Thứ Tư, 10 tháng 1, 2024

Nâng cao trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu tình hình mới

 

Nâng cao trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu tình hình mới - nhìn từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang

TS DƯƠNG VĂN THÁI
Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang
08:13, ngày 28-11-2023

TCCS - Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(1) và “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”(2), Đảng bộ, cấp ủy các cấp tỉnh Bắc Giang luôn xác định công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, quyết định sự thành công, phát triển của mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương và của Đảng bộ tỉnh.

Ủy viên Bộ Chính trị,  Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khảo sát dự án thi công cầu Như Nguyệt mở rộng, nối hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh _Nguồn: chinhphu.vn

Phục hồi, phát triển kinh tế hiệu quả - nền gốc từ phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên

Bắc Giang là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi Bắc Bộ, diện tích tự nhiên gần 4.000km2, dân số trên 1,9 triệu người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14%. Toàn tỉnh có 10 đơn vị hành chính cấp huyện (9 huyện và 1 thành phố), trong đó có 6 huyện miền núi, 1 huyện nghèo vùng cao (huyện Sơn Động); 209 xã, phường, thị trấn, trong đó có 28 xã đặc biệt khó khăn, 244 thôn, bản đặc biệt khó khăn. Đảng bộ tỉnh có 14 đảng bộ trực thuộc, trong đó có 10 đảng bộ huyện, thành phố; có 88.691 đảng viên, sinh hoạt ở 585 tổ chức cơ sở đảng với 4.317 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở.

Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang nhiều nhiệm kỳ đều nhấn mạnh nội dung nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững. Đặc biệt, để nâng cao trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên, ngày 2-6-2023, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Giang ban hành Chỉ thị số 26-CT/TU, “Về chấn chỉnh tác phong, lề lối làm việc và nâng cao trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới”, trong đó xác định rõ phương châm“3 dám” đối với cán bộ, đảng viên (dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung)“3 hơn” đối với người đứng đầu (quyết liệt hơn, linh hoạt hơn, hiệu quả hơn) và “5 rõ” đối với các cơ quan, đơn vị (rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ trách nhiệm và rõ kết quả). Chỉ trong thời gian ngắn, phương châm “3 dám, 3 hơn, 5 rõ” đã lan tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy đội ngũ cán bộ, đảng viên nâng cao trách nhiệm thực thi nhiệm vụ.

Có thể khẳng định, những nỗ lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực thi nhiệm vụ là yếu tố rất quan trọng giúp Đảng bộ tỉnh Bắc Giang vững vàng vượt qua gian khó, đạt nhiều kết quả toàn diện, nổi bật sau nửa nhiệm kỳ triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XIX. Tỉnh Bắc Giang đã ghi dấu ấn thành công ngay đầu nhiệm kỳ khi trở thành điểm sáng của cả nước về chống dịch COVID-19. Đầu năm 2021, khi đại dịch COVID-19 lần thứ tư bùng phát và diễn biến rất phức tạp, tỉnh Bắc Giang chịu ảnh hưởng nặng nề và trở thành tâm dịch của cả nước. Trong gian khó, tinh thần tận hiến của đội ngũ cán bộ, đảng viên đã được phát huy cao độ. Hình ảnh cán bộ, đảng viên, đội ngũ y, bác sĩ và các lực lượng tuyến đầu căng mình chống dịch; hình ảnh cán bộ, đảng viên lăn lộn tổ chức các “gian hàng không đồng” lo cho nhân dân, công nhân; hình ảnh các thành viên tổ bầu cử trong trang phục bảo hộ, chuyển hòm phiếu đến tận các khu cách ly..., là những hình ảnh lay động lòng người, mãi mãi không thể phai mờ trong ký ức nhân dân. Khi dịch bệnh vừa lắng xuống, nhiều cán bộ, y, bác sĩ của tỉnh lại tình nguyện xung phong vào hỗ trợ các tỉnh, thành phố phía Nam chống dịch. Đây chính là điểm sáng nổi bật, thể hiện tinh thần tận hiến của cán bộ, đảng viên tỉnh Bắc Giang, được Trung ương và nhân dân cả nước ghi nhận, đánh giá rất cao.

Được thử thách, rèn luyện trong những tình huống khó khăn, gian khổ, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng bộ tỉnh ngày càng dày dạn kinh nghiệm và bản lĩnh hơn, quyết tâm đổi mới sáng tạo, góp phần thực hiện thắng lợi nhiều chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020 - 2025, từ đó tỉnh Bắc Giang trở thành điểm sáng của cả nước về phục hồi, phát triển kinh tế. Năm 2021, dù còn nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh vẫn nằm trong nhóm 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước; năm 2022 đạt 19,3% (gấp gần 2,5 lần bình quân chung cả nước), đứng thứ 2 cả nước; 9 tháng đầu năm 2023 đạt 12,25%, đứng thứ 2 cả nước. Các chỉ số đánh giá về môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh đều có sự cải thiện, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2022 xếp thứ 2/63 tỉnh, thành phố. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), chuyển đổi số, chất lượng giáo dục - đào tạo và nhiều lĩnh vực khác luôn nằm trong nhóm các tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước; các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ; an sinh xã hội được quan tâm thực hiện tốt; đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt; quốc phòng, an ninh được bảo đảm, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được tăng cường; tỷ lệ trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố là đảng viên tăng cao so với đầu nhiệm kỳ, đạt 93,4%, vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội. Lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp được nâng lên; khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố vững chắc. Hình ảnh, vị thế của tỉnh tiếp tục được khẳng định và nâng lên tầm cao mới.

Một số nhiệm vụ, giải pháp thời gian tới

Để nâng cao trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, từ đầu nhiệm kỳ 2020 - 2025 đến nay, Tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Thứ nhất, sớm xác định các nhiệm vụ quan trọng cần tập trung triển khai của cả nhiệm kỳ, bảo đảm rõ việc, rõ trách nhiệm, thống nhất ý chí và hành động, làm cơ sở để cấp ủy các cấp phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong triển khai thực hiện nhiệm vụ.

Cùng với việc quán triệt nghiêm túc, bài bản, kịp thời Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương, Nghị quyết Đại hội đại biểu của Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tập trung rất cao, ban hành 41 văn bản trọng tâm ngay trong năm 2021. Đồng thời, trong quá trình thực hiện, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tập trung ban hành trên 150 văn bản lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện trên tất cả lĩnh vực. Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cấp huyện ban hành 1.247 văn bản; cấp ủy cơ sở ban hành 19.058 văn bản (nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, đề án...) cụ thể hóa chủ trương để lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện. Các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh và của các địa phương, đơn vị đã xác định rõ định hướng phát triển, nhiệm vụ, lĩnh vực trọng tâm cần tập trung, xác định rõ lộ trình, nguồn lực, trách nhiệm tổ chức thực hiện ở từng cấp, từng ngành, từng cơ quan, đơn vị, cá nhân liên quan, bảo đảm đồng bộ, có tính khả thi cao. Hệ thống văn bản được ban hành đồng bộ, rõ định hướng, rõ nhiệm vụ, trở thành công cụ, cẩm nang quan trọng để cấp ủy và đội ngũ cán bộ, đảng viên bám sát, nỗ lực thực hiện, từng bước cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ và khát vọng nhiệm kỳ đề ra.

Bên cạnh đó, ngay từ đầu nhiệm kỳ, Thường trực Tỉnh ủy đã tổ chức Hội nghị giao ban trực tiếp với các bí thư, chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã; làm việc với ban thường vụ 10 huyện ủy, thành ủy để nắm tình hình, kịp thời chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và quán triệt, thống nhất quan điểm, định hướng, đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ riêng với từng địa phương. Lãnh đạo tỉnh tổ chức nhiều cuộc gặp mặt, đối thoại với đội ngũ cán bộ, công chức trong tỉnh; lan tỏa tinh thần mọi khó khăn, vướng mắc đều phải có hướng tháo gỡ và phải được tháo gỡ kịp thời. Qua đó, tinh thần quyết tâm, ý thức trách nhiệm, phương pháp, lề lối làm việc của nhiều cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên đã có chuyển biến tích cực.

Thứ hai, đề cao và phát huy vai trò nêu gương, tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp trong thực thi nhiệm vụ.

Việc phát huy vai trò đầu tàu gương mẫu trước hết thể hiện qua sự nêu gương của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh. Đây là điểm mới, có tính sáng tạo khi lần đầu tiên, lãnh đạo chủ chốt của tỉnh tổ chức hội nghị bàn, thống nhất nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược để giao cho từng đồng chí thường trực Tỉnh ủy, lãnh đạo hội đồng nhân dân và lãnh đạo ủy ban nhân dân tỉnh (năm 2022 giao 32 nhiệm vụ, năm 2023 tiếp tục giao 35 nhiệm vụ). Các đồng chí lãnh đạo tỉnh căn cứ nhiệm vụ được giao để cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch công tác, đề ra lộ trình, mốc thời gian hoàn thành; quyết tâm triển khai thực hiện nhiệm vụ với tinh thần phấn đấu năm sau phải đạt kết quả tốt hơn, cao hơn năm trước. Việc lần đầu tiên thực hiện giao nhiệm vụ cho lãnh đạo chủ chốt tỉnh đã có tác dụng nêu gương, lan tỏa mạnh mẽ tinh thần đổi mới, sáng tạo; nhiều huyện ủy, thành ủy, sở, ngành đã học tập cách làm của Thường trực Tỉnh ủy, xác định và giao nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện cho từng đồng chí lãnh đạo chủ chốt của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng đã tập trung chỉ đạo thành nền nếp việc phê duyệt nhiệm vụ trọng tâm hằng năm của các ban, cơ quan của Tỉnh ủy, các đảng đoàn, ban cán sự đảng, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh, cấp ủy cấp huyện (từ năm 2021 đến nay, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã phê duyệt và giao 620 nhiệm vụ trọng tâm). Đồng thời, đã chỉ đạo Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt nhiệm vụ trọng tâm của người đứng đầu các sở, ban, ngành theo thẩm quyền. Các nhiệm vụ trọng tâm đều được cân nhắc, lựa chọn, thẩm định kỹ lưỡng, tập trung vào những nhiệm vụ chính trị quan trọng, những khâu đột phá thúc đẩy sự phát triển của mỗi ngành, địa phương và của tỉnh. Việc giao nhiệm vụ trọng tâm có tác động rất lớn, thúc đẩy đội ngũ cán bộ, đảng viên được giao nhiệm vụ phải tư duy, tìm tòi, nỗ lực thực hiện các giải pháp để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Vai trò nêu gương trong đăng ký và triển khai nhiệm vụ trọng tâm của cán bộ chủ chốt các cấp, trước hết là các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh đã lan tỏa, tác động mạnh mẽ tới nhận thức, hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tỉnh. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ tỉnh đã đăng ký gần 400 nghìn việc tốt, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ đăng ký các năm đều đạt trên 98%. Thực tiễn chứng minh, việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của cấp ủy, lãnh đạo chủ chốt các cấp và của cán bộ, đảng viên đã giúp tháo gỡ, giải quyết hiệu quả nhiều khó khăn, vướng mắc, nút thắt, điểm nghẽn trong thực tiễn; một số nhiệm vụ trọng tâm được triển khai trở thành điểm mới, sáng tạo của tỉnh Bắc Giang, được Trung ương ghi nhận, đánh giá cao.

Đồng chí Dương Văn Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang tiếp xúc, đối thoại với cử tri _Ảnh: TTXVN

Thứ ba, tăng cường giao nhiệm vụ, nâng cao năng lực công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Hằng năm, Tỉnh ủy đã lãnh đạo cấp ủy các cấp chỉ đạo 100% đảng viên cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống và tự kiểm điểm việc thực hiện cam kết trong sinh hoạt chi bộ hằng tháng. Chỉ đạo nghiêm túc việc phân công nhiệm vụ gắn với quản lý đảng viên, bảo đảm 100% đảng viên đang sinh hoạt được phân công nhiệm vụ phù hợp; thực hiện việc phân công đảng viên ở thôn, bản, tổ dân phố phù hợp với trình độ, năng lực; quan tâm phân công nhiệm vụ đối với đảng viên là quân nhân xuất ngũ trở về địa phương. Quản lý chặt chẽ đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng nơi cư trú; lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ của đảng viên là căn cứ đánh giá, xếp loại đảng viên hằng năm.

Đồng thời, Tỉnh ủy tập trung chỉ đạo người đứng đầu cơ quan, đơn vị khi giao nhiệm vụ phải gắn với hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ cấp dưới phát huy cao nhất tính tự chủ, sáng tạo trong công tác; đề cao phong cách làm việc trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân; thông qua giao nhiệm vụ để từng bước khắc phục hạn chế của đội ngũ cán bộ, nhất là cấp cơ sở về kỹ năng giải quyết các vấn đề phức tạp phát sinh; nâng cao kỷ luật, kỷ cương, tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân trong công việc. Đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ tỉnh đã tích cực tham gia thực hiện hiệu quả nhiều nhiệm vụ khó của địa phương, như vận động nhân dân tham gia xây dựng đường giao thông nông thôn, xây dựng nông thôn mới; giải quyết, xử lý vi phạm về đất đai; đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh, trật tự ở cơ sở... Đặc biệt, khi Thường trực Tỉnh ủy giao Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện vai trò nòng cốt triển khai các đề án, kế hoạch trọng tâm của địa phương(3); hàng trăm nghìn cán bộ, đảng viên đã hăng hái tham gia, gương mẫu thực hiện nhiệm vụ, tạo chuyển biến tích cực, rõ nét, một số điển hình đã được các ban, ngành Trung ương đánh giá cao, nghiên cứu nhân rộng.

Thứ tư, quan tâm công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách đối với cán bộ; tăng cường động viên, khen thưởng, khuyến khích cán bộ, đảng viên hăng hái thi đua thực hiện nhiệm vụ.

Căn cứ chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ công tác quy hoạch cán bộ trong toàn Đảng bộ tỉnh(4). Với tinh thần chủ động, Bắc Giang là một trong những tỉnh hoàn thành sớm nhất quy hoạch cán bộ ở cả 3 cấp (trong tháng 5-2022). Việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, bố trí, sắp xếp, điều động, luân chuyển cán bộ được thực hiện đúng quy định. Đặc biệt, trong bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã yêu cầu phải đánh giá, lựa chọn cán bộ có năng lực nổi trội, có sản phẩm cụ thể; thực hiện việc lấy ý kiến nhận xét, đánh giá nhân sự (bằng phiếu kín). Cách thức thực hiện như trên đã tạo động lực cho cán bộ phấn đấu, đổi mới, sáng tạo, khẳng định năng lực của bản thân. Đội ngũ cán bộ được quan tâm quy hoạch, bổ nhiệm, bố trí sử dụng hợp lý đã hăng hái phát huy vai trò, trách nhiệm trong công tác; qua đánh giá, hầu hết cán bộ đều có kết quả công tác tích cực hơn, nổi trội hơn sau khi được quy hoạch, bổ nhiệm.

Để giúp đội ngũ cán bộ có đủ kiến thức, kỹ năng, bản lĩnh chính trị vững vàng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chú trọng chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị,... cho đội ngũ cán bộ các cấp. Từ năm 2021 đến nay, mỗi năm toàn tỉnh đào tạo, bồi dưỡng cho trên 27 nghìn lượt cán bộ theo quy hoạch, yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm. Cùng với đó, chỉ đạo thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ, chính sách cán bộ, tạo động lực để cán bộ nỗ lực phấn đấu thực hiện hiệu quả nhiệm vụ.

Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng thường xuyên coi trọng công tác thi đua, khen thưởng để động viên, khuyến khích cán bộ, đảng viên phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Các phong trào thi đua được phát động, triển khai rộng khắp trên tất cả lĩnh vực, ngành, nghề, địa phương. Nội dung thi đua có nhiều đổi mới, tập trung vào giải quyết khó khăn, thách thức, nhiệm vụ cấp bách đặt ra trong thực tiễn. Thông qua các phong trào thi đua, xuất hiện nhiều cán bộ, đảng viên là điển hình tiên tiến, tiêu biểu xuất sắc trên các lĩnh vực(5). Thi đua, khen thưởng đã tạo động lực giúp nâng cao hiệu quả, trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên; mang lại kết quả hết sức tích cực, đóng góp quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của các cấp, các ngành, địa phương và của tỉnh.

Thứ năm, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh tác phong, lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo tăng cường công tác kiểm tra, giám sát từ nhiều kênh đối với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, tính gương mẫu của đảng viên trong công tác và cuộc sống; nâng cao tính Đảng, tính kỷ luật cho cán bộ, đảng viên. Thông qua kiểm tra, giám sát, khuyến khích cán bộ, đảng viên phát huy ưu điểm, nỗ lực thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao; đồng thời, kịp thời phát hiện, ngăn chặn từ xa, giải quyết từ sớm, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng.

Những nhiệm vụ, giải pháp nêu trên đồng thời cũng là những bài học kinh nghiệm để trong thời gian tới, Tỉnh ủy Bắc Giang tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, giao nhiệm vụ gắn với hỗ trợ, giúp đỡ, động viên đội ngũ cán bộ, đảng viên nỗ lực phấn đấu vươn lên, triển khai thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao. Phát huy trí tuệ, tinh thần đổi mới sáng tạo, vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, cùng cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân toàn tỉnh phấn đấu hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã đề ra, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.

--------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 280
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 113
(3) Mặt trận Tổ quốc các cấp triển khai thực hiện đề án phát huy vai trò là nòng cốt trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Các cấp công đoàn triển khai thực hiện đề án “Nhà trọ công nhân văn minh, an toàn giai đoạn 2022 - 2025”. Hội Nông dân các cấp tổ chức thực hiện Đề án “Hội Nông dân các cấp là nòng cốt trong tổ chức sản xuất nông nghiệp theo hướng hợp tác, liên kết chuỗi giá trị, xây dựng và nâng cao chất lượng các sản phẩm OCOP, giai đoạn 2022 - 2025”. Các cấp hội phụ nữ tập trung triển khai thực hiện Đề án “Tuyên truyền, vận động, hướng dẫn hội viên phụ nữ thực hiện thu gom, phân loại, đổ rác thải sinh hoạt đúng quy định, giai đoạn 2021 - 2025”. Hội Cựu chiến binh các cấp triển khai thực hiện hiệu quả Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của hội viên Hội Cựu chiến binh tỉnh Bắc Giang trong hoạt động tự quản bảo đảm an ninh, trật tự từ cơ sở giai đoạn 2022 - 2025”
(4) Rà soát, bổ sung quy hoạch nhiệm kỳ 2020 - 2025, 2021 - 2026, xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý nhiệm kỳ 2025 - 2030, 2026 - 2031 theo phân cấp
(5) Chỉ trong 2 năm (2021 - 2022) toàn tỉnh đã có 62 tập thể, cá nhân được Nhà nước tặng thưởng Huân chương các loại; 232 tập thể, cá nhân được Thủ tướng Chính phủ tặng Cờ thi đua, Bằng khen; trên 12.000 tập thể, cá nhân được Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh khen thưởn

Những vấn đề mới về phát huy sức mạnh nhân dân trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay

 

TCCS - Ngày 12-10-2023, tại Hà Nội, Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Dân vận Trung ương tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Những vấn đề mới về phát huy sức mạnh nhân dân trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay”.

Chủ trì hội thảo có các đồng chí: PGS, TS Nguyễn Thị Thu Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch - Tổng Thư  ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; TS Phạm Tất Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Dân vận Trung ương; PGS, TS Phạm Minh Tuấn, Phó Tổng Biên tập, phụ trách Tạp chí Cộng sản.

Dự hội thảo có các đồng Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, các đồng chí lãnh đạo ba cơ quan phối hợp tổ chức hội thảo, đại diện lãnh đạo một số ban, bộ, ngành trung ương và một số địa phương, các nhà trường, học viện, các chuyên gia, nhà khoa học.

PGS, TS Nguyễn Thị Thu Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch - Tổng Thư  ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát biểu khai mạc hội thảo _  Ảnh: Quang Hanh

Phát biểu khai mạc hội thảo, PGS, TS Nguyễn Thị Thu Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch - Tổng Thư  ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khẳng định, trong hơn 36 năm đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; thành tựu đó có nguyên nhân là do Đảng luôn kiên định dựa vào nhân dân, phát huy sức mạnh nhân dân và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thực tiễn đã minh chứng, phải thường xuyên củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức thì mới có khả năng quy tụ lực lượng, cả về vật chất lẫn tinh thần, tạo nên động lực, nguồn lực và sức mạnh cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự vững chắc của khối liên minh này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là cơ sở và bảo đảm cho sự vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo điều kiện phát huy hiệu quả sức mạnh nhân dân để Việt Nam phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới.

Phát biểu đề dẫn hội thảo, PGS, TS Phạm Minh Tuấn, Phó Tổng Biên tập, phụ trách Tạp chí Cộng sản nhấn mạnh, hội thảo bàn tới những vấn đề mới về phát huy sức mạnh nhân dân trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay là dịp để bàn thảo, phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát huy vai trò to lớn của nhân dân, đặc biệt là làm rõ hơn những vấn đề mới đặt ra, từ đó, đề xuất những giải pháp phát huy hiệu quả sức mạnh nhân dân để phát triển đất nước, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới.

PGS, TS Phạm Minh Tuấn, Phó Tổng Biên tập, phụ trách Tạp chí Cộng sản phát biểu đề dẫn hội thảo _ Ảnh: Quang Hanh

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (Bổ sung, phát triển năm 2011) nêu 5 bài học kinh nghiệm được tổng kết từ những thành công và cả từ những hạn chế, trong đó có 2 bài học kinh nghiệm quan trọng là: Thứ nhất, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ đưa đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước. Thứ hai, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết, đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế.

Thực tiễn hơn 36 năm đổi mới ngày càng khẳng định việc dựa vào nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh nhân dân là đường lối chiến lược, là nhiệm vụ trung tâm của cả hệ thống chính trị, trong đó vai trò lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định, là nhân tố bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong sự nghiệp cao cả đó, mọi động lực phát triển đều có vai trò quan trọng, cần được phát huy, nhưng đoàn kết toàn dân là động lực chủ yếu và phát huy sức mạnh nhân dân để phát triển đất nước là một luận điểm mang tầm chiến lược, vì xét đến cùng, con người là nhân tố trung tâm, quyết định, có tiềm năng vô tận, bền vững nhất…, một khi được tổ chức và đoàn kết lại sẽ tạo nên sức mạnh vô cùng to lớn. Chính vì vậy, phát huy sức mạnh nhân dân đã trở thành một trong những bài học kinh nghiệm lớn, là phương thức và cũng là điều kiện bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đến nay vẫn còn nguyên giá trị, cần tiếp tục được vận dụng để khơi dậy sức mạnh to lớn của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước.

Theo đó, các tham luận hội thảo tập trung trao đổi, thảo luận làm rõ các nội dung chính sau:

Một là, về vai trò của nhân dân, sức mạnh nhân dân; chủ thể, nội dung, phương thức, cơ chế phát huy vai trò và sức mạnh nhân dân - đây là những vấn đề vừa mang tính khái quát, vừa mang tính cụ thể, vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cần được làm sáng tỏ để cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằm mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc. Một số tham luận đi sâu phân tích, làm rõ vấn đề lý luận cơ bản về “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân”, những thành tố cấu thành, cội nguồn sức mạnh của nhân dân, ý nghĩa của việc phát huy sức mạnh nhân dân trong tiến trình đổi mới, phát triển đất nước trong giai đoạn tiếp theo.

Các đại biểu phát biểu tại Hội thảo khoa học “Những vấn đề mới về phát huy sức mạnh nhân dân trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay”_ Ảnh: Quang Hanh

Hai là, tập trung thảo luận, làm rõ những vấn đề mới đang đặt ra hiện nay về phát huy sức mạnh nhân dân nói chung và trong từng lĩnh vực, địa bàn cụ thể nói riêng; việc làm rõ những vấn đề đặt ra có ý nghĩa rất quan trọng, bởi lẽ chỉ khi nhận diện được đúng và trúng những vấn đề đặt ra thì chúng ta mới có đủ căn cứ xác đáng để đề xuất những quan điểm, giải pháp, biện pháp hữu hiệu nhằm khắc phục hạn chế và thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này.

Ba là, nhiều tham luận hội thảo đã đề xuất quan điểm và những giải pháp đồng bộ, khả thi để phát huy tốt hơn, nhiều hơn, hiệu quả hơn nữa sức mạnh nhân dân trong thời gian tới; đặc biệt là, đã trao đổi, thảo luận chuyên sâu để đề xuất những giải pháp hoàn thiện cơ chế phát huy vai trò, vị trí và sức mạnh của mỗi người dân, cơ chế phát huy vai trò, vị trí và sức mạnh của mọi tầng lớp xã hội, giai tầng, giai cấp… trong quá trình phát triển, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước ta.

Ban Tổ chức hội thảo đã nhận được gần 50 tham luận tâm huyết, trí tuệ, trách nhiệm của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học và nhà lãnh đạo, quản lý, hoạt động thực tiễn, thể hiện sự quan tâm, tập trung làm rõ nhiều nội dung liên quan tới vị trí, vai trò, ý nghĩa của sức mạnh nhân dân và phát huy sức mạnh nhân dân trong bối cảnh mới. Có 11 tham luận được phát biểu tại hội thảo đã đề cập tới nhiều vấn đề rất sâu sắc, phong phú.

Hội thảo góp phần tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; trên cơ sở tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

TS Phạm Tất Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Dân vận Trung ương phát biểu kết luận hội thảo _  Ảnh: Quang Hanh

Kết luận hội thảo, TS Phạm Tất Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Dân vận Trung ương nhấn mạnh, cần tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò to lớn của nhân dân và nội hàm phát huy sức mạnh nhân dân trong giai đoạn hiện nay, hướng tới mục tiêu phát đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

Các báo cáo tham luận đã bàn sâu nội dung lý luận và thực tiễn mới về đại đoàn kết dân tộc, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc để phát huy hiệu quả sức mạnh nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, làm rõ nội dung phát huy sức mạnh nhân dân trong xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, trong công tác dân vận, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo và công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước ta hiện nay.

Đặc biệt, nhiều vấn đề mới đặt ra từ kinh nghiệm thực tiễn phát huy sức mạnh nhân dân của một số địa phương đã cung cấp những luận cứ thực tiễn quan trọng về phương thức, cách làm để qua đó, góp phần hoàn thiện lý luận về vấn đề phát huy mạnh mẽ hơn nữa sức mạnh nhân dân trong bối cảnh phát triển mới của đất nước. Nhiều tham luận đã tổng kết quá trình thực hiện nội dung, quan điểm mang tính chiến lược của Đảng về phát huy sức mạnh nhân dân trong thời gian qua; chỉ ra những kết quả đạt được, cần tiếp tục phát huy và những hạn chế, yếu kém cần nhanh chóng khắc phục trong thời gian tới.

Qua những tham luận tại hội thảo, chúng ta càng có đủ cả cơ sở lý luận và căn cứ thực tiễn để khẳng định rằng, phát huy sức mạnh nhân dân đã trở thành một trong những bài học kinh nghiệm lớn, là phương thức và cũng là điều kiện bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và bài học kinh nghiệm này còn nguyên giá trị, cần tiếp tục vận dụng nhằm khơi dậy sức mạnh to lớn của toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước./.

Gìn giữ, phát huy vai trò khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 

TCCS - Đại đoàn kết toàn dân tộc là cơ sở, nền tảng quan trọng trong phát huy toàn diện sức mạnh trí tuệ, sự sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường, lòng tự tôn, tự hào dân tộc, là động lực lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Gìn giữ và phát huy giá trị truyền thống đại đoàn kết vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng là nhiệm vụ lớn lao và vinh quang của toàn thể cán bộ, nhân dân, của toàn hệ thống chính trị.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cùng tham gia điệu xoè với đồng bào các dân tộc huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tại Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc_Ảnh: TTXVN

Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

“Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, là cội nguồn sức mạnh để dân tộc ta mãi mãi trường tồn và phát triển, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là đường lối chiến lược, có ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam”(1). Hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã khẳng định, khi đất nước đứng trước tình thế, hoàn cảnh gian lao, thử thách mang tính bước ngoặt, “nếu biết khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thì con thuyền cách mạng Việt Nam sẽ vượt qua mọi thác ghềnh, phong ba bão táp, để cập bến bờ vinh quang”(2). Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc là chủ trương xuyên suốt, thống nhất của Đảng ta, được thể hiện trực tiếp trong nội dung nhiều văn kiện, nghị quyết, quyết định, chỉ thị qua các thời kỳ cách mạng. Đến nay, khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố vững chắc, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Trong giai đoạn mới, Đảng ta xác định: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(3). Nhìn chung, việc phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc được biểu hiện trực tiếp ở việc nâng cao vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, cụ thể:

Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Theo đó, yếu tố “quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc là tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(4). Thời gian qua, tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị được đổi mới, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; chú trọng hoàn thiện mô hình tổ chức của hệ thống chính trị, khắc phục sự chồng chéo, bất hợp lý nhằm hoàn thiện thể chế, bảo đảm đồng bộ, liên thông giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tổ chức bộ máy; phương thức lãnh đạo, năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương được đổi mới.

Mặt khác, Đảng tiến hành kiểm tra đối với các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các tổ chức chủ yếu khác trong hệ thống chính trị; phát hiện, xử lý kịp thời tình trạng tham ô, tham nhũng, thoái hóa, biến chất, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; bảo đảm làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị, giữ vững niềm tin trong nhân dân. Nâng cao chất lượng, hiệu quả, hình thành nền nếp trong triển khai các quy định về tổ chức và hoạt động của Đảng, như Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng”.

 Hai là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc phát huy tốt sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước”(5); đồng thời, nhấn mạnh mọi chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và “lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(6). Mặt khác, Nhà nước phải không ngừng “cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”(7) và luôn vì mục tiêu “phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn(8).

Thời gian qua, bộ máy nhà nước được xây dựng theo hướng ngày càng tinh gọn, trong sạch, vững mạnh. Mặt khác, cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 tập trung vào sáu nội dung cơ bản, đó là: cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; cải cách chế độ công vụ; cải cách tài chính công và xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số.

Đến nay, nhiệm vụ xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số được chú trọng, từng bước vận hành hiệu quả các trung tâm hành chính công nhằm đáp ứng yêu cầu của công dân và xã hội; đồng thời, tiếp tục triển khai hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp giải quyết thủ tục hành chính,... từ đó, không ngừng củng cố lòng tin trong nhân dân. Bên cạnh đó, tập trung nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế phân cấp, bảo đảm thống nhất, thông suốt trong lãnh đạo, quản lý, điều hành cũng như phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm trong quản lý kinh tế - xã hội từ Trung ương đến địa phương; phát huy tính chủ động, tích cực, tự chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương, bảo đảm phục vụ tốt nhất người dân, doanh nghiệp. 

 Ba là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội không ngừng đổi mới, sáng tạo, đa dạng hóa phương thức vận động quần chúng, coi trọng các phong trào thực tiễn, hạn chế việc ra nhiều nghị quyết, chỉ thị, chỉ đạo điều hành chung chung; phương thức vận động các giai tầng trong xã hội, đặc biệt là đối với đồng bào theo tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số và người Việt Nam ở nước ngoài được đổi mới; chủ động nghiên cứu, xây dựng, đề xuất chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài để thu hút, huy động mọi nguồn lực cho phát triển.

Hiện nay, hoạt động giám sát và phản biện xã hội của người dân được đẩy mạnh; đồng thời, chú trọng kết hợp chặt chẽ và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước, giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, không hiệu quả. Mặt khác, cơ chế hoạt động, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từng bước được hoàn thiện; có sự hiệp thương, phối hợp thống nhất hành động giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên để phát động, triển khai sâu rộng và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua, vận động từng tổ chức, tầng lớp nhân dân chăm lo, bảo vệ lợi ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên, hội viên, tạo nên sự lan tỏa và tạo dựng niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa trên tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng(9).

Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII đã có sự tổng kết, đánh giá khách quan, khoa học về những kết quả, thành tích đã đạt được cùng những hạn chế, khuyết điểm và bài học kinh nghiệm sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, cụ thể: 1- Công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã được Trung ương, Quốc hội, Chính phủ quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện thông qua các nghị quyết, chỉ thị, luật định, chiến lược hành động và đạt được nhiều kết quả tích cực; trình độ nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về đại đoàn kết toàn dân tộc được nâng lên; sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được phát huy trên mọi lĩnh vực,...; 2- Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn những khó khăn, thách thức cần được giải quyết triệt để, như tình trạng phân hóa giàu nghèo, di cư trái phép; tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp; tỷ lệ cán bộ là người đồng bào dân tộc thiểu số trong chính quyền còn khá thấp; hoạt động chống phá, gây chia rẽ của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, hiện đại, tác động xấu đến mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc; việc cụ thể hóa trong thực tiễn chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở một số lĩnh vực, địa bàn còn hạn chế, hiệu quả chưa cao,... Từ đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra các yêu cầu nhiệm vụ, giải pháp trong tình hình mới, như khẩn trương, nghiêm túc xây dựng, triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, chính sách, đồng thời giữ vững vai trò tiên phong, hạt nhân lãnh đạo của Đảng; không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước trong xây dựng và thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc; tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng theo hướng sáng tạo, thực sự đại diện cho quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, phục vụ công cuộc phát triển đất nước(10),...; thống nhất ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”.

Giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, văn hóa, bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc, nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Về phát huy vai trò nòng cốt, quyết định của quần chúng nhân dân trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Thực tiễn cho thấy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, xác định mục tiêu hạnh phúc, ấm no của nhân dân là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa trên quan điểm xây dựng “các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam(11). Thời gian tới, cần tập trung nghiên cứu, điều chỉnh một số nội dung, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của quần chúng nhân dân trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cụ thể:

Một là, xác định rõ hơn vị trí, vai trò, bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay (giai cấp sản xuất của cải vật chất cơ bản cho xã hội, nơi tập hợp trí tuệ, ý chí giải phóng toàn thể dân tộc, đất nước mỗi khi bị áp bức; giai cấp tiên tiến, đi đầu trong sự nghiệp phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc). Mặt khác, phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong bối cảnh chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh hay tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hiện nay. Đặc biệt, không ngừng nỗ lực xây dựng chính sách nhằm giải quyết tốt lợi ích của nhân dân trong nhiều vấn đề, như thu hồi đất sản xuất, đầu tư nguồn lực cho nông nghiệp, giải quyết lao động; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, nông thôn sinh thái, đô thị hiện đại,...

Hai là, phát huy vai trò, năng lực của đội ngũ trí thức; tập trung đầu tư giáo dục để hình thành đội ngũ trí thức đủ tâm, đủ tầm, có bản lĩnh,... góp phần thúc đẩy tinh thần đổi mới, sáng tạo, tạo chuyển biến tích cực trong tư duy phát triển và quản trị quốc gia. Cần ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quyết định mới về chế độ, chính sách hỗ trợ, đãi ngộ nhằm thu hút, phát huy vai trò đội ngũ trí thức trong bối cảnh mới; đẩy mạnh đầu tư phát triển khoa học - công nghệ hiện đại, phục vụ đổi mới sáng tạo. Phát huy vai trò tư vấn, phản biện, tham mưu chủ trương, chính sách của đội ngũ trí thức.

Ba là, chú trọng phát triển đội ngũ doanh nhân vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu, nâng cao vị thế của Việt Nam theo tinh thần xây dựng “đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc, có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi”(12). Xây dựng Chiến lược quốc gia phát triển đội ngũ doanh nhân đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tạo hành lang pháp lý và môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, an toàn để doanh nhân phát triển(13).

Bốn là, tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, văn hóa, bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc, nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên; tạo mọi điều kiện để mỗi cá nhân phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hòa cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ,... Chăm lo xây dựng, bảo vệ quyền lợi và phát huy vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới. Bên cạnh đó, coi trọng, ghi nhớ công lao, đóng góp của các thế hệ cán bộ lão thành cách mạng, cựu chiến binh, cán bộ hưu trí, người cao tuổi trong xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Phát huy vai trò của cựu chiến binh trong giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tham gia xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tích cực giúp nhau làm kinh tế, cải thiện, nâng cao đời sống, làm giàu hợp pháp, góp phần xây dựng, phát triển đất nước(14). Mặt khác, tích cực tiếp thu, phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, học tập,... của người cao tuổi trong xã hội, cộng đồng và gia đình.

Năm là, bảo đảm sự bình đẳng, công bằng giữa các dân tộc, kiên định mục tiêu đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển. Quan tâm tới tính đặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc; phòng, chống tư tưởng kỳ thị dân tộc, dân tộc cực đoan, dân tộc hẹp hòi; nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tiếp tục vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước.

Sáu là, khơi dậy mọi tiềm năng, sức sáng tạo của mỗi người dân Việt Nam góp phần để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Bên cạnh đó, tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các chính sách nhằm xác lập địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế và đời sống, hòa nhập với xã hội nước sở tại cho người Việt Nam ở nước ngoài; nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự trọng, tự tôn dân tộc; động viên đồng bào hướng về đất nước. Đẩy mạnh vận động người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là thế hệ trẻ, gắn bó với quê hương, trở thành cầu nối giữa Việt Nam với các nước(15).

Những giải pháp, nhiệm vụ để phát huy hơn nữa vai trò khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm xây dựng đất nước ngày càng giàu, mạnh, văn minh

Thứ nhất, chủ động, tích cực đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, quán triệt sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, trách nhiệm và hành động của cơ quan, tổ chức, đơn vị (nhất là cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, người đứng đầu, đảng viên, cán bộ, công chức,...). Nâng cao hiệu quả và tiếp tục đổi mới, chú trọng đầu tư nhiều hơn nữa cho công tác dân vận (về con người, nguồn lực, phương tiện,...) để sẵn sàng “đi trước một bước”, làm cho nhân dân hiểu, nhân dân tin, nhân dân ủng hộ theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để ý Đảng luôn hợp lòng dân.

Bên cạnh đó, thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo đảm an sinh, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân. Đa dạng hóa các hình thức vận động quần chúng, tổ chức thực hiện sâu rộng, hiệu quả phong trào thi đua “dân vận khéo”; nhân rộng những mô hình dân vận điển hình, hiệu quả nhằm lan tỏa những giá trị tốt đẹp trong toàn xã hội. Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật ngay tại cơ sở kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, nhất là những vấn đề bức xúc xã hội nổi cộm, các vụ việc phức tạp kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Thực hiện tốt công tác tiếp dân, tăng cường đối thoại, giải quyết thực chất, dứt điểm các vụ việc phức tạp; đồng thời, cần xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”.

Thứ hai, phát huy tiềm năng, sức mạnh của nhân tố con người, khơi dậy khát vọng, tinh thần và ý chí phát triển, lòng yêu nước, niềm tự hào, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận toàn dân tộc. Chú trọng phát huy giá trị văn hóa, tính tích cực chính trị, năng lực lao động, cống hiến, đổi mới sáng tạo của con người Việt Nam; nâng cao ý chí tự lực, tự cường trong mỗi người dân trước vận mệnh và tương lai của đất nước. Coi trọng việc phát huy động lực, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên cho các lĩnh vực then chốt; tập trung nâng cao, tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục - đào tạo, đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; xây dựng chính sách mới có tính đột phá hơn để thu hút, sử dụng, trọng dụng, đãi ngộ người tài....

Thứ ba, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả lĩnh vực của đời sống, từ kinh tế - xã hội đến chính trị, văn hóa,...; xây dựng hình thức thích hợp để nhân dân tham gia ý kiến; tổ chức chu đáo, thiết thực việc lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân, bảo đảm để nhân dân được thẳng thắn bày tỏ ý kiến đóng góp; khuyến khích trao đổi, tranh luận với tinh thần xây dựng về những vấn đề có ý kiến khác nhau. Giải quyết tốt nhiệm vụ kiểm soát trong thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”... Đồng thời, cần khắc phục mọi biểu hiện “vi phạm dân chủ”, “coi nhẹ dân chủ” hoặc “dân chủ hình thức”; phát huy dân chủ, đề cao pháp luật, kỷ luật, kỷ cương trong toàn xã hội; tăng cường giám sát, tổng kết thực hiện nghị quyết, chỉ thị.

Thứ tư, giải quyết hài hòa, thống nhất về lợi ích cơ bản, chủ yếu giữa các giai cấp, tầng lớp, giữa các vùng, miền, giữa các dân tộc, tôn giáo nhằm tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong toàn xã hội. Lợi ích đó phải được thể hiện qua mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Theo đó, trong mọi quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phải lấy lợi ích của nhân dân làm cơ sở, cần đem “tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” và phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Thứ năm, đấu tranh chống các âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị dùng mọi thủ đoạn thâm độc hòng thực hiện âm mưu “chia để trị”; chúng tìm mọi cách chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những thủ đoạn, chiêu bài tinh vi, thâm độc hòng phá hoại đất nước ta từ bên trong. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên kích động nhân dân, thổi phồng, khuếch đại các vấn đề “nhạy cảm” trong xã hội; lợi dụng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, những yếu kém trong quản lý của các cấp chính quyền ở một số nơi; thực hiện những chiêu trò đánh lạc hướng dư luận,... hòng khiến người dân từ nghi ngờ, dẫn đến mất lòng tin vào Đảng, chế độ, làm suy giảm tinh thần cách mạng của nhân dân. Do đó, cần đặc biệt chú trọng, nâng cao tinh thần cảnh giác, trách nhiệm công dân, sự đồng thuận xã hội, ý thức, trách nhiệm cộng đồng, tự lực, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chống mọi biểu hiện tư tưởng hẹp hòi, cục bộ, chủ nghĩa cá nhân,... để không ngừng củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.

----------------------------

(1), (2) Nguyễn Phú Trọng: Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 15, 17
(3), (4), (5), (6), (7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 34, 34 - 35, 118, 96 - 97, 116, 46
(8), (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 46, 27
(10) Xem: Nguyễn Phú Trọng: “Nêu cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm, phát huy kết quả đạt được từ đầu nhiệm kỳ, thực hiện thật tốt các nghị quyết của hội nghị, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; chuẩn bị thật tốt đại hội đại biểu đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, Tạp chí Cộng sản, số 1024 (tháng 10-2023), tr. 11 - 12
(11) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 46 - 47
(12) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 167 - 168
(13), (14) Xem: Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”
(15) Xem: Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”

Cảnh giác những chiêu trò xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Tây Nguyên

 Tây nguyên là vùng có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và quốc phòng, an ninh của đất nước ta. Đồng thời, đây cũng là địa bàn trọng điểm mà các thế lực thù địch trong và ngoài nước tập trung hoạt động chống phá trên nhiều mặt, nổi lên gần đây là hoạt động xuyên tạc về tôn giáo do các đối tượng FULRO lưu vong thực hiện…

Từ thực tiễn đời sống xã hội cho thấy sinh hoạt tôn giáo hiện nay ở Việt Nam nói chung và các tỉnh Tây Nguyên nói riêng được tôn trọng và bảo vệ theo quy định pháp luật. Tôn giáo đã được Đảng, Nhà nước ta tạo mọi điều kiện hoạt động tốt nhất, thế nhưng thời gian gần đây, các đối tượng FULRO lưu vong vẫn không ngừng xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Tây Nguyên bằng những luận điệu hết sức lố bịch nhằm vu khống, chống phá, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Để thực hiện mưu đồ này, bọn chúng tìm cách tiếp xúc với những cá nhân, nhân vật bất mãn trong các tôn giáo để phỏng vấn, ghi hình… sau đó tung lên mạng với luận điệu vu khống: “Chính quyền vẫn hạn chế tôn giáo”, “Chính quyền áp đặt tôn giáo”… nhằm mục đích vu cáo chính quyền Việt Nam không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên tổ chức nghi lễ cúng mừng năm mới.

Điển hình như trang “Người Thượng vì công lý” đã đăng tải nhiều bài viết xoay quanh nội dung “Chính quyền tấn công Đạo Tin lành người Thượng ở Tây Nguyên” nhân vụ khủng bố ở huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 11/6 vừa qua trên Facebook với lời lẽ xuyên tạc chính sách, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Cụ thể, cuối tháng 12/2023, trang này đã liên tục “rêu rao” với những lời lẽ hết sức lố bịch như: “Chính phủ Việt Nam chấm dứt chính sách đàn áp tôn giáo đối với người Thượng. Như hôm nay, chính quyền đang giữ người không thông báo đối với thầy Y Cung Niê, Y Nuêr Buondap, Y Thinh Niê, Y Phúc Niê… hiện nay Công an đang giữ điều tra về vấn đề yêu cầu chính quyền hướng dẫn cách đăng ký sinh hoạt tôn giáo tại nhà, chính quyền gọi mời làm việc với nội dung hướng dẫn về việc sinh hoạt nhưng từ hôm qua chưa có thông tin hay thông báo gì về cho gia đình và đã giữ người tùy tiện…”.

Hay như trước đó vào ngày 22/11/2023, trang này từng viết “Chính quyền Đắk Lắk gia tăng đàn áp “Hội thánh Tin lành Đấng Christ Tây Nguyên””. Chúng cho rằng, chính quyền một số địa phương của tỉnh Đắk Lắk tăng cường sách nhiễu và đàn áp các thành viên thuộc “Hội Thánh Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên”, buộc họ không được tụ tập cầu nguyện và phải rời bỏ nhóm tôn giáo này. Trang này rao giảng: “Khi hàng chục tín đồ đang tập trung tại nhà của bà H Ik Kbuôr, là vợ của “thầy truyền đạo” Y Krec Byă ở xã Ea Bar, huyện Buôn Đôn vào ngày 15/11 thì Công an và cán bộ địa phương xông vào yêu cầu giải tán và lập biên bản về việc tụ tập sinh hoạt tôn giáo trái phép. Đến ngày 17/11, Công an huyện Buôn Đôn đã triệu tập nhiều người tham gia “buổi sinh hoạt tôn giáo” tại nhà bà H Ik Kbuôr để “tra khảo” và “ép” ký cam kết không tái phạm…”.

Theo Công an tỉnh Đắk Lắk, đây chính là những đối tượng tham gia sinh hoạt tôn giáo trái phép, tập trung đông người, không xin phép cũng như chưa được cơ quan chức năng đồng ý, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Hay như trên trang Facebook cá nhân của đối tượng Y Quynh Buon Dap, kẻ cầm đầu cái gọi là “Nhóm người Thượng vì công lý” đang sống lưu vong tại Thái Lan và đang bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk ra lệnh truy nã đặc biệt về tội: “Khủng bố” liên quan đến vụ việc ngày 11/6 tại Đắk Lắk.

Trên trang cá nhân của mình, đối tượng Y Quynh Buon Dap rêu rao: “Những hoạt động của tôi là về lĩnh vực tôn giáo và đòi nhân quyền cho người Thượng bản địa tại Việt Nam. Mọi hoạt động của “Nhóm Người Thượng vì công lý” với mục đích là đấu tranh cho công lý và đấu tranh ôn hòa. Tôi biết rằng nhà nước Việt Nam đã lợi dụng vụ này và vu khống cho “Nhóm Người Thượng vì công lý” của chúng tôi…”.

Trên thực tế, cái gọi là “Nhóm Người Thượng vì công lý” do đối tượng Y Quynh Buon Dap cầm đầu, với các hoạt động chống phá, như: Chỉ đạo cho các đối tượng là người dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk, Kon Tum, Phú Yên lợi dụng, núp bóng tôn giáo để lôi kéo người dân, tập hợp lực lượng chống phá Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”; liên hệ, vận động các cơ quan ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam can thiệp, giúp đỡ để “Nhóm Người Thượng vì công lý” được hoạt động công khai trong nước.

Ngoài ra, đối tượng Y Quynh Buon Dap cũng đã liên tục liên kết với một số tổ chức phản động người Việt ở nước ngoài như: “Ủy ban cứu người vượt biển - BPSOS”, nhóm “Hội thánh Tin lành Đấng Christ Tây Nguyên”… sử dụng không gian mạng, tổ chức tập huấn nhân quyền, tự do tôn giáo nhằm đào tạo, huấn luyện, tạo dựng “ngọn cờ” trong nước và thu thập thông tin, tình hình trong nước để xuyên tạc, vu cáo, chống phá.

Thượng tá Lữ Thị Anh Đào, Phó trưởng Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Đắk Lắk cho biết, trước tình hình trên, các lực lượng của Công an tỉnh đã đấu tranh quyết liệt, không để các đối tượng đội lốt tôn giáo hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. “Đến nay, qua công tác cảm hóa giáo dục, đấu tranh xử lý của lực lượng Công an tỉnh, đã có nhiều trường hợp bị các đối tượng phản động dụ dỗ, lôi kéo, tin theo đã nhận thức rõ sai phạm, từ bỏ và quay trở lại sinh hoạt tôn giáo thuần túy, ổn định trong các tổ chức, nhóm phái Tin lành hợp pháp”, Thượng tá Đào thông tin. (báo CAND)

Thực tế bác bỏ luận điệu sai trái

Tính đến cuối năm 2022, cả nước có tổng số 93.438 hội, trong đó gồm 571 hội hoạt động phạm vi cả nước hoặc liên tỉnh và 92.854 hội hoạt động phạm vi địa phương. Cả nước có 125.342 công đoàn cơ sở trên tổng số 10.579.045 đoàn viên công đoàn; tỷ lệ đoàn viên trên công nhân lao động ở cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp là 87%. Các hội ở Việt Nam phát triển đa dạng, phong phú, có mặt trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Nhiều hội đã đóng góp tích cực trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật, thực hiện giám sát, phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Bên cạnh việc tạo điều kiện thuận lợi cho các hội, tổ chức trong nước hoạt động, Việt Nam cũng rất quan tâm, hỗ trợ các tổ chức phi chính phủ (NGO) hoạt động. Điều này thể hiện rõ trong các nghị định của Chính phủ, trong đó phải kể đến Nghị định 80/2020/NĐ-CP ngày 8/7/2020 về quản lý và sử dụng viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài dành cho Việt Nam; Nghị định số 58/2022/NĐ-CP, ngày 31/8/2022 về đăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam... Theo thống kê đến cuối năm 2022 đã có hơn 900 tổ chức NGO nước ngoài có quan hệ và hoạt động tại Việt Nam, nhiều NGO đã có những đóng góp tích cực cho sự phát triển của Việt Nam được Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam ghi nhận, đánh giá cao.

Tự cho mình là tổ chức nhân quyền, vậy nhưng CIVICUS lại phớt lờ những thực tế nói trên, không quan tâm, không tiếp xúc, trao đổi với các tổ chức có thẩm quyền để từ đó có những đánh giá khách quan, chân thực, đúng đắn. Rõ ràng, CIVICUS chỉ tìm cách đưa ra những con số, thông tin sai trái để lấy cớ chống phá Việt Nam, không thực hiện theo đúng tôn chỉ, mục đích đề ra.

Trước bối cảnh tình hình thế giới còn nhiều biến động phức tạp nhưng Việt Nam vẫn là điểm đến của hòa bình, đoàn kết, hữu nghị. Các nước lớn đều xem Việt Nam là đối tác quan trọng, trong đó chỉ tính năm 2023, Việt Nam đã nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện với Hoa Kỳ, Nhật Bản. Lãnh đạo các quốc gia khi đến Việt Nam đều ấn tượng, đánh giá cao sự phát triển của Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Những đóng góp của Việt Nam trong công tác nhân quyền, cho hòa bình thế giới đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việt Nam đã gửi đi những thông điệp với bạn bè quốc tế là đất nước thanh bình, biểu tượng của đấu tranh, bảo vệ, thực thi quyền con người, quyền công dân, là điểm đến đầu tư lý tưởng cho các đối tác kinh tế.

Một đất nước như vậy, không thể bị bóp méo, không thể xuyên tạc là quyền tự do “bị đóng kín”, “bóp nghẹt” như luận điệu của CIVICUS. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam sẵn sàng trao đổi, chia sẻ với tất cả các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ trên tinh thần xây dựng, cởi mở, hợp tác để cùng nhau phát triển.