Thứ Ba, 9 tháng 1, 2024

 V.I.Lênin bàn về chuyên chính vô sản và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay

Chuyên chính vô sản là nội dung quan trọng trong di sản lý luận và thực tiễn cách mạng của V.I. Lênin sau Cách mạng Tháng Mười. Đây là vấn đề cơ bản cần giải quyết trong thời kỳ quá độ lên CNXH, đặc biệt ở những nước không qua giai đoạn phát triển TBCN như Việt Nam. Tuy nhiên, trước đây do chúng ta nhận thức chưa đầy đủ về vấn đề này nên vận dụng còn cực đoan, máy móc. Trong tình hình mới hiện nay, cần tiếp tục nhận thức và vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin về chuyên chính vô sản nhằm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy dân chủ XHCN; thực hiện tốt liên minh công nông trên cơ sở đảm bảo lợi ích của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; phát triển lực lượng sản xuất, đổi mới cơ chế quản lý nhằm tăng năng suất lao động.

 

1. Quan niệm của V.I. Lênin về chuyên chính vô sản

V.I. Lênin là học trò xuất sắc của C.Mác và Ph.Ăngghen, là lãnh tụ vĩ đại của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Công lao to lớn của V.I. Lênin là tiếp thu và phát triển sáng tạo những di sản lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen trong điều kiện mới, đồng thời biến những di sản lý luận đó thành hiện thực cách mạng XHCN ở nước Nga. Trong hệ thống lý luận đó, vấn đề chuyên chính vô sản là một trong những lý luận quan trọng nhất, nó được V.I. Lênin kế thừa, vận dụng và bổ sung trong quá trình tổng kết thực tiễn cách mạng nước Nga. Nghiên cứu tư tưởng của V.I. Lênin về chuyên chính vô sản, có thể khái quát ở một số nội dung cơ bản sau:

Một là, về tính tất yếu của chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ. Sau Cách mạng Tháng Mười, trên cơ sở phân tích đặc trưng kinh tế, chính trị của thời kỳ quá độ ở nước Nga, V.I. Lênin đã nêu rõ quan điểm về tính tất yếu của chuyên chính vô sản.

Theo V.I. Lênin, cơ cấu kinh tế thời kỳ quá độ ở nước Nga Xô viết gồm 5 thành phần kinh tế, trong đó còn: chủ nghĩa tư bản tư nhân và chủ nghĩa tư bản nhà nước, tức là còn đối kháng giai cấp và đấu tranh giai cấp. Trong thời kỳ ấy, giai cấp vô sản đã trở thành giai cấp thống trị, nắm chính quyền nhà nước, chi phối tư liệu sản xuất chủ yếu, lãnh đạo các phần tử trung gian và giai cấp trung gian đang bấp bênh chao đảo, trấn áp sự chống đối ngày càng quyết liệt của bọn bóc lột. Còn giai cấp bóc lột trong thời kỳ quá độ là giai cấp, về chính trị đã bị lật đổ, về kinh tế đã bị tước đoạt tư liệu sản xuất chủ yếu. Chúng tuy “đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt... Chính vì chúng đã thất bại, nên sức phản kháng của chúng càng tăng lên, gấp trăm, gấp nghìn lần. “Nghệ thuật” quản lý nhà nước, quân đội, kinh tế tạo cho chúng một ưu thế rất và rất lớn, khiến cho tác dụng của chúng vô cùng to lớn hơn là số lượng của chúng trong toàn thể dân số”(1). Còn nông dân và những người tiểu tư sản khác là người lao động lại là người tư hữu, địa vị kinh tế đó tất nhiên khiến cho họ chao đảo giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Trên cơ sở phân tích như vậy, V.I. Lênin đã chứng minh tính tất yếu của chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ: “... chuyên chính của một giai cấp là tất yếu không những cho mọi xã hội có giai cấp nói chung, không những cho giai cấp vô sản sau khi đã lật đổ giai cấp tư sản, mà còn cho thời kỳ lịch sử từ chế độ tư bản chủ nghĩa đến “xã hội không có giai cấp”, đến chế độ cộng sản chủ nghĩa”(2). Trong lời tựa tác phẩm: Người ta bịp nhân dân bằng những khẩu hiệu tự do và bình đẳng, V.I. Lênin nói rõ thêm, chuyên chính là tất yếu trong xã hội còn tồn tại giai cấp. Chuyên chính vô sản là cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản đã giành được thắng lợi, đã giành được chính quyền chống lại giai cấp tư sản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn.

Thực tiễn lịch sử xã hội loài người cũng đã chứng minh, mọi xã hội còn sự phân chia giai cấp là còn tồn tại chuyên chính. Ở các nước TBCN hiện nay, mặc dù tiềm lực kinh tế, chính trị của họ rất lớn, nhưng họ vẫn luôn thực hiện và thường xuyên tăng cường chuyên chính của mình. Chẳng hạn, cùng với những thể chế dân chủ vốn có, những thích nghi của nhà nước tư sản đã tạo cho nó một bộ mặt dân chủ hơn, đỡ tàn bạo và hà khắc hơn so với mấy thập kỷ trước. Nếu vào những năm 1950 - 1960 và những năm đầu của thập kỷ 70, các nhà nước tư sản sẵn sàng đối phó bằng bạo lực đối với phong trào giải phóng dân tộc (Công-gô 1963), phong trào dân chủ và XHCN (Chilê 1973) thì ngày nay, nhà nước tư sản cố tránh tình trạng sử dụng bạo lực trực tiếp như vậy. Bên cạnh đó, các chương trình viện trợ phát triển, viện trợ nhân đạo đã mang lại không ít những nét tiến bộ cho nhà nước tư sản, kể cả dưới góc độ chính trị, kinh tế lẫn góc độ tâm lý, xã hội. Nhà nước tư sản cũng đã thay đổi nhiều do áp lực của các phong trào dân chủ và độc lập dân tộc. Tuy nhiên, nhà nước tư sản bao giờ cũng là công cụ để duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, chống lại giai cấp vô sản và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Như V.I.Lênin đã từng khẳng định: “Những hình thức của nhà nước tư sản thì hết sức khác nhau nhưng thực chất chỉ là một. Chung quy lại thì tất cả những nhà nước ấy, vô luận thế nào cũng tất nhiên phải là nền chuyên chính tư sản”(3). Thực tế những năm gần đây chứng minh điều này, khi chính phủ các nước tư bản đua nhau tăng chi phí cho quân đội, cho nền chuyên chính tư sản. Chẳng hạn, chính quyền của Tổng thống Mỹ G.W.Busơ liên tục tăng ngân sách quốc phòng (năm 2008, chi phí quân sự của Mỹ khoảng 716,5 tỷ USD, chiếm 1/2 chi phí quân sự của toàn thế giới). Các nước Pháp, Đức, Nhật Bản... cũng nằm trong nhóm nước có chi phí cho quân đội lớn nhất từ trước đến nay. Việc tăng chi phí cho quân đội với mục đích gì? nếu không phải là tập trung cho chuyên chính tư sản? Điều đó cho thấy, tồn tại chuyên chính trong nhà nước là tất yếu và việc tồn tại chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ lên CNXH là một tất yếu khách quan.

Tuy nhiên, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, V.I. Lênin đã khẳng định: Xô viết là hình thức tốt nhất của chuyên chính vô sản ở nước Nga. Đồng thời, Người cũng nhắc nhở rằng, mỗi một dân tộc khi trải qua chế độ XHCN sẽ sáng tạo ra những hình thức tổ chức nhà nước chuyên chính vô sản thích hợp với đặc điểm của dân tộc mình, “Vì nước ta là một nước tiểu tư sản và rất lạc hậu, cho nên nền chuyên chính vô sản ở Nga tất nhiên phải có một số đặc điểm khác với các nước tiên tiến”(4). Do đó, việc tồn tại các hình thức chuyên chính vô sản của mỗi dân tộc không thể hoàn toàn giống nhau. Những người cộng sản các nước phương Đông không nên sao chép một cách máy móc kinh nghiệm của nước Nga mà phải nắm vững đặc điểm của dân tộc mình để xác định hình thức cụ thể của cách mạng và chính quyền nước mình.

Hai làvề thực chất và nhiệm vụ của chuyên chính vô sản

Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, V.I. Lênin lại có những định nghĩa khác nhau về chuyên chính vô sản. Do vậy, muốn nắm chính xác thực chất tư tưởng của V.I. Lênin về chuyên chính vô sản, không thể thoát ly hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, nếu không sẽ hiểu về chuyên chính vô sản phiến diện, thậm chí có thể làm cho tư tưởng chuyên chính vô sản của V.I. Lênin tự mâu thuẫn nhau, trái ngược nhau.

Những năm đầu Cách mạng Tháng Mười, V.I. Lênin đặc biệt nhấn mạnh tính chất và chức năng trấn áp bằng bạo lực của chuyên chính vô sản: “Chuyên chính là một chính quyền dựa trực tiếp vào bạo lực và không bị một luật pháp nào hạn chế cả”(5). V.I. Lênin khẳng định: “Chuyên chính vô sản là một thuật ngữ khoa học quy định giai cấp nào là giai cấp có tác dụng quyết định về mặt này, cũng như quy định hình thức đặc thù của chính quyền nhà nước được gọi là chuyên chính, tức là: một chính quyền không dựa vào luật pháp, không dựa vào các cuộc bầu cử, mà trực tiếp dựa vào lực lượng vũ trang của bộ phận này hay bộ phận khác trong dân chúng. Ý nghĩa và tác dụng của chuyên chính vô sản là ở chỗ nào? Chính là ở chỗ đập tan sự phản kháng của bọn tư bản!”(6). Cần nhấn mạnh chức năng bạo lực trong giai đoạn này vì giai cấp bóc lột tuy đã bị lật đổ nhưng luôn nuôi hy vọng trở lại cầm quyền và muốn biến hy vọng đó thành hoạt động lật đổ. Hơn nữa, khi một xã hội mới hình thành, bên cạnh những nhân tố mới, tiến bộ, thì những tàn dư lạc hậu của xã hội cũ, những phần tử hủ bại... vẫn chưa mất đi hẳn, chúng ẩn dật, chờ thời cơ để thực hiện những hoạt động chống phá chính quyền cách mạng. Do đó, để bảo vệ chính quyền Xô viết non trẻ thì cần thực hiện chuyên chính vô sản, thậm chí nếu cần thiết thì phải có bàn tay sắt. 

Sau này, trước sự công kích của bọn Cauxky và giai cấp tư sản coi chuyên chính vô sản và Chính quyền Xô viết chỉ thuần túy là bạo lực, V.I. Lênin đã chỉ rõ, thực chất của “Chuyên chính không phải chỉ có nghĩa là bạo lực”(7) mà “chuyên chính của giai cấp vô sản nhất thiết phải đưa đến chỗ không những thay đổi hình thức và những thiết chế dân chủ nói chung, mà chính là phải thay đổi chúng thế nào để mở rộng nền dân chủ đến một mức độ chưa từng có trên thế giới cho những giai cấp lao động bị chủ nghĩa tư bản áp bức”(8). Khẳng định điều này, V.I. Lênin đã cho chúng ta thấy, trong cách mạng vô sản và sau Cách mạng Tháng Muời, do đất nước còn nhiều các thế lực chống đối, phản động thì tất yếu phải sử dụng bạo lực. Nhưng sau khi cách mạng đã thành công và đất nước dần đi vào ổn định thì thực hiện chuyên chính vô sản không chỉ là dùng bạo lực, không chỉ là sử dụng công cụ quân đội, cảnh sát để trấn áp các thế lực phản động, mà quan trọng hơn là xây dựng chính quyền, mở rộng dân chủ cho nhân dân lao động. Nói cách khác, chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ là xây dựng chính quyền nhà nước dân chủ kiểu mới, dân chủ thực chất hơn, tiến bộ hơn chính quyền chuyên chính tư sản, như V.I. Lênin viết: “... nhà nước trong thời kỳ đó tất nhiên phải là một nhà nước dân chủ kiểu mới (dân chủ đối với những người vô sản và nói chung những người không có của), và chuyên chính kiểu mới (chống giai cấp tư sản)”(9).

Trong khi phê phán Cauxky tán dương dân chủ tư sản, V.I. Lênin cho rằng, dân chủ tư sản tuy là một bước tiến bộ lớn trong lịch sử so với chế độ phong kiến thời trung cổ, nhưng dưới chế độ TBCN, nó luôn luôn là một thứ dân chủ hẹp hòi, giả dối, lừa bịp; nó là thiên đường đối với người giàu, nhưng là cạm bẫy và sự bịp bợm đối với người nghèo. Còn chính quyền Xô viết là một hình thức của dân chủ vô sản, “Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần; Chính quyền Xô viết so với nước cộng hòa tư sản dân chủ nhất thì cũng dân chủ hơn gấp triệu lần”(10).

Mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp trong nước dần dần đi đến hòa dịu, chính quyền Xô viết quyết định chuyển trọng tâm trấn áp, bạo lực của chuyên chính vô sản sang cải tạo xã hội và xây dựng kinh tế. Vì vậy, nội dung của chuyên chính vô sản cũng dần thay đổi. Thực chất của chuyên chính vô sản trong giai đoạn này là xóa bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu XHCN nhằm tăng năng suất lao động, cải thiện đời sống của nhân dân, ổn định xã hội. Nhiệm vụ căn bản mà chuyên chính vô sản phải hoàn thành, là cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới  XHCN: “Chuyên chính vô sản... không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột, và cũng không phải chủ yếu là bạo lực. Cơ sở kinh tế của bạo lực đó, cái bảo đảm sức sống và thắng lợi của nó chính là việc giai cấp vô sản đưa ra và thực hiện được kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn so với chủ nghĩa tư bản. Đấy là thực chất của vấn đề. Đấy là nguồn sức mạnh, là điều bảo đảm cho thắng lợi hoàn toàn và tất nhiên của chủ nghĩa cộng sản”(11).

Theo V.I. Lênin, CNXH được xây dựng trên cơ sở nền sản xuất lớn xã hội hóa và lại phải phát triển sức sản xuất xã hội lên mức độ cao nhất. Điều này quyết định chuyên chính vô sản không thể không coi việc tạo ra một năng suất lao động cao, có tính tổ chức và tính kỷ luật cao. Đặc biệt ở nước Nga, một nước TBCN chưa phát triển, lực lượng sản xuất tương đối lạc hậu, sức mạnh của thói quen sản xuất nhỏ có ảnh hưởng rất lớn lại càng cần phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và xây dựng quan hệ sản xuất XHCN phù hợp. Vì thế, sau khi Chính quyền Xô viết được củng cố thì việc phát triển sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, xây dựng và tăng cường tính tổ chức, tính kỷ luật trở thành nhiệm vụ bức thiết. V.I. Lênin chỉ rõ: “chuyên chính vô sản hoàn toàn không phải chỉ là lật đổ giai cấp tư sản hay địa chủ, - công việc ấy đã được thực hiện trong tất cả các cuộc cách mạng, - nền chuyên chính vô sản của chúng ta là ở chỗ bảo đảm trật tự, kỷ luật, năng suất lao động, sự kiểm kê và kiểm soát, bảo đảm Chính quyền xô-viết vô sản, một chính quyền vững chắc hơn, cứng rắn hơn chính quyền trước kia”(12). Theo V.I. Lênin, nhiệm vụ trấn áp sự phản kháng của địa chủ và giai cấp tư sản tương đối dễ, bởi đối với giai cấp vô sản và nhân dân lao động thì chống lại kẻ thù truyền kiếp đã bóc lột áp bức họ là điều dễ hiểu. Điều này đã được thực tiễn sau Cách mạng Tháng Mười thực hiện rồi. Nhưng việc hoàn thành nhiệm vụ tổ chức kinh tế, xây dựng quan hệ kinh tế XHCN thì khó khăn hơn nhiều cả về thời gian và công sức. Trong hai nhiệm vụ đó, nhiệm vụ thứ nhất tương đối nổi bật trong thời kỳ mới giành được chính quyền, còn khi chính quyền của giai cấp vô sản được củng cố thì nhiệm vụ thứ hai sẽ trở thành nhiệm vụ chủ yếu trong thời kỳ quá độ.

Ba là, về liên minh công nông trong nhà nước chuyên chính vô sản

Ở Nga, giai cấp vô sản chỉ là thiểu số, nông dân chiếm đại đa số trong dân cư. Trước tình hình đó, xây dựng và duy trì khối liên minh công nông là một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược của chuyên chính vô sản. Theo V.I. Lênin, liên minh công nông có vững chắc hay không sẽ quyết định sự sống còn của nhà nước chuyên chính vô sản. Người chỉ rõ: “chừng nào cách mạng chưa nổ ra ở các nước khác, thì chỉ có thỏa thuận với nông dân mới có thể cứu vãn được cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Nga”(13). Liên minh công nông là lực lượng chính, là trụ cột của Chính quyền Xô viết. Liên minh này sẽ đảm bảo cho Chính quyền Xô viết hoàn thành nhiệm vụ cải tạo XHCN. Do đó, trong hoàn cảnh nước Nga, “Chuyên chính vô sản là một hình thức đặc biệt của liên minh giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiền phong của những người lao động, với đông đảo những tầng lớp lao động không phải vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nông dân, trí thức, .v.v.), hoặc với phần lớn những tầng lớp đó, liên minh nhằm chống lại tư bản...”(14). Điều đó cho thấy, nguyên tắc cao nhất của chuyên chính vô sản là giữ vững liên minh với giai cấp nông dân, giúp cho cho giai cấp vô sản có thể giữ vững quyền lãnh đạo và chính quyền nhà nước.

Qua tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của liên minh công nông, V.I. Lênin cho rằng, cơ sở để thực hiện liên minh trong thời kỳ quá độ là kinh tế. Trong thời kỳ nội chiến, sự hình thành bước đầu của liên minh công nông là liên minh quân sự để bảo vệ Chính quyền Xô viết. Nhưng như thế chưa đủ, liên minh quân sự không thể không kèm theo liên minh kinh tế. Không có cơ sở kinh tế, thì không thể tiếp tục duy trì liên minh giữa giai cấp vô sản với nông dân cũng như các tầng lớp khác trong xã hội. V.I. Lênin khẳng định: “trong thời kỳ quá độ này, trong một nước mà nông dân chiếm đa số, chúng ta phải biết chuyển sang những biện pháp nhằm đảm bảo những yêu cầu của nông dân về mặt kinh tế, biết tiến hành đến mức tối đa những biện pháp để cải thiện tình cảnh kinh tế của nông dân”(15). Bởi, chỉ trên cơ sở lợi ích kinh tế và tập quán của nông dân, mới nhận được sự ủng hộ từ nông dân và bảo đảm được sự lãnh đạo của giai cấp vô sản đối với nông dân, dẫn dắt nông dân đi theo con đường XHCN. Qua nhiều lần tìm tòi, khảo nghiệm, V.I. Lênin đã chọn được con đường đúng đắn để xây dựng liên minh công nông, đó chính là thực hiện Chính sách kinh tế mới. Tất cả những điều đó cho thấy, cơ sở của liên minh chính là lợi ích kinh tế, đây là mối liên hệ biện chứng, thống nhất với nhau, xét đến cùng kinh tế luôn quyết định chính trị. Không thể dùng bạo lực, sức mạnh hành chính mệnh lệnh để giải quyết vấn đề liên minh giai cấp.

Bốn là, về Đảng Cộng sản trong chuyên chính vô sản

Theo V.I. Lênin, Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo chuyên chính vô sản. Vì: “chỉ có một giai cấp nhất định - chính là công nhân thành thị và, nói chung, công nhân nhà máy, công nhân công nghiệp - mới có khả năng lãnh đạo được toàn thể quần chúng lao động và những người bị bóc lột trong cuộc đấu tranh để lật đổ ách tư bản”(16). Hơn nữa, quần chúng lao động không phải vô sản có tính chất hai mặt, vừa là người lao động, lại vừa là người tư hữu. Mặc dù họ bị CNTB bóc lột còn nặng nề hơn cả giai cấp vô sản, nhưng họ không thể tự tiến hành đấu tranh để giải phóng mình. Địa vị kinh tế của họ và sự trói buộc của truyền thống tư hữu làm cho họ dễ nghiêng ngả, không thể thoát khỏi sự chi phối của tư tưởng tư sản. Nếu không có sự lãnh đạo của giai cấp vô sản, họ sẽ lùi bước, ngả theo giai cấp tư sản. Vì vậy, V.I. Lênin nhấn mạnh chuyên chính vô sản là chính quyền của một giai cấp, là chính quyền độc quyền của giai cấp vô sản, phải do giai cấp vô sản lãnh đạo.

V.I. Lênin còn chỉ rõ, sự chuyên chính của giai cấp vô sản không thể do toàn bộ giai cấp đó thực hiện, chỉ có Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp có khả năng tập hợp lực lượng cách mạng mới có thể thực hiện được sự chuyên chính đó. Bởi “Chỉ có đội tiên phong ấy mới có thể chống lại nổi những dao động tiểu tư sản không thể tránh khỏi những quần chúng đó, chống lại nổi những truyền thống và những sự tái phạm không thể tránh khỏi những bệnh hẹp hòi phường hội hoặc của những thiên kiến phường hội trong giai cấp vô sản và lãnh đạo tất cả những hành động liên hợp của toàn bộ giai cấp vô sản, tức là lãnh đạo giai cấp đó về mặt chính trị, và thông qua giai cấp đó mà lãnh đạo tất cả quần chúng lao động. Nếu không thế, thì không thể thực hiện chuyên chính vô sản được”(17). Do đó, Đảng là lực lượng lãnh đạo cao nhất của chuyên chính vô sản, lãnh đạo toàn bộ công tác chính trị, kinh tế của đất nước. Sau này, trước tình trạng không phân biệt Đảng với chính quyền, Đảng làm thay chính quyền, V.I. Lênin đã chỉ rõ nhiệm vụ của Đảng, là “lãnh đạo chung công tác của tất cả các cơ quan nhà nước gộp chung lại, mà không can thiệp một cách quá thường xuyên, không chính quy và thường là nhỏ nhặt, như hiện nay”(18). Luận chứng của V.I. Lênin về lực lượng lãnh đạo và phương thức lãnh đạo của chuyên chính vô sản là một đóng góp mới cho lý luận chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mác.

2. Bài học kinh nghiệm thực hiện chuyên chính vô sản ở nước ta

Nhìn lại lịch sử trong hệ thống các nước XHCN nói chung và Việt Nam nói riêng trước đây, đã có những nhận thức sai lầm, máy móc, giáo điều khi vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chuyên chính vô sản. Đặc biệt, trong thời kỳ cải cách ruộng đất của Việt Nam, chúng ta đã cực đoan khi giải quyết vấn đề đấu tranh giai cấp, tập trung đánh địa chủ, tư sản mà không dựa trên quan điểm lịch sử - cụ thể. Trong hệ thống chuyên chính vô sản thời kỳ trước đổi mới (1986), mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân ở từng đơn vị chưa được xác định thật rõ; mỗi bộ phận, mỗi tổ chức trong hệ thống chuyên chính vô sản chưa làm tốt chức năng của mình. Chế độ trách nhiệm không nghiêm, pháp chế XHCN còn nhiều thiếu sót. Bộ máy nhà nước thiếu dân chủ, cồng kềnh và kém hiệu quả; cơ quan dân cử các cấp được lựa chọn, bầu cử và hoạt động một cách hình thức chủ nghĩa. Sự lãnh đạo của Đảng chưa ngang tầm những nhiệm vụ của giai đoạn mới, chưa đáp ứng được yêu cầu giải quyết nhiều vần đề kinh tế -xã hội cơ bản và cấp bách. Vì vậy, trong Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (3-1989), lần đầu tiên Đảng ta sử dụng khái niệm “hệ thống chính trị” thay cho khái niệm “chuyên chính vô sản”. Mặc dù không trực tiếp sử dụng khái niệm chuyên chính vô sản trong các văn kiện Đảng từ Đại hội VII đến nay, nhưng trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam hiện nay, chúng ta cần tiếp tục giải quyết một số nhiệm vụ sau:

Một là, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới hình thức dân chủ. Đây là hình thức bắt buộc đối với nhà nước XHCN, nếu không muốn làm tha hóa bản chất quyền lực của mình. Như Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Nếu có một điều gì chắc chắn thì đó là đảng ta và giai cấp công nhân chỉ có thể đi đến nắm quyền thống trị dưới một hình thức chính trị, như nền cộng hòa dân chủ. Nền cộng hòa này cũng chính là hình thức đặc thù của chuyên chính vô sản, như Đại cách mạng Pháp đã chứng minh”(19). Xây dựng nhà nước XHCN, chế độ dân chủ XHCN ở nước ta là một quá trình lâu dài. Trong điều kiện nước ta hiện nay mà áp đặt một chế độ dân chủ XHCN đầy đủ là chưa phù hợp. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hiện nay chúng ta chưa nên phát huy dân chủ, mở rộng dân chủ. Ngược lại, như V.I. Lênin đã chỉ ra: “Phát triển dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy, đem thí nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn”(20). Hơn nữa, ở Việt Nam hiện nay, “Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ; kỷ cương, kỷ luật chưa nghiêm...”(21). Vì vậy, chủ trương đổi mới Nhà nước theo mô hình nhà nước pháp quyền XHCN, đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình phát huy tính dân chủ XHCN. 

Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, đổi mới cơ chế quản lý nhằm tăng năng suất lao động. Để xây dựng CNXH ở thế kỷ XXI cần phải phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, trên cơ sở đó xây dựng đội ngũ công nhân tiên tiến, cách mạng, nắm vững sứ mệnh lịch sử của mình và từng bước xây dựng chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu như phác họa của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Cũng như các nhà nước khác, nhà nước XHCN có cả chức năng bạo lực trấn áp, cả chức năng tổ chức xây dựng. Nhưng điểm khác nhau cơ bản so với các nhà nước bóc lột là đối với nhà nước XHCN, chức năng tổ chức xây dựng là chủ yếu. V.I.Lênin đã nhiều lần chỉ ra rằng, thực chất của chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực và cũng không phải chủ yếu là bạo lực. Điều chủ yếu trong nền chuyên chính của giai cấp công nhân là những nhiệm vụ và chức năng có tính chất sáng tạo, là “đưa ra được và thực hiện được kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn so với chủ nghĩa tư bản. Đấy là thực chất của vấn đề. Đấy là nguồn sức mạnh, là điều đảm bảo cho thắng lợi hoàn toàn và tất nhiên của chủ nghĩa cộng sản”(22). Bởi lẽ, “Xét đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ xã hội mới”(23). Việc đưa ra được và thực hiện được kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn, một phương thức sản xuất có năng suất lao động cao hơn không phải vì lợi ích ích kỷ của một giai cấp, mà vì lợi ích của sự tiến bộ xã hội, vì lợi ích của quảng đại quần chúng lao động.

Ba là, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời thực hiện tốt liên minh công nông trên cơ sở đảm bảo lợi ích của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, là nước nông nghiệp có đông nông dân trong cơ cấu dân cư thì vấn đề liên minh công - nông - trí là vấn đề có tính nguyên tắc. Đây là sự tiếp tục liên minh giữa các giai cấp và tầng lớp trong điều kiện mới, mang nội dung và hình thức mới. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, liên minh công - nông - trí nhằm tập hợp lực lượng cách mạng trong một liên minh chính trị thống nhất do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo để phát huy sức mạnh tổng hợp nhằm cải tạo xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới.

Hiện nay, mặc dù giai cấp công nhân đã thiết lập được vị trí thống trị trong xã hội nhưng do kết cấu kinh tế còn phức tạp, còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế dựa trên các hình thức sở hữu khác nhau, còn sự khác biệt giai cấp (theo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, xã hội Việt Nam hiện nay gồm: giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, đội ngũ doanh nhân, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi, đồng bào các dân tộc, các tín đồ tôn giáo, đồng bào Việt Nam định cư ở nước ngoài). Do đó, giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng phải xây dựng khối liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động để cùng xây dựng chế độ xã hội mới, thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử của mình.

Đặc biệt, liên minh giai cấp bền vững phải dựa trên việc tôn trọng nhu cầu, lợi ích của chính bản thân các chủ thể tham gia liên minh. Vì vậy, vấn đề cơ bản và xuyên suốt, vừa là nội dung, vừa là nguyên tắc mang tính quy luật trong việc xây dựng khối liên minh công - nông - trí thức là phải xác định đúng các nhu cầu, phát hiện kịp thời các nhu cầu mới nảy sinh của công nhân, nông dân, trí thức trong từng giai đoạn cụ thể, từ đó có giải pháp để thỏa mãn các nhu cầu chính đáng; xử lý đúng đắn, kịp thời những mâu thuẫn nảy sinh giữa các giai cấp. Làm tốt điều này, sẽ củng cố, tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựng và phát triển xã hội, hoàn thành sự nghiệp độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

CĐ,VS (st)

___________________

(1), (4), (11), (16), (22), (23) V.I.Lênin: Toàn tập, t.39, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.319, 310, 15-16, 17, 16, 25.

(2), (3), (9), (20) V.I.Lênin: Toàn tập, t. 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr.43-44, 44, 43, 97.

(5), (8), (10) V.I Lênin: Toàn tập, t.37, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.296, 608, 312-313.

(6) V.I.Lênin: Toàn tập, t.32, Nxb Tiến bộ, Mát xcơva, 1981, tr.398.

(7) V.I.Lênin: Toàn tập, t.38, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.420.

(12) V.I.Lênin: Toàn tập, t.36, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.319.

(13), (15) V.I.Lênin: Toàn tập, t.43, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.70, 34.

(14) V.I.Lênin: Toàn tập, t.38, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.452.

(17) V.I.Lênin: Toàn tập, t.43, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.112-113.

(18) V.I.Lênin: Toàn tập, t.45, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.75.

(19) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.22, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.346.

(21) ĐCSCN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2021.


Không thể xuyên tạc và phủ nhận chủ trương hòa hợp dân tộc

 Chiến tranh đã lùi xa 48 năm và hành trình cả nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng đã được gần nửa thế kỷ. Trong hành trình đó, vấn đề hòa hợp dân tộc luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, thực hiện nhất quán; được nhân dân Việt Nam, bạn bè quốc tế công nhận. Đó là sự thật lịch sử không thể xuyên tạc và phủ nhận.

Ảnh minh hoạ.

Ảnh minh hoạ.

NƯỚC VIỆT NAM LÀ MỘT, DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ MỘT

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vào mùa Xuân 1975 đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc: Cả nước đồng lòng, chung sức hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và từng bước phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng... và đi lên CNXH. Hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ luôn khát vọng thiêng liêng, chính đáng của bất cứ quốc gia - dân tộc nào trên thế giới. Từ sau ngày 30/4/1975, toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã hiện thực hóa được khát vọng hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất. Đó là một sự thật lịch sử, hiển nhiên và khách quan.

Tuy nhiên, mỗi dịp lễ, Tết, Xuân về, nhất là đến dịp kỷ niệm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975) thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội lại “ra rả” những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc về khát vọng hòa bình, thống nhất cùng những nỗ lực, quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Cùng với đó là những “lý luận” ảo tưởng, hão huyền về “khôi phục” một chế độ đã qua hòng bôi đen sự thật, phá hoại khối đại đoàn kết, phá hoại chủ trương hòa hợp dân tộc. Trước những thủ đoạn, chiêu trò đó, chúng ta cần tiếp tục khẳng định:

Một là, nước Việt Nam là một; dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn. Núi có thể mòn. Song chân lý đó không bao giờ thay đổi. Vì thế, dù với toan tính “chia để trị” hay bất cứ âm mưu phân hóa, chia rẽ nào của các thế lực xâm lược, thì mỗi người dân đất Việt cũng đều là “con Rồng cháu Tiên” - chung một Quốc Tổ Hùng Vương. Ngày Giỗ tổ Hùng Vương 10/3 âm lịch đã có vị thế đặc biệt trong tâm thức người Việt: “Từ nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa. Những ruộng đất sưu thuế từ xưa để lại dùng vào việc cúng tế vẫn không thay đổi”(1)... Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, tiếp tục truyền thống và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 22/SL-CTN ngày 18/2/1946 về những ngày nghỉ Tết, kỷ niệm lịch sử và tôn giáo; trong đó, quy định công sở, viên chức được nghỉ ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 âm lịch hằng năm. 

Cả dân tộc có chung ngày Giỗ Tổ; đồng bào cả nước có chung tâm niệm về nguồn cội “con Rồng cháu Tiên”. Đây chính là nguồn mạch sâu thẳm tạo nên sức mạnh đoàn kết, cố kết cộng đồng trải dài từ quá khứ, nâng bước cho hiện tại, chắp cánh cho tương lai; là điểm tựa tinh thần, sức mạnh mềm để người Việt vượt qua mọi âm mưu thôn tính của các thế lực ngoại bang, giữ được ngôn ngữ, tâm hồn, phẩm cách của mình, bồi đắp một nền văn hóa đậm đà, đặc sắc, đa dạng trong thống nhất.

Dù “năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, người thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng, đại độ. Ta phải nhận ra rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít nhiều lòng ái quốc”(2), thế nên không một trở lực, thế lực nào có thể xuyên tạc, chia rẽ, phá hoại được sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc cùng chung một cội trên hành trình đấu tranh cho độc lập, tự do, vì một đất nước Việt Nam thống nhất, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Hai là, vì nước Việt Nam là một, nên “đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta... Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta”(3). Cũng vì thế, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, nhưng đế quốc Mỹ đã phá hoại Hiệp định Genève 1954, từng bước can thiệp vào miền Nam, dựng lên chính quyền tay sai để chia rẽ đồng bào và chia cắt đất nước ta, thì đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc là mục tiêu chính nghĩa trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ủng hộ. Khát vọng thống nhất non sông ấy đã góp phần hun đúc ý chí quyết tâm của cả dân tộc Việt Nam trên hành trình đi tới tương lai.

Văn kiện Đảng qua các kỳ Đại hội và Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đều thể hiện rõ và nhất quán mục tiêu một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều 5 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; 2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; 3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”. Vì thế, trong bất cứ bối cảnh và giai đoạn cách mạng nào, đồng bào và chiến sĩ ta không phân biệt vùng, miền, thành phần, tôn giáo, dân tộc… đều có chung quyền lợi và cả nghĩa vụ bảo vệ giang sơn mà các thế hệ tiền nhân gây dựng, trao truyền. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn khi nói chuyện với cán bộ thuộc Đại đoàn Quân Tiên Phong, ngày 19/9/1954 tại Đền Hùng: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Ba là, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) để thực hiện khát vọng thống nhất non sông, hiện thực hóa tư tưởng, ý chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định thống nhất. Đồng bào Nam - Bắc nhất định sum họp một nhà”(4), chứ đó tuyệt đối không phải là “nội chiến”, càng không phải là “miền Bắc đánh chiếm miền Nam” hay “là cuộc chiến tranh ý thức hệ, huynh đệ tương tàn” như luận điệu phản động của các thế lực thù địch. Vì thế, hiểu đúng khát vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân về chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”(5) và “Nước Việt Nam ta nhất định phải thống nhất. Đồng bào Nam và Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà… Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đại đoàn kết là lực lượng tất thắng. Nhờ đại đoàn kết mà cách mạng đã thắng lợi”(7) cũng chính là hiểu đúng lịch sử dân tộc, hiểu đúng cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta. 

HÒA HỢP DÂN TỘC ĐỂ HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI PHỒN VINH, HẠNH PHÚC

Thấm nhuần những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ, Chỉ có một ý chí: Quyết không chịu mất nước, Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho tổ quốc. Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng vững chắc xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”(8) và vì “TỔ QUỐC TRÊN HẾT” ở mọi nơi và mọi lúc”(9), từ sau ngày 30/4/1975, trên cơ sở lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm điểm tương đồng, hòa hợp, hòa giải dân tộc luôn là một chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Trong đó, kiều bào ta định cư ở nước ngoài, không phân biệt ý thức hệ, xuất thân, kể cả những người còn định kiến, mặc cảm với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam… cũng đã được tạo điều kiện để về thăm và góp sức xây dựng quê hương, đất nước.

Chúng ta cần tiếp tục khẳng định rằng:

Một là, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh “là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”(10).

Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 17/11/1993 của Bộ Chính trị khóa VII về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất cũng đã khẳng định “đoàn kết mọi người trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, bao gồm các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người trong nước và người định cư ở nước ngoài”. Việc thực hiện Nghị quyết này đã góp phần nhân nguồn sức mạnh của dân tộc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. 

Việc triển khai đồng bộ Nghị quyết số 36-NQ/TW khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và sau đó là Chỉ thị số 45-CT/TW, tiếp tục khẳng định chủ trương nhất quán: người Việt Nam đang sinh sống, lao động, học tập ở nước ngoài là một “bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước”; là minh chứng sinh động cho thấy nguồn sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được nhân lên gấp bội. 

Vì thế, việc các kiều bào ta ở nước ngoài về nước thăm quê hương hay ở lại sinh sống và cùng góp sức xây dựng đất nước đều đáng trân trọng. Và cũng vì thế, khi chiến tranh đã lùi xa, khi khát vọng về một nước Việt Nam phát triển hùng cường, hạnh phúc đã trở thành ý chí và quyết tâm của cả dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, thì những chiêu trò bịa đặt, bôi đen, xuyên tạc để kích động lòng thù hận, sự cố chấp... hòng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc đều là những hành động đi ngược lại khát vọng của nhân dân, có tội với Tổ quốc và tương lai của dân tộc Việt Nam. 

Hai là, Đảng và Nhà nước luôn trân trọng lòng yêu nước chân chính, tinh thần đoàn kết và sự đóng góp về mọi mặt của mỗi người dân Việt Nam dù đang sinh sống ở trong hay ngoài nước. Song, cũng kiên quyết xử lý nghiêm khắc đúng theo Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam đối với những cá nhân, tổ chức có hành động nhằm phá hoại chính sách hòa hợp dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây rối và cản trở quá trình phát triển của đất nước. Những hành vi đăng, phát tán thông tin nhằm gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân... đều là những thủ đoạn, việc làm sai trái, chỉ cốt gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. 

Vì thế, Luật An ninh mạng ra đời là hoàn toàn phù hợp và chính đáng, nhằm góp phần phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại các hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, chống Nhà nước; tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kích động biểu tình, phá rối an ninh… Luật An ninh mạng ra đời là để góp phần hạn chế đến mức thấp nhất những hành vi thù địch, phản động gây ảnh hưởng tới chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của đất nước Việt Nam, chứ không phải là “vi phạm nhân quyền” như những giọng điệu đã và đang cố tình xuyên tạc, bóp méo. 

Ba là, ngày 30/4/1975 đã làm thay đổi vận mệnh của dân tộc Việt Nam. Dù có một bộ phận người ở phía bên kia chiến tuyến đã từng chọn con đường di tản, tha hương, song, “vết sẹo ly hương” đã được thời gian chữa lành bởi chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đại đoàn kết, hòa hợp, hòa giải dân tộc. Đã có nhiều kiều bào trở về Tổ quốc sinh sống hoặc góp sức xây dựng quê hương, đất nước. 

Sau ngày 30/4/1975, cũng đã có rất nhiều cán binh của chế độ cũ lựa chọn ở lại Tổ quốc, tham gia học tập cải tạo, rồi sinh sống, làm ăn và phát triển tại quê hương. Có thể cuộc mưu sinh ban đầu ở thời “hậu chiến” khó khăn hơn so với cuộc sổng đủ đầy của họ trước đó khi được “tài trợ nhân đạo”, song tâm trí “những người ở lại” chắc chắn thanh thản hơn, bình an hơn mỗi độ Tết đến, Xuân về, mỗi dịp đất nước, quê hương, gia đình có lễ trọng... Bởi thế, tâm lý cực đoan, sự sân hận, hay “nỗi niềm tủi nhục”, nếu có, thì cũng chỉ là nhất thời, chắc chắn không phải không phải “truyền đời” và không thể “nuôi dưỡng” hòng “thổi bùng lên ngọn lửa trả thù” như những giọng điệu xuyên tạc, bôi đen, kích động của các phần tử cơ hội, phản động vẫn rêu rao! 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm hỏi nhân dân tại thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên _Ảnh: TTXVN

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm hỏi nhân dân tại thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên _Ảnh: TTXVN

Có một thực tế là, một nước Việt Nam thống nhất ngày càng phát triển; ngày càng có vị thế trên trường quốc tế vẫn không làm cho một bộ phận nhỏ những người bất mãn, cố chấp luôn mộng hồi về “chế độ xưa”, ôm giữ sự bảo thủ và ích kỷ - không hề biết trân quý giá trị của độc lập, tự do, hạnh phúc. Cũng bởi thế mà họ lại vô tình hoặc cố ý “tiếp tay” cho những kẻ phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân; “tiếp tay” cho sự thù hận, ích kỷ, bẻ cong sự thật lịch sử. 

Dù đã rời bỏ Tổ quốc sau ngày 30/4/1975 vì không chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; không thừa nhận, không tin theo con đường mà Đảng và nhân dân Việt Nam lựa chọn, nhưng một bộ phận người mang dòng máu Việt, dù đang sinh sống ở hải ngoại, dù không thiếu thốn về vật chất, nhưng họ vẫn không chịu “cởi bỏ” tâm lý hằn học, hận thù. Bởi thế, cứ đến “mùa này” là họ lại rên rỉ tiếng kêu “phục quốc”; xuyên tạc, phủ nhận những quyết sách, nỗ lực của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị Việt Nam trong việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung, hòa hợp dân tộc nói riêng... Dù thế nào thì đây cũng là những tiếng nói trái đạo lý, bởi nó reo rắc tâm lý bất an trong cộng đồng. Chúng ta kiên quyết đấu tranh, lên án và bác bỏ những việc mượn danh “yêu nước”, “dân chủ” hay “đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền” để bóp méo sự thật lịch sử, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đại đoàn kết toàn dân tộc, về hòa hợp dân tộc.

Chúng ta cần tiếp tục làm rõ và khẳng định, nhờ có truyền thống yêu nước và đoàn kết, đồng lòng mà 54 dân tộc anh em - cùng chung Quốc Tổ là Hùng Vương - đã vượt qua mọi gian lao, thử thách để chống chọi và chiến thắng được thiên tai, địch họa, dịch bệnh; không ngừng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội… xây đắp non sông ngày càng giàu mạnh. Với đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước ngày càng được bổ sung, hoàn thiện; với sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt tôn giáo, giai tầng... sau 48 năm “non sông thu về một mối”, đại đa số “con Lạc cháu Hồng” đã và đang luôn kiên trung, tin tưởng, chung tay dựng xây một đất nước Việt Nam thống nhất ngày càng phát triển vững mạnh. 

Với chính sách đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc trên tinh thần bao dung, nhân ái Hồ Chí Minh: “Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng của nó hẹp nhỏ”(11), nên “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”(12).

Sự thật là, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã không chỉ bảo vệ được giang sơn, bờ cõi, thống nhất non sông, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, mà luôn đồng tâm chung sức xây dựng quê hương - đất nước ngày một đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Vì thế, những luận điệu lạc lõng, hằn học, ảo tưởng nhằm khơi lên hận thù, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, xuyên tạc chính sách hòa hợp dân tộc... không chỉ là những thù đoạn, hành động sai trái, thâm độc, mà còn là chống lại nhân dân, đi ngược lại những khát vọng thiêng liêng, chính đáng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa!./.

LHQ-ST

Phát huy nguồn lực con người trong thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

 Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là chủ trương đúng đắn, quan điểm chỉ đạo nhất quán của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay. 

1. Tại Hội nghị Trung ương VIII khóa XI, chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa đã được đề cập trong Nghị quyết của Trung ương về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp đó, Báo cáo chính trị Đại hội XII, Đảng ta xác định: “Có kế sách ngăn chặn các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu những nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây đột biến”[1]. Đây là lần đầu tiên trong văn kiện Đại hội toàn quốc của Đảng, kế sách chủ động bảo vệ Tổ quốc trong thời bình, từ sớm, từ xa được chính thức xác lập. Đến Đại hội XIII, kế sách này được bổ sung, phát triển: “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến”, “Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống”[2].
 
Có thể thấy, chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là kết quả của bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta về quốc phòng, an ninh, đối tác, đối tượng, về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là sự kế thừa bài học “giữ nước từ khi nước chưa nguy” trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta; đồng thời, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện hiện nay. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa vừa là quan điểm chỉ đạo cơ bản, vừa là phương thức hành động tối ưu để chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là quá trình lâu dài, là trách nhiệm chính trị, nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Để thực hiện có hiệu quả quan điểm này, yêu cầu khách quan đặt ra là phải huy động đồng bộ, tổng hợp các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người. Bởi suy đến cùng, chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ được thực hiện trên cơ sở xây dựng và phát huy tốt nguồn lực con người, nguồn lực quan trọng nhất trong tổng thể các nguồn lực của một quốc gia, dân tộc.
 
Đặc biệt, Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những cơ hội và những thách thức, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có chiến lược, quyết sách đúng đắn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, phải chú trọng “xây dựng và phát huy nguồn lực con người”. Đây là vấn đề cấp bách và cũng là giải pháp chiến lược quan trọng, lâu dài nhằm xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với cán bộ, chiến sĩ Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (năm 2017) _Nguồn: Vnanet.vn

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với cán bộ, chiến sĩ Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (năm 2017) _Nguồn: Vnanet.vn

2. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của nguồn lực con người đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã xác định thực hiện khâu đột phá chiến lược về phát triển nguồn lực con người, phát triển nguồn nhân lực. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020. Các bộ, ngành, địa phương cũng xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển nhân lực; thực hiện nhiều giải pháp, chính sách nhằm thu hút, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bước đầu đạt được kết quả quan trọng. Nhờ vậy, nguồn nhân lực của nước ta được tăng cường cả về quy mô và chất lượng. Theo Tổng cục Thống kê, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2021 đạt 50,5 triệu người, giảm 791,6 nghìn người so với năm trước. Lao động đã qua đào tạo từ trình độ “sơ cấp” trở lên năm 2021 là 26,1%, tăng 0,8 điểm phần trăm so với năm trước[3]. Nguồn nhân lực chất lượng cao cũng tăng đáng kể, trong đó có một số ngành đạt trình độ khu vực và quốc tế, như: y tế, cơ khí, công nghệ, xây dựng…
 
Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, việc xây dựng và phát huy nguồn lực con người ở nước ta thời gian qua vẫn còn có mặt hạn chế. Chất lượng giáo dục đào tạo ở một số lĩnh vực chưa cao; thiếu cán bộ lãnh đạo, quản lý, quản trị doanh nghiệp giỏi và đội ngũ chuyên gia trong các ngành kinh tế, kỹ thuật; công tác bồi dưỡng lý tưởng cho nhân dân, nhất là thế hệ trẻ còn có những hạn chế; một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa… Bên cạnh đó, số ít cán bộ trong các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập cũng chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã chỉ rõ: “...nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ đông, nhưng chưa mạnh; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ xảy ra ở nhiều nơi; sự liên thông giữa các cấp, các ngành còn hạn chế… Thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực… Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”[4]. Xuất phát từ thực trạng nêu trên, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định thực hiện đột phá chiến lược về phát triển nguồn lực con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là một chủ trương hết sức đúng đắn, thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng ta.
 
3. Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế”[5]. Trong nước, sau hơn 35 năm đổi mới, “thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao”[6]. Tuy nhiên, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, đất nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; tình hình biển, đảo diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước tăng cường hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng công khai, trực diện, xảo quyệt, quyết liệt hơn. Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc xây dựng và phát huy nguồn lực con người.

Tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc góp phần tạo vị thế, vai trò của Việt Nam đối với an ninh, hòa bình, ổn định của thế giới_Ảnh: TTXVN

Tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc góp phần tạo vị thế, vai trò của Việt Nam đối với an ninh, hòa bình, ổn định của thế giới_Ảnh: TTXVN

Để xây dựng và phát huy nguồn lực con người trong thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp sau:
 
Một là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng đối với xây dựng và phát huy nguồn lực con người trong thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
 
Cấp ủy, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về nguồn nhân lực, xây dựng và phát huy nguồn lực con người; về nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, nhất là Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020; Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020; Nghị quyết số 28-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị quyết số 29-NQ/TWvề Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng và Nghị quyết số 30-NQ/TWvề Chiến lược An ninh mạng quốc gia… Trên cơ sở đó, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đúng vị trí, vai trò, yêu cầu xây dựng và phát huy nguồn lực con người trong thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành và cán bộ, đảng viên đối với vấn đề quan trọng này. Đồng thời, làm chuyển biến về trách nhiệm, hành động, tính tự giác trong tham gia xây dựng và phát huy nguồn lực con người gắn với quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức và từng cá nhân.
 
Để công tác lãnh đạo, chỉ đạo mang lại hiệu quả thiết thực, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo; ban hành nghị quyết chuyên đề hoặc lồng ghép trong nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ giai đoạn và thường kỳ. Các cơ quan, tổ chức cụ thể hóa, xây dựng kế hoạch thực hiện ở cấp mình. Các tổ chức quần chúng xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện nghị quyết của cấp ủy và hướng dẫn của cơ quan cấp trên; tổ chức nhiều chương trình hành động, hoạt động bổ ích nhằm tạo chuyển biến đồng bộ về nhận thức và hành động ở các lực lượng.
 
Hai là, đổi mới mạnh mẽ hoạt động giáo dục đào tạo; có cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ phù hợp, góp phần phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
 
Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài”[7]. Theo đó, cần quán triệt và thực hiện phương châm: “Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)”[8]. Thường xuyên đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện. Quan tâm phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao; gắn giáo dục đào tạo với nghiên cứu khoa học và công nghệ; hình thành các trung tâm nghiên cứu, các nhóm đổi mới sáng tạo.
 
Các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ. Đây là một điểm quan trọng giúp phát huy nguồn lực con người trong thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Việc tuyển dụng, sử dụng cán bộ cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của cơ quan, tổ chức trên cơ sở công khai, khách quan, minh bạch. Trong sử dụng, đánh giá cán bộ cần bảo đảm tính toàn diện về cả phẩm chất, năng lực; phải căn cứ vào chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ; lấy hiệu quả công việc làm thước đo chủ yếu. Đồng thời, phải có cơ chế đãi ngộ hợp lý để cán bộ yên tâm công tác, thực sự gắn bó với cơ quan, tổ chức và tạo động lực để cán bộ cống hiến, phấn đấu.
 
Ba là, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ hiện đại.
 
Đây vừa là nội dung, biện pháp, vừa là đòi hỏi mang tính cấp thiết hiện nay gắn với sự phát triển của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, để xây dựng và phát huy nguồn lực con người gắn với thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, cần đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ hiện đại. Các cấp, các ngành vì vậy phải “tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại... Có chiến lược phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện đất nước... Chú trọng phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị”[9].
 
Thường xuyên đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ. Quan tâm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có trình độ và năng lực làm chủ các tiến bộ khoa học kỹ thuật. Phát triển lĩnh vực khoa học công nghệ lưỡng dụng, vừa sản xuất phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời bình, vừa có thể nhanh chóng chuyển sang sản xuất các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tác chiến khi có tình huống xảy ra. Đẩy mạnh chuyển giao khoa học công nghệ quốc phòng; xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, sử dụng, khai thác có hiệu quả các khí tài hiện đại trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm chủ động chiến lược trong mọi tình huống.
 
Bốn là, coi trọng xây dựng môi trường văn hóa xã hội gắn với khơi dậy ở mỗi người khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
 
Với mỗi quốc gia, dân tộc, văn hóa luôn là sức mạnh nội sinh. Đại hội XIII của Đảng chủ trương “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới... Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam, xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”[10]. Đây là điểm mới, thể hiện tư duy toàn diện, tầm nhìn chiến lược của Đảng; tạo cơ sở mang tính lâu dài để xây dựng và phát huy nguồn lực con người trong thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa hiện nay.
 
Trong xây dựng và phát huy nguồn lực con người, các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức cần quan tâm xây dựng môi trường văn hóa công sở lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn; hoàn chỉnh và thực hiện các chuẩn mực văn hóa trong lãnh đạo, quản lý; phát huy, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện phản văn hóa, biểu hiện quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, chủ nghĩa cơ hội trong cơ quan, tổ chức. Đặc biệt chú trọng “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[11]. Qua đó, tạo sức mạnh tổng hợp, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa./.

LHQ-ST