Thứ Ba, 9 tháng 1, 2024

Phê phán quan điểm cho rằng “đổi mới ở Việt Nam đã cạn kiệt nguồn lực”

 

    Tổng kết 35 năm đổi mới đất nước, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “... tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới”1. Thế nhưng, vẫn có những luận điệu cho rằng: “đổi mới ở Việt Nam đã cạn kiệt nguồn lực”, “đổi mới như vậy coi như đã xong, không cần đổi mới nữa”! Để phản bác tính chất sai trái của luận điệu này, chúng ta hãy xem xét các chiều cạnh của vấn đề.

    Đổi mới và nguồn lực của đổi mới

    Theo Từ điển tiếng Việt, đổi mới là “điều thay đổi hoặc làm cho thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước đây, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển”2. Bản chất của đổi mới là sự phủ định biện chứng cái cũ, phát triển thành cái mới tốt hơn, tiến bộ hơn. Trong xã hội, đổi mới là một cuộc vận động mang tính cách mạng không ngừng để thay cái cũ bằng cái mới tốt đẹp, tiến bộ hơn. Đối với Việt Nam, đổi mới mang tầm vóc của một cuộc cách mạng mà đích hướng tới là phát triển con người, vì mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Như vậy, đổi mới gắn liền với phát triển, là một phương thức của phát triển. Bên cạnh những nguồn lực, động lực thúc đẩy xã hội thì đổi mới cũng luôn gặp những lực cản, trở ngại của tư duy cũ, thể chế cũ, thói quen cũ.

    Nguồn lực là một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong bất kỳ hoạt động nào nếu muốn có kết quả. Đổi mới sẽ không thể thành công nếu không có các nguồn lực bảo đảm. Nguồn lực của đổi mới là nguồn sức mạnh vật chất và tinh thần được huy động để tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Xét về phạm vi lãnh thổ, có nguồn lực trong nước và nguồn lực bên ngoài. Nguồn lực trong nước gồm: trữ lượng tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồn lao động, tiềm lực về kinh tế, quốc phòng, an ninh,… thể chế chính trị, truyền thống lịch sử - văn hóa, sức sáng tạo của con người, hệ giá trị và chính sách của quốc gia. Nguồn lực từ bên ngoài gồm: vốn, thị trường, khoa học và công nghệ, kinh nghiệm quản lý sản xuất, kinh doanh từ các nước khác. Xét về nguồn gốc hình thành, có nguồn lực tự nhiên, đó là điều kiện địa lý, tài nguyên đất đai, khoáng sản, nguồn nước, năng lượng mặt trời, năng lượng gió và các loại tài nguyên sinh vật và phi sinh vật khác trên mặt đất, trong lòng đất, dưới đại dương,… và nguồn lực phi tự nhiên là các loại nguồn lực chủ yếu được tạo ra bởi con người, như: thể chế quản lý, nhân lực, vốn, giá trị văn hóa, khát vọng phát triển, tư duy lãnh đạo, sở hữu trí tuệ. Trong hệ thống các nguồn lực thì nguồn lực trong nước có vai trò quyết định đến sự nghiệp đổi mới; nguồn lực bên ngoài là yếu tố quan trọng. Việc kết hợp đúng đắn, khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẽ quyết định đến sự thành công của đổi mới.

    Những ẩn ý thâm độc của luận điệu “đổi mới ở Việt Nam đã cạn kiệt nguồn lực”

    Một cách chung nhất, “cạn kiệt” được hiểu là “cạn sạch, đến mức không còn tìm đâu, lấy đâu ra nữa”3. Theo đó, “cạn kiệt nguồn lực” là cạn sạch, không còn nguồn lực nữa. Có thể thấy rằng, luận điệu trên không đơn thuần là một bình luận, một nhận định hay một đánh giá, mà ẩn ý của nó là một sự phủ định sạch trơn về nguồn lực của đổi mới. Điều đó cũng đồng nghĩa với phủ định đổi mới. Bởi, khi không còn nguồn lực tiếp sức thì đổi mới tự nó cũng kết thúc. Ẩn ý là rõ ràng và rất tinh vi. Họ không trực tiếp phủ nhận đổi mới, mà phủ nhận đổi mới thông qua phủ định nguồn lực của nó. Từ đó họ “khuyên” ta không nên đổi mới nữa, vì “đổi mới đã xong”, nghĩa là “đổi mới đã chết”(!?). Không đổi mới đồng nghĩa với không phát triển theo mục tiêu, con đường đã xác định, đã lựa chọn; là dừng lại, thỏa hiệp, đầu hàng trước cái cũ, cái lỗi thời, lạc hậu. Chúng ta đã từng trải qua những thời khắc lựa chọn nghiệt ngã của lịch sử: “đổi mới hay là chết”. Chúng ta đã lựa chọn “đổi mới” và có được những thành quả như hôm nay.

    Mặt khác, sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Điều này đã được Đảng ta, Nhân dân ta và cộng đồng quốc tế ghi nhận. Ấy vậy mà những người đưa ra luận điệu trên lại thấy thành quả đổi mới chỉ là làm “cạn kiệt nguồn lực” của đất nước (!?). Từ đây, một câu hỏi được đặt ra: sự “cạn kiệt nguồn lực” này là do đâu và ai sẽ phải chịu trách nhiệm trước hiện trạng này? Ai cũng biết rằng, công cuộc đổi mới là do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo nhân dân thực hiện, theo đó, một hệ luận rất sâu xa ngầm được rút ra mà ai cũng hiểu sự ám chỉ của nó. Cái tinh vi là họ không trực tiếp đổ lỗi, không quy cho một chủ thể nào một cách trực diện, võ đoán, nhưng đích mà họ nhắm đến là nhất quán, không thay đổi, đó là: phủ nhận đổi mới, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chỉ một đảng yếu kém, không đủ năng lực và phẩm chất lãnh đạo đất nước, lãnh đạo đổi mới, mới đem lại kết quả tệ hại như vậy, làm tiêu tan mọi nguồn lực của đất nước, triệt tiêu động lực của phát triển. Như vậy, chỉ với một luận điệu nêu ra, họ đã nhằm hai đích: phủ nhận công cuộc đổi mới và vai trò lãnh đạo của Đảng ta.

    Có phải “đổi mới ở Việt Nam đã cạn kiệt nguồn lực”?

    Chúng ta có thể khẳng định rằng, đổi mới ở Việt Nam chưa bao giờ và sẽ không bao giờ cạn kiệt nguồn lực bởi các lẽ sau:

    Thứ nhất, đổi mới ở Việt Nam là đổi mới sáng tạo và tự giác. Đó là một chương trình cải cách có mục tiêu, nguyên tắc, lộ trình và những bước đi thích hợp, do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo nhân dân thực hiện. Công cuộc đổi mới được hoạch định, trù liệu và được dẫn dắt bởi cương lĩnh, chiến lược, đường lối, quan điểm của Đảng. Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời điểm quan trọng, then chốt của đổi mới, Đảng ta đều có những quyết sách đúng đắn nhằm phát hiện đúng các nguồn lực, kích hoạt các nguồn lực đó thông qua các cơ chế, chính sách, giải pháp tác động vào con người, xã hội để khai thác, phát huy vai trò các nguồn lực phục vụ cho đổi mới và phát triển đất nước. Báo cáo tổng kết 30 năm đổi mới của Đảng đã chỉ rõ: “Cần đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, các cơ chế, chính sách, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để khơi dậy những tiềm năng, nguồn lực của đất nước, tạo ra động lực mới cho quá trình đổi mới”4.

    Thứ hai, đổi mới ở Việt Nam vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, do đó đã phát huy được mọi nguồn lực to lớn trong nhân dân. Mục tiêu đó không chỉ có tác dụng định hướng công cuộc đổi mới mà còn đóng vai trò nguồn lực thúc đẩy đổi mới các lĩnh vực khác. Việc thực hiện hiệu quả các mục tiêu này cho phép phát huy được các nguồn lực rất to lớn trong nhân dân, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài, bao gồm nhân lực, tài lực và vật lực. Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn tạo cơ chế, chính sách hợp lý, môi trường thuận lợi; phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội; hoàn thiện thể chế, chính sách,... để thu hút, phát huy tối đa các nguồn lực cho phát triển đất nước. Đại hội XII của Đảng đã đề ra chủ trương thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân,… qua đó đẩy mạnh đồng bộ công cuộc đổi mới.

    Thứ ba, sự kết hợp giữa “ý Đảng với lòng dân và kỷ cương phép nước” đã tạo ra nguồn lực to lớn, có tính quyết định của đổi mới. Đổi mới ở Việt Nam là sự kết hợp, bắt gặp, đồng thuận giữa đổi mới từ cơ sở, từ phía người dân với đổi mới từ các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng. Đó là sự đồng thuận giữa “ý Đảng và lòng dân”, làm cho sự nghiệp đổi mới của Việt Nam trở thành sự nghiệp chung của toàn dân, do Đảng lãnh đạo. Điều này cho thấy nguồn lực của đổi mới là nguồn lực to lớn của nhân dân; sức mạnh của đổi mới là sức mạnh của nhân dân, của dân chủ, đoàn kết, gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân. Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn lấy “đoàn kết” làm giá trị cốt lõi và “đại đoàn kết toàn dân tộc” làm đường lối chiến lược trong toàn bộ quá trình lãnh đạo cách mạng, là nguồn lực và động lực chủ yếu của dân tộc Việt Nam. Đây là nguồn lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Do đổi mới là sự đồng thuận giữa “ý Đảng và lòng dân” nên khi Đảng ta phát động đổi mới thì lập tức được nhân dân đồng tình ủng hộ, tạo hiệu ứng mạnh mẽ: “Tiền hô hậu ủng, nhất hô bá ứng, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, trở thành nguồn lực to lớn cho sự nghiệp đổi mới đất nước.

    Thứ tư, bản thân đổi mới là một nguồn lực quan trọng nhất để duy trì lợi thế phát triển. Đổi mới không chỉ là phương thức, mà còn là một nguồn lực của phát triển. Đó là nguồn lực được sinh ra trong quá trình đổi mới, là kết quả của đổi mới, do chính những thành tựu của đổi mới tạo ra. Nguồn lực tự sinh này bắt nguồn từ tầm vóc lịch sử, quyết sách chiến lược của đổi mới; triết lý giải phóng - sáng tạo - phát triển của đổi mới; đặc điểm, tính chất của đổi mới, v.v. Nguồn lực này tiếp thêm sức mạnh cho đổi mới, tạo thế và lực mới cho đất nước ta. Tất cả các nguồn lực khác, nếu không có đổi mới thì sẽ được quản lý, khai thác, phân bổ theo cách thức, tư duy cũ sẽ không phát huy tối đa hiệu quả. Nhờ đổi mới, các nguồn lực cũng sẽ được phân bổ hợp lý hơn, nuôi dưỡng và tái tạo để không bị suy giảm trong quá trình khai thác, sử dụng. Cũng nhờ đó, mà tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc được khơi dậy mạnh mẽ, trở thành nguồn lực vô tận của đổi mới và phát triển.

    Nguồn lực của đổi mới không phải là một, là duy nhất mà là một hệ thống, bao gồm nhiều nguồn lực, cả vật chất và tinh thần, trong kinh tế, chính trị và văn hóa, trong các giá trị truyền thống đã kết tinh thành di sản, trong các giá trị mới được sinh ra từ đổi mới và phát triển. Thời gian qua, bên cạnh những thành công trong khai thác, phát huy các nguồn lực thì những hạn chế, yếu kém trong quản lý cùng với những tiêu cực, lãng phí đã làm thất thoát rất lớn các nguồn lực của đất nước. Điều này đã làm không ít người hiểu sai bản chất của đổi mới, bản chất của Đảng ta, để một số phần tử cơ hội chính trị lợi dụng reo rắc những luận điệu sai trái, thù địch nhằm kích động, gây phân tâm trong một bộ phận nhân dân, cán bộ, đảng viên. Việc vạch trần các thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc và phản bác các luận điệu sai trái của các phần tử cơ hội này là hết sức cần thiết và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục. Qua đó, giúp chúng ta ngày càng hiểu đúng và vững tin hơn vào con đường mà Đảng và Nhân dân ta đã chọn để thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Sưu tầm

Tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên

 Tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ được hiểu là thái độ, ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao với những biểu hiện như: luôn quan tâm đến chất lượng, hiệu quả công việc; luôn nỗ lực hết sức để hoàn thành công việc, không đùn đẩy, né tránh, thoái thác việc cho người khác hoặc lơ là, thiếu tích cực, làm cầm chừng cho có, cho qua mọi việc mà không cần quan tâm đến hiệu quả; tích cực nghiên cứu, tìm ra những cách thức hữu hiệu trong xử lý các công việc được giao;… Tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ không chỉ là phẩm chất đáng quý mà còn là yêu cầu, đòi hỏi cần thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

Phát huy sức sáng tạo cho đội ngũ trí thức

 Để tạo điều kiện cho đội ngũ trí thức phát huy sức sáng tạo cần có các giải pháp đồng bộ; trong đó, cần tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại phục vụ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học-công nghệ phục vụ sản xuất và đời sống; đầu tư trang thiết bị, máy móc hiện đại và các phòng thí nghiệm thực hành; các viện nghiên cứu, trường đại học cần được hưởng các chính sách ưu đãi tối đa, khuyến khích và tạo điều kiện về thể chế để phát triển…

    Để thúc đẩy khoa học-công nghệ phát triển, cần tiếp tục thực hiện các chính sách đã phát huy hiệu quả trong thời gian qua; đồng thời, tiếp tục hoàn thiện và triển khai các nhóm giải pháp, chính sách về sắp xếp lại các tổ chức khoa học-công nghệ; đưa vào hoạt động Viện Công nghệ tiên tiến và đổi mới sáng tạo xem đây là cầu nối giữa trường, viện và doanh nghiệp trong thực hiện hỗ trợ thương mại hóa các kết quả nghiên cứu; nghiên cứu phát triển, ứng dụng, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo.

    Để thúc đẩy khoa học-công nghệ phát triển,đội ngũ trí thức phát huy sức sáng tạo cần đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đồng bộ và hiện đại cho các tổ chức khoa học-công nghệ; hỗ trợ hình thành mạng lưới các trung tâm chuyển giao công nghệ, các vườn ươm sáng tạo trong các trường đại học, đầu tư các phòng thí nghiệm tại trường đại học theo mô hình liên kết với Viện Công nghệ tiên tiến và đổi mới sáng tạo .

THẾ GIỚI VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN: CƠN KHÁT HÒA BÌNH!

         Có vẻ như chiến tranh đã không còn biết tới những mốc phân chia thời gian để con người có thể tạm thời chút ít nghỉ ngơi trong những ngày lễ trọng. Đang cháy đỏ quá nhiều điểm nóng trên thế giới ngay cả trong những ngày đầu tiên của năm mới 2024!

Trước hết phải kể đến Ukraine, nơi quân đội Nga đang tiếp tục tiến hành chiến dịch quân sự đặc biệt của mình. Đây được coi là xung đột quân sự nghiêm trọng nhất ở châu Âu kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc năm 1945. Thực tế cho thấy, dù được phương Tây hỗ trợ rất lớn nhưng chính quyền của Tổng thống Volodymyr Zelensky xem ra càng ngày càng hụt hơi trước thế thượng phong về nhiều mặt của Moscow.

Đã xuất hiện những dấu hiệu có vẻ như một số nước NATO sẽ bắt buộc bằng cách này hay cách khác liên đới nhiều hơn vào chiến sự ở Ukraine và điều này tiềm ẩn nguy cơ “cháy thành vạ lây” đối với chính họ. Và điều đó không có lợi cho bất cứ ai không muốn để xuất hiện những lý do dẫn tới một thế chiến mới. Càng ngày càng chín muồi hơn nhận thức rằng, bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng nên tìm ra cách kết thúc bằng đàm phán để có được hòa bình. Cuối tháng 12-2023, nhiều phương tiện truyền thông ở phương Tây đưa tin, Moscow thông qua những người trung gian tiết lộ rằng Nga đã sẵn sàng để tiến hành các cuộc thương lượng về vấn đề Ukraine.

Tuy nhiên, trong những phát biểu mới nhất trên truyền thông, Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov đã tiếp tục khẳng định rằng chính quyền đương nhiệm Ukraine do Tổng thống Volodymyr Zelensky đứng đầu không có ý chí tiến tới hòa bình. Cũng theo ông Lavrov, phương Tây đã thất bại trong việc sử dụng các biện pháp cấm vận khốc liệt nhằm bóp nghẹt nền kinh tế và phân hủy xã hội Nga. Ông Lavrov cho rằng, ngược lại, phương Tây càng quyết sống mái với Nga bằng các biện pháp cấm vận thì người Nga càng sát cánh bên nhau chặt chẽ hơn và càng tìm ra nhiều giải pháp để vươn lên và phát triển.

Trong khi đó, theo báo Mỹ Politico, ngày 28-12-2023, ngay cả Nhà trắng cũng đang có vẻ như muốn bí mật chuyển mức độ ủng hộ của Mỹ trong vấn đề Ukraine từ chỗ quyết thắng sang tìm kiếm cơ hội phòng thủ và khả năng tiến hành đàm phán với Điện Kremlin để chấm dứt chiến dịch quân sự đặc biệt. Điều này có nghĩa là Kiev phải chấp nhận nhượng một phần lãnh thổ của mình cho Moscow để đổi lấy cơ hội được yên ổn. Trong nội bộ Liên minh châu Âu (EU) cũng đã bắt đầu đề cập tới khả năng đẩy nhanh tiến trình gia nhập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) của Ukraine như tạo cảnh huống tốt nhất cho Kiev khi bắt đầu bước vào các cuộc đàm phán với Moscow...

Tuy nhiên, đang ngày một nhiều hơn các quốc gia châu Âu đã hiểu ra rằng, càng hỗ trợ Ukraine về an ninh trong cuộc đối đầu với Nga thì càng có thể khiến nền an ninh chung ở châu Âu dễ bị tổn thương hơn. Không ngẫu nhiên mà hiện có tới 6 nước châu Âu, bao gồm Áo, Hungary, Malta, Ba Lan, Slovakia và Croatia từ chối ký tên vào tuyên bố chung bảo đảm an ninh cho Ukraine. Thái độ này đã được công khai ngày 22-12-2023 trong quá trình người đứng đầu văn phòng Tổng thống Ukraine, Andrey Ermak, tiến hành thảo luận với đại diện 32 nước và EU về những bảo đảm an ninh cho Ukraine. Trong cuộc họp đó, chỉ có 4 nước là Pháp, Italy, Đức và Anh chuyển các dự thảo thỏa thuận của mình cho phía Kiev.

Điểm nóng có ảnh hưởng tiêu cực lớn thứ hai tới toàn cầu hiện nay là dải Gaza, nơi quân đội Israel đang tiếp tục truy sát lực lượng Hamas. Cũng theo báo Mỹ Politico, cuộc chiến ở dải Gaza hiện nay chính là thông điệp ghê rợn gửi tới tất cả thế giới về việc những cơ chế từng có thể bảo vệ hòa bình trong thời gian qua đã trở nên lỗi thời. Dường như sau sự kiện này, thế giới đã bước vào một giai đoạn mới, khi chiến tranh thôi là “những con thiên nga đen” 10 năm mạt vận một lần mà đã trở thành thảm họa thường nhật trong quan hệ giữa các quốc gia ở những vùng địa chính trị chứa đầy mâu thuẫn lịch sử như Trung Đông và không chỉ ở Trung Đông. 

Trong thực tế, còn có nhiều địa điểm khác mà tình hình chính trị đang chứa đựng những hạt nổ nguy hiểm. Thí dụ ở Nagornyi-Karabakh với mâu thuẫn giữa Armenia với Azerbaijan. Tình hình ở biên giới Kosovo với Serbia cũng vẫn đang bất ổn, trong khi ngay nội bộ Serbia, lực lượng đối lập với sự tiếp tay của một số nước phương Tây, cũng đang tiếp tục những mưu toan gây rối nhằm lật đổ chính quyền đương nhiệm. Nhìn ra xa hơn, có thể thấy trên “lục địa Đen” từ Gabon tới Niger cũng đang tiếp tục những hệ lụy do đảo chính quân sự và mâu thuẫn của các nhà lãnh đạo chính trị địa phương với sức ép từ phương Tây... 

Mọi sự đang trở nên nguy hiểm hơn khi sự đối đầu giữa một số trung tâm quyền lực lớn trên thế giới vẫn tiếp tục được duy trì lúc kín, lúc hở và luôn có thể dẫn tới bùng nổ thêm những điểm đụng độ vũ trang, bất chấp những phát ngôn mang tính ngoại giao của các thủ lĩnh các trung tâm đó.

Chiến tranh, tất nhiên chưa bao giờ là trò đùa cả, nhưng ở thời điểm hiện nay, dường như xung đột quân sự đang là “chuyện thường ngày ở huyện” đối với nhiều nơi trên thế giới. Và vì thế, càng khiến cho khát vọng hòa bình trở nên cấp thiết và mạnh mẽ hơn bao giờ hết./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 09 THÁNG 01 NĂM 1954!

         “Thanh niên là một cái nguồn vô tận, từ nguồn ấy mà chúng ta đào tạo những cán bộ tốt cho hiện tại và tương lai của nước nhà”!

“Thanh niên là một cái nguồn vô tận, từ nguồn ấy mà chúng ta đào tạo những cán bộ tốt cho hiện tại và tương lai của nước nhà” là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Bài "Thanh niên nông dân", đăng trên báo Nhân dân, số 159, từ ngày 11-15/01/1954, trong bối cảnh, cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp của dân tộc ta giành được nhiều thắng lợi lớn; lực lượng cách mạng phát triển nhanh chóng; trong đó, lực lượng chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích và lực lượng dân công với đại đa số là thanh niên nông dân.

Qua lời của Bác, chúng ta thấy Người nhận rõ đặc điểm và thế mạnh của lực lượng thanh niên Việt Nam, chủ yếu là con em của nông dân, bị phong kiến, địa chủ áp bức, bóc lột tàn tệ..., nhưng họ có lòng yêu nước nồng nàn, nhiệt tình cách mạng, cần cù chịu khó, cần phải tổ chức giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thành những cán bộ tốt đế đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong hiện tại và trong tương lai của nước nhà.

Lời huấn thị của Người không chỉ đặt ra yêu cầu và định hướng cho các tổ chức đảng, các cấp, các ngành phát động phong trào, tổ chức giáo dục, bồi dưỡng thanh niên, nhất là thanh niên nông dân, mà còn khơi dậy tinh thần nhiệt huyết cách mạng, hăng hái thi đua học tập, huấn luyện, rèn luyện, tích cực đóng góp sức mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Hiện nay, lời nói của Chủ tịch Hồ Chi Minh vẫn nguyên giá trị; được Đảng ta vận dụng sáng tạo vào đường lối cách mạng trong tình hình mới; chủ trương xây dựng chiến lược phát triến nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực với những giải pháp đồng bộ; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Thấm nhuần lời của Người, thanh niên Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học, ham hiểu biết, phấn đấu tự mình nâng cao trình độ về mọi mặt, say mê sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tuổi trẻ - thanh niên Quân đội hăng hái thi đua "tiến công vào khoa học kỹ thuật", “rèn đức, luyện tài”, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, với Tổ quốc; luôn có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, làm chủ bản thân, làm chủ khoa học kỹ thuật, vũ khí trang bị, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần đưa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hoàn toàn thắng lợi./.
Môi trường ST.

BẢN SẮC KHÔNG THỂ MẬP MỜ, LỊCH SỬ KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC!

     Thời gian gần đây, bám vào một số sự kiện văn hóa, văn học nghệ thuật (VHNT) gây ồn ào trên không gian mạng, nhiều phương tiện truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và các tài khoản cá nhân trên mạng xã hội có tư tưởng thù địch ra sức cổ xúy cho cái gọi là “nói khác”, “nói ngược”...
Họ kích động rằng, muốn nổi tiếng thì các tác giả phải “nói khác”, “nói ngược” trong lao động nghệ thuật. Thực chất, đó là chiêu bài nguy hiểm nhằm kích động, lôi kéo môi trường VHNT đi ngược lại định hướng của Đảng.

THẤY GÌ TỪ THÁI ĐỘ ÁM CHỈ, BÓNG GIÓ
Lợi dụng đời sống VHNT để truyền bá tư tưởng phản động, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc... không phải là thủ đoạn mới mẻ gì. Nó xuất hiện, tồn tại lâu nay và các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, khai thác nhằm kích động, lôi kéo công chúng. Những năm gần đây, khi không gian mạng trở thành một “thế giới thứ hai” của đời sống con người và xã hội, âm mưu, thủ đoạn lợi dụng VHNT, thị trường giải trí để chống phá đất nước trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa của các thế lực thù địch lại càng diễn biến phức tạp. Để tạo hiệu ứng đám đông, họ sẵn sàng dựng lên một “mẫu hình” nhà văn, nghệ sĩ nổi tiếng từ những đối tượng cực đoan, bất mãn, suy thoái... và ra sức tô vẽ thành “thần tượng” để dụ dỗ, lừa bịp công chúng. Chẳng hạn một nhà văn Việt Nam suy thoái tư tưởng, đã rời bỏ Tổ quốc ra nước ngoài sinh sống, lại được Viện Hàn lâm Pháp trao cho cái giải thưởng văn học hồi tháng 4 vừa qua là một ví dụ. Từ chuyện này, một số tổ chức truyền thông có tư tưởng thù địch với Việt Nam ở hải ngoại đã thực hiện các chiến dịch tô vẽ “thần tượng”; xuyên tạc môi trường VHNT trong nước, bôi xấu, hạ bệ những nhà văn yêu nước. Họ tuyên truyền rằng, văn nghệ sĩ Việt Nam muốn nổi tiếng, muốn thành danh thì phải học cách “nói ngược”, “nói khác” với quan điểm, chủ trương của Đảng. Họ suy diễn về tự do sáng tạo, về tư duy “khai phóng”, vượt khỏi những rào cản, định kiến để vươn tầm quốc tế...

Nhìn lại những diễn biến chính của đời sống VHNT trong thời kỳ đổi mới, nhất là giai đoạn gần đây, chúng ta thấy rõ những dấu ấn đột phá của hội nhập. Nhờ đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, hội nhập theo định hướng của Đảng mà đời sống VHNT có sự khởi sắc đáng ghi nhận. Chẳng hạn ở lĩnh vực điện ảnh. Nhiều đạo diễn Việt kiều nổi tiếng trở về nước làm phim, mang đến luồng gió mới. Nhiều bộ phim có giá trị nội dung, nghệ thuật tốt, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc; phản ánh đậm nét những góc nhìn cận cảnh về lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc; ca ngợi vẻ đẹp đất nước, nền văn hóa, con người Việt Nam... thông qua những lát cắt điển hình, được đông đảo công chúng hào hứng đón nhận. Thành quả đó đã tạo động lực, khích lệ văn nghệ sĩ trong nước phải vượt lên, tự đổi mới, làm mới bản thân để cạnh tranh với các đồng nghiệp Việt kiều và các sản phẩm quốc tế nhập khẩu.

Tuy nhiên, sự hội nhập của VHNT cũng là môi trường được các thế lực thù địch, thông qua truyền thông và không gian mạng, gieo rắc, lèo lái tư tưởng phản động, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Cách đây 10 năm, khi còn sống, nhà văn Lê Văn Thảo, nguyên Chủ tịch Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, trong một lần trả lời phỏng vấn Báo Quân đội nhân dân, đã nhấn mạnh rằng, điều ông và các nhà văn đã từng lăn lộn qua chiến tranh lo ngại nhất chính là sự xuất hiện của thái độ “ám chỉ” trong sáng tác VHNT. Lợi dụng vào tính hư cấu của VHNT, không ít tác giả đã bày tỏ khuynh hướng sáng tạo đi ngược lại quan điểm, đường lối của Đảng bằng kiểu ám chỉ, do họ bị tiêm nhiễm, kích động, ảnh hưởng bởi các luồng tư tưởng thù địch từ bên ngoài. Hệ lụy của lối tư duy “ám chỉ” đó là một số văn nghệ sĩ đã suy thoái về tư tưởng chính trị, rời bỏ quê hương ra nước ngoài sinh sống, sử dụng chính ngòi bút, vốn sống, cảm xúc nội tại để “nói ngược”, “viết ngược”, làm phương hại đến nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Thậm chí, đã có một số ít nghệ sĩ nổi tiếng, bị lôi kéo tham gia vào những bộ phim có nội dung xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bóp méo, bôi đen hình tượng Bộ đội Cụ Hồ trong chiến tranh...

Nếu như trước đây, cách nói, cách viết, cách thể hiện nhân vật theo lối “ám chỉ” được thể hiện một cách trực cảm, trực giác... thì nay, trước làn sóng dư luận đa chiều, họ cổ xúy kiểu thái độ bóng gió, mập mờ... Với hình thức thể hiện này, trong không ít tác phẩm VHNT, bản sắc văn hóa dân tộc, sắc thái vùng miền, lịch sử quê hương, đất nước hiện lên méo mó, lai căng, biến dạng. Trên phương diện luật pháp, rất khó để bắt bẻ kiểu tư duy bóng gió, mập mờ này. Nhưng, dưới góc nhìn của công tác tư tưởng-văn hóa, khi mỗi thứ lệch lạc đi một chút, mỗi thứ méo mó, lai căng đi một chút... thì hệ lụy lâu dài đối với văn hóa dân tộc và tương lai thế hệ trẻ là rất khó lường...

Thời gian gần đây, trong đời sống VHNT và thị trường giải trí xuất hiện một số tác phẩm có biểu hiện như vậy. Dư luận truyền thông thể hiện những góc nhìn đa chiều. Những tranh cãi nổ ra không chỉ trên các diễn đàn không gian mạng mà còn kéo theo sự vào cuộc của đông đảo chuyên gia, nhà quản lý, phân tích, mổ xẻ dưới nhiều góc nhìn, góc độ khác nhau. Thậm chí, trong một số trường hợp, những ồn ào trên không gian mạng về vấn đề này còn trở thành chủ đề trên bàn nghị sự của Quốc hội.

TỪ THỊ HIẾU THẨM MỸ ĐỂ ĐẾN BẢN LĨNH THẨM MỸ
Nhìn vào những diễn biến đời sống văn hóa, VHNT mỗi khi có tác phẩm, sản phẩm gây “sốt”, chúng ta thấy rõ những tác động toàn diện của hiệu ứng không gian mạng. Nó thể hiện rõ tính hai mặt của một vấn đề. Thứ nhất là, hội chứng đám đông từ những cơn “lên đồng” tập thể, nó có thể tạo sức hút vô cùng mạnh mẽ kéo theo mọi thứ, mọi thành phần trong dòng chảy ấy vào cuộc. Nếu đó là một khuynh hướng tốt, có ích cho đời sống xã hội, phục vụ cho lợi ích quốc gia, dân tộc, sẽ rất có lợi cho công tác tuyên truyền, giáo dục, quảng bá những giá trị tốt đẹp đến với người dân và du khách quốc tế. Nhưng, nếu đó là một sản phẩm có chứa đựng yếu tố gây hại, sự mập mờ trong quan điểm nghệ thuật giống như một loại virus gây bệnh, xâm nhập vào tư duy, thị hiếu của công chúng, nguy hiểm khôn lường. Thứ hai là, chính nhờ hiệu ứng mạnh mẽ của không gian mạng sẽ giúp các tác giả và giới chuyên gia, nhà quản lý nhìn nhận vấn đề dưới những góc nhìn đa chiều, từ đó có sự sàng lọc, thẩm định, định hướng sáng tạo theo quan điểm của Đảng.

Trong những năm tới, đất nước ta có nhiều ngày lễ lớn, trong đó có kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và đại lễ mừng 50 năm đất nước thống nhất. Trên lĩnh vực văn hóa, VHNT, các thế lực thù địch đã và đang tiếp tục đẩy mạnh các chiến dịch tuyên truyền, tung ra các sản phẩm xấu độc; sử dụng truyền thông và không gian mạng cổ xúy, lôi kéo các tác giả “nói ngược”, “nói khác” nhằm bóp méo, bôi đen, làm méo mó hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ và lịch sử đấu tranh cách mạng. Họ sử dụng các phương thức ám chỉ, bóng gió, mập mờ, so sánh Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh với các thành phố lớn đã và đang xảy ra xung đột vũ trang trên thế giới... để xuyên tạc lịch sử, văn hóa vùng đất Nam Bộ và cuộc đấu tranh của đồng bào Nam Bộ, góp phần to lớn giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là những biểu hiện nguy hiểm nhằm kích động hận thù dân tộc, âm mưu chia tách lịch sử, văn hóa Nam Bộ ra khỏi nền văn hóa và lịch sử dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ. Một trong những biểu hiện phổ biến hiện nay là họ cổ xúy, ca ngợi công lao của Nguyễn Ánh (Chúa Nguyễn, Vua Gia Long), coi nhân vật “cõng rắn cắn gà nhà” trong lịch sử dân tộc như là một “anh hùng”, “cụ tổ” của lịch sử, văn hóa Nam Bộ. Đáng tiếc là đã có một số người trong giới sáng tác có biểu hiện dao động, bị cuốn theo lối tư duy này nên trong một số tác phẩm VHNT, đã thổi phồng, thần thánh hóa công lao, che mờ tội của Chúa Nguyễn (Vua Gia Long), làm sai lệch lịch sử, làm mập mờ, méo mó sắc thái văn hóa và bản chất tốt đẹp của con người Nam Bộ. Từ góc nhìn sai lệch về nhân vật này, các thế lực thù địch áp dụng lối tư duy liên tưởng để dụ dỗ, dẫn dắt công chúng hiểu sai lệch lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc và hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng dân Nam Bộ.

Để tạo tiềm lực văn hóa tinh thần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa, VHNT, chúng ta phải bám sát quan điểm của Đảng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ: “Chủ động nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại”...; “Nâng cao vai trò của văn hóa, nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách của con người Việt Nam, nhất là trong thế hệ trẻ”... Như vậy, giải pháp căn bản và lâu dài là chúng ta phải chủ động nâng cao sức đề kháng, nói cách khác chính là củng cố, nâng cao bản lĩnh chính trị trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giới trẻ. Muốn định hướng thị hiếu thẩm mỹ, phải xây dựng được bản lĩnh thẩm mỹ. Với chức năng hướng đến “chân, thiện, mỹ”, dù thể hiện dưới góc nhìn nào thì trong đời sống văn hóa, VHNT, bản sắc dân tộc là giá trị không thể mập mờ, cương thổ quốc gia, lịch sử dân tộc là giá trị không thể xuyên tạc, đảo ngược.

Quy luật sàng lọc, tiếp thu, tiếp biến và đào thải của văn hóa chính là cán cân công bằng, là thước đo công tâm để khẳng định giá trị đích thực của tác phẩm, sản phẩm VHNT. Những người làm văn hóa, đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa và giới chuyên gia thẩm định chất lượng sản phẩm VHNT các cấp cần bám sát tính quy luật, nhất quán quan điểm của Đảng để đưa ra những nhận xét, nhận định, dự báo; từ đó có giải pháp định hướng dư luận và định hướng sáng tạo, lao động nghệ thuật một cách đúng đắn. Không nên bị dẫn dắt bởi dư luận đám đông dẫn đến “đẽo cày giữa đường”, tạo cớ cho các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá, cũng không nên chỉ dựa vào các quy định của pháp luật để bày tỏ chính kiến một cách cực đoan, võ đoán, máy móc...
Yêu nước ST.

ĐÂU PHẢI CHỌN BÊN!

         Nghe tiếng chó sủa râm ran ngoài cửa, ông Đậu chân tập tễnh bước ra:
- Ô, ông Nam đấy à! Mới sáng sớm, ông tìm tôi có chuyện gì thế?
Chưa kịp mở cửa, ông Nam đã nói vọng vào:
- Ông ơi, chúng ta đều biết chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kết thúc tốt đẹp. Bản tuyên bố chung của hai nước cũng ghi rõ như vậy. Ấy thế mà trên các trang mạng xã hội, không ít kẻ xấu, đối tượng cơ hội vẫn bình luận loạn cả lên...
- Tôi xem thời sự và đọc báo suốt nên hiểu rõ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Việt Nam rất thành công, mang lại nhiều lợi ích không chỉ cho hai nước mà còn trong khu vực và thế giới. Thế nhưng, cũng chính vì thế mà các thế lực thù địch, phản động càng tức tối, cố tình xuyên tạc để chống phá. Mời ông vào làm miếng nước đã rồi ta nói chuyện, bà nhà tôi vừa pha bình nước vối ngon lắm!

Cần bản lĩnh vững vàng trước thông tin xuyên tạc trên mạng xã hội.
Đón chén nước từ ông bạn già, ông Nam thong thả nói:
- Tôi biết ông hay nghiên cứu, hiểu sâu hơn tôi nên mới sang hỏi ông đấy. Chẳng là, thằng út nhà tôi đọc trên mạng xã hội thấy thông tin “Việt Nam đang ngấm ngầm bắt tay với Trung Quốc, bị lệ thuộc vào Trung Quốc, rồi các nước khác sẽ quay lưng với Việt Nam", ông ạ! Đáng buồn là nó cũng có vẻ tin theo luận điệu suy diễn, xuyên tạc của bọn phản động mà tôi không biết cách để phân tích cho nó hiểu.

Nghe đến đây, ông Đậu hiểu phần nào những băn khoăn của ông Nam.
- Ông Nam này, ông cũng biết thông tin trên mạng xã hội giờ tràn lan, nhiều nội dung bị các thế lực xấu đưa lên hòng bôi nhọ, nói xấu, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Mục đích của chúng là cố tình thổi phồng theo hướng kích động, chia rẽ kiểu “bắt tay bên này để chống bên kia”, từ đó lấy cớ xuyên tạc, bóp méo đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Nhấp thêm ngụm nước vối, ông Đậu nói tiếp:
- Hôm trước dự ngày truyền thống hội cựu chiến binh, anh Sơn là Phó chủ tịch hội giải thích rất rõ về chính sách đối ngoại của Việt Nam không phải chọn bên này, bên kia, mà là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại với các nước. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả quốc gia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, Việt Nam cũng kiên định thực hiện nguyên tắc “4 không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chăm chú nghe ông bạn già phân tích, ông Nam gật gù:
- Ông phân tích tôi thấy đúng quá, chứ cứ đọc thông tin trên mạng rồi nghe người nọ, người kia tuyên truyền thì vô tình tiếp tay cho kẻ xấu, ông ạ.

Ông Đậu vỗ vai người bạn già rồi nói tiếp:
- Việt Nam đạt được những thành tựu trong công cuộc đổi mới cũng là nhờ chính sách ngoại giao đúng đắn, nhiều nước mong muốn hợp tác với Việt Nam cũng chính vì vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố đấy ông ạ.

Ông Nam uống nốt chén nước rồi đứng dậy nói:
- Cảm ơn ông, tôi về nhà xem thằng út nhà tôi nó đọc thông tin ở đâu, rồi nói cho nó hiểu, không là rất nguy hiểm ông ạ.
Ông Đậu đứng dậy đưa ông Nam ra cửa và dặn:
- Ông nói và phân tích nhẹ nhàng thôi thì con nó mới hiểu nhé!
Yêu nước ST.

CÁI GIÁ CỦA HÒA BÌNH!

     Trong lúc đào đất san lấp mặt bằng khuôn viên Quảng trường huyện Đắk Mil ( Đắc Nông), đơn vị thi công phát hiện một căn hầm, bên trong có nhiều bộ hài cốt và nhiều di vật của bộ đội ta trong chiến tranh. Theo những di vật mới được khai quật, cơ quan chức năng đánh giá tại ngôi mộ này có ít nhất 7 liệt sỹ.
Một số nhân chứng lịch sử nhận định, đây có thể là Bộ đội ta hy sinh năm 1968, có khả năng đây là những chiến sĩ Đặc công trong trận đánh đánh vào khu căn cứ Đức Lập.
Hôm nay, khi đất nước không còn chia cắt Bắc Nam, chỉ còn lại trong những câu chuyện của cha, ông và những trang sử hào hùng…, hàng triệu người Việt Nam của biết bao thế hệ cha anh đã cống hiến, hy sinh không tiếc máu xương của mình để giành lấy độc lập tự do cho Tổ quốc. Những người con anh dũng của Tổ quốc, có người còn sống nhưng cũng có người đã nằm lại với đất mẹ thân yêu, có người đã nằm dưới lòng đất tới tận hôm nay.
Những chiến công và tên tuổi của các anh đã trở thành bất tử, khắc ghi vào lịch sử dân tộc và mãi mãi được thế hệ những người Việt Nam tưởng nhớ. Mong cơ quan chức năng có thể tìm được thêm về thông tin về các anh để các anh sớm được về với địa phương, gia đình./.
🇻🇳😭😭😭🇻🇳
Yêu nước ST.

PHẢN ÁNH SAI TRÁI CỦA TỔ CHỨC CIVICUS VỀ VIỆT NAM!

         Cuối năm 2023, một số tổ chức phi chính phủ có trụ sở ở nước ngoài lại đưa ra công bố, báo cáo xếp hạng các quốc gia về tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có những cái nhìn lệch lạc, định kiến với Việt Nam. Một trong số đó là tổ chức CIVICUS Monitor!

Không để nhận thức sai lệch ảnh hưởng tới quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ
Thủ đoạn viết lại lịch sử, làm sai lệch chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”.

CIVICUS Monitor xuyên tạc những gì?
CIVICUS Monitor là tên viết tắt của tổ chức “Liên minh toàn cầu vì sự tham gia của công dân”, một tổ chức phi chính phủ có trụ sở ở Johanesburg (Nam Phi). Vài năm trở lại đây, tổ chức này liên tục có những nhận định, đánh giá sai lệch, phiến diện về vấn đề dân chủ, nhân quyền nói chung, về đời sống xã hội ở Việt Nam nói riêng. Ngày 6/12/2023, tổ chức này ra báo cáo “Sức mạnh nhân dân bị tấn công năm 2023” của 198 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó xuyên tạc ở Việt Nam “có không gian xã hội dân sự và quyền tự do dân chủ bị đóng kín”!

CIVICUS vu cáo: “Tại Việt Nam, chính quyền đã gây áp lực lên các nền tảng truyền thông xã hội”, “hơn 100 nhà bảo vệ nhân quyền vẫn đang bị giam cầm, bị phân biệt đối xử trong trại giam”. Tổ chức này bênh vực, đòi thả tự do cho số đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam khi có các hành vi phạm tội tuyên truyền chống nhà nước, lợi dụng các quyền tự do dân chủ như Trương Văn Dũng, Trần Văn Bang, Phan Sơn Tùng...; đưa ra luận điệu sai trái khi cho rằng quyền tự do của người dân bị bóp nghẹt, bị chính quyền đàn áp. Qua những luận điệu sai trái của CIVICUS cho thấy âm mưu, thủ đoạn của tổ chức này như sau:
Một là, vu cáo Việt Nam quyền tự do dân chủ “bị bịt kín” nhằm cổ súy ra đời các tổ chức đội lốt “xã hội dân sự” hoạt động không đúng tôn chỉ mục đích; phủ nhận những thành tựu dân chủ, nhân quyền của Việt Nam; hạ thấp vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Hai là, đưa ra những “yêu sách” đòi mở rộng quyền tự do, dân chủ đứng ngoài pháp luật; đòi thực hiện chế độ đa đảng và thúc đẩy ra đời các tổ chức chính trị đối lập với xu hướng thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, thực hiện mưu đồ triệt tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.

Ba là, tìm cách kích động phản kháng, biểu tình, bạo loạn lật đổ. Tác động, can thiệp vào vấn đề dân chủ, nhân quyền, coi đó như động lực để thúc đẩy sự phát triển của “xã hội dân sự” trá hình.

Bốn là, tán dương cho những người núp bóng “bất đồng chính kiến”, “phản biện xã hội” trong nước hoạt động theo khuynh hướng độc lập, trái pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước.

Như vậy, với những âm mưu, thủ đoạn trên cho thấy CIVICUS đã và đang cổ súy cho hành vi sai trái, thúc đẩy sự ra đời các lực lượng, tổ chức chính trị đối lập, hướng lái đến một mô hình “xã hội dân sự độc lập về chính trị” kiểu phương Tây, làm suy yếu sự quản lý của Nhà nước, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi quy kết không gian dân sự ở Việt Nam “bị thu hẹp”, “bị bịt kín”, cho thấy CIVICUS đã thể hiện rõ định kiến với Việt Nam. Tổ chức này không có bất cứ hoạt động khảo nghiệm tại Việt Nam, những thông tin mà CIVICUS có được đều lấy từ những tổ chức phản động, thù địch với Việt Nam. Vì thế những đánh giá trong báo cáo đã được công bố đều là phiến diện, sai trái./.
Yêu nước ST.

CHỈ CÓ ÁNH SÁNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI MỚI MANG LẠI ẤM NO, TỰ DO, HẠNH PHÚC CHO LOÀI NGƯỜI!

     Thời gian qua, có nhiều quan điểm sai trái, thù địch xuất hiện cho rằng, sự ra đời tư tưởng và chế độ xã hội chủ nghĩa là một sai lầm của lịch sử. Rằng, không cần có chủ nghĩa xã hội thì con người vẫn có ấm no, tự do, hạnh phúc. Đây thực chất là quan điểm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, phủ nhận bước tiến kiên quyết và tất yếu của lịch sử nhân loại. Bởi lẽ, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc thực sự cho con người.
Ấm no, tự do, hạnh phúc là mong muốn, khát vọng của con người từ khi con người xuất hiện trên trái đất. Tuy vậy, có thể nói, từ khi xã hội loài người được hình thành cho đến nay, chưa có giai đoạn nào loài người được thực sự ấm no, tự do, hạnh phúc.
Giai đoạn xã hội chưa thành văn, xã hội nguyên thủy mặc dù chưa xuất hiện giai cấp, áp bức, bóc lột, con người hoàn toàn bình đẳng nhưng không có ấm no, tự do, hạnh phúc. Bởi lẽ, thời kỳ này, sức sản xuất chưa phát triển nên con người chưa thể hiện được vai trò của mình trong lao động sản xuất, chiếm lĩnh tự nhiên. Năng suất lao động thấp, của cải làm ra chưa đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng cao và phong phú, nên con người chưa thể có no ấm.
Mặt khác từ khi loài người xuất hiện, con người luôn mong muốn khẳng định định vị trí, vai trò của mình trong sự phát triển thế giới. Tuy vậy, trong thời kỳ đầu của lịch sử, khả năng hiểu biết của con người còn hạn chế, nên con người chưa nắm được các quy luật của tự nhiên. Con người gần như phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên. Người nguyên thuỷ không nắm được quy luật tự nhiên, chưa hiểu biết về chính mình nên đã nảy sinh tâm lý sợ hãi, sự phụ thuộc, bị chi phối, mất đi vai trò chủ thể, tính chủ động, tích cực của chính mình. Con người thậm chí còn không dám tác động, chinh phục, cải biến tự nhiên. Khi tôn giáo xuất hiện, niềm tin tôn giáo xuất hiện, làm tăng thêm sự phụ thuộc vào những lực lượng xa lạ bên ngoài con người. Nếu hiểu tự do là nhận thức được các quy luật của cái tất yếu thì con người thời kỳ này chưa thể có tự do.
Không có ấm no, không có tự do thì con người không thể có hạnh phúc. Nói cách khác, con người chỉ hạnh phúc nếu có cuộc sống no ấm, được làm những gì mình muốn, thoát khỏi sự phụ thuộc, sự chi phối, khẳng định được vai trò chủ thể của mình trong xã hội.
Khi đồ sắt xuất hiện (khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN), làm cho sức sản xuất phát triển mạnh mẽ. Con người ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong thế giới, chinh phục được giới tự nhiên, tạo ra nhiều của cải để thoả mãn nhu cầu. Tuy nhiên, của cải dư thừa làm xuất hiện chế độ tư hữu. Chế độ tư hữu xuất hiện làm xuất hiện những tập đoàn người có lợi ích đối kháng nhau, do sự khác nhau về địa vị của họ trong hệ thống sản xuất xã hội, khác nhau về vai trò trong tổ chức lao động xã hội, và khác nhau về phần của cải xã hội ít hay nhiều mà họ được hưởng. Những tập đoàn đó là những giai cấp trong xã hội. Đối kháng lợi ích giữa những giai cấp dẫn đến những cuộc đấu tranh giai cấp. Xã hội có giai cấp đầu tiên là xã hội chiếm hữu nô lệ (xuất hiện khoảng thế kỷ thứ VIII TCN). Ph.Ăngghen viết: “toàn bộ lịch sử đã qua đều là lịch sử đấu tranh giai cấp”.
Sự biến đổi căn bản nhất của xã hội loài người từ khi có giai cấp đó là xuất hiện tình trạng áp bức, nô dịch giữa người với người. Những người có quyền năng không chỉ chiếm đoạt của cải của cộng đồng tạo nên sự bất bình đẳng, bất công xã hội,mà còn nô dịch lao động của người khác. Lúc này, đa số những người bị chiếm đoạt, bị áp bức, nô dịch không thể có ấm no, tự do và hạnh phúc. Những điều này chỉ thuộc về thiểu số người trong xã hội.
Từ xã hội chiếm hữu nô lệ, trải qua chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa, điều này cũng không thay đổi. Ấm no, tự do, hạnh phúc vẫn thuộc về số ít giai cấp thống trị, đó là địa chủ, quý tộc, tư sản. Đa số các giai cấp lao động, bị áp bức vẫn không có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa là chế độ tư hữu hoàn bị nhất. Vì vậy, các giai cấp lao động trong xã hội tư bản bị bóc lột triệt để nhất. Không chỉ áp bức, nô dịch lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản đã mở rộng sự áp bức, nô dịch ở các nước thuộc địa trên phạm vi quốc tế; bóc lột giữa tư bản và lao động nói chung. “Cùng với giai cấp tư sản, chế độ tư hữu cũng sẽ bị sụp đổ, và thắng lợi của giai cấp công nhân sẽ vĩnh viễn chấm dứt mọi sự thống trị giai cấp và đẳng cấp”.
Cách mạng tháng Mười năm 1917 đã mở ra thời đại mới, thời đại đấu tranh, giải phóng cho khát vọng của nhân loại, để xây dựng chế độ xã hội, chế độ xã hội hướng đến sự giải phóng và phát triển toàn diện con người, hiện thực hoá khát vọng ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân loại.
Chế độ xã hội chủ nghĩa, sau là chế độ cộng sản chủ nghĩa xoá bỏ chế độ tư hữu tức là xoá bỏ sự khác nhau về địa vị của các tập đoàn người trong hệ thống sản xuất xã hội, xoá bỏ sự khác nhau về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và xoá bỏ sự khác nhau về sự thụ hương lợi ích xã hội, tạo cơ sở thực hiện sự công bằng, bình đẳng cho mọi người trong xã hội.
Theo lý tưởng cộng sản, mọi đối kháng giai cấp trong xã hội cộng sản sẽ mất đi. Vì vậy, công cụ chuyên chính của các giai cấp thống trị là nhà nước sẽ mất đi, theo đó sẽ không còn áp bức, nô dịch giai cấp. Khi áp bức giai cấp bị xoá bỏ thì tình trạng nô dịch dân tộc sẽ mất đi.
C.Mác và Ph.Ăngghen từng nói: áp bức giai cấp là nguyên nhân căn bản, sâu xa của áp bức dân tộc; nên hãy xoá bỏ tình trạng giai cấp này đi áp bức giai cấp khác thì tình trạng dân tộc này đi áp bức giai cấp khác sẽ mất đi. Khi áp bức dân tộc không còn thì dân tộc được tự do. Con người trong xã hội đó được giải phóng thực sự. Mặt khác, khi con người được giải phóng, không bị giới hạn bởi những điều kiện ràng buộc, con người có thể phát huy tối đa mọi khả năng của mình, khẳng định tốt nhất những năng lực bản chất của mình. Khi đó con người có thể tạo ra của cải với năng suất rất cao, đáp ứng mọi nhu cầu của mình. Nghĩa là con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Trong quá trình nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.
Đến hôm nay, chủ nghĩa xã hội mới đang trong quá trình xây dựng, cách mạng xã hội chủ nghĩa chưa giành được thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi thế giới. Tuy nhiên, như C.Mác khẳng định: “chủ nghĩa cộng sản là hình thức kiên quyết của tương lai sắp đến”. “Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Bởi đó là con đường duy nhất đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân lao động và cả xã hội loài người./.
Yêu nước ST.

ĐỘI QUÂN NHÀ PHẬT

     Cách đây 45 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quân và dân Việt Nam không chỉ chung sức đồng lòng đánh bại tập đoàn Pon Pol xâm lược biên giới nước ta (1975 - 1978) mà Quân đội Nhân dân Việt Nam còn tình nguyện sang giúp bạn lật đổ chế độ diệt chủng, hồi sinh đất nước (1979 - 1989). Sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của Quân tình nguyện Việt Nam đã trở thành biểu tượng sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần quốc tế trong sáng, thiêng liêng và được nhân dân Campuchia trìu mến gọi là "Đội quân nhà Phật".

    Nói đến Phật giáo là nói đến "Từ bi, hỷ xả", cứu khổ, cứu nạn. Ở một đất nước tôn sùng Phật giáo, coi đạo Phật là quốc đạo, phải đối mặt với hành động vô nhân tính của tập đoàn Pol Pot, nhân dân Campuchia chỉ còn biết chắp tay khẩn cầu tiên, Phật tới cứu khổ, cứu nạn. Bởi, tháng 4 - 1975, một chế độ diệt chủng Khmer Đỏ được dựng lên, cả nước Campuchia biến thành "con số không": "Không tự do đi lại, không tự do hội họp, không tự do ngôn luận, không tự do tín ngưỡng, không tự do học hành, không tự do hôn nhân, không tiêu tiền, không buôn bán, không chùa chiền... và không có cả nước mắt để khóc trước cảnh đau thương của dân tộc. Chỉ còn căm thù và uất hận" ... Chưa đầy 4 năm cầm quyền, chính quyền Khmer Đỏ do tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary đứng đầu, không chỉ giết hại hơn 3 triệu người Campuchia, tương đương 25% dân số lúc đó, biến đất nước Campuchia trở thành một nhà tù, một địa ngục khổng lồ mà còn tàn sát người dân Việt Nam vô tội ở các tỉnh chung biên giới với Campuchia. Trước tình hình đó, những người lính Việt Nam vừa trở về từ cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc bảo vệ Tổ quốc lại tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới Tây Nam và nghĩa vụ quốc tế thiêng liêng theo tinh thần vừa tự vệ, vừa giúp bạn: "Giúp bạn là tự giúp chính mình". "Bộ đội Cụ Hồ" đã chiến đấu vì chính nghĩa và sẵn sàng hy sinh cho nước bạn hồi sinh!

    Trước hành động man rợ của quân Pôn Pốt và đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, ngày 23 - 12 - 1978, Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang Campuchia đã mở cuộc tổng phản công - tiến công trên toàn tuyến biên giới. Ngày 26 - 12- 1978, toàn bộ hệ thống phòng thủ vòng ngoài của quân Pôn Pốt bị phá vỡ. Đến ngày 31 - 12 - 1978, quân và dân ta đã hoàn thành nhiệm vụ đánh đuổi quân Pôn Pốt, thu hồi toàn bộ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc bị kẻ thù lấn chiếm. Ngày 2 - 1 - 1979, ba cụm quân chủ lực của Pôn Pốt, mỗi cụm 5 sư đoàn, án ngữ các trục đường tiến về Phnôm Pênh (đường 1, đường 7 và đường 2) cơ bản bị tiêu diệt và làm tan rã. Trên tất cả các hướng về thủ đô, quân Pôn Pốt không cản được Quân tình nguyện Việt Nam truy kích và tiến sát về Phnôm Pênh. Ngày 7 - 1 - 1979, sau 2 ngày tổng công kích, thủ đô Phnôm Pênh hoàn toàn được giải phóng. Ngày 8 - 1 - 1979, Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia được thành lập ra tuyên bố: Xóa bỏ hoàn toàn chế độ diệt chủng của tập toàn Pôn Pốt, thành lập chế độ Cộng hòa nhân dân Campuchia. Việt Nam cùng nhiều nước đã công nhận Nhà nước Campuchia.

    Ngày 7 - 1 - 1979 trở thành biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Campuchia: "Chúng tôi không thể nào quên được ngày 7 - 1 - 1979. Nếu như không có quân đội nhân dân Việt Nam, mặt trận giải phóng dân tộc Campuchia, quân đội nhân dân Campuchia thì sẽ không thể nào thoát khỏi họa diệt chủng của Pol Pot. Từ đó đến nay, mối quan hệ đoàn kết hữu nghị Việt Nam – Campuchia ngày càng bền vững và phát triển” . Nhân dân Campuchia đã giành tình cảm đặc biệt cho "Bộ đội Cụ Hồ" - "Bộ đội nhà Phật" - những người cùng chung lưng đấu cật, đồng cam cộng khổ, kề vai sát cánh với họ để khép lại một trang sử đen tối, đau thương nhất trong lịch sử Campuchia, thực hiện công cuộc hồi sinh dân tộc, mở ra kỷ nguyên độc lập, hòa bình, tự do cho đất nước Chùa Tháp. Vì vậy, mỗi lần trở lại Campuchia để thăm chiến trường xưa, những người lính tình nguyện Việt Nam đã không khỏi vui mừng khi được chứng kiến cuộc sống hòa bình và những thay đổi to lớn trên đất nước Angkor. Họ luôn tự hào đã đóng góp một phần nhỏ công sức vào sự hồi sinh đó. “Chúng tôi cảm nhận rất rõ tình cảm của nhân dân Campuchia dành cho các cựu Quân tình nguyện Việt Nam. Tôi cũng nghẹn lòng khi nghĩ về những đồng đội thân yêu đã ngã xuống tại Campuchia. Máu của người Việt Nam chúng ta đã giúp nở hoa trên đất nước chùa Tháp, vun đắp tình hữu nghị giữa hai nước thêm bền chặt” .

    Sau chiến thắng ngày 7 - 1 - 1979, theo như kế hoạch ban đầu, bộ đội Việt Nam sẽ rút quân khỏi Campuchia ngay trong năm 1979. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Campuchia chưa đủ sức chống lại Pol Pot và cần thời gian để củng cố lực lượng cũng như khôi phục nền kinh tế của mình. Nếu Việt Nam rút quân và Pol Pot quay trở lại được, thì sẽ càng nhiều người Campuchia bị giết. “Chính phủ Việt Nam không muốn để quân ở lại. Phía chúng tôi đã yêu cầu họ như thế. Sau đó chúng tôi đồng ý, họ sẽ thử giảm bớt các lực lượng của họ vào năm 1982. Chính phủ Việt Nam giảm quân số, còn chúng tôi sẽ tăng lực lượng của mình lên” .

    Đến tháng 6 - 1989, theo thỏa thuận giữa hai Đảng, hai Nhà nước, Việt Nam rút hết quân tình nguyện về nước, hoàn thành nghĩa vụ quốc tế vẻ vang, thiêng liêng. Người dân Campuchia đứng hai bên đường vẫy chào, chia tay quân tình nguyện Việt Nam về nước - "Đội quân nhà Phật" đã cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng. Trên báo Pracheachon (Nhân dân) của Campuchia đăng bài xã luận, số ra ngày 29 - 6 - 1989: "Trong những năm cực kỳ bi thảm dưới chế độ diệt chủng Pol Pot trên thế giới này có không biết bao nhiêu kẻ mạnh, kẻ giàu, nhưng duy nhất chỉ có người bạn láng giềng nghèo Việt Nam đến cứu sống dân tộc ta mà thôi".

    Nhìn lại chặng đường lịch sử đã qua, chúng ta vui mừng nhận thấy, biết bao thăng trầm, quan hệ “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” luôn được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp đang tiếp tục không ngừng được củng cố và phát triển tốt đẹp, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước. Bộ đội Việt Nam cũng giúp Campuchia phục hồi chùa chiền, khôi phục hoạt động của giới sư sãi. Vì vậy, bên cạnh bày tỏ lòng biết ơn ân nhân cứu mạng, người dân Campuchia còn coi Bộ đội Việt Nam là “Đội quân nhà Phật”. Năm 1995, Chủ tịch nước Lê Đức Anh sang thăm Campuchia, Quốc vương Shihanouk ra tận chân cầu thang máy bay đón và thốt lên rằng: "Tôi xin chào ngài với tư cách một người dẫn đầu đội quân nhà Phật sang cứu giúp đất nước Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, chỉ có Việt Nam mới làm được việc đó". Sau đó, vua sãi Tep Vong đã đưa "Đội quân nhà Phật" vào kinh Phật của Campuchia. Trong những lần gặp lãnh đạo cấp cao của Việt Nam sang thăm Campuchia, vua sãi Tep Vong đều nhắc lại câu "Đội quân nhà Phật" để tỏ lòng biết ơn Việt Nam đã giúp đất nước chùa Tháp hồi sinh, nhân dân thoát khỏi hoạ diệt chủng chủng ghê rợn nhất trong lịch sử loài người.

    "Đội quân nhà Phật" trở thành tài sản thiêng liêng tiếp tục được kế thừa và phát huy lên tầm cao mới, gắn bó, thuỷ chung để hai Đảng, Nhà nước và hai dân tộc Việt Nam - Campuchia không ngừng được củng cố và phát triển, mang lại những lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển trong khu vực và trên thế giới. Đúng như Thủ tướng Campuchia Hun Sen đã phát biểu: "Nhân dân Campuchia có niềm tin, chỉ có tiên, có Phật mới cứu giúp được những phận người khi gặp khó khăn khốn cùng. Đúng vào lúc người dân Campuchia sắp chết, chỉ còn biết chắp tay khẩn cầu tiên, Phật tới cứu thì Bộ đội tình nguyện Việt Nam xuất hiện. Bộ đội Việt Nam chính là đội quân nhà Phật" . Lời phát biểu của Thủ tướng Campuchia cũng chính là "vũ khí" sắc bén chống lại các quan điểm sai trái, thù địch đã và đang chống phá, chia rẽ tình đoàn kết thuỷ chung, tinh thần kề vai sát cánh Việt Nam - Campuchia trong sự nghiệp chống kẻ thù chung, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Không bao giờ có chuyện Việt Nam đưa quân sang xâm lược Campu chia - Đó là luận điệu sai trái! Mỗi người Việt Nam phải tỉnh táo, đề cao cảnh giác với những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Đồng thời, bản thân phải hiểu biết sâu sắc về lịch sử, bảo vệ lẽ phải, chính nghĩa; bảo vệ tình đoàn kết keo sơn thuỷ chung của hai nước, tiếp tục đẩy mạnh quan hệ hợp tác, chung sức đồng lòng cùng phát triển đất và, khu vực ngày càng phát triển, thịnh vượng.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC MỐI QUAN HỆ KEO SƠN GIỮA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VÀ CÔNG AN NHÂN DÂN

     Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam là lực lược nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, trong công tác đấu tranh, bảo vệ an toàn, an ninh tổ quốc, đảm bảo an toàn cho nhân dân, giữ vững chủ quyền dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Tuy nhiên, vẫn còn những kẻ cố tình xuyên tạc về mối quan hệ này.

    Công an nhân dân là lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Hai lực lượng này đều có đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng cộng sản Việt Nam. Công an nhân dân và Quân đội nhân dân luôn chung sức, chung lòng, đồng tâm hiệp lực, đoàn kết, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, kề vai sát cánh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Tuy nhiên, đáng tiếc vẫn còn có những tiếng nói lạc lõng với những luận điệu gây chia rẽ mối quan hệ gắn bó máu thịt, tình đoàn kết keo sơn của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Không khó để nhận thấy, với âm mưu làm suy yếu sức mạnh của lực lượng vũ trang Việt Nam trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, muốn “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”. Chúng còn công kích, gây chia rẽ bằng thủ đoạn hạ thấp vai trò Công an, quân đội và những thủ đoạn khác với mong muốn gây nên sự nghi kị, hiềm khích mối quan hệ giữa Quân đội với Công an. Chúng rêu rao rằng Quân đội vất vả và hy sinh to lớn, còn Công an thì “an nhàn”, “sung sướng” hay Công an có sự “ưu đãi” cao hơn Quân đội. Lợi dụng một số cán bộ sỹ quan trong Công an nhân dân vi phạm pháp luật bị xử lý, chúng cho rằng Quân đội được “che chở” , còn Công an “yếu thế” nên bị xử lý mạnh…

    Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định “Công an và Quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính. Vì vậy, càng phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau”, Công an nhân dân và Quân đội nhân dân luôn chung sức, chung lòng, đồng tâm hiệp lực, đoàn kết, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, kề vai sát cánh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại hội lần thứ XI của Đảng nêu rõ: “Bố trí thế trận quốc phòng, an ninh phù hợp với tình hình mới. Gắn kết quốc phòng với an ninh. Kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế-xã hội trên từng địa bàn lãnh thổ, trong công tác quy hoạch, kế hoạch và các chương trình, dự án”. Thực tiễn là minh chứng rõ nét “Nhiệm vụ của Quân đội và Công an không thể rời nhau được vì nó đều có mục đích chung là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ trị an cho nhân dân.

    Mối quan hệ hữu cơ thống nhất, tác động lẫn nhau giữa quốc phòng và an ninh được Đảng ta nhấn mạnh trong sự kết hợp sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân. Vấn đề phối hợp giữa quốc phòng với an ninh trên phương diện tổ chức lực lượng, xây dựng thế trận và hoạt động thực tiễn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc.

    Với bản chất cách mạng, anh hùng vẻ vang, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đã không ngừng nỗ lực, nâng cao và thắt chặt mối quan hệ, tiếp tục hiệp đồng chiến đấu, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ nhân dân. Hai lực lượng đã kịp thời, chủ động phát hiện, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước nhiều chủ trương, giải pháp bảo vệ an ninh, trật tự, bảo vệ biên giới, lãnh thổ của Tổ quốc; ban hành và hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, về quốc phòng, an ninh, đối ngoại; bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân.

    Trên báo Quân đội nhân dân điện tử ngày 18/08/2022, có bài viết của Thượng tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an có tựa đề “Phối hợp chặt chẽ giữa Công an nhân dân và Quân đội nhân dân, tạo sức mạnh bảo vệ Tổ quốc” trong đó viết rõ: “Chăm lo, phối hợp xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xây dựng, hun đúc bản lĩnh chính trị tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì bình yên cuộc sống, vì hạnh phúc của nhân dân; kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn mọi âm mưu, hoạt động phá hoại nội bộ, chia rẽ Quân đội với Công an của các thế lực thù địch, phản động. Thực hiện tốt các nhiệm vụ nêu trên chính là tạo sức mạnh nội sinh trong quan hệ phối hợp, hiệp đồng chiến đấu giữa hai lực lượng - cơ sở quan trọng bảo đảm thắng lợi Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”

    Như vậy, có thế thấy đây là mối quan hệ không thể tách rời trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi quan điểm, mọi luận điệu xuyên tạc về mối quan hệ này đều là luận điệu của những kẻ phá hoại, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Do đó, mọi công dân Việt Nam cần phải hết sức tỉnh táo và luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Đồng thời, nêu cao cảnh giác trước các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

AN NINH THÔNG TIN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

     Ngày nay, an ninh thông tin đã và đang đi vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội và dần trở thành một bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia. Nguy cơ gây mất an ninh thông tin là mối đe dọa lớn và ngày càng gia tăng đối với an ninh quốc gia. Bài viết tập trung phân tích, làm rõ tình hình an ninh thông tin ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay, chỉ rõ những vấn đề đang đặt ra trong bảo đảm an ninh thông tin và các giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm an ninh thông tin của Việt Nam thời gian tới.

    Trải qua 35 năm đổi mới, hệ thống thông tin của Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ, phục vụ đắc lực sự lãnh đạo, quản lý, điều hành của Đảng, Nhà nước, đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội, góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước. Lĩnh vực viễn thông, Internet, tần số vô tuyến điện có sự phát triển mạnh mẽ, đạt được mục tiêu số hóa hoàn toàn mạng lưới, phát triển nhiều dịch vụ mới, phạm vi phục vụ được mở rộng, bước đầu hình thành những doanh nghiệp mạnh, có khả năng vươn tầm khu vực, quốc tế. Hệ thống bưu chính chuyển phát, báo chí, xuất bản phát triển nhanh cả về số lượng, chất lượng và kỹ thuật nghiệp vụ, có đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước.

    Tuy nhiên, tình hình an ninh thông tin ở Việt Nam đã và đang có những diễn biến phức tạp. Các cơ quan đặc biệt nước ngoài, các thế lực thù địch, phản động tăng cường hoạt động tình báo, gián điệp, khủng bố, phá hoại hệ thống thông tin; tán phát thông tin xấu, độc hại nhằm tác động chính trị nội bộ, can thiệp, hướng lái chính sách, pháp luật của Việt Nam. Gia tăng hoạt động tấn công mạng nhằm vào hệ thống thông tin quan trọng quốc gia, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Theo thống kê, trung bình mỗi năm, qua kiểm tra, kiểm soát các cơ quan chức năng đã phát hiện trên 850.000 tài liệu chiến tranh tâm lý, phản động, ân xá quốc tế, tài liệu tuyên truyền tà đạo trái phép; gần 750.000 tài liệu tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước được tán phát vào Việt Nam qua đường bưu chính. Từ 2010 đến 2023 đã có 53.744 lượt cổng thông tin, trang tin điện tử có tên miền .vn bị tấn công, trong đó có 2.393 lượt cổng thông tin, trang tin điện tử của các cơ quan Đảng, Nhà nước “.gov.vn”, xuất hiện nhiều cuộc tấn công mang màu sắc chính trị, gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

    Tội phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thông tin diễn biến phức tạp, gia tăng về số vụ, thủ đoạn tinh vi, gây thiệt hại nghiêm trọng về nhiều mặt. Các hành vi phá hoại cơ sở hạ tầng thông tin; gây mất an toàn, hoạt động bình thường, vững mạnh của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và hệ thống thông tin vô tuyến điện, đã và đang gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế, xâm hại trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Theo kết quả đánh giá an ninh mạng do Tập đoàn công nghệ Bkav thực hiện, trong năm 2023, chỉ tính riêng thiệt hại do virus máy tính gây ra đối với người dùng Việt Nam đã lên tới 20.892 tỷ đồng (tương đương 902 triệu USD), hơn 1,8 triệu máy tính bị mất dữ liệu do sự lan tràn của các loại mã độc mã hóa dữ liệu tống tiền (ransomware), trong đó có nhiều máy chủ chứa dữ liệu của các cơ quan, gây đình trệ hoạt động của nhiều cơ quan, doanh nghiệp.

    Hệ thống thông tin của Việt Nam còn tồn tại nhiều điểm yếu, lỗ hổng bảo mật dễ bị khai thác, tấn công, xâm nhập; tình trạng lộ, mất bí mật nhà nước qua hệ thống thông tin gia tăng đột biến; hiện tượng khai thác, sử dụng trái phép cơ sở dữ liệu, tài nguyên thông tin quốc gia, dữ liệu cá nhân người dùng diễn biến phức tạp; xuất hiện nhiều dịch vụ mới, hiện đại gây khó khăn cho công tác quản lý, kiểm soát của các cơ quan chức năng. Từ 2001 đến 2023, các cơ quan chức năng đã phát hiện hơn 1.100 vụ lộ, mất bí mật nhà nước, trong đó lộ, mất bí mật nhà nước qua hệ thống thông tin chiếm tỷ lệ lớn với trên 80% số vụ. Tháng 3/2018, Facebook cũng đã để lộ dữ liệu cá nhân để một nhà phát triển bán lại cho Công ty Cambridge Analityca, dẫn tới 87 triệu dữ liệu thông tin người dùng bị lộ, trong đó có 427.466 tài khoản của người dùng Việt Nam. Trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, an ninh thông tin ngày càng trở thành một nội dung quan trọng của an ninh quốc gia. Nghiên cứu về an ninh thông tin, bảo đảm an ninh thông tin vì vậy luôn là một yêu cầu bức thiết hiện nay.

KHÔNG GÌ CÓ THỂ CẢN TRỞ DÂN TỘC VIỆT NAM TRÊN CHẶNG ĐƯỜNG VƯƠN TỚI KHÁT VỌNG THỊNH VƯỢNG VÀ HÙNG CƯỜNG

     Năm 1945, Đại chiến thế giới lần thứ II đi vào kết thúc với thắng lợi của các lực lượng dân chủ cùng phe Đồng minh để đánh bại phe phát xít; thế giới có thêm nhiều quốc gia độc lập ra đời. Ở khu vực Đông Nam Á, lần đầu tiên xuất hiện một quốc gia hoàn toàn mới với tên đầy đủ là Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

    Trên bản đồ, đất nước vừa "giũ bùn đứng dậy sáng lòa" ấy chỉ ghi hai chữ Việt Nam và ở chấm đỏ đánh dấu thủ đô Hà Nội, chiều ngày 2/9 phát đi lời Tuyên ngôn Độc lập khẳng định "Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!".

    Thực ra trong lịch sử chống chế độ áp bức, không thiếu các dân tộc "gan góc" đấu tranh, nhất là trong bối cảnh chiến tranh thế giới khi các đế quốc bận lao vào xâu xé tranh giành thuộc địa và ảnh hưởng, nhiều dân tộc thuộc địa và lệ thuộc đã chớp thời cơ chung để vùng dậy giải phóng mình.

    Điều đáng chú ý nhất lúc này là trong hoàn cảnh chung và điều kiện mới của Chiến tranh thế giới lần thứ II, có một dân tộc Việt Nam "đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm", nay lại "gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít".

    Gan góc suốt gần 30 năm chống chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp (1858-1884); gan góc suốt hơn 40 năm chống đàn áp và ách cai trị, bóc lột của thực dân đế quốc (1885-1929); gan góc suốt 15 năm chống 3 tầng áp bức, một cổ hai tròng nô lệ của cả thực dân đế quốc và phát xít trên chính đất nước mình (1930-1945). Sự gan góc ấy là hành trang và cơ sở chắc chắn để cách mạng Việt Nam "đứng về phe Đồng minh chống phát xít".

    Từ tháng 5/1941, Việt Nam Độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) đã ra đời tập hợp lực lượng theo phương châm "Dân ta xin nhớ chữ đồng: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh", hình thành sức mạnh quật khởi của toàn dân tộc. Đứng về phe Đồng minh và trở thành "một bộ phận dân chủ chống phát xít", Việt Minh với phong trào du kích chiến tranh ở các vùng căn cứ đã phá hoại hậu phương của chủ nghĩa phát xít ở Đông Dương; đồng thời khi thời cơ đến, chớp thời cơ nghìn năm có một, Đảng quyết định phát động Tổng khởi nghĩa, Việt Minh đảm đương lực lượng chính yếu tại Quốc dân Đại hội nêu cao ý chí quyết tâm "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".

    Trong vòng nửa tháng, như Tuyên ngôn Độc lập viết: "Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để lập nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa".

    Lần đầu tiên, "một dân tộc đã gan góc" đứng lên tự giành lấy nền tự do độc lập và chế độ dân chủ cộng hòa; cũng là lần đầu tiên với tư cách dân tộc tự do dân chủ cộng hòa, Việt Nam tuyên bố "thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam".

    Sự đoạn tuyệt hoàn toàn với chế độ thực dân áp bức dân tộc như thế còn gắn liền với lời thể của "Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy".

    Hiển nhiên là từ lời thế đó, dân tộc đã gan góc dựng nên nền cộng hòa, thì cũng gan góc bảo vệ và phát huy nền cộng hòa.

    Ở Sài Gòn chiều ngày 2/9 đầu tiên, ngay khi có tiếng súng bắn vào người dự lễ, quần chúng tự vệ lập tức ra tay truy lùng và trừng trị những kẻ gây rối. Ở Hà Nội và các nơi khác những ngày đầu giành độc lập, trước những khó khăn chồng chất của tình thế cách mạng ngàn cân treo sợi tóc, người dân trên mọi miền đất nước lại sẵn lòng ủng hộ "Tuần lễ vàng", "Quỹ Độc lập" theo tinh thần "người có ít góp ít, người có nhiều góp nhiều" vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc…

    Trong 30 năm kháng chiến trường kỳ (1945-1975), những thần dân yêu nước của dân tộc gan góc ấy đã chiến đấu với tinh thần "Độc lập hay là chết", "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", "Nhằm thẳng quân thù mà bắn", "Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt", "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người", "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước"…

    Đất nước vừa thống nhất, non sông vừa liền một giải, hai đầu biên giới lại áp sát những mưu toan kiềm chế và xâm phạm chủ quyền lãnh thổ. Lại thêm những gian nan thử thách khi bị bao vây cấm vận, bão lũ và thiên tai; cả cơ chế cũ, thói quen cũ, nền nếp cũ, tư duy cũ cũng trở thành "nhân tai" đẩy đất nước vào khủng hoảng. Nhưng với "một dân tộc đã gan góc", đã từng "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta", thì "chẳng kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi". Người ở biên cương "Sống bám đá, chết hóa đá"; người ở hải đảo cuốn lá cờ Tổ quốc vào bụng "để máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân Việt Nam anh hùng" và "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo"; người ở tuyến sau trên khắp các địa phương luôn tìm tòi khám phá, tháo gỡ khó khăn, dám nghĩ dám làm, năng động sáng tạo, mở đường đi tới.

    Gần nhất là sự xuất hiện của Đại dịch trên toàn cầu khiến cho không quốc gia nào thoát khỏi khủng hoảng y tế; trong khoảng hai năm liên tiếp bị 4 đợt dịch tấn công dồn dập, Việt Nam lần đầu tiên phải ứng phó theo cách thức "chống dịch như chống giặc", nhất là ở trọng điểm Thành phố Hồ Chí Minh có đỉnh dịch trùng với dịp kỷ niệm quốc khánh. Người dân của đất nước rất gan góc trong kháng chiến chống ngoại xâm, nay gan góc trước diễn biến tình hình phơi nhiễm tăng lên hằng ngày; ai cũng cố gắng góp sức chung tay chống dịch.

    Ngay sau đó và đồng thời với quá trình căng sức chống dịch, đất nước lại cần nhanh chóng phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội. Truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái trong khởi nghĩa tháng Tám năm xưa, nay chuyển thành tấm lòng thương người như thể thương thân trong phòng chống đại dịch; sức mạnh quật khởi của đông đảo quần chúng xông lên phá kho thóc cứu nạn đói năm xưa, nay chuyển thành sự chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau trong từng hoàn cảnh khó khăn khi COVID-19 hoành hành. Vậy nên trong và sau dịch, kinh tế Việt Nam không có tăng trưởng âm, lại có nhiều điểm sáng và dự báo khả quan; bệnh viện dã chiến trả lại không gian cho trường học vào mùa khai giảng; hộ chiếu vaccine đã đồng hành với khách du lịch trong và ngoài nước tăng lên hằng ngày…

    Như thế nhìn lại gần 80 năm kể từ ngày khẳng định "dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!", có biết bao thử thách và gian nguy, nhiều khó khăn hiểm nghèo và không ít tình huống éo le phức tạp… Việt Nam là “một dân tộc đã gan góc” vượt qua hơn 80 năm nô lệ để giành tự do, độc lập, thì không gì có thể cản trở nổi dân tộc đó trên chặng đường vươn tới khát vọng thịnh vượng và hùng cường.

GIÁ TRỊ HỒ CHÍ MINH ĐÃ VÀ ĐANG LAN TỎA NHIỀU NƠI TRÊN THẾ GIỚI

 

PV: Cách đây tròn một thế kỷ, ngày 23-12-1923, nhà thơ, nhà báo Xô viết O.Mandelstam đã viết: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. Ông bình luận gì về nhận định này?

Ông Michael Croft: Đây là điểm mà tôi đánh giá rất cao ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là luôn hướng về tương lai và ông đặt nền móng xây dựng tương lai ngay trong các hành động của mình thời bấy giờ. Chúng ta thấy rất nhiều triết lý, tư tưởng, phương châm sống và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hay các giá trị mà ông đã kêu gọi cộng đồng chung tay xây dựng vẫn rất thiết thực và giá trị với chúng ta ngày nay. Đó là lý tưởng về hòa bình, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa nhân văn, tự do, dân chủ và công bằng xã hội. Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng tôi tin rằng, nhân dân Việt Nam và các dân tộc trên thế giới sẽ nhớ mãi về những lý tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

PV: Theo góc nhìn của UNESCO, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đóng góp, cống hiến gì cho văn hóa nhân loại?

Ông Michael Croft: Tham dự và phát biểu tại lễ kỷ niệm 35 năm Ngày UNESCO ra Nghị quyết số 24C/18.65 tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh do Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức ngày 6-9-2022 tại Hà Nội, bà Audrey Azouley, Tổng giám đốc UNESCO đã khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người khai sinh ra nước Việt Nam độc lập, mà ảnh hưởng của ông còn vượt ra xa khỏi biên giới đất nước. Trong suốt cuộc đời, ông đã duy trì mối quan hệ rất chặt chẽ, kết nối với nhiều nền văn hóa khắp nơi trên thế giới. Với UNESCO, giáo dục, văn hóa chính là trụ cột của một nền độc lập. Về mặt này, Chủ tịch Hồ Chí Minh có một tầm nhìn sâu rộng và đúng đắn”.

Chúng ta đều thấy rõ những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho văn hóa của nhân loại, đó là việc đề cao lòng khoan dung, tình nhân ái, yêu thương giữa con người, giữa các dân tộc hay giữa con người với thiên nhiên; đó là việc coi trọng ngoại giao văn hóa, thúc đẩy sự hiểu biết chung giữa các nền văn hóa để có thể tôn trọng những bản sắc văn hóa riêng, tôn trọng sự khác biệt và tính đa dạng của các biểu đạt văn hóa. UNESCO vui mừng khi thấy các giá trị Hồ Chí Minh đã và đang tiếp tục được thúc đẩy không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nơi trên toàn thế giới.

PV: Sứ mệnh của UNESCO là bằng nỗ lực không mệt mỏi của mình để góp phần thúc đẩy đối thoại văn hóa, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trên thế giới. Theo ông, Việt Nam cần phát huy giá trị văn hóa Hồ Chí Minh như thế nào để góp phần vào mục tiêu cao cả trên của UNESCO?

Ông Michael Croft: Để có thể phát huy hơn nữa các giá trị đó, tôi cho rằng, các bạn cần xây dựng một kế hoạch hành động bao trùm và huy động sự tham gia của mọi thành phần xã hội. UNESCO sẵn sàng đồng hành và hỗ trợ các bạn trong hành trình này.

Nhân dịp này, tôi xin được chia sẻ thêm, Việt Nam luôn là một thành viên chủ động và tích cực, mang đến nhiều bài học thành công của mình cho các quốc gia thành viên của UNESCO kể từ khi gia nhập năm 1976 đến nay. Chúng tôi đánh giá cao kết quả mà Chính phủ Việt Nam đã đạt được trong việc thực hiện những cam kết với UNESCO và Liên hợp quốc. Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng ghi nhận trong việc thực hiện 17 mục tiêu phát triển bền vững. Trong đó có những mục tiêu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng từ rất sớm, như: Chấm dứt đói nghèo; bảo đảm cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người; thúc đẩy bình đẳng giới; vệ sinh môi trường; xây dựng xã hội hòa bình, dân chủ, công bằng, văn minh...

Tôi cũng hy vọng rằng, thông qua việc tích cực học tập, nghiên cứu, vận dụng những di sản tư tưởng Hồ Chí Minh để lại, dân tộc Việt Nam sẽ tiếp tục thu được những thành quả tiến bộ về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển chung của nhân loại. Điều này cũng là mong muốn, khát vọng cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh.