Thứ Hai, 8 tháng 1, 2024

NHỮNG GIÁ TRỊ KHOA HỌC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH PHỦ ĐỊNH NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC ĐỊCH

 Một là, chủ nghĩa tư bản chắc chắn sẽ bị thay thế bởi chủ nghĩa xã hội, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế thị trường hiện đại, là phương thức để Việt Nam xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội xã hội chủ nghĩa.

Những người cộng sản chân chính, những học sinh, sinh viên, trí thức hay những người đã từng đọc, từng nghiên cứu một cách nghiêm túc học thuyết kinh tế của Mác đều sẽ nắm được phương pháp nghiên cứu trừu tượng hóa khoa học - là gạt bỏ những cái không phổ biến, không làm ảnh hưởng đến quy luật chung khỏi quá trình kinh tế được nghiên cứu. Nhân loại bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trí tuệ nhân tạo, máy móc hiện đại có thể thay thế người lao động trong nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhưng không thể xóa bỏ được nền tảng cũng như khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản - bóc lột lao động làm thuê. Những người cho rằng học thuyết của Mác về nguồn gốc giá trị thặng dư là lỗi thời thì họ đã mâu thuẫn ngay trong chính luận điểm của mình khi tách trí tuệ nhân tạo, khoa học công nghệ ra khỏi giá trị sử dụng hàng hóa sức lao động.

Những kẻ không thực sự hiểu quy luật sản xuất giá trị thặng dư, luôn tung hô cho những thứ dân chủ giả hiệu, gieo rắc những ý hiểu sai trái khi cho rằng chủ nghĩa xã hội sẽ xóa bỏ quyền sở hữu của con người. Nhưng họ đã cố tình hiểu sai, hoặc chưa nghiên cứu đủ kỹ để biết rằng, từ năm 1848, trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Mác đã viết “Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác”(1).

Dùng quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất để chiếm đoạt giá trị thặng dư, bóc lột sức lao động của người lao động là bản chất của chủ nghĩa tư bản. Dù chủ nghĩa tư bản phát triển, tiến bộ và có liên tục điều chỉnh thì cũng sẽ không khi nào thay đổi được quan hệ người bóc lột người trong mỗi hoạt động của nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa. Mác đã phát hiện ra bản chất cốt lõi này của chủ nghĩa tư bản, và dự đoán về sự diệt vong, bị thay thế của xã hội tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, với sự phát triển của các công ty cổ phần, những thương vụ IPO diễn ra trên phạm vi toàn cầu, những người chống lại chủ nghĩa Mác đề cao quan điểm công nhân là chủ của chính mình (khi được sở hữu cổ phiếu của công ty), và từ đó đưa ra kết luận phi logic, thiếu thuyết phục: trong chủ nghĩa tư bản không còn tình trạng người bóc lột người. Ngay cả khi người công nhân có thể sở hữu cổ phiếu của công ty, bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi, bởi đa số cổ phiếu nằm trong tay chủ tư bản (chế độ ủy nhiệm thể hiện rõ điều này). Do đó, quyền quyết định hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là quyền phân phối giá trị thặng dư vẫn không thuộc về người lao động.

Những bất công, bất bình đẳng do chủ nghĩa tư bản mang lại sẽ khiến xã hội này trở nên lạc hậu và bị thay thế bởi xã hội chủ nghĩa xã hội, đó là điều mà Mác dự đoán dựa trên cơ sở khoa học và từ thực tiễn phát triển của chủ nghĩa tư bản. Dựa vào những thành tựu, khả năng tự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản, các thế lực thù địch thổi bùng lên sự hoài nghi, thậm chí phủ định khả năng thay thế chủ nghĩa tư bản của chủ nghĩa xã hội. Những nước tư bản đứng đầu nền kinh tế thế giới, thiết lập ra những luật chơi cho nhiều nền kinh tế nhỏ hơn đã đưa đến những nhận định chủ quan, phi khoa học về sự tồn tại vĩnh cửu của chủ nghĩa tư bản. Sự phân hóa giàu - nghèo, sự bất bình đẳng là những mâu thuẫn không thể dung hòa, nó sôi sục mạnh mẽ chính trong lòng của xã hội tư bản chủ nghĩa trước đây, hiện tại và tương lai. Những cuộc đình công của công nhân vẫn không ngừng nổ ra trên toàn cầu, mà nguyên nhân chính phần lớn là do giá trị sức lao động của họ đã không được trả một cách xứng đáng. Bằng mọi cách chiếm đoạt thành quả lao động của giai cấp công nhân, lợi ích chủ yếu thuộc về người sở hữu tư liệu sản xuất đã thấm đẫm vào bản chất của chủ nghĩa tư bản, và như Mác nói, đó là quy luật kinh tế cơ bản, quy luật tuyệt đối trong phương thức sản xuất của xã hội này. Do đó, nếu chỉ nhìn những biểu hiện bên ngoài, khi công nhân được tăng lương, khi có những người lao động được đãi ngộ, đào tạo mà phủ nhận bản chất bóc lột của của nghĩa tư bản thì cần phải đọc lại, thậm chí đọc lại nhiều lần học thuyết của Mác để hiểu bản chất của chủ nghĩa tư bản. Như vậy, những giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã chứng minh bản chất và sự phải bị thay thế của chủ nghĩa tư bản. 

Mặt khác, kinh tế thị trường không phải sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là sản phẩm của văn minh nhân loại được phát triển đỉnh cao trong xã hội tư bản chủ nghĩa. “Không “xuyên qua” kinh tế thị trường thì loài người không thể thoát khỏi vòng luẩn quẩn tự cấp tự túc; không thể vượt qua những giới hạn lịch sử chật hẹp của xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến; cũng không thể kiến tạo được xã hội tư bản và cũng không thể tạo lập được những điều kiện, tiền đề để xây dựng một chế độ xã hội mới tốt đẹp hơn trong tương lại - xã hội xã hội chủ nghĩa”(2). Hãy nhìn lại các mô hình kinh tế thị trường trên thế giới: dù trong cùng một mô hình kinh tế thị trường tự do mới, nhưng kinh tế thị trường ở Anh và Mỹ cũng luôn tồn tại những điểm khác biệt; kinh tế thị trường xã hội ở các nước (điển hình là các nước Bắc Âu) cũng không giống nhau y hệt; hay kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc đã giúp đất nước này vươn lên vị trí thứ hai trong nền kinh tế thế giới…. Sự khác biệt giữa các mô hình kinh tế thị trường nêu trên do yếu tố thể chế, hay do "mức độ, liều lượng" nhà nước can thiệp vào thị trường tạo nên. Và trong thế giới đương đại, dù là mô hình kinh tế thị trường nào cũng cần phải có sự quản lý của nhà nước nhằm khắc phục những khuyết tật cố hữu của kinh tế thị trường.

Tuy nhiên, việc khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường sẽ mang lại lợi ích cho ai, cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động hay bảo vệ cho những nhà tư bản lại phụ thuộc vào chế độ chính trị mà mỗi quốc gia lựa chọn. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một hình thái kinh tế thị trường với đầy đủ tính chất, đặc điểm chung như những nền kinh tế thị trường khác trên thế giới. Với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hướng tới đảm bảo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là quá trình Việt Nam kiên định với mục tiêu xã hội chủ nghĩa, đồng thời đảm bảo nền kinh tế được tuân theo những quy luật khách quan. Đây là phương thức để Việt Nam tích lũy cơ sở vật chất kỹ thuật, chuẩn bị những điều kiện tiền đề để bước lên một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa.

Hai là, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sau khi thất bại trong việc phủ nhận giá trị cốt lõi trong các học thuyết kinh tế chính trị của chủ nghĩa Mác - Lê nin, qua đó, phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch lại chuyển hướng chỉ trích kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình không xuất phát từ chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Có thể khẳng định, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một mô hình được sáng tạo từ những giá trị cốt lõi, nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự vận dụng sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Theo Mác, “giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia”(3). Đây là một thời kỳ lâu dài, khó khăn, phức tạp. Lênin phân tích rõ hơn tính chất lâu dài, khó khăn, phức tạp, “… vì cải tổ sản xuất là việc khó khăn, vì cần phải có thời gian mới thực hiện được những thay đổi căn bản trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, và vì phải trải qua một cuộc đấu tranh quyết liệt, lâu dài mới có thể thắng được sức mạnh to lớn của thói quen quản lý theo kiểu tiểu tư sản và tư sản”(4). Lênin cũng đưa ra chính sách kinh tế mới (NEP) nhằm khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế, phát triển quan hệ hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Giải quyết mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất là nội dung cốt lõi của kinh tế chính trị Mác - Lênin  mà bất cứ thời đại nào cũng cần chú trọng. Việt Nam đang trải qua thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng đã vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thừa nhận những bất cập do quá trình cải biến cách mạng xã hội tạo thành, để từ đó không ngừng điều chỉnh, xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiến bộ hơn, tích lũy cơ sở vật chất cho xã hội xã hội chủ nghĩa. Ngày nay, các thành phần kinh tế không ngừng phát triển, mang lại những đóng góp tích cực cho nền kinh tế Việt Nam. Song, Đảng cũng thẳng thắn thừa nhận còn tồn tại tình trạng bóc lột trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đây là một hiện tượng kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường, nhưng với sự lãnh đạo, định hướng của Đảng trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, chúng ta không để tình trạng này trở thành bản chất của nền sản xuất cũng như bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua địa vị thống trị của giai cấp tư sản chứ không phải phủ nhận hoàn toàn những yếu tố tích cực, tiến bộ của chủ nghĩa tư bản. Như Lênin đã từng khẳng định: những người cộng sản phải học tập các chuyên gia tư sản cách làm kinh tế, phải "hấp thu được toàn bộ nền văn hóa của thành thị, của công nghiệp, của chủ nghĩa tư bản" và “Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt đẹp của nước ngoài: Chính quyền Xô-viết + trật tự ở đường sắt Phổ + kỹ thuật và cách tổ chức các tơrớt ở Mỹ + ngành giáo dục quốc dân Mỹ etc.etc.++=Σ = chủ nghĩa xã hội”(5). Vận dụng tư duy khoa học đó, Việt Nam tiếp nhận khoa học công nghệ, phương thức quản lý, … của chủ nghĩa tư bản, đồng thời dùng luật pháp, dùng các chính sách an sinh, phúc lợi xã hội để xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, bảo vệ tối đa quyền, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Những đóng góp tích cực của các thành phần kinh tế cũng như những thành tích vượt trội của Việt Nam trên bản đồ kinh tế thế giới là những câu trả lời rõ ràng cho những luận điểm xuyên tạc sự vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng.

Bên cạnh đó, giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa không hề tồn tại tính mâu thuẫn đối kháng, ngược lại còn bổ trợ, thống nhất với nhau. Mục tiêu lớn nhất của kinh tế thị trường là lợi nhuận, lợi ích kinh tế, còn mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là xây dựng tiền đề vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội có thể tồn tại những mâu thuẫn trong ngắn hạn, nhưng không phải là những mâu thuẫn loại trừ nhau. Với Việt Nam, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là biến mục tiêu lợi nhuận (trong kinh tế thị trường) thành phương tiện, công cụ để đạt được mục tiêu xã hội (đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa). Do đó kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa là một mô hình kinh tế phát huy được hết sức mạnh của các nguồn lực, đảm bảo lợi ích kinh tế được đặt trong mối quan hệ sâu sắc với tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là một phép cộng đơn thuần mà là mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế thị trường và tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu chỉ chú trọng đến lợi ích kinh tế mà bỏ quên hoặc xem nhẹ các mục tiêu xã hội thì bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo và hàng loạt những vấn đề kinh tế xã hội khác sẽ nảy sinh, chúng ta có thể sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn trong xử lý mối quan hệ giữa kinh tế và xã hội như nhiều nước tư bản lớn hiện nay đang phải đối mặt.

Thứ ba, trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã thẳng thắn đối diện với các tồn tại, hạn chế, quyết tâm thực hiện khát vọng xây dựng một Việt Nam thịnh vượng.

Trước những thất bại khi không đủ luận cứ khoa học phản bác tính cấp thiết, tính ưu việt của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, những kẻ chống phá cách mạng Việt Nam lại quay sang tấn công vào những khuyết điểm, hạn chế của quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hòng làm mất uy tín, danh dự của Đảng. Chúng nhân danh những người yêu nước, nhân danh sự dân chủ, tự do để kích động quần chúng nhân dân, lôi kéo một bộ phận nhỏ đảng viên, trí thức chống lại Đảng, Nhà nước.

Thực tế, quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là quá trình đan xen giữa sự thay thế của cái mới và cái cũ, của tính hiện đại với tính lạc hậu, của một nền sản xuất tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và một nền sản xuất nhỏ lẻ, manh mún. Mặc dù còn những hạn chế xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhưng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và thu được những kết quả đáng ghi nhận. Thành tựu phát triển kinh tế Việt Nam hôm nay là những minh chứng không thể phủ nhận về sự đúng đắn, sáng tạo trong lãnh đạo phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trước những nốt trầm của nền kinh tế, những kẻ hô hào dân chủ giả hiệu còn quy chụp Đảng, Nhà nước triệt tiêu dân chủ. Có chế độ độc tài nào lại hướng tới xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân? Có chế độ độc tài nào lại liên tục cải cách thể chế kinh tế - xã hội theo hướng bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân? Hàng trăm Bộ luật, Luật được điều chỉnh theo hướng tích cực, hiện đại, phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước và các thông ước, quy định quốc tế. Có chế độ độc tài nào lại lãnh đạo nền kinh tế tham gia hàng chục các FTA lớn, nhỏ, thậm chí là những hợp đồng thương mại thế hệ mới, hiện đại nhất toàn cầu? Nếu Đảng và Nhà nước ta không tôn trọng và phát huy dân chủ, đặc biệt dân chủ trong kinh tế thị trường thì Việt Nam đã không thể duy trì một nền hòa bình với nhiều thành tựu vượt trội trong kinh tế và trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như ngày nay. Những thành tựu đó không do một quốc gia nào ban phát, chúng ta đạt được bằng sự tự lực, tự cường, từ chính sức mạnh nội sinh của quốc gia mình. Sức mạnh nội sinh đó không chỉ là tinh thần yêu nước, giá trị tinh hoa văn hóa dân tộc, mà còn là hệ tư tưởng chân chính và những hành động đúng đắn, quyết tâm xây dựng một Đảng, Nhà nước mà ở đó lợi ích của quốc gia, dân tộc được đặt lên cao nhất; một Đảng không chỉ của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động mà còn thực sự giải phóng người lao động.

Không những tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, thế lực thù địch còn tập trung tấn công vào hạt nhân của Đảng - cán bộ, đảng viên. Chúng dẫn chứng những vụ án kinh tế lớn để bình luận, phân tích những cán bộ, đảng viên sai phạm, suy thoái đạo đức đã bị xử lý kỷ luật và quy chụp họ là đại diện cho đa số đảng viên. Những luận điểm thiếu tính thuyết phục này chỉ làm dao động một bộ phận nhỏ những người không nắm vững lý luận cách mạng của Đảng, sa sút về phẩm chất chính trị, không tôn trọng và biết ơn lịch sử. Còn lại, đại đa số nhân dân, cán bộ, đảng viên đều đồng lòng, ủng hộ sự quyết tâm của Đảng trong rèn luyện, xử lý cán bộ, xây dựng đảng trong sạch vững mạnh. Dám thẳng thắn thừa nhận và kiên quyết xử lý, khắc phục hạn chế của mình, Đảng ngày càng củng cố vững chắc niềm tin trong nhân dân, cán bộ đảng viên. Do đó, lấy sai phạm của một vài cá nhân để bôi nhọ danh dự của một Đảng, một đất nước là một hành động sai cả về lý luận và thực tiễn. Những kẻ cố tình không thừa nhận lý luận khoa học và xuyên tạc sự thật thì không thể đáng tin và càng không thể mang lại những điều tốt đẹp cho một dân tộc.

Sau hơn 35 năm đổi mới, tên gọi Việt Nam đã ngày càng trở nên quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu, trong bản đồ kinh tế khu vực và thế giới. Với vị trí là một trong 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế, xây dựng quan hệ ngoại giao với 189 quốc gia và vùng lãnh thổ; … dân tộc Việt Nam có niềm tin, có khát vọng về một Việt Nam hùng cường thịnh vượng. Và niềm tin ấy luôn gắn liền cùng sự kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn liền với niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

LHQ-ST

NHẬN DIỆN MỘT SỐ LUẬN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TẠI VIỆT NAM

 Thứ nhất, thế lực thù địch đưa luận điệu sai trái về những quy luật cốt lõi trong hệ thống học thuyết của kinh tế chính trị Mác - Lênin nhằm khẳng định vị trí của chủ nghĩa tư bản và đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất hàng hóa mà đỉnh cao là nền kinh tế thị trường. Những kẻ chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin muốn phủ định quy luật giá trị khi đưa ra những hiện tượng, sự vật cá biệt để chứng minh quy luật này sai, không còn ý nghĩa và giá trị khoa học trong thời đại ngày nay. Những kẻ tự cho mình hiểu học thuyết Mác - Lênin đã sử dụng những ví dụ cũ rích và đã sai ngay từ phương pháp tiếp cận khi lấy một sự vật, hiện tượng cá biệt nằm ngoài quy luật kinh tế trong hệ thống học thuyết Mác để phủ nhận giá trị khoa học trong những nghiên cứu của ông. Họ dựa vào những hình thái của hàng hóa trong xã hội hiện đại, đánh đồng giữa trí tuệ nhân tạo với máy móc để khẳng định máy móc cũng tạo ra giá trị thặng dư - từ đó cổ vũ cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, chỉ trích chủ nghĩa Mác đã lỗi thời, lạc hậu, xóa nhòa đi ý nghĩa to lớn của quy luật sản xuất giá trị thặng dư mà Mác đã dày công nghiên cứu, phát hiện. Những thế lực thù địch còn đề cập đến những nội dung xoay quanh vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất, dùng những thứ dân chủ giả hiệu để phê phán sở hữu của chủ nghĩa xã hội. Chúng cho rằng, chủ nghĩa xã hội sẽ cướp đi quyền sở hữu của con người, cổ súy cho việc dùng quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất để nô dịch lao động của người khác; khẳng định sự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản sẽ xóa bỏ bóc lột thông qua việc đề cập đến những chính sách ưu đãi công nhân, người lao động của các tập đoàn tư bản lớn.

Cố tình hạ thấp, thậm chí phủ nhận giá trị khoa học của quy luật giá trị, quy luật sản xuất giá trị thặng dư, thế lực thù địch muốn khẳng định sự tồn tại vĩnh cửu của chủ nghĩa tư bản, đánh đồng kinh tế thị trường và chủ nghĩa tư bản. Chúng coi kinh tế thị trường là riêng có của chủ nghĩa tư bản, và cả chủ nghĩa tư bản cũng như kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản là xu hướng tất yếu và duy nhất của nhân loại. Chúng cho rằng sẽ không cần và không có một mô hình kinh tế thị trường nào khác kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Từ đó, chúng đưa ra quan điểm phủ nhận chủ nghĩa xã hội, phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thứ hai, dùng những quan điểm phi khoa học để khẳng định sự mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, cho rằng bản chất của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chỉ ra sự tên gọi riêng có của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, những kẻ chống phá cách mạng Việt Nam đã vội vàng phủ định mô hình kinh tế thị trường này. Chúng dùng những quan điểm phi khoa học khẳng định sự mâu thuẫn của kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng "lớn miệng" cho rằng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam không dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà là mô hình được xây dựng theo ý chí chủ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng cho rằng đây là một mô hình non trẻ, không có học thuyết kinh tế trên thế giới nào nghiên cứu và công nhận.

Với những luận điệu xuyên tạc, phi khoa học trên, những thế lực thù địch âm mưu phá hoại tôn chỉ hoạt động của Đảng ta là lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cốt, chúng muốn làm lung lay lòng tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân về sự kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ ba, xoáy sâu, thổi phồng những hạn chế, bất cập của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm hạ thấp uy tín, danh dự của Đảng, từ đó đưa ra yêu sách thay thế vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ những mặt trái của quá trình vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thế lực thù địch đã xuyên tạc về năng lực lãnh đạo nền kinh tế đất nước của Đảng. Chúng thổi phồng khuyết điểm của Đảng, từ những cá nhân cán bộ, đảng viên sai phạm trong các vụ án kinh tế lớn, chúng quy chụp thành bản chất của đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Những kẻ chống phá cách mạng Việt Nam đã dùng mọi thủ đoạn để hạ thấp uy tín của Đảng, làm xói mòn niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân với Đảng. Mục đích của chúng là muốn phá hoại khối đoàn kết dân tộc, muốn thay thế vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

LHQ-ST

Phê phán luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước ta, lợi dụng internet và mạng xã hội, thời gian qua, một số cá nhân, tổ chức phản động đã “mượn gió bẻ măng”, lộng ngôn xuyên tạc, phủ nhận thành quả đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Ảnh minh họa: dangcongsan.vn

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Ảnh minh họa: dangcongsan.vn

Những ý kiến xuyên tạc lạc lõng, ác ý.

Những năm gần đây, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn; chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch Covid-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết quốc gia hơn hai năm qua.

Sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine cũng tác động nhiều mặt đến đời sống chính trị và an ninh quốc tế. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của một số quốc gia Đông Nam Á tiếp tục diễn biến phức tạp.

Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành ngoại giao Việt Nam.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”, “người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt như: RFA, VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4 không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”...

Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

Kiên trì, kiên quyết thực hiện đường lối đối ngoại tiến bộ, nhân văn

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp, phát huy, tỏa sáng.

Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII).

Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Những năm qua, trước các diễn biến phức tạp của thời cuộc, quan hệ ngoại giao của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước lớn tuy có lúc trải qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời quyết tâm, kiên trì, kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều này luôn được cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn, cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một cách dân chủ, công khai.

Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước, đặc biệt là các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... Do đó, những luận điệu cho rằng việc “đi theo”, “liên minh” với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo không những phản động, sai lầm mà còn thể hiện tư tưởng yếu hèn, trái với phương châm đối ngoại thêm bạn, bớt thù của Đảng ta.

Để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, trước hết cần bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác ngoại giao. Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới. Thực tiễn đã minh chứng, đường lối, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. 

Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.

Cùng với những giải pháp căn cơ trên, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, cần chủ động phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter, Telegram...), các cuộc hội thảo, hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, đối ngoại...

Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động, xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta./.

LHQ-ST

Tỉnh táo, nhạy bén trong cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch

 Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay luôn coi công tác lý luận là bộ phận quan trọng, là nhân tố hàng đầu cấu thành hoạt động lãnh đạo của Đảng.

Ảnh minh họa: TTXVN

Ảnh minh họa: TTXVN

Có thể nói, sinh mệnh của Đảng cũng như sự thành bại của sự nghiệp cách mạng có liên quan chặt chẽ với hoạt động lý luận của Đảng. Điều này được minh chứng hùng hồn qua những chặng đường lịch sử vẻ vang của cách mạng nước ta. Nền tảng công tác lý luận của chúng ta là Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, công tác lý luận còn được tổng kết, đúc rút từ thực tiễn. Chính thực tiễn cùng với sự đổi mới không ngừng trong tư duy lý luận là điều kiện và cơ sở để công tác lý luận phát triển và những vấn đề lý luận ngày càng được làm giàu thêm.

Một vấn đề rất quan trọng cần nhận rõ, lý luận chính trị là bộ môn khoa học luôn phải đối diện với những quan điểm, luận thuyết trái ngược nên công tác lý luận có nhiệm vụ là đấu tranh chống các quan điểm sai trái và những tư tưởng lệch lạc. Lý luận, đặc biệt là lý luận chính trị lúc nào cũng dựa trên lập trường của một giai cấp nhất định và đấu tranh lý luận là một mặt trận quan trọng trong những cuộc đấu tranh giai cấp. Cuộc đấu tranh lý luận không chỉ xoay quanh vấn đề cốt lõi nhất của lý luận mà thường gắn với những vấn đề thực tiễn, nhất là những biến động của đời sống xã hội. 

Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng-lý luận hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh mới, có nhiều thuận lợi mới và không ít khó khăn, thách thức mới đối với việc bảo vệ những quan điểm lý luận của Đại hội XIII của Đảng. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là động lực, nguồn lực quan trọng để chúng ta vững bước đi lên. Điều đó làm cho công tác lý luận có một cơ sở thực tế mới, có một “cốt vật chất” vững chắc để thực hiện những nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, tình hình trong nước hiện nay vẫn còn tồn tại một số vấn đề đáng được quan tâm giải quyết và cũng là những khó khăn đối với công tác lý luận và đấu tranh lý luận. 

Bên cạnh đó, những thách thức đối với công tác lý luận từ bên ngoài tác động vào Việt Nam cũng không hề nhỏ. Đó là những nghịch lý, những diễn biến khó lường và khó dự báo của thế giới hiện nay. Ngay cả những giá trị cao đẹp và đích thực mà nhân loại dày công tạo dựng, vun đắp như hòa bình, độc lập, chủ quyền, công bằng, tiến bộ xã hội... cũng bị các thế lực thù địch, phản động dùng mọi mưu mô đánh phá. Đã thế, có một tình hình là thông tin về mọi mặt đời sống chính trị-kinh tế-văn hóa-xã hội ở mọi nơi trên thế giới và trong nước, cả mặt thuận và mặt trái, đều có thể hấp thụ được qua nhiều cách, nhiều chiều trên nhiều phương diện. Việc nghe, việc nhìn cũng như suy nghĩ của mỗi người trong điều kiện thông thoáng bên trong, mở cửa, hội nhập với bên ngoài hôm nay đã khác hôm qua. Tất cả điều đó tác động đến công tác lý luận nói chung và tác động trực tiếp đến cuộc đấu tranh lý luận nói riêng. 

Từ những vấn đề đó đặt ra cho cuộc đấu tranh tư tưởng-lý luận hiện nay là chúng ta phải kế thừa những cách thức và phương pháp vốn có, đồng thời phải có cách làm đổi mới, sáng tạo để tìm ra được những luận cứ sắc bén. Điều căn bản là thấy hết những yêu cầu mới đặt ra đối với cuộc đấu tranh lý luận hiện nay. Những yêu cầu đó thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, trong cuộc đấu tranh lý luận, cần nhận rõ sự phức tạp trên con đường cách mạng nước ta vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trên con đường đó, chúng ta gặp không ít khó khăn, không ít lực cản. Có những khó khăn do chính bản thân chúng ta không lường hết, khó khăn nội tại do chủ quan, duy ý chí hoặc do bảo thủ, trì trệ dẫn tới sự đình đốn, thậm chí vấp ngã. Từ đó dẫn tới sự lúng túng và thiếu lý lẽ, thậm chí bế tắc trong lập luận. Sự kiện ở Liên Xô trước đây và Đông Âu-những nơi mà CNXH hiện thực tưởng như rất vững chắc nhưng đã bị tan rã một cách nhanh chóng-đã cho chúng ta bài học sâu sắc cả về tính phức tạp của thế giới đương đại và những trắc trở, khó khăn trên con đường đi tới tương lai của loài người.

Thực tiễn quá trình cách mạng của chúng ta hiện nay cũng chứa đựng những vấn đề không đơn giản. Phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hóa, mở cửa hội nhập quốc tế là những nhiệm vụ tất yếu mà chúng ta đang tiến hành. Mặc dù chúng ta luôn giữ định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) nhưng phát triển kinh tế thị trường càng mạnh thì tính tự phát của khuynh hướng tư bản chủ nghĩa cũng sẽ tăng lên. Chúng ta lại đang ở thời kỳ quá độ, trong đó nền kinh tế và cả xã hội cũng có những vấn đề quá độ đan xen nhau, rất khó rạch ròi. Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa lại sử dụng những giải pháp và cách thức phát triển của chủ nghĩa tư bản để xây dựng CNXH đặt ra nhiều thách thức đối với công tác lý luận và đặc biệt là công tác đấu tranh về lý luận để bảo vệ những nguyên lý và quan điểm, định hướng của chúng ta.

Hai là, phải xuất phát từ tư duy khoa học và sáng tạo trong cuộc đấu tranh lý luận; để có sức thuyết phục, mọi lý lẽ được sử dụng phải mang tính khoa học và sáng tạo. Chúng ta đều thấy rằng, một mặt, lý thuyết về CNXH và xã hội XHCN được hình thành một cách khoa học, có khảo sát, phân tích thấu đáo trên cơ sở vận dụng những quy luật khách quan. Nhưng mặt khác, đôi khi chúng ta không chú ý hoặc vô tình bỏ qua một vấn đề quan trọng là những luận thuyết về CNXH được xác lập dựa vào những phương pháp trừu tượng rất cao. Phải tìm tòi và gạt bỏ các vấn đề, các yếu tố đặc thù, hoặc không cơ bản để đi sâu vào lý giải những vấn đề cốt lõi. 

Tính trừu tượng cao của CNXH khoa học chính là những nguyên lý chung nhất, mang tính phổ biến nhất có thể áp dụng cho mọi nơi, mọi nước. Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng để xây dựng CNXH, không thể không tính đến những điều kiện đặc thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về sự vận dụng một cách sáng tạo như thế. Trên cơ sở nắm bắt sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học, tinh thần biện chứng và nhân đạo của học thuyết Mác-Lênin, Bác Hồ đã vận dụng sáng tạo học thuyết đó cùng với việc kế thừa chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại để đưa ra những tư tưởng phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi, trở thành nền tảng tư tưởng bền vững của dân tộc và có sức lan tỏa ra thế giới.

Ba là, trong đấu tranh lý luận không được phiến diện, tuyệt đối hóa một chiều và không công thức hóa. Phiến diện và tuyệt đối hóa sẽ dẫn tới làm mất đi tính khoa học của lý luận và tính phong phú của thực tế, làm cho lý luận bị ngưng đọng và không đủ uyển chuyển để tìm ra những luận cứ đấu tranh. Như khi luận bàn về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng ta có lúc đánh giá, nhìn nhận quá cao tác dụng “mở đường” của quan hệ sản xuất; lúc khác thì chỉ để ý đến vấn đề lợi ích, đến việc phát huy các yếu tố của lực lượng sản xuất nên coi nhẹ, thậm chí quên mất việc quan hệ sản xuất phù hợp một cách chủ động và tích cực đối với lực lượng sản xuất. Khi nói về kết cấu và bản chất của CNXH, đôi khi chúng ta mô tả nó một cách công thức đơn giản, hời hợt, sơ lược, coi như không có mâu thuẫn; không nhìn thấy hết và không quan tâm hết đến các hệ thống lợi ích khác nhau của các tầng lớp xã hội. Tất cả những điều đó đã vô tình hạ thấp vị trí và vai trò của hệ tư tưởng XHCN và trên thực tế sẽ tạo ra những cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Bốn là, đấu tranh lý luận cần lấy căn cứ từ thực tiễn, quan tâm đến vấn đề của thực tiễn đặt ra. Nếu trong đấu tranh lý luận mà cứ đi theo công thức định sẵn, không chú ý đến các vấn đề mới nảy sinh trong kinh tế, không để tâm đến tâm trạng xã hội và tình cảm của nhân dân thì không thể đủ sức thuyết phục. Một khi công tác tư tưởng, lý luận cứ theo một khuôn khổ cứng nhắc, không đề cập đến những vấn đề thực tiễn đang nảy sinh vào hoạt động của mình thì nhất định các tư tưởng lý luận xa lạ sai lệch sẽ xen vào. Trong những dạng thức tư tưởng dễ xâm nhập vào quần chúng, phải kể đến ý thức tư tưởng tiểu tư sản. Ý thức tiểu tư sản thường được “tái sinh” từ sự chủ quan của công tác tư tưởng nói chung và công tác đấu tranh lý luận nói riêng; từ những vi phạm nguyên tắc XHCN trong sản xuất, phân phối và trong cả sinh hoạt đời sống đã động chạm đến lợi ích vật chất, quyền lợi của quần chúng lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người mở đầu cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa tự giải phóng khỏi ách kìm kẹp của chủ nghĩa thực dân, đứng lên giành chính quyền, xây dựng xã hội mới. Trên từng bước đường đổi mới gặp vô vàn khó khăn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chứng minh một cách rõ ràng cho quần chúng hiểu được những điều cụ thể, từng công việc cần làm và sẽ làm được nếu tất cả mọi người cùng giác ngộ, cùng quyết tâm, đồng lòng, chung sức.

Năm là, đấu tranh lý luận phải hướng vào chủ đích là củng cố niềm tin, sao cho toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân tin vào sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng, quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một điều rất hiển nhiên là triển vọng phát triển của đất nước phụ thuộc đáng kể vào tư tưởng và nhận thức của con người. Khi tư tưởng đã thông, thống nhất một cách nghĩ sẽ biến ý chí thành hành động, làm cho triệu người đồng lòng, chung sức, tạo thành lực lượng vật chất to lớn thúc đẩy xã hội tiến lên. Yếu tố cốt lõi đưa tới thống nhất tư tưởng và hành động là niềm tin. Niềm tin trong mỗi con người là sự chắt lọc từ nhận thức và nằm trong chiều sâu nhận thức, nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với việc định hướng tư tưởng và định hướng hành động. Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân là keo gắn trong Đảng và giữa Đảng với nhân dân, tạo thành động lực to lớn giúp chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Để xác lập và củng cố niềm tin, điều cần thiết nhất là phải nâng cao trình độ giác ngộ, trình độ hiểu biết cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, đối với chúng ta, chỉ có tình cảm là không đủ, mà phải là tình cảm cách mạng dựa trên cơ sở lý luận khoa học vững chắc. Có như vậy mới định hướng đúng cho mỗi người khi gặp những điều kiện và biến cố phức tạp trong một thế giới đầy xáo động, ngổn ngang, bất trắc khôn lường. Có như vậy mới đủ kiên định trước mọi thử thách của thời cuộc./.

LHQ-ST

Đấu tranh đẩy lùi thái độ bàng quan, dao động về tư tưởng xã hội chủ nghĩa

 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, một bộ phận cán bộ, đảng viên tỏ ra thờ ơ, dao động về tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đây là biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị cần đấu tranh phê phán, loại bỏ.

Tư tưởng tiến bộ, nhân văn nhưng vẫn bị thờ ơ, nghi hoặc


Tư tưởng XHCN là một hệ thống những quan niệm phản ánh nhu cầu, ước mơ, nguyện vọng của các giai cấp lao động về một xã hội không có áp bức bóc lột, mọi người đều bình đẳng và có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; là những thành tựu của con người đạt được trong quá trình đấu tranh giải phóng giai cấp; là chế độ xã hội không có áp bức bóc lột, mọi người đều được tự do, bình đẳng, có điều kiện phát triển toàn diện.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn con đường XHCN và xây dựng đất nước theo định hướng XHCN để “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” như Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định.

Tuy nhiên, sau sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, không ít người, trong đó có cả những cán bộ, đảng viên tỏ ra hoài nghi về sự lựa chọn con đường đi lên CNXH của Đảng ta; thậm chí còn xuất hiện những tư tưởng cơ hội đòi xét lại Chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ nhận sự lựa chọn con đường cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Có thể khẳng định rằng, thái độ thờ ơ, dao động của một số cán bộ, đảng viên về tư tưởng XHCN là “căn bệnh” rất nguy hại, biểu hiện đa dạng như: Dửng dưng, làm ngơ, không quan tâm đến những sự kiện, sự việc diễn ra của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị cũng như trước khó khăn của đất nước, trong khi đó lại có những lời lẽ chê bai, phê phán sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và chính quyền các cấp.

Biểu hiện rõ nhất của việc thờ ơ, dao động về tư tưởng XHCN là những phát ngôn mơ hồ về CNXH. Giọng điệu của họ là ngợi ca chủ nghĩa tư bản như hình mẫu của sự phát triển hiện đại và xem cuộc khủng hoảng của CNXH thời gian qua là "bằng chứng khách quan" của một thử nghiệm thất bại. Một số thái độ dao động đáng lên án hơn là lên tiếng phê phán Đảng, Bác Hồ đã không lựa chọn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa để Việt Nam sớm “hóa rồng”, “hóa hổ” như một số nước Đông Bắc Á. Họ cố tình lãng quên rằng, trong suốt thời kỳ dài từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, các chí sĩ yêu nước Việt Nam đã từng thử nghiệm những con đường giải phóng dân tộc, phát triển đất nước khác nhau, trong đó có con đường tư bản chủ nghĩa, nhưng tất cả đều không thành công. Trước tình hình đó, đất nước và nhân dân đòi hỏi một con đường khác, con đường dẫn nhân dân Việt Nam đến độc lập, tự do, hạnh phúc thật sự mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh và Đảng ta đã khai mở từ mùa xuân năm 1930.

Một biểu hiện khác của thái độ thờ ơ, dao động đối với tư tưởng XHCN là phủ nhận giá trị bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới của đất nước và thế giới. Có người lập luận rằng, học thuyết do C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin sáng lập là kết quả của việc tổng kết lịch sử châu Âu thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 nên không còn sức sống trong thời đại mới. Học thuyết đó chỉ là sản phẩm của thời đại công nghiệp, không còn phù hợp trong thời đại toàn cầu hóa, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo... Thực chất đây là sự phủ nhận toàn bộ giá trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-một biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra.

“Quy luật tiến hóa của lịch sử” đang hiện diện sinh động ở Việt Nam

Điều kiện bảo đảm cách mạng thành công, xây dựng thành công CNXH trên đất nước ta là trước hết phải có Đảng. Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng và xây dựng CNXH ở nước ta; Đảng phải lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng. Do đó, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đến công tác xây dựng Đảng; yêu cầu Đảng phải nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng, trí tuệ, vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng CNXH vào hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam.

Kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đến nay, đã có nhiều hội thảo bàn luận khá sôi nổi về khả năng và triển vọng của CNXH; trong đó, đáng tiếc là có một số ý kiến của cán bộ, đảng viên có biểu hiện hoài nghi về tương lai của chế độ XHCN. Vào những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, trước sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, với bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

Về sự lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam, Văn kiện Đại hội VII của Đảng (năm 1991) chỉ rõ: Đây là “sự lựa chọn của chính lịch sử”; gắn liền với tư duy sáng tạo, hợp logic và nhất quán của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Đến Đại hội XI của Đảng, trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Việc xác định những đặc trưng cơ bản trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” đã phản ánh tổng quát, toàn diện quan niệm về CNXH của Đảng ta, là sự kiên định, hiện thực hóa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CNXH trong điều kiện mới của đất nước.

Phê phán, đẩy lùi thái độ thờ ơ, dao động về tư tưởng XHCN

Nhìn từ góc độ bản chất, niềm tin CNXH chính là niềm tin khoa học, phát triển trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, gắn bó chặt chẽ với hoạt động của những người cộng sản. Trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, những người cộng sản luôn phấn đấu vì hạnh phúc của toàn thể nhân loại, nhân dân lao động, vì lợi ích của giai cấp và dân tộc. Do đó, xét đến cùng, niềm tin CNXH mang bản chất giai cấp công nhân sâu sắc, là sự thống nhất và biện chứng của tri thức-niềm tin-tình cảm-ý chí-hành động. Đặc trưng cơ bản nhất của niềm tin CNXH là sự nhận thức đúng đắn các quy luật phổ biến và quy luật đặc thù trong sự phát triển của tự nhiên và xã hội. Có niềm tin về CNXH, cán bộ, đảng viên luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Hiện nay, vẫn còn tình trạng một số cán bộ, đảng viên thờ ơ, dao động với nhiều vấn đề của xã hội, trong đó có thờ ơ, dao động với tư tưởng CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đây chính là kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Bởi các thế lực thù địch luôn ráo riết đẩy mạnh hoạt động chống phá những nước CNXH, trong đó có Việt Nam. Chúng tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” với nhiều thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tư tưởng, lý luận, với mục tiêu phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và thành tựu sự nghiệp xây dựng CNXH của Việt Nam. Tính chất thâm độc của các thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trong những năm gần đây là triệt để lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội với các chiêu trò “đổi trắng thay đen”, đưa các thông tin đúng-sai lẫn lộn và xây dựng các “ngọn cờ” chống phá từ bên trong, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nếu cán bộ, đảng viên thờ ơ, dao động sẽ dễ sa vào những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch.

Trước tình hình trên, việc làm rõ con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là cơ sở phản bác thuyết phục, đanh thép các luận điệu sai trái, thù địch; củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới theo định hướng CNXH nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Hiện nay, đa số cán bộ, đảng viên là những người có tri thức, được học tập, công tác, lao động trong điều kiện thuận lợi, do đó, cần hết sức tỉnh táo trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc về CNXH và con đường đi lên CNXH dưới những hình thức khác nhau, trên những diễn đàn khác nhau, nhất là internet và mạng xã hội. Khi thấy những thông tin trên mạng xã hội, cần tỉnh táo nhận diện nguồn tin, tránh bình luận, chia sẻ tùy tiện. Điều này vô tình tuyên truyền cho các luận điệu sai trái, thù địch. Bên cạnh đó, cán bộ, đảng viên cũng cần biết lợi dụng thế mạnh của internet, mạng xã hội để tuyên truyền, lan tỏa những thông tin tốt về tính ưu việt của CNXH, sự đúng đắn của con đường đi lên CNXH ở Việt Nam theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Đối với cán bộ, đảng viên có trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị cao, cần nêu cao tinh thần đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch thông qua việc viết bài trên các sách, báo, tạp chí hay tham gia những diễn đàn báo chí, phát thanh, truyền hình, mạng xã hội... Những sản phẩm đấu tranh trực diện đó thường có tính lan tỏa mạnh mẽ đối với cán bộ, đảng viên, tác động trực tiếp đến tâm lý, tư tưởng và định hướng dư luận trong cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Thái độ thờ ơ, dao động của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tư tưởng XHCN là đáng phê phán và cần có những biện pháp để chấn chỉnh kịp thời, nếu không xử lý dứt điểm dễ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc loại bỏ thái độ thờ ơ, dao động của một số cán bộ, đảng viên về tư tưởng CNXH là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN trong tình hình hiện nay./.

LHQ-ST

KIÊN ĐỊNH CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG MÀ HỒ CHÍ MINH LỰA CHỌN LÀ SỰ PHÁT TRIỂN TẤT YẾU CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

 Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, năm 1959, trong Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi, Hồ Chí Minh đã nhắc lại nhận định sáng suốt của Đảng ngay từ năm 1930: Cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa(17). Trong những năm 1960, con đường cứu nước và giải phóng dân tộc Việt Nam được Hồ Chí Minh luận giải khái quát, sâu sắc hơn: Những người cộng sản chúng ta không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới. Có thể thấy, tư tưởng cốt lõi, xuyên suốt của Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, như đồng chí Phạm Văn Đồng đã khẳng định: Trong toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là quan điểm cơ bản nhất, là cốt lõi, là nguồn gốc, là hạt nhân chi phối hệ tư tưởng cũng như hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là trục bất di, bất dịch của cách mạng Việt Nam, vững chắc như non sông đất nước Việt Nam(18).

Kiên định với mực tiêu đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Người khẳng định: “Kiên quyết bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai được xâm phạm đến quyền thiêng liêng ấy của nhân dân ta”(19), với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Tinh thần, khát vọng và niềm tin của Người đã trở thành quyết tâm sắt đá, sức mạnh to lớn của của cả dân tộc làm nên Đại thắng Mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Bước vào thời kỳ đổi mới, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, hiểm nguy, khi chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới lâm vào khủng hoảng, thoái trào ở Liên Xô, Đông Âu; khi đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, dưới ánh sáng soi đường của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã đoàn kết toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiến hành công cuộc đổi mới từ Đại hội VI (năm 1986) đến nay, giải quyết thành công cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế vì một Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” theo đúng tâm nguyện của Người. Đặc biệt, cùng với việc không ngừng bổ sung lý luận về thời kỳ quá độ, những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng cũng được Đảng bổ sung hoàn thiện hơn. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Đảng đã xác định mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng gồm 6 đặc trưng. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ta gồm có 8 đặc trưng: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.

Như vậy, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung hai đặc trưng mới, đó là: khẳng định mục tiêu quan trọng nhất của sự nghiệp đổi mới là xây dựng một nước Việt Nam: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; đồng thời, đề cao dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Đảng, Nhà nước đã ban hành Quy chế Dân chủ ở cơ sở (sau là Pháp lệnh Dân chủ ở cơ sở). Trên cơ sở kiểm điểm, đánh giá thực tiễn công cuộc đổi mới hơn 35 năm qua, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã rút ra bài học kinh nghiệm lớn: Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu của Đảng. Đây là sự kiên định, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Đại hội đã phát triển, hoàn thiện cơ sở lý luận về vai trò, vị trí của Nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Đó là, Nhân dân làm chủ đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua cơ chế: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Để đảm bảo phát triển đất nước theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa và đảm bảo phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, các kỳ Đại hội của Đảng chủ trương giải quyết hài hòa các mối quan hệ lớn. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định 8 mối quan hệ lớn: “Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng bổ sung thêm mối quan hệ giữa “Nhà nước và thị trường”. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng bổ sung: giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Cùng với việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng luôn chú trọng bảo đảm độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước, giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế”(20). Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là vấn đề có tính nguyên tắc trong quá trình hơn 90 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cũng là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc: “Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là quy luật phát triển của cách mạng nước ta”(21).

Một góc Thủ đô Hà Nội ngày nay.

Một góc Thủ đô Hà Nội ngày nay.

Trong tình hình phức tạp hiện nay, hơn bao giờ hết chúng ta càng phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bởi độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, là con đường duy nhất đúng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn. Trong mối quan hệ biện chứng đó, độc lập dân tộc là mục tiêu, tiền đề và là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội, không có độc lập dân tộc thì không thể xây dựng chủ nghĩa xã hội; còn xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhằm tăng cường nguồn lực vật chất kỹ thuật ngày càng dồi dào hơn, tạo cơ sở, nền tảng vững chắc để giữ vững độc lập dân tộc.

      *               *

          *      

Con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên trong tác phẩm “Thường thức chính trị” là sự kế thừa con đường cách mạng vô sản đã được Đảng và Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh xác định ngay từ khi thành lập Đảng và trong quá trình đấu tranh giành độc lập (1930 – 1945). Kiên định con đường cách mạng mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn, Đảng và Nhân dân ta vững bước đi lên, quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân nhằm xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc như sinh thời Bác hằng mong muốn./.

LHQ-ST