Thứ Tư, 10 tháng 1, 2024

Cần hiểu đúng về xã hội dân sự

Xã hội dân sự là một bước tiến quan trọng của lịch sử xã hội loài người trong tổ chức cộng đồng. Bên cạnh những tiến bộ của thiết chế nhà nước thì xã hội cũng hình thành một loạt thiết chế xã hội phong phú và đa dạng. Giá trị đáng ghi nhận của xã hội dân sự không phải đề cao thái quá tính độc lập, tính thoát ly mà là những phát kiến, kiến nghị, đề xuất có cơ sở lý luận và thực tiễn, phù hợp với quan điểm, đường lối của đảng cầm quyền, trong đó phải lấy quyền lợi của đại bộ phận quần chúng nhân dân, lợi ích của cộng đồng xã hội, của quốc gia dân tộc làm tôn chỉ, mục tiêu hoạt động. Không có bất kỳ thiết chế xã hội nào để cho các tổ chức, cá nhân vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác, gây hại cho đất nước, người dân.

Tổ chức xã hội dân sự nếu được hoạt động theo đúng tôn chỉ mục đích, mang lại giá trị cho xã hội, quốc gia đều rất đáng quý, xứng đáng được tôn vinh. Tuy nhiên, vấn đề xã hội dân sự nếu bị lợi dụng để tạo ra xung đột, chiến tranh, gây đau thương thì phải bị lên án, bài trừ. Trên thế giới không phải là không có tiền lệ. Sự thất bại của mô hình XHCN ở Liên Xô, Đông Âu vào những năm cuối thập niên 80, 90 của thế kỷ XX, các cuộc đảo chính, lật đổ chính quyền, các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” trong thế kỷ XXI là những ví dụ điển hình cho thấy xã hội dân sự đã bị bóp méo, bị lợi dụng, là nguồn gốc sâu xa gây ra tình trạng trên.

Ở Việt Nam, việc tôn trọng, bảo đảm quyền công dân, quyền con người được khẳng định trong các bản Hiến pháp, thể hiện rõ bản chất tốt đẹp của chế độ ta, đó là chế độ do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo đó, Điều 14, Hiến pháp năm 2013 quy định: Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Pháp luật Việt Nam không cấm việc thành lập và hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự. Điều 25, Hiến pháp 2013 đã quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Khi Việt Nam tham gia Hiệp định thương mai tự do (FTA), chúng ta đã sửa đổi Bộ luật Lao động (có hiệu lực từ ngày 1/1/2021), theo đó người lao động có quyền thành lập, tham gia các tổ chức công đoàn độc lập, các tổ chức của người lao động theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh các luật quy định về thành lập, hoạt động của hội như Bộ luật Hình sự 2015, Luật Công đoàn, Bộ luật Dân sự 2015, Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 45/2010/NĐ-CP, ngày 21/4/2010, quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; Nghị định số 93/2019/NĐ-CP, ngày 25/11/2019 về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện. Tất cả các tổ chức, hội nhóm được thành lập phải chấp hành nghiêm các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Mọi hoạt động núp bóng thành lập “xã hội dân sự” hoạt động trái pháp luật đều phải bị xử lý theo đúng quy định. Hệ thống pháp luật Việt Nam đều hướng đến bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đưa con người đến các giá trị chân, thiện, mĩ. Bất kể cá nhân, tổ chức nào xâm phạm đến quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức, lợi ích Nhà nước, xã hội đều bị xử lý theo luật định. (trích báo CA)

CIVICUS Monitor xuyên tạc những gì?

 CIVICUS Monitor là tên viết tắt của tổ chức “Liên minh toàn cầu vì sự tham gia của công dân”, một tổ chức phi chính phủ có trụ sở ở Johanesburg (Nam Phi). Vài năm trở lại đây, tổ chức này liên tục có những nhận định, đánh giá sai lệch, phiến diện về vấn đề dân chủ, nhân quyền nói chung, về đời sống xã hội ở Việt Nam nói riêng. Ngày 6/12/2023, tổ chức này ra báo cáo “Sức mạnh nhân dân bị tấn công năm 2023” của 198 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó xuyên tạc ở Việt Nam “có không gian xã hội dân sự và quyền tự do dân chủ bị đóng kín”!

CIVICUS vu cáo: “Tại Việt Nam, chính quyền đã gây áp lực lên các nền tảng truyền thông xã hội”, “hơn 100 nhà bảo vệ nhân quyền vẫn đang bị giam cầm, bị phân biệt đối xử trong trại giam”. Tổ chức này bênh vực, đòi thả tự do cho số đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam khi có các hành vi phạm tội tuyên truyền chống nhà nước, lợi dụng các quyền tự do dân chủ như Trương Văn Dũng, Trần Văn Bang, Phan Sơn Tùng...; đưa ra luận điệu sai trái khi cho rằng quyền tự do của người dân bị bóp nghẹt, bị chính quyền đàn áp. Qua những luận điệu sai trái của CIVICUS cho thấy âm mưu, thủ đoạn của tổ chức này như sau:

Một là, vu cáo Việt Nam quyền tự do dân chủ “bị bịt kín” nhằm cổ súy ra đời các tổ chức đội lốt “xã hội dân sự” hoạt động không đúng tôn chỉ mục đích; phủ nhận những thành tựu dân chủ, nhân quyền của Việt Nam; hạ thấp vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Hai là, đưa ra những “yêu sách” đòi mở rộng quyền tự do, dân chủ đứng ngoài pháp luật; đòi thực hiện chế độ đa đảng và thúc đẩy ra đời các tổ chức chính trị đối lập với xu hướng thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, thực hiện mưu đồ triệt tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.

Ba là, tìm cách kích động phản kháng, biểu tình, bạo loạn lật đổ. Tác động, can thiệp vào vấn đề dân chủ, nhân quyền, coi đó như động lực để thúc đẩy sự phát triển của “xã hội dân sự” trá hình.

Bốn là, tán dương cho những người núp bóng “bất đồng chính kiến”, “phản biện xã hội” trong nước hoạt động theo khuynh hướng độc lập, trái pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước.

Như vậy, với những âm mưu, thủ đoạn trên cho thấy CIVICUS đã và đang cổ súy cho hành vi sai trái, thúc đẩy sự ra đời các lực lượng, tổ chức chính trị đối lập, hướng lái đến một mô hình “xã hội dân sự độc lập về chính trị” kiểu phương Tây, làm suy yếu sự quản lý của Nhà nước, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi quy kết không gian dân sự ở Việt Nam “bị thu hẹp”, “bị bịt kín”, cho thấy CIVICUS đã thể hiện rõ định kiến với Việt Nam. Tổ chức này không có bất cứ hoạt động khảo nghiệm tại Việt Nam, những thông tin mà CIVICUS có được đều lấy từ những tổ chức phản động, thù địch với Việt Nam. Vì thế những đánh giá trong báo cáo đã được công bố đều là phiến diện, sai trái.

Tuân thủ nghiêm nghĩa vụ nhân quyền

Việt Nam tuân thủ nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc tham gia. Chúng ta đã trình và bảo vệ thành công tất cả các báo cáo quốc gia liên quan công ước quốc tế về quyền con người. Những thành tựu về đảm bảo quyền con người của Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres đã từng đánh giá: “Việt Nam là một đối tác quan trọng của Liên hợp quốc, đã có nhiều đóng góp thực chất và hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Mối quan hệ tốt đẹp này cần được tăng cường hơn nữa trong thời gian tới để thúc đẩy hòa bình, sự phát triển bền vững và quyền con người trên thế giới”.

Việt Nam luôn cầu thị học hỏi và nỗ lực làm tốt nhất trong vấn đề bảo đảm nhân quyền cho mọi người dân. Trong một số báo cáo chính thức của Việt Nam trước các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc đã thẳng thắn nêu lên những khó khăn Việt Nam gặp phải trong công tác nhân quyền, từ đó đề ra những giải pháp để cải thiện trong thời gian tới. Thực tế không có bất kỳ quốc gia nào trên thế giới tự cho mình là bảo đảm tuyệt đối về vấn đề nhân quyền.

Mặc dù thực tế chúng ta đạt nhiều thành tựu về kinh tế - xã hội, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị trong nâng cao chất lượng đời sống nhân dân song nguồn lực của đất nước vẫn còn hạn chế nên việc đầu tư cơ sở vật chất cho văn hóa, giáo dục, khoa học, y tế... còn thiếu thốn, ảnh hưởng đến việc hưởng thụ đầy đủ quyền của người dân, nhất là khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.

Nhìn về quá khứ, từ một nước bị chiến tranh tàn phá, bị bao vây cấm vận, qua hơn 37 năm đổi mới, Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, vươn lên mạnh mẽ, đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện. Kỷ niệm 75 năm Ngày Nhân quyền quốc tế (10/12/1948 – 10/12/2023) Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam có quyền tự hào về những kết quả đã đạt được trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người; đẩy lùi những hành động chống phá, luận điệu sai trái, xuyên tạc. 

Tích cực đóng góp vào hoạt động nhân quyền của Liên hợp quốc

Cùng với những thành tựu trên, Việt Nam còn tham gia tích cực, là thành viên có trách nhiệm trong các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc từ khi cơ quan này được thành lập từ năm 2006 đến nay. Trong đó, nổi bật là chúng ta đã tham gia tích cực các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền, thúc đẩy các sáng kiến thể hiện dấu ấn, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, nhất là việc tham gia Nhóm nòng cốt tại Hội đồng Nhân quyền về “Biến đổi khí hậu và quyền con người”, đảm nhiệm thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế. Không phải ngẫu nhiên cách đây hơn một năm, vào ngày 11/10/2022 tại New York, Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN đã trúng cử với số phiếu cao, trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Việt Nam đã thúc đẩy thông điệp ứng cử “Tôn trọng và hiểu biết, đối thoại và hợp tác, tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người”, được các nước đồng tình, ủng hộ.

Trong những ngày đầu tháng 4/2023, tại trụ sở Văn phòng Liên hợp quốc ở Geneva (Thụy Sĩ), khóa họp thường kỳ lần thứ 52 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã hoàn thành chương trình đề ra từ đầu khóa họp với 43 nghị quyết được thông qua, trong đó có Nghị quyết về kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền. Nghị quyết là một dấu ấn nổi bật của Việt Nam tại khóa họp trên cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, thể hiện đóng góp thực chất, trách nhiệm của Việt Nam vào công việc của Hội đồng Nhân quyền. Nghị quyết đã truyền tải đi nhiều thông điệp lớn và tích cực, trong đó có tăng cường hơn nữa sự hợp tác và tinh thần đoàn kết quốc tế trước tình trạng một số khu vực trên thế giới thời gian qua xung đột, chia rẽ sâu sắc.

Tham gia vào các công ước quốc tế về quyền con người là một chủ trương thường xuyên và nhất quán của Việt Nam, thể hiện cam kết cũng như quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Việt Nam trong việc bảo đảm và thực thi các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế về quyền con người. Đặc biệt, sau khi trở thành thành viên của Liên hợp quốc vào năm 1977, Việt Nam đã tích cực, chủ động tham gia hầu hết vào các công ước quốc tế về quyền con người. Đến nay, chúng ta đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam thực sự là điểm sáng, tiên phong trong thực hiện cam kết.

Không thể phủ nhận thành tựu nhân quyền của Việt Nam

Bên cạnh những nỗ lực xây dựng và hoàn thiện thể chế về quyền con người, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người trên các phương diện của đời sống xã hội. Các quyền con người về dân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa ở Việt Nam được quy định rõ trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Quyền bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý nhà nước và xã hội của người dân được phát huy. Các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền bình đẳng của các dân tộc; quyền sống, được tôn trọng về nhân phẩm và bất khả xâm phạm về thân thể; quyền tự do đi lại và cư trú… của người dân được tôn trọng. Việt Nam đã thành công về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quyền con người. Cụ thể như sau:

Một là, công tác xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả nổi bật; đời sống của người dân ngày càng được nâng lên. Tỷ lệ hộ nghèo từ gần 60% vào năm 1986 giảm xuống còn dưới 3% vào năm 2022. GDP bình quân đầu người tăng từ 86 USD năm 1986 lên 4.110 USD năm 2022. Nước ta về đích trước thời hạn theo mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) và phát triển bền vững (SDG) của Liên hợp quốc; thực sự trở thành điểm sáng của thế giới, được nhân dân cả nước và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Hai là, chất lượng an sinh xã hội ngày càng được nâng cao. Việc bảo đảm an sinh xã hội đã chuyển từ hỗ trợ nhân đạo sang bảo đảm quyền an sinh của công dân. Số người hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên tăng hằng năm và đạt 3,3 triệu người năm 2022. Trong 3 năm phòng, chống dịch COVID -19 đã hỗ trợ với số tiền trên 120.000 tỷ đồng và trên 200.000 tấn gạo cho trên 68 triệu lượt người dân gặp khó khăn. Nhà nước đóng vai trò chủ đạo và huy động, phát huy vai trò quan trọng của cá nhân, doanh nghiệp, xã hội. Đã dành nguồn lực khoảng 20% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho chính sách xã hội. Việt Nam đã hoàn thành trước hạn nhiều Mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ (MDG). Theo Liên hợp quốc, chỉ số phát triển con người (HDI) ở Việt Nam liên tục tăng qua từng năm và hiện lọt vào nhóm phát triển con người cao, xếp thứ 115/191 quốc gia và vùng lãnh thổ…

Ba là, không ngừng được mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp. Tỷ lệ tham gia BHXH năm 2022 đạt 38,08% và bảo hiểm thất nghiệp đạt 31,18% lực lượng lao động trong độ tuổi; tỉ lệ tham gia BHXH tự nguyện ngày càng tăng đến nay đạt 1,46 triệu người. Người dân tiếp cận ngày càng tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản. Về giáo dục, trẻ em đi học đúng tuổi cấp tiểu học đạt 99% từ năm 2015, cấp trung học cơ sở đạt trên 95% từ năm 2020. Năm 2022, 92% người dân tham gia BHYT; 90% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ... Về nhà ở, đến năm 2020, đã hỗ trợ chỗ ở cho 648.000 hộ nghèo nông thôn, 323.000 căn nhà cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn.

Bốn là, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thúc đẩy. Tính đến nay, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau với trên 26,7 triệu tín đồ, trên 55 nghìn chức sắc, khoảng 135 nghìn chức việc; trên 29 nghìn cơ sở thờ tự. Ngoài ra, hàng năm  ở nước ta có trên 8.000 lễ hội về tín ngưỡng, tôn giáo, quy tụ hàng vạn tín đồ tham gia; cơ quan Nhà nước tạo điều kiện tối đa cho các hoạt động tự do tín ngưỡng tôn giáo, đúng pháp luật.

Năm là, trong thực hiện bình đẳng giới, phụ nữ là một trong những đối tượng được ưu tiên trong chiến lược phát triển của Việt Nam. Năm 2022, Việt Nam đứng thứ 60 trên thế giới, đứng thứ 4 ở châu Á và đứng đầu trong Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam Á về tỷ lệ nữ tham gia cơ quan dân cử; đứng thứ 3 trong khu vực ASEAN và thứ 47/187 quốc gia trên thế giới tham gia xếp hạng về bình đẳng giới trong tham chính và trong công tác quản lý. Trong lĩnh vực kinh tế, cơ hội lao động, việc làm của phụ nữ như nam giới. Đánh giá chung, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; diện mạo đất nước có nhiều thay đổi theo hướng tích cực; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; kinh tế, xã hội phát triển toàn diện và hài hòa. Chính vì thế đã củng cố niềm tin của người dân, khẳng định quyền con người dưới chế độ XHCN ở nước ta luôn được quan tâm, chú trọng, thực thi hiệu quả.

Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là nguyện vọng của toàn dân

Việc Việt Nam xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của nhân dân. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, "cá lớn nuốt cá bé" vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”.

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, chúng ta đã đạt được những kết quả tích cực trên tất cả các lĩnh vực. Sau 35 năm thực hiện đổi mới, kinh tế nước ta duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao (khoảng 6%/năm), cơ cấu kinh tế thay đổi theo chiều hướng tích cực, tiềm lực, quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên. Môi trường hoà bình, ổn định được giữ vững, là tiền đề quan trọng để đất nước phát triển. Công tác xoá đói giảm nghèo được triển khai mạnh mẽ, tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước đã giảm bình quân trên 1,4%/năm giai đoạn 2016 – 2020. Lĩnh vực y tế, văn hoá, giáo dục cũng đạt được nhiều thành tựu. Trong quan hệ quốc tế, vị thế của Việt Nam ngày càng tăng cao và được bầu giữ nhiều vị trí quan trọng trong các tổ chức quốc tế. Đây là những minh chứng rõ ràng khẳng định Việt Nam đang phát triển đúng hướng.

Quá trình phát triển cũng bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyết, trong đó có vấn đề tham nhũng, suy thoái, những hiện tượng tiêu cực trong đời sống văn hoá, xã hội còn diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề tồn tại kéo dài khiến dư luận bức xúc, ảnh hưởng tới sự uy nghiêm của luật pháp và niềm tin của người dân vào thể chế. Tuy nhiên, những tồn tại đó có nguyên nhân khách quan, chủ quan, nhất là trong điều kiện đất nước hội nhập, mở cửa, luật pháp chưa đầy đủ, còn những kẽ hở bị lợi dụng; công tác quản lý Nhà nước còn những yếu kém, còn tình trạng cán bộ, đảng viên suy thoái, nhũng nhiễu.

Vấn đề là Đảng, Nhà nước ta nghiêm túc nhìn nhận hạn chế, thiếu sót, đưa ra các giải pháp trước mắt và lâu dài để chấn chỉnh, đặc biệt là việc xây dựng Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”. Vì vậy, không có lý do gì để các đối tượng tự xưng “nhà dân chủ” để giở trò “đâm bị thóc, chọc bị gạo”, xuyên tạc tình hình, bôi nhọ Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa

Tại Việt Nam, mô hình mà chúng ta lựa chọn là nhà nước pháp quyền XHCN. Điều này đã được ghi nhận cụ thể tại khoản 1, Điều 2 Hiến pháp 2013: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là hoàn toàn phù hợp cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Như vậy, đây là bộ máy quyền lực của chính quần chúng nhân dân lao động, phục vụ lợi ích của đại đa số người dân trong xã hội.

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Tại Việt Nam, Đảng, Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức có nghĩa vụ và trách nhiệm tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân. Mọi hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền đều kiên quyết bị xử lý.

Trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo không có nghĩa là “đứng trên pháp luật”, “không tuân thủ pháp luật” như những gì các đối tượng xấu cố tình bôi nhọ. Tất cả các tổ chức của Đảng và đảng viên đều phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Mọi hành vi vi phạm pháp luật tuỳ theo tính chất, mức độ, hậu quả sẽ bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật. (trích báo)

Luận điệu sai trái về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

 Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN được xác định là nội dung trọng tâm của đổi mới chính trị tại Việt Nam. Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã tích cực thảo luận, lấy ý kiến đóng góp để hoàn thiện Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”.

Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá, nhiều đối tượng xấu đã xuyên tạc, công kích, đưa ra các bài viết làm sai lệch bản chất vấn đề. Một số bài viết cho rằng đã là nhà nước pháp quyền thì không thể đi đôi với XHCN, đưa ra “kiến nghị” đòi bỏ nội dung XHCN trong đề án xây dựng nhà nước pháp quyền.

Thậm chí, một số người nhân danh cấp tiến, đổi mới để vu cáo rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam hiện “đứng trên pháp luật” nên không thể có nhà nước pháp quyền; cho rằng việc đưa ra định hướng XHCN chỉ để mang lại lợi ích cho Đảng chứ không phải vì lợi ích quốc gia, dân tộc; việc đặt đề án xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là nhằm che đậy cho bản chất độc tài của chế độ… Những luận điệu trên  thể hiện rõ ý đồ chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Ngược dòng lịch sử, tư tưởng về nhà nước pháp quyền xuất hiện từ sớm, gắn với các nhà tư tưởng nổi tiếng như Socrates (469-399 Tr.CN), Aristoteles (384-322 Tr.CN), Cicero (l06-43 Tr.CN), John Locke (1632 - 1704), Montesquieu (1698 - 1755), Jean Jacques Rousseau (1712 - 1778), I.Kant (1724 - 1804), Hegel (1770 - 1831) v.v… Mục tiêu của nhà nước pháp quyền là xây dựng và thực thi một nền dân chủ, đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân.

Những yếu tố cơ bản để xây dựng một nhà nước pháp quyền là xã hội có dân chủ, đất nước có một hệ thống pháp luật đầy đủ và mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội đều phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật. Nhà nước pháp quyền vừa là một giá trị chung của nhân loại, vừa là một giá trị riêng của mỗi một dân tộc, quốc gia. Tuỳ thuộc vào đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội và trình độ phát triển mà các quốc gia khác nhau sẽ xây dựng một mô hình nhà nước pháp quyền cụ thể một cách thích hợp.

Đối ngoại góp phần khẳng định vị thế Việt Nam

 Đại hội XIII của Đảng xác định nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại bao gồm ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Nhiệm vụ của đối ngoại là phát huy vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Triển khai thực hiện hiệu quả đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế trong hơn nửa nhiệm kỳ vừa qua tiếp tục được mở rộng, đạt nhiều kết quả quan trọng; tiếp tục củng cố, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Những hoạt động đối ngoại cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta trong năm 2023 không chỉ truyền tải thông điệp về một Việt Nam phát triển năng động, đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả mà còn giới thiệu hình ảnh Việt Nam đóng góp tích cực, chủ động, có trách nhiệm vào các công việc chung của cộng đồng quốc tế. Có thể nói năm 2023 là một năm rất thành công về công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta với nhiều lãnh đạo, nguyên thủ các nước đến thăm và làm việc tại Việt Nam, trong đó có chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden tới Việt Nam từ ngày 10-11/9/2023; chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình từ ngày 12-13/12.

Trong các chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam, lãnh đạo các nước còn có dịp trải nghiệm không gian văn hoá và sự mến khách của người Việt như: Thủ tướng Malaysia cùng Thủ tướng Việt Nam đi dạo phố sách, thưởng thức cà phê; Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol cùng Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đi dạo ven hồ Hoàn Kiếm, điểm tâm sáng ở nhà hàng ẩm thực Hà thành; Thủ tướng Luxembourg cùng Thủ tướng Việt Nam đi thăm Văn Miếu, Bảo tàng Mỹ thuật; Thủ tướng Úc đi tìm hiểu một món rất dân dã, phổ biến của Hà Nội là bia hơi, bánh mì. Các chuyến thăm khác của Thủ tướng Singapore (8/2023); Tổng thống Mông Cổ (11/2023)… cũng có nhiều hoạt động bên lề ý nghĩa. Hay trước đây, trong chuyến thăm đến Việt Nam năm 2016, Tổng thống Mỹ Obama đã dành thời gian đi thưởng thức bia chai, bún chả Hà Nội.

Hiện nay, với hơn 500 hiệp định song phương và đa phương cùng việc phê chuẩn, triển khai có hiệu quả Hiệp định thương mại tự do Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), tham gia ký Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và đã có hơn 70 quốc gia công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường, nước ta đã trở thành mắt xích quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế. Qua đó tạo ra động lực to lớn cho sự phát triển.

Những hoạt động đối ngoại quan trọng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã thể hiện dấu ấn đậm nét của ngoại giao đa phương, đóng góp quan trọng vào việc nâng cao vai trò và vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Chúng ta không chỉ giới thiệu một Việt Nam đổi mới, năng động mà còn giới thiệu một Việt Nam là điểm hẹn của cơ hội, của tiềm năng và môi trường đầu tư. Qua đó, chúng ta bảo vệ và thúc đẩy các lợi ích chính đáng của đất nước; triển khai mạnh mẽ đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng XIII là “độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”… Đây cũng là dịp để Việt Nam và các nước bạn bè đối tác tạo thêm xung lực mới cho hợp tác đa phương năm 2024 và các năm tiếp theo, vì hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực và thế giới. (trích báo CA)

Những luận điệu xuyên tạc

Việc xuyên tạc nội dung, ý nghĩa các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là trong những dịp Việt Nam tham dự các sự kiện ngoại giao quan trọng là một chiêu trò thường thấy của các thế lực xấu. Lợi dụng những dịp này, các đối tượng đưa ra các nhận định mang tính võ đoán, tung luận điệu bôi nhọ dưới dạng “phân tích, bình luận, kiến nghị” với mục đích gây ra sự phân tâm trong dư luận xã hội, phá hoại chủ trương, đường lối ngoại giao của Việt Nam, hạ uy tín, vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.

Trong bối cảnh mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam đã sáng suốt và kịp thời có những thay đổi tư duy về công tác đối ngoại, tạo nền tảng quan trọng giúp công tác đối ngoại có những bước phát triển đột phá. Trong suốt quá trình đó, chúng ta chủ trương “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Điều này cho thấy, Việt Nam luôn chú trọng đưa quan hệ với các nước trên thế giới, khu vực đi vào chiều sâu, ổn định và tăng cường sự tin cậy lẫn nhau, tạo sự đan xen lợi ích nhằm củng cố vị thế của nước ta và bảo đảm lợi ích quốc gia trong quan hệ quốc tế. Có thể nhận thấy, đây là một thông điệp đối ngoại phù hợp vì việc xây dựng lòng tin và thúc đẩy quan hệ tin cậy lẫn nhau góp phần đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển ổn định của quan hệ giữa các nước.        

Tuy vậy, đi ngược lại chính sách vì lợi ích, quốc gia dân tộc, các thế lực xấu cố tình xuyên tạc, bóp méo chính sách đối ngoại của Việt Nam nhằm phá hoại công cuộc hội nhập, phát triển của đất nước. Chúng rêu rao rằng, đối ngoại của Việt Nam là “gió chiều nào theo chiều ấy”, uốn kiểu nào cũng được, từ đó bôi nhọ ngoại giao cây tre là “ẻo lả không có lập trường, không đáng tin cậy”. Với thủ đoạn dựa vào những phát ngôn, hình ảnh của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta rồi cắt xén, thêm thắt, bình luận, làm sai lệch nội dung, bản chất vấn đề, cố tình thổi phồng theo hướng kích động chia rẽ kiểu “bắt tay bên này để chống bên kia”, từ đó họ lấy cớ xuyên tạc, bóp méo đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Tính chất nguy hiểm của các luận điệu nêu trên là tạo ra sự hoang mang, dao động, gây chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, nhất là các nước đối tác, đối tác chiến lược, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

Đáng chú ý, các thế lực thù địch, phản động thường tìm cách cường điệu hóa khi đặt Việt Nam trong mối quan hệ với những cường quốc, từ đó đưa ra quan điểm “khuyên” Việt Nam nên chọn theo nước này, chống nước kia và ngược lại; thậm chí còn “khuyến cáo” Việt Nam nên bỏ chính sách đối ngoại “bốn không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”, xem đây là giải pháp để “bảo toàn chủ quyền lãnh thổ”. Từ đó, cổ súy, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, làm “ngòi nổ” để truyền bá tư tưởng chống đối, gây chia rẽ, kỳ thị về ngoại giao, gây sự hiểu nhầm đối với người dân trong đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước. Có thể thấy, không riêng gì chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình hay chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden mà nhiều chuyến thăm của lãnh đạo, nguyên thủ các quốc gia khác đến Việt Nam cũng bị các thế lực thù địch, các tổ chức, phần tử phản động lưu vong xuyên tạc, bóp méo.

Mục đích của các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam, trong đó xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam với các nước khác. Các luận điệu xuyên tạc nhằm tìm cách cô lập, hạ thấp vị thế, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế; phá hoại mối quan hệ nước ta với các nước, chia rẽ tinh thần đoàn kết, hợp tác, hữu nghị của Việt Nam với các nước; khiến dư luận hiểu sai để tạo sự kỳ thị, ác cảm với Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng mà các thế lực này hướng tới không gì khác là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ con đường phát triển đất nước mà Đảng, nhân dân ta đã lựa chọn. (trích báo CAND)

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM “TINH GỌN, MẠNH” TRONG TÌNH HÌNH MỚI!

     Kế thừa kinh nghiệm trong lịch sử dân tộc “Binh quý hồ tinh, bất quý hồ đa” (quân cốt tinh, không cốt nhiều) và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta phải ra sức xây dựng Quân đội ta thành một Quân đội nhân dân (QĐND) hùng mạnh, một Quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc”(1), Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng chăm lo xây dựng QĐND Việt Nam về mọi mặt; trong đó, chú trọng lãnh đạo xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”-nhân tố quyết định nhằm nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao!
QĐND Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; là Quân đội của dân, do dân, vì dân, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội là nguyên tắc bất biến, nhất quán, xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam; nhân tố quyết định mọi thắng lợi, bảo đảm cho Quân đội ngày càng trưởng thành, lớn mạnh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội luôn giữ vững bản chất Quân đội cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng; vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức; trở thành lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Trong điều kiện cách mạng mới, trước tình hình thế giới, khu vực và trong nước bên cạnh những thuận lợi cơ bản cũng có nhiều diễn biến phức tạp, chúng ta đã coi trọng củng cố, tăng cường sức mạnh quốc phòng, xây dựng QĐND Việt Nam “tinh, gọn, mạnh”. Đây là nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2020-2025 tầm nhìn 2030 của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; trong đó, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam-nhân tố quyết định, được thể hiện trên những nội dung sau:
Thứ nhất, Đảng đề ra chủ trương, định hướng đúng đắn về xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” trong tình hình mới.

Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng QĐND, Công an nhân dân (CAND) cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an “tinh, gọn, mạnh”, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND, CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Đây là chủ trương, định hướng đúng đắn của Đảng trong xây dựng Quân đội; trong đó, chia thành hai giai đoạn: 2021-2025 và 2025-2030. Mỗi giai đoạn có mục tiêu, yêu cầu riêng nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau, giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn sau và ngược lại, giai đoạn sau là kết quả tổng hợp, tiếp nối giai đoạn trước. Trọng tâm của xây dựng Quân đội từ năm 2021-2025 là xây dựng tổ chức Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Để triển khai thực hiện chủ trương trên, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 17-1-2022 về “Tổ chức QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo”; Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 26-1-2022 về “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”; Quân ủy Trung ương ban hành Nghị quyết số 230-NQ/QUTW ngày 2-4-2022 về “Lãnh đạo thực hiện tổ chức QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo”. Đây là những chủ trương, định hướng đúng đắn của Đảng về xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” trong tình hình mới.

Thứ hai, Đảng chỉ đạo quá trình xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” chặt chẽ, kiên quyết, kiên trì, có lộ trình, bước đi thích hợp, không chủ quan, nóng vội.

Xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” là vấn đề rất lớn, rất hệ trọng, liên quan đến công tác tư tưởng, công tác chính sách; do đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo: “Quá trình thực hiện phải chặt chẽ, kiên quyết, kiên trì, có lộ trình, bước đi thích hợp, không chủ quan, nóng vội; phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác chính sách. Kịp thời phát hiện, giải quyết các vấn đề phát sinh, không làm ảnh hưởng đến những mặt công tác khác. Quản lý tốt cơ sở vật chất, tài sản, vật tư, trang thiết bị; chống thất thoát, lãng phí, bảo đảm an toàn tuyệt đối. Triển khai xây dựng đồng bộ các quy định về chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm mọi mặt hoạt động của các đơn vị được điều chỉnh nhịp nhàng, hiệu quả. Sau điều chỉnh, sáp nhập, toàn quân phải giữ vững được sự ổn định; sức mạnh chiến đấu phải mạnh lên, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ”.

Quán triệt tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy các cấp trong toàn quân đã và đang làm tốt việc rà soát, điều chỉnh, kiện toàn tổ chức, biên chế, bảo đảm trang bị phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới. Chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án tổ chức QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo. Về tổ chức, chỉ đạo tiến hành điều chỉnh tổ chức từ cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng đến các cơ quan, đơn vị cấp chiến dịch, chiến thuật. Điều chỉnh thế bố trí lực lượng để đáp ứng nhiệm vụ trên cả 5 môi trường tác chiến (trên không, trên bộ, trên biển, không gian mạng, không gian vũ trụ). Trong đó, chú trọng chỉ đạo việc giải thể, sáp nhập, điều chuyển một số cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng; điều chỉnh và tổ chức lại các đơn vị thuộc khối quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng; khối học viện, nhà trường; khối viện, trung tâm nghiên cứu; khối kho hậu cần-kỹ thuật; khối doanh nghiệp quốc phòng... Về quân số, trên cơ sở của Luật Quốc phòng về tổng quân số, chỉ đạo tiến hành điều chỉnh cơ cấu quân số theo hướng nâng tỷ lệ thành phần hưởng lương để đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng và làm chủ vũ khí, trang bị mới, hiện đại...

Đối với khối cơ quan cấp chiến dịch, chiến lược, tập trung rà soát, điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng giảm đầu mối trung gian và quân số phục vụ, bảo đảm; bổ sung chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, khắc phục sự chồng chéo để tăng cường quân số cho các đơn vị thành lập mới, đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện trên các địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo. Đối với khối đơn vị chiến đấu, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị để điều chỉnh tổ chức theo hướng tăng cường sức mạnh chiến đấu, khả năng cơ động. Sắp xếp lại các nhà máy sản xuất, cơ sở sản xuất quốc phòng và điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế các nhà trường Quân đội phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ. Quá trình rà soát, điều chỉnh bảo đảm tính khách quan, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, theo hướng có giảm, có tăng trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ của từng loại hình cơ quan, đơn vị và lực lượng. Đây là mục tiêu có ý nghĩa rất quan trọng, tạo tiền đề, cơ sở vững chắc để đến năm 2030 phấn đấu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Thứ ba, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhiệm vụ xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” bước đầu đạt được những kết quả quan trọng.

Sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trước yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, Đảng đã lãnh đạo thực hiện điều chỉnh lớn về tổ chức, lực lượng Quân đội, từ 11 quân khu và 2 bộ tư lệnh thành phố rút gọn lại thành 8 quân khu. Đặc biệt, sau chiến tranh bảo vệ biên giới, Quân đội đã giải thể một số quân đoàn trong quân khu, đặc khu Quảng Ninh; một số sư đoàn đủ quân trở thành sư đoàn khung thường trực; năm 2008, tổ chức lại Quân khu Thủ đô thành Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội. Về số lượng, thực hiện giảm đáng kể quân số, bảo đảm duy trì số quân hợp lý, theo hướng “tinh, gọn, mạnh”.

Phát huy những thành tựu đạt được trong điều chỉnh tổ chức, lực lượng, tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, trực tiếp là đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cũng như yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”.

Từ năm 2016 đến nay, Quân đội đã tích cực nghiên cứu tinh giản tổ chức, biên chế theo hướng "tinh, gọn, mạnh", phù hợp với thực tiễn đất nước và yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng; tăng cường lực lượng bảo vệ biên giới, biển, đảo và lực lượng, đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Các cơ sở sản xuất, sửa chữa, công nghiệp quốc phòng, đoàn kinh tế-quốc phòng được điều chỉnh hợp lý, giảm bớt các tổ chức trung gian, từng bước khắc phục sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ. Các đơn vị dự bị động viên, phương tiện kỹ thuật được tổ chức, sắp xếp đủ 100% số đầu mối đơn vị theo quy định. Đã triển khai quyết liệt, đồng bộ và hoàn thành tốt nhiệm vụ trọng tâm năm 2022-“Năm triển khai kế hoạch điều chỉnh lực lượng”; xây dựng, ban hành bộ tiêu chí QĐND Việt Nam hiện đại trong tình hình mới; các giải pháp xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; tiếp tục điều chỉnh tổ chức, biên chế Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh” theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 05-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tổ chức QĐND Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo”.

Quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 05-NQ/TW của Bộ Chính trị và chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xác định chủ đề của năm 2023 là “Năm điều chỉnh tổ chức lực lượng” với mục tiêu cụ thể là triển khai nghiêm túc, chặt chẽ Nghị quyết số 05-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) và Nghị quyết số 230-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về tổ chức Quân đội giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo. Dưới sự chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời của Đảng, trực tiếp là sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, bước đầu đạt được một số kết quả quan trọng; bảo đảm sự cân đối, tương đối đồng bộ giữa các quân chủng, binh chủng, giữa cơ quan và đơn vị, giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên. Đặc biệt, chú trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho Quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu ở các đơn vị; đẩy mạnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng huấn luyện-đào tạo ở các học viện, nhà trường Quân đội theo phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”.

Công nghiệp quốc phòng từng bước phát triển theo hướng hiện đại, lưỡng dụng, đáp ứng một phần nhu cầu vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang và góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, nghiên cứu, thiết kế, làm chủ công nghệ chế tạo và sản xuất được một số loại vũ khí chiến lược cần thiết cho phòng thủ đất nước; từng bước bảo đảm đủ số lượng, nâng cao chất lượng, đáp ứng kịp thời vũ khí, trang bị kỹ thuật cho các đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ biển, đảo... 

Xây dựng QĐND Việt Nam “tinh, gọn, mạnh”, tiến lên hiện đại là chủ trương lớn, đúng đắn, nhất quán, thể hiện tầm nhìn, tư duy chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Đây là yêu cầu vừa mang tính cấp thiết trước mắt, vừa mang tính cơ bản lâu dài; là giải pháp nền tảng để xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo đảm cho Quân đội ta luôn là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Thượng tướng TRỊNH VĂN QUYẾT, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam

 Hôm nay (10-1), tổ chức hội thảo khoa học cấp quốc gia về xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” 
Hôm nay (10-1), Quân ủy Trung ương phối hợp với Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề “Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về xây dựng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam tinh, gọn, mạnh-giá trị, ý nghĩa và định hướng”. Ban tổ chức hội thảo đã nhận được hơn 100 bài viết, tham luận của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội; lãnh đạo một số ban, bộ, ngành Trung ương; các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, học viện, nhà trường trong toàn quân; các tướng lĩnh, cán bộ nghiên cứu, nhà khoa học trong và ngoài Quân đội.

Hội thảo nhằm luận giải, làm rõ cơ sở khoa học về chủ trương lớn, tầm nhìn chiến lược của Đảng về xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”; khẳng định sâu sắc hơn nữa nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, sự điều hành của Chính phủ, trách nhiệm của các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương và cả hệ thống chính trị trong xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Hội thảo cung cấp những luận cứ khoa học có giá trị về quá trình xây dựng, chiến đấu, phát triển và trưởng thành của QĐND Việt Nam; đánh giá đúng thực trạng, nguyên nhân, kinh nghiệm và đề xuất các nội dung, giải pháp thiết thực xây dựng QĐND Việt Nam “tinh, gọn, mạnh”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, "giữ nước từ khi nước chưa nguy" trong giai đoạn mới...
---------------------
1. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 585./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP QUỐC GIA "MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TINH, GỌN, MẠNH GIÁ TRỊ, Ý NGHĨA VÀ ĐỊNH HƯỚNG"!

     Chiều ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Học viện Quốc phòng Quân ủy Trung ương phối hợp với Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia về "Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh giá trị, ý nghĩa và định hướng.
Chủ trì Hội thảo có đồng chí Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Đồng chủ trì có đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, đồng chí Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đồng chí Thượng tướng Trần Việt Khoa, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng tham gia đoàn Chủ tịch. Tham dự Hội thảo có Đại biểu các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương. Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, các tướng lĩnh LLVT và cán bộ, giảng viên của Học viện Quốc phòng. Đồng chí Lương Cường phát biểu khai mạc và định hướng hội thảo, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng phát biểu báo cáo đề dẫn. Các đại biểu tham gia hội thảo đều đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, Bộ Chính trị, Ban Bí thư mà thường xuyên, trực tiếp là Quân ủy Trung ương. Các đại biểu điều khẳng định: xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh có giá trị và ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Thực tiễn gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam như hiện nay là thường xuyên, trực tiếp đều có sự lãnh đạo của Trung ương Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam theo nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tinh, gọn, mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới là khách quan, đúng đắn góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Chúng tôi tiếp tục cập nhật tin tức của Hội thảo./.
Yêu nước ST &TH.

“Trí thức đáng trọng là trí thức hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”

            Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự cảm về một giai đoạn mới của cách mạng nước ta sau khi cuộc kháng chiến thắng lợi-giai đoạn kiến thiết và xây dựng. Do vậy, rất cần phải củng cố sự đoàn kết, thống nhất và phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc, trong đó có đội ngũ trí thức. Tuy nhiên, có một bộ phận cán bộ, đảng viên còn chưa nêu cao tính tiền phong, gương mẫu, chưa chấp hành đúng chủ trương, đường lối của Đảng. Thậm chí, một bộ phận cán bộ, đảng viên có thành kiến, chưa nhìn nhận, đánh giá đúng về trí thức, làm cho nhiều trí thức trong các cơ quan Nhà nước cho rằng, Đảng không coi trọng trí thức.

            Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò to lớn của trí thức trong phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, chăm sóc sức khỏe nhân dân và mối quan hệ giữa trí thức với cách mạng; đồng thời cũng đưa ra tiêu chuẩn về người trí thức chân chính. Lời dạy của Người không chỉ giúp chúng ta có nhận thức và thái độ đúng về trí thức mà còn là một cơ sở để Đảng ta hoạch định đường lối, chủ trương xây dựng đội ngũ trí thức cách mạng. Đây cũng là phương hướng, mục tiêu phấn đấu của mỗi trí thức và là cơ sở để đấu tranh với những nhận thức, quan điểm, tư tưởng sai trái về trí thức.

           Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta luôn coi trọng, đánh giá đúng vai trò của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng. Trên cơ sở đó, quán triệt, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, của Quân ủy Trung ương về xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức trong quân đội; không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo tại các học viện, nhà trường trong toàn quân và có chính sách đúng, cách làm hợp lý để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong quân đội. Cùng với việc đào tạo đội ngũ trí thức về chuyên môn, nghiệp vụ, các cấp trong toàn quân thường xuyên bồi dưỡng đội ngũ trí thức về lập trường tư tưởng chính trị, đạo đức cách mạng, làm cho đội ngũ trí thức tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng chính trị của Đảng; kịp thời phát hiện, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

“Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”

       Bác đã khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của chính trị đối với quân sự và Quân đội. Theo Người, chính trị là hồn cốt, là yếu tố quyết định sức mạnh của Quân đội. Chính trị không chỉ là đường lối, chính sách của Đảng, còn là bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tinh thần, ý chí, nghị lực, quyết tâm chiến đấu hi sinh của cán bộ, đảng viên. Quan điểm này của Hồ Chí Minh không chỉ đúng với học thuyết Mác - Lênin về xây dựng Quân đội của giai cấp vô sản, mà còn kế thừa những giá trị truyền thống đặc sắc về xây dựng Quân đội của ông cha ta, phù hợp với thực tiễn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc của nước ta trong điều kiện còn hạn chế về vũ khí trang bị, phương tiện chiến đấu.

        Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường; xu thế quốc tế hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự bùng nổ của công nghệ thông tin; tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường; các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, cổ súy cho cái gọi là “Quân đội phi chính trị”, “Quân đội phi đảng phái”. Do vậy, Quân đội nhân dân Việt Nam càng phải thấm nhuần hơn nữa lời dạy của Bác về xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác xây dựng Quân đội về chính trị; tăng cường bản chất giai cấp công nhân, nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội vững mạnh; phát huy bản chất, truyền thống vẻ vang của Quân đội ta; tăng cường quan hệ gắn bó mật thiết giữa Quân đội và nhân dân; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, để trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, Quân đội ta vẫn luôn giữ vững, phát huy bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc; thực sự là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước.

Thứ Ba, 9 tháng 1, 2024

Phát triển lý luận, tổng kết thực tiễn, chống quan điểm sai trái để bảo vệ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới

 


Trong cuộc đấu tranh để bảo vệ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh-hệ thống tư tưởng mang ý nghĩa và giá trị thời đại, thì việc đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn là một trong những giải pháp quan trọng góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Vấn đề này luôn là cốt yếu nhằm thống nhất những nhận thức chưa đúng, đồng thời phản bác sự xuyên tạc nhằm hạ thấp, phủ nhận những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.

ÂM MƯU CƠ BẢN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRÊN MẶT TRẬN CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG

 


Sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, các học giả tư sản ngồi đếm từng thời khắc về sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở các nước còn lại, trong đó có Việt Nam. Chúng cho rằng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cùng lắm chỉ tồn tại đến cuối thế kỷ XX. Thế nhưng, công cuộc đổi mới do Đảng Công sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Việt Nam không những đứng vững trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà còn đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực. Điều này càng làm cho chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch điên cuồng chống phá, đồng thời coi Việt Nam là trọng tâm của chiến lược “Diễn biến hòa bình”.

Nhận diện và đấu tranh với các tà đạo đội lốt tôn giáo hiện nay

 


Sự xuất hiện những tà đạo đội lốt tôn giáo được lập ra với mục đích xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, làm xáo trộn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở một bộ phận nhân dân. Hoạt động của các tà đạo đó đã vi phạm pháp luật, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội... Chính vì vậy, việc nhận diện, đấu tranh với các tà đạo đội lốt tôn giáo là rất cần thiết.

ĐẤU TRANH VỚI CÁC HỘI NHÓM “YÊU ĐỒ LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA”


 

Đã gần 50 năm kể từ ngày đất nước thống nhất, những giá trị lịch sử cùng ý nghĩa to lớn của ngày đại thắng vẫn luôn còn vẹn nguyên trong trái tim của mỗi người dân Việt Nam yêu nước. Đó là trang sử vàng hào hùng, chói lọi, làm thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân kiểu mới của Đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh cứu nước lâu dài nhất, khó khăn nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của Nhân dân ta. Đồng thời, là nguồn cổ vũ to lớn cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiến tới thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

HỌC GIẢ ANH ĐÁNH GIÁ CAO NỀN VĂN HÓA PHONG PHÚ, ĐA DẠNG CỦA VIỆT NAM


Các sản phẩm thủ công truyền thống được tạo ra với sự tỉ mỉ, chăm chút, cẩn thận truyền từ đời này qua đời khác là cách Việt Nam bảo tồn lịch sử, văn hóa một cách hài hòa mà nước khác có thể học hỏi.
Theo nhà nghiên cứu chính trị, lịch sử Việt Nam và đảng viên đảng Cộng sản Anh Kyril Whittaker, văn hóa Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng, cũng như chính người dân Việt Nam rất thân thiện, cần cù và sáng tạo.
Trao đổi với phóng viên Thông tấn xã Việt Nam tại London, ông Whittaker cho biết ông có một tấm áp phích in câu nói của Bác Hồ mà ông tin rằng mô tả rất đúng sự đa dạng, phong phú của văn hóa và con người Việt Nam: "Mỗi người tốt, mỗi việc tốt là một bông hoa đẹp, cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp."
Theo nhà nghiên cứu người Anh, câu nói này thể hiện nét độc đáo của Việt Nam với một nền văn hóa phong phú như một rừng hoa lớn mà mỗi loài hoa góp phần tạo nên vẻ đẹp cho cả rừng hoa.
Là một đảng viên đảng Cộng sản Anh có thời gian sống và làm việc tại Việt Nam, ông Whittaker đánh giá nền văn hóa phong phú của Việt Nam trước hết được kế thừa từ lịch sử. Điều có thể thấy rõ qua các thiết kế nghệ thuật và kiến trúc ở các thành phố lịch sử như Huế và Hà Nội với những đền chùa cổ kính, trong đó có Chùa Một Cột và Văn Miếu, những di tích lịch sử nổi tiếng được bảo tồn công phu để du khách tham quan và tìm hiểu về lịch sử Việt Nam.
Ông Whittaker cho rằng sự cần cù và sáng tạo là nét đặc trưng của văn hóa Việt Nam, thể hiện qua sự tồn tại của rất nhiều làng nghề trên khắp Việt Nam.
Theo ông, các sản phẩm thủ công truyền thống tinh xảo được tạo ra với sự tỉ mỉ, chăm chút, cẩn thận truyền từ đời này qua đời khác là cách Việt Nam bảo tồn lịch sử và văn hóa một cách hài hòa mà các nước khác có thể học hỏi. Ngoài ra, sự phong phú của văn hóa Việt Nam cũng được thấy qua những đổi mới, sáng tạo dựa trên văn hóa truyền thống.
Ông Whittaker dẫn chứng nghệ thuật Họa Kim Sa được cải tiến từ nghệ thuật Pháp Lam-Huế truyền thống, kết hợp giữa kim loại và cát để tạo nên các tác phẩm hội họa hiện đại, hay như tour du lịch đêm ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám sử dụng công nghệ 3D mapping kết hợp với kỹ thuật dàn dựng ánh sáng và âm thanh tạo nên màn trình diễn rực rỡ về nền giáo dục và lịch sử trong văn hóa Việt Nam thông qua việc giới thiệu trường đại học đầu tiên của Việt Nam.
Ông cũng chỉ ra rằng chính lịch sử sâu sắc và sự sáng tạo năng động của Việt Nam tạo nên một nền văn hóa hiện đại, luôn đổi mới.
Các di sản văn hóa, nền ẩm thực độc đáo, đời sống thường ngày phong phú cũng là nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam. Ông Whittaker bày tỏ ấn tượng sâu đậm với những món ăn ngon đường phố, những quán càphê tuyệt vời, những bữa tiệc gia đình vui vẻ với màn biểu diễn karaoke và các loại hình âm nhạc truyền thống, hay những chợ nổi và lễ hội sông nước miền Tây.
Theo nhà nghiên cứu người Anh, sau khi sống ở Việt Nam hơn một năm, đất nước này có một vị trí đặc biệt trong trái tim ông, mà phần lớn là do nền văn hóa độc đáo và những con người Việt Nam tốt bụng, thân thiện, vui vẻ, cần cù, sáng tạo, hiểu biết và giàu văn hóa. Ông coi Việt Nam là quê hương thứ hai của mình và không bao giờ cảm thấy lạc lõng khi ở đất nước này.
Nói về chủ trương phát triển văn hóa Việt Nam được nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, ông Whittaker cho rằng phát triển văn hóa không thể tách rời khỏi sự phát triển của đất nước, chỉ ra rằng những chủ trương trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện mục tiêu đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển và giữ gìn sự phong phú của văn hóa Việt Nam.
Văn kiện Đại hội XIII đã đưa ra các mục tiêu hướng tới cải thiện tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo (đã giảm đáng kể), cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tiếp tục phát huy rộng rãi nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cùng nhiều nội dung khác.
Ông chỉ ra rằng một xã hội hạnh phúc và lành mạnh là điều kiện tiên quyết cho một nền văn hóa phong phú và người dân hạnh phúc và Nghị quyết Đại hội XIII tiếp nối truyền thống lâu đời là đảm bảo điều này được thực hiện ở Việt Nam.
Ông Whittaker cũng cho rằng văn hóa Việt Nam tiếp thu phần lớn lời dạy của Bác Hồ và điều này được thể hiện không chỉ trong xã hội Việt Nam mà còn được thể hiện qua các nghị quyết của Đại hội XIII và các kỳ đại hội trước.
Một phần quan trọng trong lời dạy của Bác Hồ đề cao tính tiết kiệm, ngay thẳng và cần cù, chống lãng phí. Điều này được thể hiện xuyên suốt trong nghị quyết về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lấy dân làm gốc để đưa ra mọi quyết định và duy trì tinh thần đoàn kết truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Ông dẫn nghị quyết nêu rõ: “Phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế," chỉ ra rằng văn hóa là động lực của dân tộc Việt Nam, thể hiện khía cạnh độc đáo và đáng quý cũng như sự phong phú của văn hóa Việt Nam. Vì vậy, văn hóa là động lực, tác động mạnh mẽ đến chính sách đối ngoại, kinh tế và đời sống hằng ngày.
Điều này có thể thấy qua các mục tiêu về chính sách môi trường của Việt Nam đề ra trong Nghị quyết Đại hội XIII, trong đó có chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Theo ông Whittaker, mặc dù thoạt nhìn điều này dường như không ảnh hưởng trực tiếp đến văn hóa, nhưng khi xem xét kỹ thì hoàn toàn ngược lại. Nhờ những chính sách như vậy, có thể thấy những thay đổi trong văn hóa của các thành phố nhộn nhịp như Hà Nội với hệ thống phương tiện giao thông công cộng xanh, an toàn, hiệu quả và giá rẻ phục vụ người dân.
Với những chủ trương về môi trường như vậy, Thành phố Hồ Chí Minh có những khu phố đi bộ cho phép giảm ô nhiễm ở một số khu vực lịch sử đông đúc nhất của thành phố, giúp bảo tồn kiến trúc bền vững và tạo ra những thói quen hằng ngày mới cho người dân.
Ở khu vực nông thôn, điều này có nghĩa là bảo vệ môi trường sống cho nông dân, ngư dân và người làm vườn mà nền văn hóa độc đáo của họ có thể bị đe dọa nếu việc bảo vệ môi trường lỏng lẻo có thể kéo theo xói mòn, nước biển dâng và ô nhiễm phá hủy di sản xanh phong phú của Việt Nam vốn nổi tiếng thế giới.
Ông Whittaker tin rằng đặt người dân ở vị trí trung tâm là một khía cạnh độc đáo khác của văn hóa Việt Nam. Phát triển văn hóa không thể tách rời sự phát triển và hạnh phúc của con người, điều đã được phản ánh sâu hơn trong nghị quyết khi bàn về văn hóa: “Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước."
Ông Whittaker chỉ ra rằng, trong bài phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đề cập chi tiết hơn về mối liên hệ này và lưu ý rằng văn hóa thường được nhìn qua lăng kính “giải trí." Tuy nhiên, văn hóa Việt Nam rất phong phú và có chiều sâu.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đề cập tới sự cần thiết phải bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của các vùng, miền, của đồng bào các dân tộc, kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hoá của thời đại.
Năm 2023 là năm lịch sử của công tác đối ngoại, ngoại giao Việt Nam qua những bước phát triển về chất, nâng tầm quan hệ có ý nghĩa chiến lược, lịch sử với hàng loạt nước đối tác quan trọng.
Theo chuyên gia Anh, có thể thấy nhiều trong những vấn đề này đã được thực hiện kể từ Đại hội XIII và Hội nghị Văn hóa toàn quốc.
Đề cập tới vai trò của văn hóa Việt Nam trong quá trình xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế, nhà nghiên cứu Anh nhận định trong những năm gần đây, ẩm thực, âm nhạc và đồ thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã gây chú ý trên khắp thế giới trong khi những hình ảnh về cuộc sống thường ngày của người dân Việt Nam đã trở nên quen thuộc với thế giới.
Ông Whittaker nhấn mạnh sau khi triển khai công cuộc Đổi mới từ năm 1986, Việt Nam đã tăng cường quảng bá nền văn hóa độc đáo của đất nước với thế giới. Ông nhận định, với các mục tiêu của Đại hội XIII và nỗ lực không ngừng của Đảng và nhân dân, Việt Nam ngày càng thành công trong việc giới thiệu với thế giới không chỉ nền chính trị và lịch sử mà cả nền nghệ thuật và ẩm thực phong phú của mình.
Ông Whittaker nhấn mạnh, việc quảng bá nền văn hóa độc đáo của Việt Nam ra thế giới cũng giúp xây dựng đất nước theo nhiều cách.
Trước tiên, ngoại giao văn hóa giúp tăng cường hiểu biết của các quốc gia khác về các sản phẩm văn hóa độc đáo và sự đổi mới, sáng tạo của Việt Nam - điều sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, thông qua ngoại giao văn hóa, Việt Nam ngày càng giúp thế giới hiểu rõ lịch sử phong phú và người dân Việt Nam cũng như cuộc sống hằng ngày của họ, giúp nhiều người có cái nhìn đúng về Việt Nam khi trước đây có nhiều người hiểu sai về Việt Nam và hiện nay vẫn còn những người như vậy. Ngoại giao văn hóa cũng thúc đẩy vai trò đi đầu của Việt Nam trong việc đóng góp cho các tổ chức bảo tồn di sản văn hóa thế giới, đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á.
Ông Whittaker cũng cho rằng chính sách “Ngoại giao cây tre” của Việt Nam là một nét độc đáo. Ngoại giao cây tre dựa trên nguyên tắc "gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển," thể hiện cam kết của Việt Nam trong việc chung tay phát triển thương mại, hữu nghị và hợp tác với tất cả các quốc gia, đồng thời giữ vững bản sắc riêng, bảo vệ độc lập dân tộc và tuân thủ chính sách quốc phòng “4 không."
Nhà nghiên cứu Anh cho rằng văn hóa lấy con người làm gốc và điều này được thấy ở Việt Nam, khẳng định đây là khía cạnh thiết yếu của một nền văn hóa được hình thành dựa trên các nguyên tắc của chủ nghĩa Marx-Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Văn hóa Việt Nam được phát triển trên quan điểm lấy con người làm trung tâm, không vì lợi nhuận, đồng thời sáng tạo một nền văn hóa mới trong khi bảo tồn những truyền thống văn hóa lịch sử phong phú. Bằng cách này, văn hóa vừa phát triển mạnh mẽ, hiện đại, được truyền tải thông qua các phương tiện công nghệ tiên tiến, song vẫn mang tính truyền thống bao hàm lịch sử phong phú của đất nước.
Ông Whittaker tin rằng văn hóa Việt Nam có nhiều điều để đóng góp cho thế giới khi ngày càng có nhiều người ăn món Việt, nghe nhạc Việt, thưởng thức nghệ thuật Việt và mua hàng Việt.
Ông Whittaker bày tỏ mong mong muốn được tiếp cận nhiều hơn với văn hóa Việt Nam ở nước ngoài, cho rằng các ấn phẩm định kỳ, tạp chí và báo chí là một cách tốt nhất để truyền tải nét đẹp văn hóa phong phú của Việt Nam./.
Báo Vietnam+
Có thể là hình ảnh về 11 người và Thiên Đàn