Thứ Ba, 9 tháng 1, 2024

 

Công tác phòng không nhân dân - nét sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân

Công tác phòng không nhân dân (PKND) là một nét sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam. Hiện nay, trên thế giới chỉ có Việt Nam là quốc gia duy nhất tổ chức, tiến hành công tác PKND song song với việc tổ chức lực lượng phòng không 3 thứ quân, trong đó lấy lực lượng PK-KQ làm nòng cốt đánh địch trên mặt trận đối không nhằm đánh bại các cuộc tiến công đường không ồ ạt, quy mô lớn, bằng vũ khí công nghệ cao của địch trong chiến tranh hiện đại.

Công tác phòng không nhân dân - nét sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân
Một ca trực của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội tại Đài quan sát phòng không trên sân thượng của Nhà trường. 
Ảnh tư liệu

Ngay từ ngày 24-1-1964, Hội đồng Chính phủ đã ra Chỉ thị về tăng cường công tác PKND. Công tác tuyên truyền, giáo dục về PKND được đặt dưới sự chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương có kế hoạch và nội dung tuyên truyền cụ thể; trong đó tổ chức cho cán bộ, nhân dân học tập những kiến thức phòng không phổ thông, những hiểu biết về địch trên không, âm mưu thủ đoạn đánh phá của các phương tiện tiến công đường không, các loại bom đạn của địch, về tổ chức sử dụng các phương tiện, vũ khí bộ binh đánh địch, tổ chức thông báo, báo động, sơ tán, phòng tránh và tổ chức khắc phục hậu quả, cứu thương, cứu sập, phòng, cháy, chữa cháy, bảo đảm thông tin liên lạc, bảo đảm giao thông vận chuyển và huấn luyện kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ cho các tổ, đội chuyên trách phòng không nhân dân.

Trong Chiến dịch Phòng không bảo vệ Hà Nội và các tỉnh, thành lân cận cuối tháng 12-1972, công tác tổ chức thông báo, báo động PKND và ẩn nấp phòng tránh do Hội đồng PKND Thành phố Hà Nội nắm trực tiếp và chỉ đạo tập trung. Sở bưu điện lắp đặt hàng nghìn loa phát thanh trên khắp các đường phố, khu công cộng, các ngõ phố. Một vấn đề quan trọng khác là công tác ẩn nấp, phòng tránh, xây dựng hầm hào phòng không để hạn chế tối đa tổn thất khi địch đánh phá. Theo đó, toàn dân đào hầm phòng không theo phương châm mỗi người dân có 3 hầm phòng tránh, có sơ đồ để dễ dàng tìm kiếm đào bới trong trường hợp bị địch đánh phá. Nhân dân Miền Bắc đã đào được trên 28 triệu hố cá nhân, 12 triệu hầm tập thể nhỏ (5, 6 người), 43.000km hào, 44km hầm địa đạo, “áo giáp” bằng rơm rạ. Riêng Hà Nội đã đào được 630.000 hố cá nhân, 50.000 hầm tập thể nhỏ. Thành phố Hải Phòng đã đào 400.000 hố cá nhân. Tháng 8-1967, địch đã đánh phá nhiều lần vào khu công nghiệp Thượng Đình, nhưng chỉ có 1 người tử vong và 1 người bị thương. Thời điểm địch đánh phá Nhà máy Cao su Cao Vàng vẫn còn 100 công nhân đang sản xuất thoát ra ngoài an toàn bằng hệ thống hào phòng không. Khi chưa có hầm, hố trú ẩn, trong một trận đánh phá của địch, tính bình quân có 4,2 người thương vong. Khi có đủ hầm, hào phòng tránh, sau một trận oanh kích của địch, tính bình quân chỉ có chưa đầy 1 người tử vong. Nhiều địa phương đã khai thác, cải tạo hàng nghìn hang động thiên nhiên làm nơi cất giấu vật tư, thiết bị. Đặc biệt, ở khu vực Vĩnh Linh, hệ thống địa đạo nằm sâu dưới lòng đất 20m, hình thành địa đạo của từng gia đình, từng xóm, từng xã được liên kết với nhau bởi hệ thống đường hầm dài 200km. Dưới khu địa đạo còn có cả trụ sở làm việc, các trường học, bệnh xá.

Về tổ chức ngụy trang, sơ tán, phòng tránh tiến công hỏa lực đường không của địch, công tác sơ tán nhân dân là vấn đề vô cùng khó khăn vì điều này tác động trực tiếp đến cuộc sống của mọi gia đình và mỗi cá nhân trong xã hội. Lực lượng đông đảo nhất cần phải đặc biệt quan tâm là trẻ nhỏ. Trong Chiến dịch Phòng không bảo vệ Hà Nội cuối tháng 12-1972, việc sơ tán thiếu niên, nhi đồng được tiến hành với 4 hình thức: Đưa trẻ nhỏ về quê, sơ tán các cháu theo cơ quan, nhà máy của bố mẹ; nhà máy, cơ quan tổ chức sơ tán tập trung đều có sự quản lý của Sở Giáo dục. Trong chiến tranh phá hoại, việc tổ chức sơ tán nhân dân được chia làm 3 mức: Sơ tán lâu dài, sơ tán cấp tốc, phân tán tại chỗ. Sơ tán lâu dài bao gồm tất cả những người không có yêu cầu bám trụ trên địa bàn, tất cả các nhà máy xí nghiệp có thể tháo gỡ di chuyển được và không có yêu cầu bám trụ trên địa bàn. Sơ tán cấp tốc khi phát hiện địch có triệu chứng đánh phá lớn là tổ chức sơ tán bớt lượng người ở lại bám trụ trên địa bàn. Hội đồng PKND các cấp phải điều tra nắm vững số người còn lại, xác định những người cần sơ tán gấp.Trong chiến dịch Phòng không bảo vệ Hà Nội cuối tháng 12-1972, Hà Nội đã sơ tán khẩn cấp 2/3 dân số Thủ đô ra khỏi nội thành. Trong đó có 10 vạn người được phân tán khẩn cấp chỉ trong vòng 2 ngày. Ở Hải Phòng, chỉ qua một đêm đã sơ tán khẩn cấp được 20.000 người ra khỏi khu vực mục tiêu bị đánh phá cao điểm. Phân tán tại chỗ áp dụng cho những người phải bám trụ lại trên địa bàn. Khu gang thép Thái Nguyên trong những năm chiến tranh ở đây có 1.800 người ở lại trực tiếp sản xuất, song nhờ tổ chức phân tán khẩn cấp tại chỗ tốt, sau 13 trận đánh phá ác liệt của địch chỉ bị thương vong 1,7%.

Trong sơ tán, Nhà máy Cơ khí Hà Nội đã phải tháo rời di chuyển 1.385 tấn máy móc thiết bị đến 16 địa bàn khác nhau để triển khai sản xuất. Thực tế trong chiến tranh phá hoại và trong Chiến dịch Phòng không bảo vệ Hà Nội cuối tháng 12-1972, chưa một nhà máy, xí nghiệp, cơ quan, trường học nào bị địch phát hiện nơi sơ tán. Đây là một thành công và trở thành bài học vô cùng to lớn và quý giá của công tác PKND.

Lợi dụng quyền tự do dân chủ để chống phá đất nước

 Thời gian qua, một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước thường xuyên móc nối với các tổ chức phản động, chống phá ở nước ngoài, tìm kiếm sự can thiệp, tạo áp lực nhằm mục đích đòi xóa bỏ một số điều luật, trong đó có Ðiều 331 Bộ luật Hình sự về "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân".

Xét xử sơ thẩm vụ án lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân đối với Trương Châu Hữu Danh và các đồng phạm.

Xét xử sơ thẩm vụ án lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân đối với Trương Châu Hữu Danh và các đồng phạm.

Phản bác những luận điệu xuyên tạc hệ thống pháp luật Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, góp phần giữ nghiêm kỷ cương, phép nước, bảo vệ ổn định chính trị - xã hội, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh.

Trong tiến trình xây dựng nền văn minh, tất cả các quốc gia trên thế giới đều quản lý xã hội bằng công cụ pháp luật. Tùy theo tình hình, điều kiện cụ thể mà mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình để phù hợp với chuẩn mực chung của thế giới và thực tiễn đất nước.

Tuy nhiên, thời gian qua nổi lên việc một số đối tượng cơ hội chính trị, phản động lưu vong, chống phá Nhà nước từ bên ngoài tìm cách cấu kết với các hội nhóm, cá nhân trong nước kêu gọi xóa bỏ một số điều luật vì mục đích chính trị, hòng gây bất ổn xã hội, chống phá chế độ.

Trong bối cảnh bùng nổ thông tin, các đối tượng nêu trên thường xuyên dùng thủ đoạn lợi dụng quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng để ra sức đả kích, xuyên tạc hoạt động của hệ thống chính trị mà trực tiếp nhất là nhắm vào các cơ quan tư pháp và hệ thống pháp luật của Việt Nam.

Ðáng chú ý, Ðiều 331 Bộ luật Hình sự "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" hiện đang là mục tiêu hướng đến của các đối tượng chống phá. Lợi dụng những sự việc gây chú ý dư luận về phát ngôn, ứng xử, hoạt động xã hội của một số cá nhân, nghệ sĩ, người có tầm ảnh hưởng trên mạng xã hội, những sự việc liên quan đến một số cá nhân bị khởi tố và xử lý theo Ðiều 331 Bộ luật Hình sự Việt Nam như trường hợp Trương Châu Hữu Danh và các thành viên nhóm "Báo Sạch"; Nguyễn Phương Hằng, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Ðại Nam cùng một số cá nhân liên quan..., một số trang mạng phản động lập tức lớn tiếng rêu rao, xuyên tạc, đòi xóa bỏ Ðiều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017).

Cụ thể là sau khi phiên tòa xét xử bị cáo Trương Châu Hữu Danh và đồng phạm là thành viên nhóm "Báo Sạch" kết thúc, một tờ báo tiếng Việt ở hải ngoại lập tức đăng tải bài viết: "Vụ xử "Báo Sạch": Việt Nam đừng nên coi truyền thông là kẻ thù". Bài báo đã dẫn lời một cá nhân của Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch) để quy kết Việt Nam ngăn cản "tự do ngôn luận", từ đó đòi có một sự cải cách trong thực thi quyền công dân.

Hay liên quan đến vụ việc Nguyễn Phương Hằng cùng một số đối tượng tổ chức nhiều buổi livestream với nội dung thông tin không kiểm chứng, xâm phạm đời tư của người khác đã bị cơ quan chức năng tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam, một số tổ chức, hội nhóm phản động đã đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung xuyên tạc, kích động, vu khống các lực lượng chức năng.

Ðiển hình như trên facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân cho rằng: "Công an sử dụng Ðiều 331 để khởi tố bà Hằng là sai trái". Còn trang RFA đã phỏng vấn một số cá nhân tự phong là "nhà dân chủ", thiếu thiện chí với Việt Nam, đã chỉ trích Nhà nước, chính quyền, và cho rằng việc bắt Nguyễn Phương Hằng theo Ðiều 331 là "không hợp lý".

Các đối tượng không ngừng rêu rao luận điệu nhằm xuyên tạc Ðiều 331 Bộ luật Hình sự là "phục vụ thủ đoạn của chính quyền cộng sản. Các cơ quan chức năng thực hiện theo Ðiều 331 Bộ luật Hình sự là vi phạm quyền tự do dân chủ, nhân quyền". Từ đó quy kết: "Ở Việt Nam, pháp luật không hề tồn tại, quyền dân chủ ở Việt Nam bị bóp nghẹt"; đồng thời kêu gọi đòi xóa bỏ điều luật này với lập luận rằng "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ - một điều luật hoàn toàn thừa thãi", "đây là điều luật mơ hồ", "được tạo ra để chụp mũ lên bất kỳ đối tượng nào mà Việt Nam muốn trừng trị", "cần xóa bỏ điều luật này khỏi Bộ luật Hình sự",...

Một thủ đoạn quen thuộc được các đối tượng chống phá tiếp tục sử dụng đó là "tôn vinh" những đối tượng vi phạm pháp luật bị cơ quan chức năng xử lý theo đúng quy định của pháp luật bằng những cái tên mỹ miều như "nhà dân chủ", "nhà phản biện", "luật sư nhân quyền", để rồi lớn tiếng cho rằng việc bắt giam những người này là "vi phạm dân chủ, nhân quyền".

Có thể nhận thấy mục đích mà các đối tượng kêu gọi xóa bỏ Ðiều 331 Bộ luật Hình sự là nhằm đưa các đối tượng chống phá ra ngoài vòng pháp luật; xuyên tạc hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng để hạ bệ, bôi nhọ hệ thống pháp luật Việt Nam, chính quyền các cấp, hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng, vai trò quản lý của Nhà nước.

Cần khẳng định rằng pháp luật Việt Nam được xây dựng phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế và yêu cầu thực tiễn nhằm bảo đảm cho sự phát triển tự do, toàn diện của nhân dân, góp phần xây dựng và duy trì xã hội trong vòng trật tự, ổn định, ngăn chặn các tổ chức và cá nhân lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền con người.

Liên quan đến quyền tự do dân chủ, một căn cứ quan trọng để soi chiếu đó là Khoản 2 Ðiều 29 Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế năm 1948: "Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn".

Nhiều quốc gia trên thế giới cũng có những quy định rõ ràng về việc thực hành dân chủ cũng như bảo đảm quyền tự do ngôn luận. Cụ thể, Hiến pháp Ðức quy định "Ai lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí, tự do tuyên truyền… làm công cụ chống lại trật tự của xã hội tự do dân chủ sẽ bị tước bỏ quyền công dân"...

Ở Việt Nam, Nhà nước luôn đặt quyền tự do dân chủ của công dân lên hàng đầu, sự tôn trọng và đảm bảo được quy định rõ trong Hiến pháp và các quy định của pháp luật.

Ðiều 15, Hiến pháp năm 2013 quy định: "Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác".

Trong Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Ðiều 331 quy định về "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" là sự cụ thể hóa Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân; giúp điều chỉnh, ngăn chặn, có chế tài đối với các hành vi vi phạm, lệch chuẩn trong các quan hệ xã hội, ngăn ngừa những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Thực tế chứng minh, công dân Việt Nam có đầy đủ các quyền như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do lập hội, quyền khiếu nại, tố cáo… và được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm việc thực hiện các quyền đó. Việc mỗi tổ chức và cá nhân thông qua nhiều hình thức đa dạng để bày tỏ ý kiến cá nhân, nổi lên thời gian qua là việc thiết lập và sử dụng tài khoản mạng xã hội như là xu thế tất yếu trong bối cảnh của cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ 4.0 hiện nay.

Pháp luật luôn tôn trọng và bảo vệ những tư tưởng, ý chí, nguyện vọng của mỗi tổ chức và cá nhân khi đưa lên công khai trên phương tiện truyền thông, trên mạng xã hội nếu phù hợp với tinh thần xây dựng và thượng tôn pháp luật, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hóa của dân tộc. Ðồng thời, nếu những tổ chức và cá nhân sử dụng mạng xã hội với mục đích xấu, động cơ không trong sáng, núp dưới danh nghĩa bảo vệ quyền tự do dân chủ mà thực chất là có những hành vi chà đạp lên quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân khác, xâm phạm đến Nhà nước thì đều phải chịu các chế tài xử phạt tương ứng.

Ðiều này thể hiện rõ tính nghiêm minh của pháp luật, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với các hành vi vi phạm pháp luật, răn đe, trừng phạt thích đáng đối với những đối tượng có hành vi vi phạm. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn mang tính nhân văn, nhân đạo tạo cơ hội cho người mắc sai lầm, vi phạm có cơ hội cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Trong bối cảnh hiện nay, một số người do thiếu thông tin, thiếu trách nhiệm với đất nước, với cộng đồng đã cố tình bất hợp tác, lợi dụng quyền tự do, dân chủ để làm tổn hại đến lợi ích của Nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác. Nguy hiểm hơn, một số đối tượng, phần tử cơ hội, phản động thường xuyên sử dụng chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền để chống phá Ðảng, Nhà nước và chế độ ta.

Ðể đảm bảo một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh với những hành vi nêu trên nhất thiết phải chịu những chế tài xử lý nghiêm khắc. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền kiến thức pháp luật và nâng cao ý thức trách nhiệm tuân thủ pháp luật trong cộng đồng cũng cần được quan tâm. Bởi đó là cách thức bền vững và hữu hiệu để bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội cho mỗi cá nhân cũng như cả cộng đồng, cũng như góp phần tăng cường ý thức, trách nhiệm của công dân đối với xã hội, đất nước/.

LHQ-ST

Một vài suy nghĩ về tiếp tục hoàn thiện lý luận chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 Hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay là nhiệm vụ quan trọng mang tính quyết định để Đảng ta thực hiện sứ mệnh lịch sử

Ảnh minh họa: TTXVN

Ảnh minh họa: TTXVN

Tiếp tục nghiên cứu làm rõ, hoàn thiện nội dung về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được xem như giải pháp cốt lõi nằm trong hệ giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng ta đã khẳng định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới" (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, trang 25 - 26). Đây là khẳng định sự đổi mới, hoàn thiện về mặt lý luận trong nhận thức và thống nhất trong hành động về xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Bên cạnh đó, cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng năm 2022 nhằm phục vụ công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, đặc biệt là tổng kết lý luận về đường lối đổi mới và những bài học kinh nghiệm, những vấn đề có tính quy luật từ thực tiễn công cuộc xây dựng, phát triển đất nước ta. Đồng thời, đây cũng là tài liệu để quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và đông đảo nhân dân về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa ở Việt Nam, tạo sự thống nhất tư tưởng trong toàn xã hội, “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện những mục tiêu chiến lược Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Để tiếp tục hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cần tập tiếp tục khẳng định và làm rõ một số nội dung cơ bản sau:

Một là, Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho đường lối cách mạng, cho nhận thức và hành động thực tiễn của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sức sống của Chủ nghĩa Mác đã, đang và sẽ tiếp tục tồn tại, phát huy giá trị có ý nghĩa thực tiễn lớn lao vào sự phát triển của nhân loại. Ngay cả ở các nước tư bản chủ nghĩa thì Chủ nghĩa Mác vẫn lan tỏa ngày càng rộng rãi và phát huy tinh thần khoa học, cách mạng của mình.

Xét cả về phương diện lý luận và thực tiễn đều chứng minh, cho đến nay, trên thế giới chỉ có Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất bàn về tổng thể mục tiêu, con đường, lực lượng, biện pháp, cách thức để xóa bỏ triệt để áp bức, bóc lột và bất công trong xã hội, nhằm mục đích nhân văn cao đẹp là giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội; hướng tới những giá trị tốt đẹp cho con người và vì con người. Lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Chủ nghĩa Mác-Lênin là chân lý khoa học, bởi lẽ, lý luận ấy không dựa vào nguyện vọng chủ quan và trí tưởng tượng của cá nhân một con người mà được xây dựng trên cơ sở khoa học và cách mạng của chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư. 

Như chúng ta đã biết, quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp vẫn còn nguyên giá trị. Nhưng trước sự chống phá của các thế lực thù địch, đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu cho thấu đáo, không được tuyệt đối hóa vai trò của đấu tranh giai cấp, nhưng cũng không được mơ hồ, xóa nhòa đi đấu tranh giai cấp. Việc nắm vững các lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin giúp chúng ta nhận diện được các luận điểm phản động, từ đó có những căn cứ và luận chứng sắc bén để đánh bại sự xuyên tạc của kẻ thù, qua đó bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững con đường mà đất nước ta đã lựa chọn.

Hai là, đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn duy nhất của Đảng, thể hiện mục tiêu, khát vọng của dân tộc Việt Nam và phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử nhân loại.

Đi lên chủ nghĩa xã hội chính là sự lựa chọn tất yếu, khách quan, khoa học và hoàn toàn phù hợp với quy luật và xu thế phát triển của đất nước ta. Đó là sự thật đã trở thành chân lý mà không ai có thể phủ nhận. Điều này đã được chứng minh sinh động một cách hào hùng và thuyết phục qua thực tiễn 93 năm qua.

Từ tính tất yếu khách quan, cách mạng và khoa học ấy, ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mới có sức mạnh lan tỏa, là tiếng chuông hiệu triệu quần chúng vùng lên làm cách mạng, làm nên những mốc son lịch sử chói lọi, đưa dân tộc Việt Nam đến độc lập, tự do và từng bước xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay. 

Đặc biệt, sự lựa chọn đúng đắn ấy một lần nữa được khẳng định bằng chính những thành công to lớn có ý nghĩa lịch sử qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa.

Đúng như khẳng định của Đảng trong Văn kiện Đại hội XIII: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Chỉ có những kẻ tráo trở, táng tận lương tâm, cố tình nhắm mắt, bịt tai phủ nhận sự thật lịch sử mới có thể bịa đặt, phê phán con đường đúng đắn ấy.

Ba là, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đột phá lý luận của Đảng, được thực tiễn kiểm định là hoàn toàn đúng đắn.

Học thuyết Mác đã chỉ rõ, kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại, là nấc thang phát triển tất yếu của xã hội nên sẽ còn tồn tại ở các phương thức sản xuất khác nhau.

Nếu như trong chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường được coi là mục tiêu, do vậy, các nhà tư bản có thể bất chấp thủ đoạn, cách thức, lợi dụng tối đa ưu thế của kinh tế thị trường để chiếm đoạt giá trị thặng dư càng nhiều càng tốt, thì ở Việt Nam, xuyên suốt các kỳ đại hội, Đảng ta xác định rõ, kinh tế thị trường chỉ là phương tiện, là cách thức để tạo lập, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, lấy con người là trung tâm, vì mọi người và do con người, phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, tuyệt nhiên không vì mục đích giành lấy lợi nhuận tối đa bằng mọi giá như chủ nghĩa tư bản.

Năm 2019, giữa bức tranh ảm đạm của nền kinh tế thế giới do chịu tác động của đại dịch Covid-19, Việt Nam đã vượt trội lên như một điểm sáng hiếm hoi được IMF và WTO đánh giá là một trong số 20 nền kinh tế có đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu và vào tốp 20 nền thương mại hàng hóa lớn nhất thế giới. Năm 2020, quy mô GDP Việt Nam đứng thứ 44 thế giới, đứng thứ 4 Đông Nam Á và bình quân GDP/đầu người đứng thứ 6 khu vực. “Thương hiệu Quốc gia Việt Nam” là thương hiệu tăng giá trị nhanh nhất thế giới khi tăng tới 29% so với năm 2019 lên 319 tỷ USD; từ vị trí 42 lên 33 trong danh sách 100 thương hiệu quốc gia của Brand Finance.

Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn đã chứng minh: Sự lựa chọn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hoàn toàn không phải một kiểu lắp ghép “đầu Ngô mình Sở” như các thế lực thù địch, phản động quy chụp mà là sự trung thành, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần khẳng định: Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay. Do đó, “đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”.

Điều này chứng minh, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không phải là dị biệt mà đã hòa mình vào dòng chảy kinh tế thế giới và thông lệ quốc tế, ngày càng hội nhập và hoàn thiện. 

Vậy nên kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa chẳng những không hề mâu thuẫn với nhau mà trái lại, sự lựa chọn mô hình kinh tế thị trường, mục tiêu “định hướng xã hội chủ nghĩa” của Việt Nam còn có tác động tích cực làm hạn chế mặt trái của kinh tế thị trường, giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế, được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Bốn là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển con người Việt Nam thời đại mới.

Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, con người là chủ thể, là trung tâm của sự phát triển. Chúng ta xác định nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hóa nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người.

Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường và một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh.

Trên nền tảng tư duy lý luận sâu sắc và toàn diện của Đảng, chúng ta cần đặc biệt quan tâm các vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam và nội dung, giải pháp để từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam một cách rành mạch, rõ ràng, dung dị và dễ hiểu. Những nội dung trình bày trên là cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục tổng kết lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tạo nên sự đồng thuận xã hội để khơi dậy, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra./.

LHQ-ST

“Hết sức tiết kiệm trong công việc làm ăn và trong dịp tết, phải tránh lãng phí sức người, tránh lãng phí thời gian và tiền của. Chớ vì được mùa mà ăn tiêu phí phạm ”.

       Là nội dung "Lời kêu gọi đồng bào nông dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm", đăng trên Báo Nhân dân, số 1045, ngày 14 tháng 1 năm 1957; trong thời điểm, đồng bào nông dân vừa gặt xong một vụ mùa tốt, kết thúc một cách thắng lợi kế hoạch năm 1956; đang tiến hành vụ Đông - Xuân, mở đầu kế hoạch năm 1957.

      Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên tầm quan trọng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đối với kế hoạch của nhà nước; là nhiệm vụ chủ yếu nhằm tăng cường lương thực để xây dựng hậu phương miền Bắc vững chắc cho tiền tuyến miền Nam đánh giặc. Tuy buổi đầu đã thu được kết quả tốt, nhưng phía trước đang còn rất nhiều khó khăn trong sản xuất. Từ đó mà quyết tâm khắc phục khó khăn, làm thật tốt và đầy đủ, kịp thời những việc mà chính quyền đã chỉ ra.

        Thực hiện lời kêu gọi của Người, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các địa phương, nhân dân miền Bắc hăng hái thi đua sản xuất, đổi công giúp nhau cấy lúa chiêm, mở rộng đất trồng ngô, khoai, tích trữ lương thực; phát triển chăn nuôi lợn, gà, trâu, bò; trồng cây công nghiêp (cây bông). Đồng thời, tích cực thực hành tiết kiệm trong công việc, nhất là trong dịp tết; chủ động chống hạn, chống rét, đoàn kết, tương trợ giúp nhau vượt qua khó khăn, đạt nhiều thành tích trong sản xuất, góp phần xứng đáng vào công cuộc củng cố miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

    Quán triệt, thực hiện lời kêu gọi của Người, Cục Nông binh của Quân đội đã tích cực tham mưu cho Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng quản lý, điều hành các đơn vị Quân đội thực hiện hiệu quả nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế, bảo đảm một phần lương thực; đồng thời, từ quân nhu, quân giới đến vận tải đều thực hành tiết kiệm, góp phần đóng góp của cải, lương thực, đáp ứng kịp thời cho nhiệm vụ chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

    Lời kêu gọi của Người năm ấy đến hôm nay vẫn là tài liệu có giá trị, được Đảng ta quán triệt, vận dụng sáng tạo trong sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quán triệt, thực hiện Chỉ thị 21-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương khóa XI về "Đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí", Thường vụ QUTW đã ban hành Chỉ thị số 771-CT/QU về "Tiếp tục thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tiêu cực và thực hiện nếp sống văn minh trong Quân đội"; là cơ sở đế mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng trong toàn quân, tiếp tục học tập và làm theo Bác Hồ; kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm; tích cực tham gia các chương trình, dự án xóa đói, giảm nghèo; chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân khắc phục khó khăn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm cho nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước.

Thực tiễn và thành quả sự nghiệp đổi mới phủ nhận luận điệu xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, đã có không ít quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đảng, xuyên tạc, phủ nhận con đường cách mạng mà Đảng và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn trong hơn 90 năm qua.

Độc lập dân tộc và CNXH là mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng Việt Nam, bảo đảm cho dân tộc ta đi đến tương lai phồn vinh, hạnh phúc. Ảnh minh họa: tuyengiao.vn

Độc lập dân tộc và CNXH là mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng Việt Nam, bảo đảm cho dân tộc ta đi đến tương lai phồn vinh, hạnh phúc. Ảnh minh họa: tuyengiao.vn

Họ cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đưa dân tộc Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) không khác gì “đẩy dân tộc vào “thiên đường mù”, “bến bờ ảo vọng” (?!). Luận điệu xuyên tạc này đã bị phủ nhận hoàn toàn bởi thực tiễn công cuộc đổi mới và những thành quả ban đầu của sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN).

1. Trong diễn văn kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2020), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng một lần nữa khẳng định: “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(1).

Thực tế cho thấy, từ khi thành lập đến nay, với đường lối đúng đắn và bản lĩnh của một Đảng cách mạng chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thành công cách mạng giải phóng dân tộc và tiến hành công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày càng đạt được những kết quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn có những con người được sinh ra, được hưởng thành quả của sự nghiệp cách mạng ấy đã phủ nhận, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng và phủ nhận thành quả cách mạng của nhân dân ta. Họ cho rằng, nếu không đi theo con đường XHCN thì dân tộc Việt Nam đã không chậm phát triển, không có tham nhũng; rằng, nếu đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, đất nước sẽ phát triển nhanh, xã hội sẽ tiến bộ và công bằng...(?!).

Thực chất, những luận điệu nêu trên, hoặc là quan điểm sai trái, thù địch, phản động; hoặc là không đủ khả năng nhận thức được xu thế phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại.

2. Có thể khẳng định, từ khi lịch sử loài người xuất hiện giai cấp, áp bức, bóc lột, bất công, thì tình trạng chiến tranh, thủ đoạn cướp đoạt bằng bạo lực, nô dịch cũng xuất hiện. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, tình trạng ấy ngày càng trở nên gay gắt. Từ đó, những khát vọng, mong muốn được giải phóng của những giai cấp bị áp bức, bóc lột cũng xuất hiện.

Nhiều thế hệ các nhà tư tưởng, các nhà cách mạng ưu tú đã cống hiến, hy sinh cả cuộc đời cho lý tưởng tốt đẹp, nhân đạo, cho sự tiến bộ của nhân loại. Từ những tư tưởng sơ khai của Aghit, Clêômen thế kỷ 3 trước Công nguyên đến những mô hình, hệ thống quan điểm ngày càng hoàn chỉnh, tiến bộ hơn như T.Moro, G.Babớp, Xanhximông, Ph.Phurie, R.Owen, N.Đôbzôliubốp. Tư tưởng XHCN được khái quát thành hệ thống lý luận khoa học trong Chủ nghĩa Mác. Đến V.I.Lênin, lý luận đó là tiền đề cho sự ra đời CNXH hiện thực.

CNXH được hiểu với 3 tư cách: Là một học thuyết, một phong trào cách mạng và một chế độ xã hội. Học thuyết, phong trào, chế độ ấy hướng đến sự giải phóng triệt để con người, chấm dứt bạo lực, cường quyền, chiến tranh; để phát triển toàn diện con người, để sự tự do của mỗi người là tiền đề cho sự tự do của tất cả mọi người.

Xuất phát từ nhận thức rằng, áp bức giai cấp là nguyên nhân căn bản, sâu xa của áp bức dân tộc, thì các chế độ người áp bức, bóc lột người trong lịch sử đều dẫn đến tình trạng dân tộc này đi áp bức, bóc lột dân tộc khác. Tình trạng này xuất hiện là do giai cấp thống trị về kinh tế trong một dân tộc luôn muốn củng cố địa vị kinh tế của mình thông qua bóc lột, đồng thời mở rộng sự ảnh hưởng của mình thông qua áp bức, nô dịch các dân tộc khác. Sự đô hộ của các nước đế quốc đối với các nước thuộc địa cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, về thực chất là sự bành trướng, áp bức bóc lột của giai cấp tư sản khi nó đã trở thành giai cấp lỗi thời về mặt lịch sử.

Mặt khác, ở mỗi dân tộc nhất định, tính chất tiến bộ cách mạng hay bảo thủ, phản động của giai cấp giữ địa vị thống trị trong phương thức sản xuất sẽ quyết định tính chất của dân tộc. Giai cấp cách mạng, tiến bộ sẽ thúc đẩy sự phát triển của dân tộc theo hướng tiến bộ, cách mạng. Giai cấp lỗi thời, bảo thủ, lạc hậu, phản động sẽ kìm hãm sự phát triển của chính dân tộc ấy. Chẳng hạn, sự thống trị, áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản nói lên tính chất tư bản chủ nghĩa của dân tộc đó. Trong xã hội ấy không thể có tự do thực sự cho tất cả mọi người. Khi giai cấp công nhân trở thành giai cấp lãnh đạo, xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công thì dân tộc tư sản chuyển hóa thành dân tộc có tính chất XHCN. Dân tộc ấy thực hiện “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(2) cho tất cả mọi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chỉ có CNXH, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(3) và “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng XHCN thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”(4).

Hơn nữa, chế độ XHCN ra đời sẽ tạo cơ sở kinh tế để nhân dân được ăn no, mặc ấm. Theo Hồ Chí Minh: “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(5). Chế độ chính trị của CNXH sẽ bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Chế độ xã hội trong CNXH sẽ bảo đảm cho quyền tự do, dân chủ, bình đẳng và tiến bộ. Khi nhân dân được thụ hưởng những lợi ích thực sự mà cách mạng đem lại, nhân dân các nước XHCN sẽ ra sức bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ, qua đó góp phần củng cố độc lập dân tộc bền lâu.

Thực tế là, từ năm 1945 đến nay, không chỉ có Việt Nam giành được độc lập từ sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân, mà có nhiều nước từ Á, Phi đến Mỹ Latin cũng giành được độc lập. Nhưng khi đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, nhiều nước vẫn chìm trong bạo lực, chiến tranh, mâu thuẫn sắc tộc, nghèo đói. Các nước ấy bị chi phối, thao túng, và thực sự không có độc lập, tự do.

3. Đến nay, Việt Nam chưa phải là quốc gia phát triển, nhưng nếu tính từ năm 1945 thì nền độc lập của dân tộc Việt Nam mới được 78 năm và nếu tính từ năm 1975 thì dân tộc Việt Nam mới chấm dứt chiến tranh được 48 năm. Với từng ấy thời gian cho việc xây dựng và kiến thiết đất nước thì còn quá ngắn so với chế độ tư bản đã có hơn 500 năm kiến tạo.

Tuy nhiên, điều căn bản là, ngày nay, chế độ tư bản chủ nghĩa không phải là chế độ mà ở đó con người được giải phóng và phát triển thực sự; chế độ mà ở đó “một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội”, do đó “Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất”(6).

Trong khi đó, với thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước, dân tộc và nhân dân Việt Nam ngày càng được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. “Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong những năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới”(7).

Cách mạng là sự nghiệp khó khăn, lâu dài, gian khổ, vì cách mạng là thay chế độ xã hội cũ bằng xã hội mới. Lịch sử cho thấy, chiếm hữu nô lệ chỉ tan rã sau 400 năm từ khi xuất hiện mầm mống của chế độ phong kiến trong lòng nó. Giai cấp tư sản lật đổ chế độ phong kiến để xác lập địa vị thống trị của mình phải mất gần 300 năm, bắt đầu từ cách mạng tư sản Hà Lan (thế kỷ 16), đến tận khi vua Louis XVI lên đoạn đầu đài ở Pháp vào thế kỷ 18 thì chủ nghĩa phong kiến ở châu Âu về đại thể mới chấm dứt sự thống trị. Thậm chí, tàn dư của chế độ phong kiến còn tồn tại cho đến ngày nay ở nhiều quốc gia. Tuy nhiên, đúng như Đảng ta khẳng định: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH”(8). Với ý nghĩa đó, “Chủ nghĩa cộng sản là hình thức tất yếu và là nguyên tắc kiên quyết của tương lai sắp tới”(9).

Do vậy, độc lập dân tộc và CNXH là mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng Việt Nam, bảo đảm cho dân tộc ta đi đến tương lai phồn vinh, hạnh phúc./.

LHQ-ST

 V.I.Lênin bàn về chuyên chính vô sản và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay

Chuyên chính vô sản là nội dung quan trọng trong di sản lý luận và thực tiễn cách mạng của V.I. Lênin sau Cách mạng Tháng Mười. Đây là vấn đề cơ bản cần giải quyết trong thời kỳ quá độ lên CNXH, đặc biệt ở những nước không qua giai đoạn phát triển TBCN như Việt Nam. Tuy nhiên, trước đây do chúng ta nhận thức chưa đầy đủ về vấn đề này nên vận dụng còn cực đoan, máy móc. Trong tình hình mới hiện nay, cần tiếp tục nhận thức và vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin về chuyên chính vô sản nhằm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy dân chủ XHCN; thực hiện tốt liên minh công nông trên cơ sở đảm bảo lợi ích của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; phát triển lực lượng sản xuất, đổi mới cơ chế quản lý nhằm tăng năng suất lao động.

 

1. Quan niệm của V.I. Lênin về chuyên chính vô sản

V.I. Lênin là học trò xuất sắc của C.Mác và Ph.Ăngghen, là lãnh tụ vĩ đại của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Công lao to lớn của V.I. Lênin là tiếp thu và phát triển sáng tạo những di sản lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen trong điều kiện mới, đồng thời biến những di sản lý luận đó thành hiện thực cách mạng XHCN ở nước Nga. Trong hệ thống lý luận đó, vấn đề chuyên chính vô sản là một trong những lý luận quan trọng nhất, nó được V.I. Lênin kế thừa, vận dụng và bổ sung trong quá trình tổng kết thực tiễn cách mạng nước Nga. Nghiên cứu tư tưởng của V.I. Lênin về chuyên chính vô sản, có thể khái quát ở một số nội dung cơ bản sau:

Một là, về tính tất yếu của chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ. Sau Cách mạng Tháng Mười, trên cơ sở phân tích đặc trưng kinh tế, chính trị của thời kỳ quá độ ở nước Nga, V.I. Lênin đã nêu rõ quan điểm về tính tất yếu của chuyên chính vô sản.

Theo V.I. Lênin, cơ cấu kinh tế thời kỳ quá độ ở nước Nga Xô viết gồm 5 thành phần kinh tế, trong đó còn: chủ nghĩa tư bản tư nhân và chủ nghĩa tư bản nhà nước, tức là còn đối kháng giai cấp và đấu tranh giai cấp. Trong thời kỳ ấy, giai cấp vô sản đã trở thành giai cấp thống trị, nắm chính quyền nhà nước, chi phối tư liệu sản xuất chủ yếu, lãnh đạo các phần tử trung gian và giai cấp trung gian đang bấp bênh chao đảo, trấn áp sự chống đối ngày càng quyết liệt của bọn bóc lột. Còn giai cấp bóc lột trong thời kỳ quá độ là giai cấp, về chính trị đã bị lật đổ, về kinh tế đã bị tước đoạt tư liệu sản xuất chủ yếu. Chúng tuy “đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt... Chính vì chúng đã thất bại, nên sức phản kháng của chúng càng tăng lên, gấp trăm, gấp nghìn lần. “Nghệ thuật” quản lý nhà nước, quân đội, kinh tế tạo cho chúng một ưu thế rất và rất lớn, khiến cho tác dụng của chúng vô cùng to lớn hơn là số lượng của chúng trong toàn thể dân số”(1). Còn nông dân và những người tiểu tư sản khác là người lao động lại là người tư hữu, địa vị kinh tế đó tất nhiên khiến cho họ chao đảo giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Trên cơ sở phân tích như vậy, V.I. Lênin đã chứng minh tính tất yếu của chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ: “... chuyên chính của một giai cấp là tất yếu không những cho mọi xã hội có giai cấp nói chung, không những cho giai cấp vô sản sau khi đã lật đổ giai cấp tư sản, mà còn cho thời kỳ lịch sử từ chế độ tư bản chủ nghĩa đến “xã hội không có giai cấp”, đến chế độ cộng sản chủ nghĩa”(2). Trong lời tựa tác phẩm: Người ta bịp nhân dân bằng những khẩu hiệu tự do và bình đẳng, V.I. Lênin nói rõ thêm, chuyên chính là tất yếu trong xã hội còn tồn tại giai cấp. Chuyên chính vô sản là cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản đã giành được thắng lợi, đã giành được chính quyền chống lại giai cấp tư sản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn.

Thực tiễn lịch sử xã hội loài người cũng đã chứng minh, mọi xã hội còn sự phân chia giai cấp là còn tồn tại chuyên chính. Ở các nước TBCN hiện nay, mặc dù tiềm lực kinh tế, chính trị của họ rất lớn, nhưng họ vẫn luôn thực hiện và thường xuyên tăng cường chuyên chính của mình. Chẳng hạn, cùng với những thể chế dân chủ vốn có, những thích nghi của nhà nước tư sản đã tạo cho nó một bộ mặt dân chủ hơn, đỡ tàn bạo và hà khắc hơn so với mấy thập kỷ trước. Nếu vào những năm 1950 - 1960 và những năm đầu của thập kỷ 70, các nhà nước tư sản sẵn sàng đối phó bằng bạo lực đối với phong trào giải phóng dân tộc (Công-gô 1963), phong trào dân chủ và XHCN (Chilê 1973) thì ngày nay, nhà nước tư sản cố tránh tình trạng sử dụng bạo lực trực tiếp như vậy. Bên cạnh đó, các chương trình viện trợ phát triển, viện trợ nhân đạo đã mang lại không ít những nét tiến bộ cho nhà nước tư sản, kể cả dưới góc độ chính trị, kinh tế lẫn góc độ tâm lý, xã hội. Nhà nước tư sản cũng đã thay đổi nhiều do áp lực của các phong trào dân chủ và độc lập dân tộc. Tuy nhiên, nhà nước tư sản bao giờ cũng là công cụ để duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, chống lại giai cấp vô sản và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Như V.I.Lênin đã từng khẳng định: “Những hình thức của nhà nước tư sản thì hết sức khác nhau nhưng thực chất chỉ là một. Chung quy lại thì tất cả những nhà nước ấy, vô luận thế nào cũng tất nhiên phải là nền chuyên chính tư sản”(3). Thực tế những năm gần đây chứng minh điều này, khi chính phủ các nước tư bản đua nhau tăng chi phí cho quân đội, cho nền chuyên chính tư sản. Chẳng hạn, chính quyền của Tổng thống Mỹ G.W.Busơ liên tục tăng ngân sách quốc phòng (năm 2008, chi phí quân sự của Mỹ khoảng 716,5 tỷ USD, chiếm 1/2 chi phí quân sự của toàn thế giới). Các nước Pháp, Đức, Nhật Bản... cũng nằm trong nhóm nước có chi phí cho quân đội lớn nhất từ trước đến nay. Việc tăng chi phí cho quân đội với mục đích gì? nếu không phải là tập trung cho chuyên chính tư sản? Điều đó cho thấy, tồn tại chuyên chính trong nhà nước là tất yếu và việc tồn tại chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ lên CNXH là một tất yếu khách quan.

Tuy nhiên, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, V.I. Lênin đã khẳng định: Xô viết là hình thức tốt nhất của chuyên chính vô sản ở nước Nga. Đồng thời, Người cũng nhắc nhở rằng, mỗi một dân tộc khi trải qua chế độ XHCN sẽ sáng tạo ra những hình thức tổ chức nhà nước chuyên chính vô sản thích hợp với đặc điểm của dân tộc mình, “Vì nước ta là một nước tiểu tư sản và rất lạc hậu, cho nên nền chuyên chính vô sản ở Nga tất nhiên phải có một số đặc điểm khác với các nước tiên tiến”(4). Do đó, việc tồn tại các hình thức chuyên chính vô sản của mỗi dân tộc không thể hoàn toàn giống nhau. Những người cộng sản các nước phương Đông không nên sao chép một cách máy móc kinh nghiệm của nước Nga mà phải nắm vững đặc điểm của dân tộc mình để xác định hình thức cụ thể của cách mạng và chính quyền nước mình.

Hai làvề thực chất và nhiệm vụ của chuyên chính vô sản

Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, V.I. Lênin lại có những định nghĩa khác nhau về chuyên chính vô sản. Do vậy, muốn nắm chính xác thực chất tư tưởng của V.I. Lênin về chuyên chính vô sản, không thể thoát ly hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, nếu không sẽ hiểu về chuyên chính vô sản phiến diện, thậm chí có thể làm cho tư tưởng chuyên chính vô sản của V.I. Lênin tự mâu thuẫn nhau, trái ngược nhau.

Những năm đầu Cách mạng Tháng Mười, V.I. Lênin đặc biệt nhấn mạnh tính chất và chức năng trấn áp bằng bạo lực của chuyên chính vô sản: “Chuyên chính là một chính quyền dựa trực tiếp vào bạo lực và không bị một luật pháp nào hạn chế cả”(5). V.I. Lênin khẳng định: “Chuyên chính vô sản là một thuật ngữ khoa học quy định giai cấp nào là giai cấp có tác dụng quyết định về mặt này, cũng như quy định hình thức đặc thù của chính quyền nhà nước được gọi là chuyên chính, tức là: một chính quyền không dựa vào luật pháp, không dựa vào các cuộc bầu cử, mà trực tiếp dựa vào lực lượng vũ trang của bộ phận này hay bộ phận khác trong dân chúng. Ý nghĩa và tác dụng của chuyên chính vô sản là ở chỗ nào? Chính là ở chỗ đập tan sự phản kháng của bọn tư bản!”(6). Cần nhấn mạnh chức năng bạo lực trong giai đoạn này vì giai cấp bóc lột tuy đã bị lật đổ nhưng luôn nuôi hy vọng trở lại cầm quyền và muốn biến hy vọng đó thành hoạt động lật đổ. Hơn nữa, khi một xã hội mới hình thành, bên cạnh những nhân tố mới, tiến bộ, thì những tàn dư lạc hậu của xã hội cũ, những phần tử hủ bại... vẫn chưa mất đi hẳn, chúng ẩn dật, chờ thời cơ để thực hiện những hoạt động chống phá chính quyền cách mạng. Do đó, để bảo vệ chính quyền Xô viết non trẻ thì cần thực hiện chuyên chính vô sản, thậm chí nếu cần thiết thì phải có bàn tay sắt. 

Sau này, trước sự công kích của bọn Cauxky và giai cấp tư sản coi chuyên chính vô sản và Chính quyền Xô viết chỉ thuần túy là bạo lực, V.I. Lênin đã chỉ rõ, thực chất của “Chuyên chính không phải chỉ có nghĩa là bạo lực”(7) mà “chuyên chính của giai cấp vô sản nhất thiết phải đưa đến chỗ không những thay đổi hình thức và những thiết chế dân chủ nói chung, mà chính là phải thay đổi chúng thế nào để mở rộng nền dân chủ đến một mức độ chưa từng có trên thế giới cho những giai cấp lao động bị chủ nghĩa tư bản áp bức”(8). Khẳng định điều này, V.I. Lênin đã cho chúng ta thấy, trong cách mạng vô sản và sau Cách mạng Tháng Muời, do đất nước còn nhiều các thế lực chống đối, phản động thì tất yếu phải sử dụng bạo lực. Nhưng sau khi cách mạng đã thành công và đất nước dần đi vào ổn định thì thực hiện chuyên chính vô sản không chỉ là dùng bạo lực, không chỉ là sử dụng công cụ quân đội, cảnh sát để trấn áp các thế lực phản động, mà quan trọng hơn là xây dựng chính quyền, mở rộng dân chủ cho nhân dân lao động. Nói cách khác, chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ là xây dựng chính quyền nhà nước dân chủ kiểu mới, dân chủ thực chất hơn, tiến bộ hơn chính quyền chuyên chính tư sản, như V.I. Lênin viết: “... nhà nước trong thời kỳ đó tất nhiên phải là một nhà nước dân chủ kiểu mới (dân chủ đối với những người vô sản và nói chung những người không có của), và chuyên chính kiểu mới (chống giai cấp tư sản)”(9).

Trong khi phê phán Cauxky tán dương dân chủ tư sản, V.I. Lênin cho rằng, dân chủ tư sản tuy là một bước tiến bộ lớn trong lịch sử so với chế độ phong kiến thời trung cổ, nhưng dưới chế độ TBCN, nó luôn luôn là một thứ dân chủ hẹp hòi, giả dối, lừa bịp; nó là thiên đường đối với người giàu, nhưng là cạm bẫy và sự bịp bợm đối với người nghèo. Còn chính quyền Xô viết là một hình thức của dân chủ vô sản, “Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần; Chính quyền Xô viết so với nước cộng hòa tư sản dân chủ nhất thì cũng dân chủ hơn gấp triệu lần”(10).

Mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp trong nước dần dần đi đến hòa dịu, chính quyền Xô viết quyết định chuyển trọng tâm trấn áp, bạo lực của chuyên chính vô sản sang cải tạo xã hội và xây dựng kinh tế. Vì vậy, nội dung của chuyên chính vô sản cũng dần thay đổi. Thực chất của chuyên chính vô sản trong giai đoạn này là xóa bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu XHCN nhằm tăng năng suất lao động, cải thiện đời sống của nhân dân, ổn định xã hội. Nhiệm vụ căn bản mà chuyên chính vô sản phải hoàn thành, là cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới  XHCN: “Chuyên chính vô sản... không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột, và cũng không phải chủ yếu là bạo lực. Cơ sở kinh tế của bạo lực đó, cái bảo đảm sức sống và thắng lợi của nó chính là việc giai cấp vô sản đưa ra và thực hiện được kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn so với chủ nghĩa tư bản. Đấy là thực chất của vấn đề. Đấy là nguồn sức mạnh, là điều bảo đảm cho thắng lợi hoàn toàn và tất nhiên của chủ nghĩa cộng sản”(11).

Theo V.I. Lênin, CNXH được xây dựng trên cơ sở nền sản xuất lớn xã hội hóa và lại phải phát triển sức sản xuất xã hội lên mức độ cao nhất. Điều này quyết định chuyên chính vô sản không thể không coi việc tạo ra một năng suất lao động cao, có tính tổ chức và tính kỷ luật cao. Đặc biệt ở nước Nga, một nước TBCN chưa phát triển, lực lượng sản xuất tương đối lạc hậu, sức mạnh của thói quen sản xuất nhỏ có ảnh hưởng rất lớn lại càng cần phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và xây dựng quan hệ sản xuất XHCN phù hợp. Vì thế, sau khi Chính quyền Xô viết được củng cố thì việc phát triển sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, xây dựng và tăng cường tính tổ chức, tính kỷ luật trở thành nhiệm vụ bức thiết. V.I. Lênin chỉ rõ: “chuyên chính vô sản hoàn toàn không phải chỉ là lật đổ giai cấp tư sản hay địa chủ, - công việc ấy đã được thực hiện trong tất cả các cuộc cách mạng, - nền chuyên chính vô sản của chúng ta là ở chỗ bảo đảm trật tự, kỷ luật, năng suất lao động, sự kiểm kê và kiểm soát, bảo đảm Chính quyền xô-viết vô sản, một chính quyền vững chắc hơn, cứng rắn hơn chính quyền trước kia”(12). Theo V.I. Lênin, nhiệm vụ trấn áp sự phản kháng của địa chủ và giai cấp tư sản tương đối dễ, bởi đối với giai cấp vô sản và nhân dân lao động thì chống lại kẻ thù truyền kiếp đã bóc lột áp bức họ là điều dễ hiểu. Điều này đã được thực tiễn sau Cách mạng Tháng Mười thực hiện rồi. Nhưng việc hoàn thành nhiệm vụ tổ chức kinh tế, xây dựng quan hệ kinh tế XHCN thì khó khăn hơn nhiều cả về thời gian và công sức. Trong hai nhiệm vụ đó, nhiệm vụ thứ nhất tương đối nổi bật trong thời kỳ mới giành được chính quyền, còn khi chính quyền của giai cấp vô sản được củng cố thì nhiệm vụ thứ hai sẽ trở thành nhiệm vụ chủ yếu trong thời kỳ quá độ.

Ba là, về liên minh công nông trong nhà nước chuyên chính vô sản

Ở Nga, giai cấp vô sản chỉ là thiểu số, nông dân chiếm đại đa số trong dân cư. Trước tình hình đó, xây dựng và duy trì khối liên minh công nông là một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược của chuyên chính vô sản. Theo V.I. Lênin, liên minh công nông có vững chắc hay không sẽ quyết định sự sống còn của nhà nước chuyên chính vô sản. Người chỉ rõ: “chừng nào cách mạng chưa nổ ra ở các nước khác, thì chỉ có thỏa thuận với nông dân mới có thể cứu vãn được cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Nga”(13). Liên minh công nông là lực lượng chính, là trụ cột của Chính quyền Xô viết. Liên minh này sẽ đảm bảo cho Chính quyền Xô viết hoàn thành nhiệm vụ cải tạo XHCN. Do đó, trong hoàn cảnh nước Nga, “Chuyên chính vô sản là một hình thức đặc biệt của liên minh giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiền phong của những người lao động, với đông đảo những tầng lớp lao động không phải vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nông dân, trí thức, .v.v.), hoặc với phần lớn những tầng lớp đó, liên minh nhằm chống lại tư bản...”(14). Điều đó cho thấy, nguyên tắc cao nhất của chuyên chính vô sản là giữ vững liên minh với giai cấp nông dân, giúp cho cho giai cấp vô sản có thể giữ vững quyền lãnh đạo và chính quyền nhà nước.

Qua tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của liên minh công nông, V.I. Lênin cho rằng, cơ sở để thực hiện liên minh trong thời kỳ quá độ là kinh tế. Trong thời kỳ nội chiến, sự hình thành bước đầu của liên minh công nông là liên minh quân sự để bảo vệ Chính quyền Xô viết. Nhưng như thế chưa đủ, liên minh quân sự không thể không kèm theo liên minh kinh tế. Không có cơ sở kinh tế, thì không thể tiếp tục duy trì liên minh giữa giai cấp vô sản với nông dân cũng như các tầng lớp khác trong xã hội. V.I. Lênin khẳng định: “trong thời kỳ quá độ này, trong một nước mà nông dân chiếm đa số, chúng ta phải biết chuyển sang những biện pháp nhằm đảm bảo những yêu cầu của nông dân về mặt kinh tế, biết tiến hành đến mức tối đa những biện pháp để cải thiện tình cảnh kinh tế của nông dân”(15). Bởi, chỉ trên cơ sở lợi ích kinh tế và tập quán của nông dân, mới nhận được sự ủng hộ từ nông dân và bảo đảm được sự lãnh đạo của giai cấp vô sản đối với nông dân, dẫn dắt nông dân đi theo con đường XHCN. Qua nhiều lần tìm tòi, khảo nghiệm, V.I. Lênin đã chọn được con đường đúng đắn để xây dựng liên minh công nông, đó chính là thực hiện Chính sách kinh tế mới. Tất cả những điều đó cho thấy, cơ sở của liên minh chính là lợi ích kinh tế, đây là mối liên hệ biện chứng, thống nhất với nhau, xét đến cùng kinh tế luôn quyết định chính trị. Không thể dùng bạo lực, sức mạnh hành chính mệnh lệnh để giải quyết vấn đề liên minh giai cấp.

Bốn là, về Đảng Cộng sản trong chuyên chính vô sản

Theo V.I. Lênin, Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo chuyên chính vô sản. Vì: “chỉ có một giai cấp nhất định - chính là công nhân thành thị và, nói chung, công nhân nhà máy, công nhân công nghiệp - mới có khả năng lãnh đạo được toàn thể quần chúng lao động và những người bị bóc lột trong cuộc đấu tranh để lật đổ ách tư bản”(16). Hơn nữa, quần chúng lao động không phải vô sản có tính chất hai mặt, vừa là người lao động, lại vừa là người tư hữu. Mặc dù họ bị CNTB bóc lột còn nặng nề hơn cả giai cấp vô sản, nhưng họ không thể tự tiến hành đấu tranh để giải phóng mình. Địa vị kinh tế của họ và sự trói buộc của truyền thống tư hữu làm cho họ dễ nghiêng ngả, không thể thoát khỏi sự chi phối của tư tưởng tư sản. Nếu không có sự lãnh đạo của giai cấp vô sản, họ sẽ lùi bước, ngả theo giai cấp tư sản. Vì vậy, V.I. Lênin nhấn mạnh chuyên chính vô sản là chính quyền của một giai cấp, là chính quyền độc quyền của giai cấp vô sản, phải do giai cấp vô sản lãnh đạo.

V.I. Lênin còn chỉ rõ, sự chuyên chính của giai cấp vô sản không thể do toàn bộ giai cấp đó thực hiện, chỉ có Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp có khả năng tập hợp lực lượng cách mạng mới có thể thực hiện được sự chuyên chính đó. Bởi “Chỉ có đội tiên phong ấy mới có thể chống lại nổi những dao động tiểu tư sản không thể tránh khỏi những quần chúng đó, chống lại nổi những truyền thống và những sự tái phạm không thể tránh khỏi những bệnh hẹp hòi phường hội hoặc của những thiên kiến phường hội trong giai cấp vô sản và lãnh đạo tất cả những hành động liên hợp của toàn bộ giai cấp vô sản, tức là lãnh đạo giai cấp đó về mặt chính trị, và thông qua giai cấp đó mà lãnh đạo tất cả quần chúng lao động. Nếu không thế, thì không thể thực hiện chuyên chính vô sản được”(17). Do đó, Đảng là lực lượng lãnh đạo cao nhất của chuyên chính vô sản, lãnh đạo toàn bộ công tác chính trị, kinh tế của đất nước. Sau này, trước tình trạng không phân biệt Đảng với chính quyền, Đảng làm thay chính quyền, V.I. Lênin đã chỉ rõ nhiệm vụ của Đảng, là “lãnh đạo chung công tác của tất cả các cơ quan nhà nước gộp chung lại, mà không can thiệp một cách quá thường xuyên, không chính quy và thường là nhỏ nhặt, như hiện nay”(18). Luận chứng của V.I. Lênin về lực lượng lãnh đạo và phương thức lãnh đạo của chuyên chính vô sản là một đóng góp mới cho lý luận chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mác.

2. Bài học kinh nghiệm thực hiện chuyên chính vô sản ở nước ta

Nhìn lại lịch sử trong hệ thống các nước XHCN nói chung và Việt Nam nói riêng trước đây, đã có những nhận thức sai lầm, máy móc, giáo điều khi vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chuyên chính vô sản. Đặc biệt, trong thời kỳ cải cách ruộng đất của Việt Nam, chúng ta đã cực đoan khi giải quyết vấn đề đấu tranh giai cấp, tập trung đánh địa chủ, tư sản mà không dựa trên quan điểm lịch sử - cụ thể. Trong hệ thống chuyên chính vô sản thời kỳ trước đổi mới (1986), mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân ở từng đơn vị chưa được xác định thật rõ; mỗi bộ phận, mỗi tổ chức trong hệ thống chuyên chính vô sản chưa làm tốt chức năng của mình. Chế độ trách nhiệm không nghiêm, pháp chế XHCN còn nhiều thiếu sót. Bộ máy nhà nước thiếu dân chủ, cồng kềnh và kém hiệu quả; cơ quan dân cử các cấp được lựa chọn, bầu cử và hoạt động một cách hình thức chủ nghĩa. Sự lãnh đạo của Đảng chưa ngang tầm những nhiệm vụ của giai đoạn mới, chưa đáp ứng được yêu cầu giải quyết nhiều vần đề kinh tế -xã hội cơ bản và cấp bách. Vì vậy, trong Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (3-1989), lần đầu tiên Đảng ta sử dụng khái niệm “hệ thống chính trị” thay cho khái niệm “chuyên chính vô sản”. Mặc dù không trực tiếp sử dụng khái niệm chuyên chính vô sản trong các văn kiện Đảng từ Đại hội VII đến nay, nhưng trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam hiện nay, chúng ta cần tiếp tục giải quyết một số nhiệm vụ sau:

Một là, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới hình thức dân chủ. Đây là hình thức bắt buộc đối với nhà nước XHCN, nếu không muốn làm tha hóa bản chất quyền lực của mình. Như Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Nếu có một điều gì chắc chắn thì đó là đảng ta và giai cấp công nhân chỉ có thể đi đến nắm quyền thống trị dưới một hình thức chính trị, như nền cộng hòa dân chủ. Nền cộng hòa này cũng chính là hình thức đặc thù của chuyên chính vô sản, như Đại cách mạng Pháp đã chứng minh”(19). Xây dựng nhà nước XHCN, chế độ dân chủ XHCN ở nước ta là một quá trình lâu dài. Trong điều kiện nước ta hiện nay mà áp đặt một chế độ dân chủ XHCN đầy đủ là chưa phù hợp. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hiện nay chúng ta chưa nên phát huy dân chủ, mở rộng dân chủ. Ngược lại, như V.I. Lênin đã chỉ ra: “Phát triển dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy, đem thí nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn”(20). Hơn nữa, ở Việt Nam hiện nay, “Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ; kỷ cương, kỷ luật chưa nghiêm...”(21). Vì vậy, chủ trương đổi mới Nhà nước theo mô hình nhà nước pháp quyền XHCN, đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình phát huy tính dân chủ XHCN. 

Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, đổi mới cơ chế quản lý nhằm tăng năng suất lao động. Để xây dựng CNXH ở thế kỷ XXI cần phải phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, trên cơ sở đó xây dựng đội ngũ công nhân tiên tiến, cách mạng, nắm vững sứ mệnh lịch sử của mình và từng bước xây dựng chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu như phác họa của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Cũng như các nhà nước khác, nhà nước XHCN có cả chức năng bạo lực trấn áp, cả chức năng tổ chức xây dựng. Nhưng điểm khác nhau cơ bản so với các nhà nước bóc lột là đối với nhà nước XHCN, chức năng tổ chức xây dựng là chủ yếu. V.I.Lênin đã nhiều lần chỉ ra rằng, thực chất của chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực và cũng không phải chủ yếu là bạo lực. Điều chủ yếu trong nền chuyên chính của giai cấp công nhân là những nhiệm vụ và chức năng có tính chất sáng tạo, là “đưa ra được và thực hiện được kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn so với chủ nghĩa tư bản. Đấy là thực chất của vấn đề. Đấy là nguồn sức mạnh, là điều đảm bảo cho thắng lợi hoàn toàn và tất nhiên của chủ nghĩa cộng sản”(22). Bởi lẽ, “Xét đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ xã hội mới”(23). Việc đưa ra được và thực hiện được kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn, một phương thức sản xuất có năng suất lao động cao hơn không phải vì lợi ích ích kỷ của một giai cấp, mà vì lợi ích của sự tiến bộ xã hội, vì lợi ích của quảng đại quần chúng lao động.

Ba là, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời thực hiện tốt liên minh công nông trên cơ sở đảm bảo lợi ích của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, là nước nông nghiệp có đông nông dân trong cơ cấu dân cư thì vấn đề liên minh công - nông - trí là vấn đề có tính nguyên tắc. Đây là sự tiếp tục liên minh giữa các giai cấp và tầng lớp trong điều kiện mới, mang nội dung và hình thức mới. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, liên minh công - nông - trí nhằm tập hợp lực lượng cách mạng trong một liên minh chính trị thống nhất do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo để phát huy sức mạnh tổng hợp nhằm cải tạo xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới.

Hiện nay, mặc dù giai cấp công nhân đã thiết lập được vị trí thống trị trong xã hội nhưng do kết cấu kinh tế còn phức tạp, còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế dựa trên các hình thức sở hữu khác nhau, còn sự khác biệt giai cấp (theo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, xã hội Việt Nam hiện nay gồm: giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, đội ngũ doanh nhân, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi, đồng bào các dân tộc, các tín đồ tôn giáo, đồng bào Việt Nam định cư ở nước ngoài). Do đó, giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng phải xây dựng khối liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động để cùng xây dựng chế độ xã hội mới, thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử của mình.

Đặc biệt, liên minh giai cấp bền vững phải dựa trên việc tôn trọng nhu cầu, lợi ích của chính bản thân các chủ thể tham gia liên minh. Vì vậy, vấn đề cơ bản và xuyên suốt, vừa là nội dung, vừa là nguyên tắc mang tính quy luật trong việc xây dựng khối liên minh công - nông - trí thức là phải xác định đúng các nhu cầu, phát hiện kịp thời các nhu cầu mới nảy sinh của công nhân, nông dân, trí thức trong từng giai đoạn cụ thể, từ đó có giải pháp để thỏa mãn các nhu cầu chính đáng; xử lý đúng đắn, kịp thời những mâu thuẫn nảy sinh giữa các giai cấp. Làm tốt điều này, sẽ củng cố, tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựng và phát triển xã hội, hoàn thành sự nghiệp độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

CĐ,VS (st)

___________________

(1), (4), (11), (16), (22), (23) V.I.Lênin: Toàn tập, t.39, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.319, 310, 15-16, 17, 16, 25.

(2), (3), (9), (20) V.I.Lênin: Toàn tập, t. 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr.43-44, 44, 43, 97.

(5), (8), (10) V.I Lênin: Toàn tập, t.37, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.296, 608, 312-313.

(6) V.I.Lênin: Toàn tập, t.32, Nxb Tiến bộ, Mát xcơva, 1981, tr.398.

(7) V.I.Lênin: Toàn tập, t.38, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.420.

(12) V.I.Lênin: Toàn tập, t.36, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.319.

(13), (15) V.I.Lênin: Toàn tập, t.43, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.70, 34.

(14) V.I.Lênin: Toàn tập, t.38, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.452.

(17) V.I.Lênin: Toàn tập, t.43, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.112-113.

(18) V.I.Lênin: Toàn tập, t.45, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.75.

(19) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.22, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.346.

(21) ĐCSCN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2021.