều ý kiến cho rằng: “cuộc kháng chiến của ta là “châu chấu đá voi”(27). Tuy nhiên, với quyết tâm sắt đá “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước”(28), dân tộc ta đã kiên cường thực hiện đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính” chống thực dân Pháp xâm lược và kết thúc thắng lợi bằng Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Tuy nhiên, giành và giữ vững chính quyền đã khó, xây dựng CNXH còn khó khăn, phức tạp hơn nhiều. Bởi vì, CNXH là chế độ xã hội hoàn toàn mới mẻ trong điều kiện nước ta đi lên CNXH “từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(29). Càng khắc nghiệt hơn, khi Việt Nam xây dựng CNXH trong tình trạng đất nước “vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh”, lại phải tiến hành nhiệm vụ “song trùng” vừa xây dựng CNXH, vừa đấu tranh thống nhất đất nước.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu chỉ có ý nghĩa tham khảo, tuyệt nhiên không thể áp dụng rập khuân, máy móc. Bởi vì, “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”(30). Với tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo trong kiến tạo chế độ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đề ra phương châm: “phải học tập kinh nghiệm các nước anh em và áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách sáng tạo. Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta”(31).
Trên cơ sở đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng XHCN ở miền Bắc, nhằm một mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa nước ta vững bước đi lên CNXH.
Nhờ đường lối đúng đắn, sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, trở thành hậu phương lớn chi viện sức người, sức của và củng cố niềm tin vững chắc cho đồng bào miền Nam “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào”.
Đây là thành công lớn của cách mạng Việt Nam và chưa từng có tiền lệ trong lịch sử cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Đại thắng mùa Xuân năm 1975, với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đưa cả nước quá độ lên CNXH.
Những thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH được ghi vào lịch sử dân tộc như biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người Việt Nam, khẳng định sức sống trường tồn, bất diệt và sức mạnh vô song của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, khẳng định vấn đề có tính quy luật: Một dân tộc dù nhỏ yếu nhưng nếu biết phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của một chính đảng mác xít cách mạng chân chính, luôn kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin thì nhất định sẽ giành được thắng lợi vẻ vang.
Thứ tư, bản lĩnh kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trước mọi hoàn cảnh, đặc biệt là những giai đoạn gặp nhiều khó khăn, thử thách
Trong quá trình kiên định vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn của đất nước, Hồ Chí Minh phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách đòi hỏi phải có bản lĩnh, trí tuệ, nghị lực phi thường và niềm tin cách mạng tuyệt đối để vượt qua.
Ngay sau sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03-02-1930), Nguyễn Ái Quốc đã bị Quốc tế Cộng sản và Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương hiểu lầm ở nhiều phương diện: tên Đảng, xác định lực lượng cách mạng... Vào thời điểm này, Quốc tế Cộng sản nhấn mạnh đấu tranh giai cấp, rơi vào chủ quan khi đánh giá về lực lượng cách mạng ở các nước thuộc địa, đánh giá sai tương quan lực lượng các giai cấp. Đại hội VI của Quốc tế Cộng sản xác định: lực lượng cách mạng chỉ bao gồm hai giai cấp công nhân và nông dân. Trong khi đó, quan điểm của Nguyễn Ái Quốc thể hiện trong “Cương lĩnh chính trị đầu tiên”: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt... để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ”(32). Vì vậy mà từ năm 1931 đến 1938, Nguyễn Ái Quốc không được phân công nhiệm vụ trong Quốc tế Cộng sản. Thông qua “Thư gửi một đồng chí ở quốc tế cộng sản”, chúng ta thấy rõ những thử thách đó: “Hôm nay là ngày kỷ niệm lần thứ bảy việc tôi bị bắt giữ ở Hồng Công. Đó cũng là ngày mở đầu năm thứ tám tình trạng không hoạt động của tôi... Điều tôi muốn đề nghị với đồng chí là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng”(33). Trước khó khăn, thử thách, Người luôn kiên định con đường cách mạng đã xác định.
Năm 1938, trong bối cảnh cần tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa phát xít, những quan điểm sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc được Quốc tế Cộng sản thừa nhận. Tổ chức cũng chấp thuận cho Người về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng.
Năm 1941, Hồ Chí Minh về đến Việt Nam, chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (năm 1941), đánh dấu việc hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược bằng việc đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Những quyết sách đúng đắn của Hội nghị là tiền đề dẫn tới thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và những bước phát triển tiếp theo của cách mạng Việt Nam.
Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và xây dựng CNXH, bản lĩnh kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin được thể hiện sâu sắc ở đường lối độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Với quan điểm “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(34), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã hoạch định đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh và dựa vào sức mình là chính, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước đã góp phần phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp sức mạnh thời đại tạo ra sức mạnh tổng hợp to lớn. Đặc biệt, trước những diễn biến của “Chiến tranh lạnh” giữa Mỹ và Liên Xô, trong “sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em”(35), bản lĩnh kiên định vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin đã trở thành nền tảng để Hồ Chí Minh và Đảng ta tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
2. Sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(36). Thành tựu đó có được là nhờ Đảng ta luôn “kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”(37). Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu to lớn, đất nước ta đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức không nhỏ. Trên thế giới, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, các thách thức an ninh phi truyền thống diễn biến phức tạp và khó dự báo. Trong nước, sự chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, xảo quyệt; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ diễn biến phức tạp. Nghiêm trọng hơn, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hoang mang, dao động, thậm chí phủ nhận mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Vì vậy, tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là “chìa khóa” để thực hiện thắng lợi mục tiêu “đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(38). Trên cơ sở kế thừa và phát huy nền tảng thành công của Hồ Chí Minh, cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau đây:
Một là, tích cực đổi mới tư duy lý luận gắn với nâng cao chất lượng tổng kết thực tiễn
Đổi mới tư duy lý luận là yêu cầu cấp bách, nhiệm vụ then chốt của Đảng nhằm phát huy tiềm năng, vị thế, điều kiện thực tiễn của đất nước; tận dụng tối đa xu thế phát triển của thời đại, bảo đảm đất nước phát triển nhanh, bền vững theo đúng định hướng XHCN. Đổi mới tư duy lý luận không phải là xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà phải vận dụng sáng tạo thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng vào thực tiễn đất nước. Đặc biệt, “không thể kéo dài tình trạng còn lạc hậu của lý luận so với sự vận động và đòi hỏi của thực tiễn. Lý luận phải vươn lên dẫn đường và đồng hành cùng thực tiễn”, “phải có tầm nhìn vượt trước”(39).
Đổi mới tư duy lý luận phải gắn liền với đổi mới công tác cán bộ, coi đây là khâu “then chốt của then chốt”. Sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta từng chứng kiến nhiều cán bộ dũng cảm “xé rào”, “vượt rào” vì dân, vì nước. Do đó cần chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích và bảo vệ cán bộ “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(40).
Mặt khác, “Muốn làm cho chủ nghĩa xã hội thành một khoa học thì trước hết phải đặt chủ nghĩa xã hội trên một cơ sở hiện thực”(41). Do đó, đổi mới tư duy lý luận phải trên cơ sở tổng kết thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, xu thế vận động của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nhất là sự phát triển của cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư... để bổ sung “những tư liệu” mà ở thời mình C.Mác, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh chưa có được theo đúng như tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Phải tập trung nâng cao hơn nữa chất lượng tổng kết thực tiễn gắn với nghiên cứu lý luận trên cơ sở nắm vững và vận dụng sáng tạo phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”(42) .
Hai là, nâng cao bản lĩnh chính trị cho toàn Đảng, toàn dân và hệ thống chính trị trong kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng
Nhiệm vụ trọng tâm là phải nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị làm cho toàn Đảng, toàn dân “ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo”(43) chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tăng cường thống nhất nhận thức và hành động trong Đảng cũng như ngoài Đảng về tinh thần luôn kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi vì, “Nếu trong Đảng và ngoài Đảng từ trên xuống dưới, từ trong đến ngoài đều tư tưởng thống nhất và hành động thống nhất thì nhiệm vụ tuy nặng nề, công việc tuy khó khăn phức tạp, ta cũng nhất định thắng lợi”(44).
Ba là, kiên quyết, kiên trì đấu tranh, phá tan âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động hòng phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” chính là phương châm cơ bản trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Theo đó, cần tăng cường lan toả những giá trị, bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm góp phần nâng cao khả năng “miễn dịch” của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đặc biệt, cần quyết liệt đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động, chống phá Đảng và Nhà nước ta trên không gian mạng. Chủ động xây dựng các tình huống và kịch bản đấu tranh với các thế lực phản động, thù địch, tránh bị động, bất ngờ hoặc tạo “khoảng trống” để kẻ thù lợi dụng chống phá, xuyên tạc.
Hồ Chí Minh đã kiên định, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin theo những cách thức riêng, sáng tạo, độc đáo nhằm giải quyết triệt để những nhiệm vụ lịch sử của cách mạng Việt Nam. Đây chính là nền tảng thành công của Người đã được thực tiễn kiểm chứng, đòi hỏi Đảng ta cần tiếp tục vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tiễn mới của đất nước và “không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”(45). Tất cả mọi mưu toan xuyên tạc hay phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều là “những việc làm ti tiện, đớn hèn, vô liêm sỉ” và tất yếu sẽ bị lịch sử chôn vùi. Thế giới còn đổi thay nhưng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ sống mãi.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và sự vận dụng trong cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch hiện nay
TS ĐẶNG THỊ PHƯƠNG DUYÊN
Trường Đại học Công đoàn
(LLCT) - Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác tư tưởng và đặc biệt quan tâm bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin. Bài viết phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống những quan điểm sai trái, phi mácxít, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Bài viết thuộc đề tài cấp Bộ: "Bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong tình hình mới" do TS Đào Thị Minh Thảo làm Chủ nhiệm.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cơ sở khoa học cho đường lối xây dựng Đảng cũng như bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - Ảnh: laichau.gov.vn
Là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác tư tưởng của Đảng, coi “công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất”(1), có ý nghĩa quyết định đến đường lối chính trị của Đảng. Đồng thời, Người cũng luôn coi trọng công tác bảo vệ, phát triển hệ tư tưởng của Đảng. Vấn đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh để lại những bài học vô cùng sâu sắc đối với cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay.
1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Một là, khẳng định tầm quan trọng, tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin
Để thực hiện mục tiêu của cách mạng, vấn đề đầu tiên là phải xác định được hệ tư tưởng dẫn đường cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Sự bế tắc về con đường cách mạng ở Việt Nam những năm 1920 đã cho thấy tính cấp thiết cần có một hệ tư tưởng khoa học, đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử. Kết quả hoạt động thực tiễn và lý luận nhiều năm đã đưa Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến với ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ nhận thức sâu sắc bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(2).Sở dĩ như vậy là bởi, đây là học thuyết duy nhất từ trước đến nay quan tâm đến vận mệnh của các dân tộc bị áp bức, gắn cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp với giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đó cũng là khát vọng của dân tộc ta. Do đó,“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(3).
Hồ Chí Minh luôn khẳng định, hệ tư tưởng lý luận của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong tác phẩm “Thường thức chính trị”, Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, mỗi đảng viên đều phải nghiên cứu”(4). Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin không những là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Sáclơ Phuốcniô ngày 15-7-1969, Hồ Chí Minh khẳng định,cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn là do nhiều nhân tố, nhưng “trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác -Lênin”(5). Người coi V.I.Lênin là “ngôi sao chỉ đường tiến tới sự nghiệp giải phóng vĩ đại của nhân dân bị áp bức”.
Hai là, phê phán những khuynh hướng tư tưởng sai trái, lệch lạc, phi mácxít
Khẳng định vai trò của hệ tư tưởng vô sản, của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với sự nghiệp đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng phê phán gay gắt những tư tưởng đi ngược lại với quan điểm của chủ nghĩa Mác. Trong thời kỳ hoạt động cách mạng sôi nổi tại Pháp, Hồ Chí Minh đã nhận rõ thực chất của chủ nghĩa cơ hội tiểu tư sản trong Quốc tế II, với sự ủng hộ chính sách thuộc địa của chủ nghĩa tư bản, với chính sách phân biệt chủng tộc (công nhân da trắng và công nhân da màu). Người viết: “Trong chính sách thuộc địa của Quốc tế thứ hai, bất cứ ở đâu cũng lộ rõ bộ mặt thật của tổ chức tiểu tư sản này. Bởi vậy, cho tới tận Cách mạng Tháng Mười, ở các nước thuộc địa, học thuyết xã hội chủ nghĩa đã bị coi là một thứ học thuyết chỉ dành riêng cho những người da trắng, một thứ thủ đoạn mới để lừa dối và bóc lột người bản xứ”(6).
Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao những cống hiến vĩ đại của V.I.Lênin và bảo vệ tư tưởng của V.I.Lênin trong việc giải quyết đúng đắn vấn đề thuộc địa. Hiểu chủ nghĩa Lênin và con đường cách mạng vô sản, Ngườitích cực hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và trong Quốc tế III, “tiến công mạnh mẽ những kẻ chống lại Lênin và Quốc tế thứ ba”, Người “không chỉ tranh luận trong chi bộ”,mà còn đi đến các chi bộ khác để đặt câu hỏi:“Nếu các đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu các đồng chí không đoàn kết với các dân tộc thuộc địa, thì các đồng chí làm thứ cách mạng gì?”(7).
Với kinh nghiệm hoạt động quốc tế phong phú và sự nhạy bén về chính trị, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ bản chất và mưu đồ của những phần tử tờrốtxkít. Bởi chủ nghĩa Tơrốtxky và những phần tử tờrốtxkít đã phá hoại phong trào cách mạng ở nhiều nước, như Liên Xô, Nhật Bản, Trung Quốc, Tây Ban Nha và trong Quốc tế cộng sản. Năm 1939, khi hoạt động ở Trung Quốc, Người viết thư gửi Trung ương Đảng ở trong nước để trao đổi nhiều vấn đề về đường lối, chính sách của Đảng, trong đó có đề cập đến việc chống phái tờrốtxkít. Trong bàiVề chủ nghĩa Tờrốtxki, đăng trên báo Notre Voix, ngày 23-6-1939, Người chỉ rõ: “Bọn tờrốtxkít không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, mà còn là kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ. Đó là bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất”(8).
Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ, “Trong tất cả các nước, bọn tờrốtxkít đều dùng những tên gọi hoa mỹ để che dấu những công việc kẻ cướp bẩn thỉu của chúng”(9). Trong phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương 1936 - 1939, những phần tử tờrốtxkít đã công khai phá hoại đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương, lôi kéo, lừa bịp nhân dân với những khẩu hiệu “tả” khuynh. Từ nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đề nghị các đồng chí trong Đảng cần phải cảnh giác đối với những phần tử này: “Đối với bọn tờrốtxkít, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị”(10).
Nhận rõ tính chất nguy hiểm của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trong lời phát biểu tại Hội nghị Đại biểu các Đảng Cộng sản và Công nhân các nước xã hội chủ nghĩa (tháng 11-1957), Người nhắc lại tinh thần của Bản Tuyên bố của Hội nghị, “chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sôvanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”(11).
Hồ Chí Minh chỉ rõ, nguyên nhân của mọi thắng lợi trong suốt thời kỳ lãnh đạo cách mạng Việt Nam là do “Đảng ta luôn luôn đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp và của nhân dân, biết vận dụng lý luận Mác -Lênin vào tình hình thực tế của nước ta và đề ra đường lối, chính sách đúng đắn. Đảng ta không ngừng đấu tranh chống những khuynh hướng cải lương của giai cấp tư sản và những khuynh hướng manh động của tầng lớp tiểu tư sản trong phong trào dân tộc; chống luận điệu “tả” của bọn tơrốtxkít trong phong trào công nhân; chống khuynh hướng hữu và “tả” trong Đảng khi quy định và chấp hành chiến lược và sách lược cách mạng của Đảng ở mỗi thời kỳ”(12).
Mọi tư tưởng cơ hội, cải lương, phản cách mạng, phi mácxít hay giả danh mácxít đều nguy hại cho cách mạng. Đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin cũng là bảo vệ đường lối chính trị của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng. Đó là yêu cầu tất yếu của cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào.
Ba là, phê phán cách nghĩ, cách làm giáo điều, dập khuôn máy móc
Hồ Chí Minh thấm nhuần nguyên tắc căn bản của phương pháp biện chứng mácxít là thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, Người nhận thức rõ lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc mà đầy tính sáng tạo, do đó, "phải cụ thể hóa chủ nghĩa Mác - Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc từng nơi”(13). Người chỉ rõ những sai lầm có thể mắc phải trong nhận thức và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như trong chỉ đạo thực tiễn. “Tả" khuynh thì sẽ bị cô lập, sẽ xa rời nhân dân ta và nhân dân thế giới và sẽ thất bại. Hữu khuynh thì bi quan tiêu cực, nhân nhượng vô nguyên tắc. Không tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, làm nhụt tinh thần phấn đấu của nhân dân. Quên tác phong gian khổ; chỉ mong muốn một đời sống yên ổn dễ dàng”(14). Và Người kết luận, “Khuynh hướng “tả” cũng như hữu đều là sai lầm, đều sẽ bị địch lợi dụng, đều có hại cho ta mà lợi cho địch”(15).
Nắm vững những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác, lại có vốn kinh nghiệm và hiểu biết thực tiễn sâu sắc, Hồ Chí Minh đã phê phán thẳng thắn quan điểm phiến diện, giáo điều, rập khuôn máy móc của một số người về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp ở Việt Nam: “nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”(16).
Khi miền Bắc bắt tay vào cải tạo XHCN, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, cải tạo giai cấp tư sản cũng cần có cách thức khác, “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”(17). Rõ ràng, việc xây dựng đường lối, chính sách cũng như việc thực hiện đường lối đó không thể máy móc, giáo điều mà phải luôn chú ý đặc điểm, hoàn cảnh riêng của Việt Nam. Trong Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc (ngày 7-9-1957), Người đặc biệt nhấn mạnh việc vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn Việt Nam, phải trên cơ sở nắm vững điều kiện đặc biệt của nước ta “là một xã hội vừa mới thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, hết sức lạc hậu”.
Hồ Chí Minh đặc biệt phê phán bệnh giáo điều, xét lại. Đó là do vừa không nắm vững lý luận, vừa xa rời thực tế, thiếu tính sáng tạo trong vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng. “Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều. Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại”(18). Vì thế, Người luôn yêu cầu vừa coi trọng việc học tập, nghiên cứu lý luận, vừa gắn lý luận với thực tiễn. “Chúng ta phải khắc phục bệnh giáo điều đồng thời phải đề phòng chủ nghĩa xét lại”(19). Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, không chỉ là “làm theo” chỉ dẫn của chủ nghĩa Mác - Lênin mà là vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo lý luận vào hoàn cảnh cụ thể, làm cho lý luận đó thể hiện một cách sinh động trên thực tiễn và mang lại hiệu quả.
Bốn là, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn kiên trì học tập hệ tư tưởng của Đảng, không ngừng nâng cao trình độ lý luận
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(20). Người thấy rõ, “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”(21). Do đó, Người cho rằng, “giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng”(22).
| Là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác tư tưởng của Đảng, coi “công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất”, có ý nghĩa quyết định đến đường lối chính trị của Đảng. Đồng thời, Người cũng luôn coi trọng công tác bảo vệ, phát triển hệ tư tưởng của Đảng. |
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sự ra đời của Đảng đánh dấu bước trưởng thành về chất của phong trào công nhân, từ trình độ tự phát lên trình độ tự giác. Tuy nhiên, để giai cấp công nhân và Đảng của nó thực sự giữ vững vai trò lãnh đạo và luôn đạt đến trình độ tự giác, việc học tập, thấm nhuần hệ tư tưởng của Đảng là một yêu cầu tất yếu. Vì vậy, ngay trong giai đoạn Đảng tập trung cho mục tiêu đấu tranh giành độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, muốn hoàn thành những nhiệm vụ to lớn của cách mạng, bên cạnh việc “đấu tranh không nhân nhượng, chống tư tưởng bè phái”, Đảng “phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin để nâng cao trình độ văn hóa và chính trị cho các đảng viên”(23).
Tuy nhiên, theo Hồ Chí Minh, học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận, nâng cao hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là thuộc lòng câu chữ một cách máy móc mà là “học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn”(24).
Trong Diễn văn khai mạc lớp học tập lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc, Người chỉ rõ, một trong những nhược điểm lớn của Đảng là “trình độ lý luận còn thấp kém”, vì thế trước những nhiệm vụ cách mạng ngày càng mới và phức tạp, “trong việc lãnh đạo, Đảng ta không khỏi lúng túng, không tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm”(25). Người phê phán gay gắt đối với những biểu hiện sai lệch trong nhận thức và hành động của một số cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là những cán bộ đảng viên “học sách vở Mác - Lênin, nhưng không học tinh thần Mác - Lênin. Học để trang sức, chứ không để vận dụng vào công việc cách mạng. Đó cũng là chủ nghĩa cá nhân”(26).
Việc học tập lý luận, nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên, là để mỗi cán bộ, đảng viên làm giàu tư duy khoa học, kiên định về chính trị, đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tư tưởng của Đảng là tư tưởng của giai cấp công nhân, nó đấu tranh cho lợi ích của toàn dân. Vì vậy, trong Đảng không thể có những tư tưởng, lập trường và tác phong trái với tư tưởng, lập trường và tác phong của giai cấp công nhân”(27)… “Trong Đảng không thể có những phần tử lạc hậu và đầu cơ… những phần tử hèn nhát lung lay”(28). Người nhấn mạnh phải xây dựng Đảng trên cả ba mặt, tư tưởng, chính trị và tổ chức, trong đó, về tư tưởng “nhất định phải học tập lý luận Mác - Lênin”… “giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng. Đảng phải tăng cường tư tưởng của giai cấp công nhân và gột rửa những tư tưởng trái với nó”(29). Do ảnh hưởng của chế độ thực dân và phong kiến, nên những tư tưởng phi vô sản có thể ảnh hưởng trong Đảng, nên Người yêu cầu “Đảng cần phải giáo dục và yêu cầu đảng viên ra sức học tập lý luận, mở rộng tự phê bình và phê bình, đấu tranh vào những tư tưởng “phi vô sản””(30).
Hồ Chí Minh coi trọng việc học tập tư tưởng, lý luận, xem đó là việc làm thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên. Trong Báo cáo tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, Người chỉ rõ mục đích của vấn đề này là nhằm “nâng cao trình độ tư tưởng và chính trị của cán bộ và đảng viên, tẩy bỏ tư tưởng phi vô sản và tiểu tư sản, thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động, đoàn kết toàn Đảng để Đảng làm tròn nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang của mình”(31). Vì vậy, Người yêu cầu, “Mỗi đảng viên, mỗi chi bộ, mỗi cấp ủy đảng phải luôn luôn tăng cường công tác tư tưởng của Đảng, nâng cao đạo đức cách mạng, bảo đảm chặt chẽ kỷ luật và tổ chức của Đảng”(32).
2. Bài học đối với cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề xây dựng Đảng không tách rời nhiệm vụ bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin. Người chỉ rõ sự nguy hại của tư tưởng, thái độ, hành vi phản động, phản khoa học, phi mácxít trong đảng và trong phong trào công nhân, đồng thời đã để lại cho chúng ta những bài học quý giá về tính khoa học, tinh thần kiên quyết, kiên định, triệt để trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng luôn vẹn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, là cơ sở khoa học cho đường lối xây dựng Đảng cũng như bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Một là, không ngừng nâng cao trình độ lý luận của mỗi cán bộ, đảng viên và trong toàn Đảng. Việc xem thường lý luận hoặc học lý luận không đến nơi là vô cùng nguy hiểm, là biểu hiện của sự “tự chuyển hóa” từ trong nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên, là sự tự xa rời hệ tư tưởng cũng như lý tưởng của Đảng. Nguy hiểm hơn, việc học tập và hiểu không đúng, không đầy đủ về chủ nghĩa Mác, sẽ làm méo mó lý luận khoa học đó, khi thực hành sẽ vận dụng sai lầm, dẫn đến những hậu quả tai hại.
Hai là, luôn đề cao cảnh giác trước những luận điệu, thủ đoạn chống phá tinh vi của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị, mưu toan “trộn lẫn” phải trái, đúng sai, vu cáo, xuyên tạc và phủ nhận hiện thực lịch sử. Cảnh giác trước những mưu toan “làm mới” hệ tư tưởng để xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cảnh giác trước những thủ đoạn “dân túy”, nhân danh “cách mạng”, “yêu nước”, “lợi ích dân tộc” để kích động, chia rẽ, lôi kéo quần chúng. Tỉnh táo và thận trọng, sáng suốt và nhạy bén trong việc nhận diện những biểu hiện của các trào lưu tư tưởng phi mácxít, đặc biệt là chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, từ đó có những chủ trương và biện pháp đấu tranh phù hợp và kịp thời.
Ba là, kết hợp nhuần nhuyễn tính đảng, tính khoa học và tinh thần cách mạng tiến công trong đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng. Phải đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, với những luận cứ, luận chứng khoa học, thuyết phục. Muốn vậy phải mài sắc vũ khí tư tưởng, hiểu thật sâu sắc, toàn diện hệ tư tưởng của Đảng, không nửa vời, không chắp vá.
Bốn là, để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, không chỉ dừng ở sự trung thành, kiên định đối với hệ tư tưởng đó, mà còn là sự vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận đó cho phù hợp với yêu cầu khách quan của lịch sử. Vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải từng bước hiện thực hóa lý luận khoa học đó, để lý luận đó thể hiện sinh động trong thực tiễn, thông qua các quyết sách chính trị phù hợp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và mang lại giá trị thực tiễn cụ thể. Đó là minh chứng có sức mạnh nhất để đập tan mọi âm mưu bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.
Công an nhân dân khắc ghi lời dạy "Danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất"
TS HÀ VĂN LUYẾN
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
HÀN ANH TUẤN
Công an huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
(LLCT) - Danh dự của cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân Việt Nam là yếu tố quan trọng hàng đầu, là bức tường thành vững chắc quyết định hiệu quả công tác bảo đảm an ninh, trật tự trong mọi giai đoạn cách mạng. Trên cơ sở làm rõ những vấn đề chung liên quan trực tiếp đến lời dạy “Danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 73, bài viết đã phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt lời căn dặn của Tổng Bí thư đối với toàn lực lượng Công an nhân dân Việt Nam.
Công an nhân dân là nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội - Ảnh: MH
1. Từ những lời dạy đến sự ra đời của một cuốn sách
Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, đăng trên Tạp chí Học tập, số 12 năm 1958, với nỗi day dứt, trăn trở trước yêu cầu mới của tình hình cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(1).
Người cũng khẳng định: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(2).
Quán triệt sâu sắc lời dạy của Người, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nhiều lần nhấn mạnh: “Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cần “khắc cốt”, “ghi tâm” những lời dạy của Bác”(3).
Trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc tổng kết công tác tổ chức Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025, ngày 19-11-2020, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở cán bộ, đảng viên cần học tập lý tưởng sống của nhân vật Pa-ven Cooc-xa-ghin trong tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy” của nhà văn Liên Xô (cũ) Nhicalai Axtơrốpxki: “Cái quý nhất của con người là cuộc sống và danh dự sống, bởi vì, đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí; để khỏi phải hổ thẹn vì những việc làm ti tiện, đớn hèn, mang tai, mang tiếng, mọi người khinh bỉ; để đến khi nhắm mắt xuôi tay, có thể tự hào rằng: Ta đã sống có ích, đã mang tất cả đời ta, tất cả sức ta hiến dâng cho sự nghiệp cao quý nhất trên đời: Vì vinh quang của Tổ quốc, của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân, của con người; để con cháu chúng ta mai sau mãi mãi biết ơn, kính trọng, học tập và noi theo”(4).
Tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 16-6-2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở: mỗi cán bộ, đảng viên phải giữ thanh liêm, giữ liêm sỉ và danh dự của người đảng viên.
Ngày 30-6-2022, tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư đã nhấn mạnh: “Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực”(5).
Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ở mỗi phương diện và góc độ khác nhau, “danh dự” luôn là điều cao quý đối với mỗi con người, đặc biệt, đối với những người có trình độ học vấn, có chức vụ, có ảnh hưởng đến nhiều người... càng phải biết trọng danh dự, giữ gìn tư cách, hình ảnh, giá trị cá nhân đã được thừa nhận.
Đối với lực lượng Công an nhân dân (CAND), tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 73 ngày 15-1-2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã căn dặn cán bộ, chiến sĩ: “Tôi tin tưởng và tha thiết mong rằng: Với nỗ lực và quyết tâm cao, với tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, với đội ngũ cán bộ trung thành, tận tụy, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ năng lực, lực lượng CAND sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, lập nhiều thành tích, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mong các đồng chí luôn luôn ghi nhớ, khắc sâu vào tâm trí mình mà thực hiện bằng được chân lý: “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”; “Còn Đảng thì còn mình”; “Danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất””(6).
Ngày 12-4-2023, Đảng ủy Công an Trung ương đã phối hợp Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã ra mắt và giới thiệu đến bạn đọc cuốn sách “Danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất”. Sự ra đời của cuốn sách là hoạt động tinh thần thiết thực chào mừng kỷ niệm 75 năm lực lượng CAND học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy (11-3-1948 - 11-3-2023), hướng tới kỷ niệm 78 năm thành lập lực lượng CAND (19-8-1945 - 19-8-2023).
Cuốn sách là sự tổng hợp, chắt lọc những ý kiến chỉ đạo, những bài viết, bài nói chuyện và hình ảnh của Tổng Bí thư với lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có giá trị và ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, qua đó thể hiện sự quan tâm và niềm tin sâu sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với lực lượng CAND.
Cuốn sách thể hiện vai trò nòng cốt, tiên phong, gương mẫu, trách nhiệm của toàn lực lượng CAND trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời, những nội dung được đề cập trong cuốn sách đã trở thành kim chỉ nam soi đường, chỉ lối để mỗi cán bộ, chiến sĩ tự soi, tự sửa; không ngừng học tập, rèn luyện, tu dưỡng về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng theo Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân; nâng cao năng lực công tác, ra sức giữ gìn, bảo vệ uy tín, sức mạnh của Đảng, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân.
Thông qua nội dung cuốn sách, mỗi cán bộ, chiến sĩ công an sẽ càng thêm thấm nhuần sâu sắc những tình cảm trân quý và sự kỳ vọng lớn lao của Tổng Bí thư dành cho lực lượng CAND, từ đó không ngừng phấn đấu vươn lên, hoàn thành xuất sắc mọi trọng trách, nhiệm vụ được giao.
2. Phấn đấu thực hiện tốt lời dạy của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong thực tiễn công tác, chiến đấu của Công an nhân dân Việt Nam
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Danh dự là sự coi trọng của dư luận xã hội, dựa trên giá trị tinh thần, đạo đức tốt đẹp”(7); “Thiêng liêng là sự cao quý, đáng coi trọng hơn hết”(8).
Xét dưới một khía cạnh chung nhất, “danh dự” và “thiêng liêng” có mối quan hệ chặt chẽ và khăng khít với nhau, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau làm nên một chân lý cao đẹp. Dưới góc độ cá nhân, danh dự là thứ thiêng liêng, cao quý, nhưng không xa vời, trừu tượng mà gần gũi, gắn với tên tuổi, cuộc đời và sự nghiệp của mỗi con người; được xem như một trong những phẩm chất cao quý của mỗi người, là giá trị làm người. Nó không tự mất đi, không bị hủy hoại bởi yếu tố bên ngoài nếu chính bản thân cá nhân đó không tự đánh mất, tự hủy hoại nó. Danh dự không phải là điều gì đó bất biến, còn mãi, không tự nhiên có được, mà đến từ sự đóng góp, cống hiến của người đó với tổ chức, tập thể, xã hội; do sự tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện miệt mài, dày công vun đắp như “Ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”; trái lại sẽ bị giảm sút, thậm chí mất đi nếu không biết giữ gìn, bảo vệ, bồi đắp.
Tuy nhiên, mức độ lan tỏa và ảnh hưởng của danh dự ở mỗi con người trong xã hội sẽ có sự khác nhau, phụ thuộc vào phương thức truyền thông, sự lan tỏa giá trị, quan hệ xã hội, uy tín, địa vị công tác, hoặc địa vị xã hội của người đó. Danh dự làm nên nhân cách của một con người, là kim chỉ nam định hướng tư tưởng, hành động, giúp con người phân biệt được đúng sai, những việc nên làm và những việc nên tránh. Đó cũng là yếu tố giúp cho xã hội trở nên tốt đẹp, cuộc sống giàu ý nghĩa, cao quý và nhân văn hơn.
Với vai trò đặc biệt quan trọng, là lực lượng vũ trang làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, có thể thấy, danh dự của lực lượng CAND là điều thiêng liêng, cao quý mà mỗi cán bộ, chiến sĩ phải ra sức trân quý, giữ gìn và phát huy; mất danh dự là mất tất cả, ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và hình ảnh của lực lượng CAND.
Vì vậy, trong bất cứ hoàn cảnh nào, “Mỗi cán bộ, chiến sĩ công an phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện để nêu cao ý chí chiến đấu; thường xuyên tự soi, tự sửa, tự tu dưỡng, rèn luyện theo sáu điều Bác Hồ đã dạy lực lượng Công an nhân dân... Phải coi đây là việc làm thường xuyên, rất hệ trọng, trở thành tiềm thức trong trái tim, khối óc và hành động thực tế trong công tác, chiến đấu hằng ngày của mình; luôn luôn giữ mình cho thật trong sạch, thật vững vàng, không bị sa ngã trước bất cứ sự mua chuộc, lôi kéo nào của các phần tử xấu, “lợi ích nhóm”; không bị cám dỗ bởi những danh lợi tầm thường; không lợi dụng cương vị công tác của mình để làm những việc ty tiện, đớn hèn, làm phương hại đến lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và lợi ích chính đáng của nhân dân. Có như thế mới bảo vệ được uy tín, danh dự thiêng liêng và phát huy được truyền thống anh hùng, cách mạng vẻ vang của lực lượng Công an nhân dân”(9).
Danh dự của CAND Việt Nam không thể đo đếm hay mua bán, đánh đổi bằng vật chất, tiền bạc, những thứ phù phiếm, cũng không tự nhiên mà có, mà phải do chính bản thân mỗi cán bộ, chiến sĩ trải qua quá trình tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn, cống hiến nhiều năm; đó là sự tận tụy với công việc, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của Đảng, của quốc gia, của dân tộc trên hết, ngoài ra không còn lợi ích tư lợi nào khác. Vì vậy, danh dự của lực lượng CAND cần phải được coi trọng, trân quý và giữ gìn từ những hành vi, cử chỉ dù là nhỏ nhất, trong từng tình huống giao tiếp, tình huống nghiệp vụ của mỗi cán bộ, chiến sĩ.
Thực tiễn đã chứng minh, trải qua 78 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, 75 năm học tập và thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy, dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; lực lượng CAND đã đoàn kết thống nhất, vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao; chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước nhiều chủ trương, quyết sách chiến lược về bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; cùng với nhân dân cả nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, góp phần đưa kháng chiến thành công, đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước.
Ý thức được niềm vinh dự, danh dự và trách nhiệm lớn lao trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, lực lượng Công an các cấp luôn nêu cao tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần trách nhiệm trong công tác, chiến đấu và sinh hoạt, không ngừng trau dồi đạo đức cách mạng, xây dựng hình ảnh đẹp về người cán bộ, chiến sĩ công an đẹp trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế. Lực lượng CAND đã và đang “tận trung với Đảng, tận hiếu với dân”, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, góp phần tô thắm thêm truyền thống của CAND Việt Nam.
Bằng những công việc cụ thể, ngày càng xuất hiện nhiều hình ảnh đẹp, có sức lan tỏa, tạo sự tin yêu, đồng thuận của xã hội, của nhân dân với lực lượng CAND; đã có hàng chục nghìn tấm gương sáng về lòng dũng cảm, anh dũng hy sinh hoặc để lại một phần xương máu vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, trở thành biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, trong đó có 14.849 liệt sĩ, 5.512 thương binh. Lực lượng CAND đã vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng 16 Huân chương Sao vàng, 101 Huân chương Hồ Chí Minh, 233 Huân chương Độc lập, 1.089 danh hiệu Anh hùng và nhiều phần thưởng cao quý khác(10).
Tuy nhiên, trước tác động đa chiều của kinh tế thị trường, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động, vẫn có một bộ phận cán bộ, chiến sĩ chưa thật sự vững vàng về bản lĩnh chính trị, tự đánh mất phẩm giá, làm hoen ố danh dự của người chiến sĩ CAND, còn có một số biểu hiện băn khoăn trong quán triệt, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là về những biện pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; vẫn còn có tâm lý hoang mang, dao động trước những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế và trong nước. Họ đã không quyết tâm, kiên trì, vững chí nuôi dưỡng, bồi đắp và bảo toàn “danh dự”; không vượt qua được những cám dỗ. Ở đâu đó trong lực lượng CAND vẫn còn tình trạng cán bộ, chiến sĩ “suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên, thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc, gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân trong quá trình công tác. Cá biệt có những trường hợp tiêu cực, tham nhũng, bị bọn tội phạm dụ dỗ, mua chuộc gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, hình ảnh, truyền thống của lực lượng Công an nhân dân”(11).
Để thực hiện tốt và khắc ghi sâu sắc lời dạy “Danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, thời gian tới, lực lượng CAND cần tập trung thực hiện có hiệu quả một số giải pháp trọng tâm sau đây:
Một là, đổi mới và hoàn thiện cơ chế, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với CAND, bảo đảm không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng CAND
Sự lãnh đạo của Đảng đối với CAND là nhân tố chính trị quan trọng hàng đầu, yếu tố quyết định sự phát triển, sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Công an, bảo đảm cho Công an thực sự là công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ và là lực lượng nòng cốt xung kích trên mặt trận bảo vệ an ninh trật tự, bảo vệ cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với CAND không tạo ra “khoảng trống”, những “vùng cấm”, không “bỏ sót” bất cứ lĩnh vực, hoạt động nào của CAND. Ở đâu có tổ chức và hoạt động của CAND thì ở đó có sự lãnh đạo của Đảng. Chính vì thế, cấp ủy và thủ trưởng Công an các cấp phải luôn gương mẫu, đi đầu trong việc triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức, rèn luyện bản lĩnh chính trị, ý chí chiến đấu, tinh thần cách mạng tiến công, hành động theo Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân, thực hiện tốt khẩu hiệu hành động “Chủ động, nêu gương, kỷ cương, trách nhiệm, hiệu quả” để cán bộ, chiến sĩ luôn vững vàng trước mọi sự tấn công của các thế lực thù địch và các loại tội phạm, những cám dỗ, tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện ngại khó, ngại khổ, lơ là trách nhiệm trong công tác, nhất là tư tưởng trung bình chủ nghĩa ở một bộ phận cán bộ, chiến sĩ.
Tăng cường công tác quản lý cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, giữ vững và tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết nội bộ; thường xuyên quán triệt cán bộ, chiến sĩ thực hiện hiệu quả 5 chủ động trong công tác tác tư tưởng “chủ động nắm, định hướng, dự báo, đánh giá và giải quyết tình hình tư tưởng”.
Hai là, cán bộ, chiến sĩ CAND thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, tư cách đạo đức cách mạng, nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân
Mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND phải nêu cao dũng khí, thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện, thực hành đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn giữ mình trong sạch, vững vàng, để biết từ chối mọi cám dỗ vật chất tầm thường, từ đó có khả năng “miễn dịch” trước những “viên đạn bọc đường”, kiên quyết không đánh mất phẩm chất. Đồng thời, phải đoàn kết, trọng uy tín, giữ gìn danh dự, khiêm tốn, giản dị, chân thành; thân ái giúp đỡ đồng chí, đồng đội; tích cực đấu tranh phê phán, lên án các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực, “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, “lấy tích cực, đẩy lùi tiêu cực”, “thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh”; trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, tâm huyết, tận tụy, nêu cao trách nhiệm khi thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.
Quá trình tự tu dưỡng, rèn luyện phải thực sự là sự thôi thúc từ bên trong mỗi cán bộ, chiến sĩ nhưng cũng cần phải đặt dưới sự giám sát, đánh giá của Công an các đơn vị, địa phương bằng những hình thức, cơ chế cụ thể, đồng thời là biểu dương, khen thưởng kịp thời những trường hợp tu dưỡng, rèn luyện tốt để nhân rộng và động viên, khích lệ cán bộ, chiến sĩ.
Ba là, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, chiến sĩ, nhất là người đứng đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao
Quán triệt nghiêm túc chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Tướng phải ra tướng, quân phải ra quân... Các đồng chí cũng cần nhấn mạnh trách nhiệm nêu gương, đặc biệt là nêu gương của người đứng đầu...”(12), mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND phải là người gương mẫu trong mối quan hệ với Đảng, Tổ quốc, nhân dân, gia đình, nghiêm khắc với bản thân và cương quyết chống các loại tội phạm và các hành vi trái pháp luật xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội theo phương châm “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”; phải luôn đề cao danh dự, giữ cho được liêm sỉ, thanh danh của bản thân và của lực lượng CAND, gương mẫu thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, quy định, điều lệ, quy tắc ứng xử, quy chế, quy trình công tác và xây dựng hình ảnh người chiến sĩ CAND “có trái tim nóng, cái đầu lạnh, đôi chân vững chắc và hai bàn tay sạch”(13).
Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải làm gương trong công tác và lối sống, thực hiện nêu gương theo tinh thần “trong trước, ngoài sau”, “trên trước, dưới sau”, “phát động đi đôi với hành động”, “nói đi đôi với làm”; chức vụ càng cao càng phải chú trọng nêu gương thường xuyên, tự giác, nhất là trong rèn luyện về đạo đức, lối sống; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình thường xuyên, nghiêm túc thực hiện tự soi, tự sửa; ra sức giữ gìn, bảo vệ uy tín của Đảng, của lực lượng CAND.
Bốn là, tăng cường duy trì, giữ vững mối quan hệ “máu thịt” giữa lực lượng CAND với quần chúng nhân dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Công an của ta là Công an nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ và dựa vào nhân dân mà chiến đấu”(14), “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”(15).
Để xây dựng mối quan hệ mật thiết với quần chúng, đề cao tinh thần “vì nhân dân phục vụ”, Công an các đơn vị, địa phương cần chú trọng nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng tác phong sâu sát, dân chủ, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, xây dựng tình thương yêu của nhân dân đối với lực lượng CAND. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức công tác dân vận, công tác vận động quần chúng, dựa vào nhân dân để nắm bắt tình hình, kịp thời phát hiện mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và các loại tội phạm với phương châm “trọng dân, gần dân, lúc dân cần, lúc dân khó, có Công an”(16).
Muốn vậy, phải gắn kết chặt chẽ những công tác này với các phong trào thi đua của Công an các đơn vị, địa phương, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị tham gia bảo vệ an ninh, trật tự; thường xuyên tổ chức các diễn đàn Công an lắng nghe ý kiến nhân dân; coi trọng vai trò giám sát của nhân dân trong xây dựng lực lượng CAND trong sạch, vững mạnh. Đồng thời, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân trong công tác bảo vệ an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm, xây dựng hình ảnh đẹp trong lòng dân.
Đổi mới lề lối làm việc, lấy kết quả sự hài lòng của nhân dân làm thước đo đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác. Tập trung hoàn thiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong lĩnh vực bảo vệ an ninh, trật tự.
Phát huy tinh thần, trách nhiệm, gương mẫu, tiên phong đi đầu, lực lượng CAND nguyện tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, xác định rõ “còn Đảng là còn mình”, “danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất”; tiếp tục ra sức phấn đấu, rèn luyện, học tập và làm theo Sáu điều Bác Hồ dạy để luôn luôn là “lá chắn thép vững chắc” và “thanh bảo kiếm sắc bén” bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
