Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2025

Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đáp ứng yêu cầu trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc

 Với thế và lực đã tích lũy được sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển vươn mình của dân tộc Việt Nam trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược trong kỷ nguyên phát triển mới, phụ thuộc rất lớn vào chất lượng nguồn nhân lực, trước hết là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược phải được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, đổi mới tư duy, tầm nhìn, phương pháp, phong cách công tác, hội tụ cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, uy tín.

Ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong kỷ nguyên mới

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(1). Phẩm chất, đạo đức và năng lực chuyên môn của cán bộ quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(2). Do vậy, Người luôn quan tâm đặc biệt đến đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

Thực hiện tư tưởng của Người, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng và dày công đào tạo, xây dựng các thế hệ cán bộ tài đức, trung kiên, tận tụy phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Đảng xác định công tác xây dựng đội ngũ cán bộ là nội dung “then chốt” của công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Bởi vì, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược là bộ phận làm thành trụ cột, giữ vị trí then chốt, trọng yếu của hệ thống chính trị và đất nước, có chức năng hoạch định và lãnh đạo thực hiện quyết sách chiến lược của Đảng và Nhà nước. Cho nên, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ.

Đại hội XIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ là “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Hoàn thiện thể chế, quy định về công tác cán bộ, tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”(3). Như vậy, vai trò, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là vô cùng quan trọng để thực hiện mục tiêu này.

Trong bài phát biểu với học viên tham gia các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ quy hoạch Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ luôn được xác định là công việc “then chốt” của công tác xây dựng Đảng. Tổng Bí thư nhấn mạnh tới kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Theo đó, đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao… Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới là Đại hội XIV của Đảng(4). Như vậy, với việc xác định đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thông điệp rất mạnh mẽ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ là phải đổi mới tư duy, đổi mới cách thức tổ chức thực hiện, đề ra những giải pháp cụ thể để xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ cấp chiến lược nói riêng phải thực hiện nhiệm vụ chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực, phẩm chất, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, phục vụ sứ mệnh vĩ đại đưa Việt Nam vươn mình, sánh vai với các cường quốc trên thế giới.

Một số kết quả đạt được trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược thời gian qua

Từ nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng ta đã đặt ra mục tiêu tập trung xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Theo đó, đối với đội ngũ cán bộ cấp chiến lược: Thực sự tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, phẩm chất, năng lực và uy tín; trên 15% dưới 45 tuổi; từ 40% - 50% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế(5). Bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Tổ chức Trung ương đã thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp; trong đó, đặc biệt chú trọng công tác bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Khóa XII, đã tổ chức 2 lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với 181 đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, bộ trưởng, bí thư tỉnh ủy, thành ủy và tương đương (Ủy viên Trung ương Đảng và Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa XII là 169 đồng chí; bộ trưởng, bí thư tỉnh ủy, thành ủy và tương đương không tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII là 12 đồng chí); 1 lớp bồi dưỡng đối với 20 đồng chí Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng; 5 lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với 222 đồng chí cán bộ quy hoạch cấp chiến lược khóa XIII; tổ chức được 224 lượt cán bộ cấp chiến lược và quy hoạch cấp chiến lược đi bồi dưỡng ở nước ngoài theo Đề án 165 của Bộ Chính trị và 29 đoàn, với 390 lượt cán bộ đi bồi dưỡng theo các thỏa thuận hợp tác đào tạo cán bộ với Trung Quốc, Nhật Bản, Xinh-ga-po. Khóa XIII, đã tổ chức 3 lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng đối với 148 đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng; 1 lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng đối với 20 đồng chí Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng; 3 lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng đối với 118 đồng chí phó bí thư tỉnh ủy, thành ủy, chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 3 lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với 149 đồng chí cán bộ quy hoạch Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV (theo kế hoạch, sẽ tổ chức lớp thứ tư trong thời gian tới); tổ chức 24 đoàn, với 362 lượt cán bộ cấp chiến lược và quy hoạch cấp chiến lược đi bồi dưỡng ở nước ngoài (trong đó: 14 đoàn, với 208 lượt cán bộ đi nghiên cứu, học tập theo chương trình của Kết luận số 39-KL/TW, ngày 18-7-2022, của Bộ Chính trị, “Về chủ trương bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước”; 10 đoàn, với 154 lượt cán bộ đi bồi dưỡng theo các thỏa thuận hợp tác đào tạo cán bộ với Trung Quốc, Nhật Bản, Xinh-ga-po). Bên cạnh đó, Ban Tổ chức Trung ương đã phối hợp với Bộ Quốc phòng tổ chức 40 lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức quốc phòng - an ninh dành cho 2.348 cán bộ cấp chiến lược Khóa XII và Khóa XIII (đối tượng 1).

Về chương trình, nội dung: Chương trình, nội dung bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với đội ngũ cán bộ cấp chiến lược được chuẩn bị chu đáo, công phu, với mục tiêu bổ sung và cập nhật có tính hệ thống kết quả nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; cung cấp kiến thức cơ bản, hiện đại về khoa học lãnh đạo, quản lý, góp phần củng cố nhận thức về chính trị, hình thành tầm nhìn, tư duy chiến lược của người cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đồng thời, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược được trang bị thêm nhiều kiến thức, phương pháp tư duy, phương pháp tiếp cận và kỹ năng lãnh đạo, quản lý, nhất là được rèn luyện và bổ sung kỹ năng nghiên cứu tổng kết thực tiễn, kỹ năng hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện, kỹ năng kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả quyết định quản lý, kỹ năng phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin, nghiên cứu và dự báo tình hình, kỹ năng xử lý tình huống… Bên cạnh đó, qua việc học tập chuyên đề, thảo luận, nghiên cứu thực tế và duy trì kỷ cương, kỷ luật của lớp bồi dưỡng đã góp phần rèn luyện, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ về lý tưởng cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống, tác phong của người lãnh đạo, quản lý, xây dựng ý thức trách nhiệm của người cán bộ cấp cao trước Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Về công tác tổ chức các lớp bồi dưỡng: Ban Tổ chức Trung ương với chức năng là cơ quan tham mưu của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã luôn chủ động, tích cực trong xây dựng kế hoạch, tham mưu thành lập ban chỉ đạo lớp bồi dưỡng; theo dõi, giám sát việc thực hiện kế hoạch, bảo đảm đạt mục tiêu, yêu cầu và hiệu quả của chương trình bồi dưỡng. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức triển khai kế hoạch bồi dưỡng, chủ trì biên soạn nội dung bồi dưỡng hoặc đặt hàng với chuyên gia, nhà khoa học, nhà lãnh đạo, quản lý để xây dựng chuyên đề, bài giảng; chủ trì bố trí báo cáo viên hoặc mời báo cáo viên có năng lực, uy tín. Các cơ quan liên quan, như Văn phòng Trung ương Đảng, Bộ Công an, Ban Bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương… theo chức năng, nhiệm vụ đã chủ động, nêu cao tinh thần trách nhiệm của thành viên Ban Chỉ đạo. Sự phối hợp chặt chẽ và thực hiện chế độ thông tin kịp thời, báo cáo thường xuyên của các cơ quan liên quan đã góp phần quan trọng vào thành công của lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức dành cho đội ngũ cán bộ cấp chiến lược.

Nhìn chung, công tác bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đã được thực hiện bài bản, nền nếp, khoa học từ các nhiệm kỳ gần đây và ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ này, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của đất nước trong giai đoạn vừa qua, trở thành hình mẫu để cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới noi theo, học tập trong tổ chức bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo phân cấp. Tuy nhiên, trước bối cảnh, yêu cầu của tình hình mới, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ cấp chiến lược nói riêng cần tiếp tục được hoàn thiện và đổi mới mạnh mẽ để nâng chất lượng, hiệu quả lên tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Nhận diện bối cảnh trong kỷ nguyên mới và yêu cầu mới về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược

Nhận diện bối cảnh trong kỷ nguyên mới

Chúng ta đang sống trong một “thế giới phẳng” với biến đổi rất nhanh và khó lường. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, hình thành phương thức sản xuất số, đòi hỏi chuyển đổi số là một tất yếu. Trong những năm tới, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược cũng nằm trong bối cảnh đó, có nhiều thời cơ, thuận lợi, nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức, đòi hỏi đổi mới mạnh mẽ nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tình hình thực tiễn. Do vậy, cần nhận diện chính xác, phân tích đầy đủ bối cảnh hiện tại và dự báo tương lai để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức.

Thứ nhất, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng đặt ra yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Quá trình toàn cầu hóa, chiến tranh, căng thẳng giữa các nước lớn, chủ nghĩa bảo hộ, dịch bệnh, biến đổi khí hậu… đã và đang tác động rất lớn đến việc sắp xếp lại trật tự kinh tế - chính trị trên thế giới. Thực tiễn hiện nay cho thấy trong thế giới mới khó có một quốc gia hoặc liên minh nào có thể thao túng vấn đề toàn cầu. Từ đó, Việt Nam có cơ hội hợp tác với nhiều quốc gia trên thế giới. Đến năm 2030, Việt Nam được dự báo sẽ trở thành một trong những điểm đến chính của thương mại thế giới. Vì vậy, trước thời cơ đó, chúng ta cần tập trung phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao; phải phát triển được đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược, có đủ năng lực, phẩm chất và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ hai, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thế giới đã bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việt Nam cũng nhanh chóng hình thành phát triển số, trong đó đồng bộ trình độ phát triển lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất số dựa trên nền tảng chuyển đổi số trong xã hội. Từ đó, yêu cầu đặt ra đối với công tác giáo dục, đào tạo nhân lực nói chung và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược nói riêng là thích ứng với phương thức sản xuất số, chuyển đổi số trong xã hội. Với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, để gia tăng năng lực nội sinh thì yêu cầu cần thiết là hợp tác quốc tế về khoa học - công nghệ. Hợp tác, làm việc hiệu quả, nhưng không lệ thuộc vào nước ngoài là một nhiệm vụ, thách thức lớn đối với đội ngũ cán bộ cấp chiến lược.

Thứ ba, giáo dục - đào tạo dựa trên cơ sở vật chất - kỹ thuật của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và phương pháp dạy - học tiên tiến. Trong một thế giới biến đổi khó lường và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, xuất hiện ngày càng nhiều xu thế, mô hình, công nghệ đào tạo và học tập mới làm thay đổi cách thức theo đó tổ chức, cá nhân học tập. Việc chuyển dịch, cải tiến hình thức, phương thức đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ cán bộ là xu thế không thể đảo ngược. Với mỗi cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ cấp chiến lược nói riêng, việc học tập suốt đời đã trở thành một yêu cầu bắt buộc, là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi. Do đó, lựa chọn hình thức, phương thức đào tạo, bồi dưỡng mới, gắn với sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trở thành xu thế tất yếu trong giai đoạn hiện nay và tương lai.

Yêu cầu về xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới

Xuất phát từ bối cảnh mới, Đảng ta đã xác định kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thể hiện trong 4 điểm quan trọng liên quan tới đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ các cấp, đó là:

Một là, Đảng ta đã xác định thời điểm từ Đại hội XIV của Đảng, đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với đích đến là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu(6).

Hai là, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để cải thiện vị thế của mình trên bản đồ thế giới; bởi vì, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(7).

Ba là, mục tiêu, yêu cầu của Đảng đối với xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trong đó có đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ đã được nêu cụ thể trong Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII(8) phải quyết tâm thực hiện.

Bốn là, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với đội ngũ cán bộ cấp chiến lược trở thành yêu cầu bắt buộc để thích ứng với tình hình thực tiễn thay đổi từng ngày(9).

Đội ngũ cán bộ cấp chiến lược là lực lượng lãnh đạo nòng cốt của đất nước, là hình ảnh trực tiếp tiêu biểu cho trí tuệ của Đảng, Nhà nước. Uy tín của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược góp phần củng cố và tăng cường uy tín của Đảng và Nhà nước. Ngày 2-1-2020, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 214-QĐ/TW, về “Khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”. Theo đó, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, ngoài việc đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ nói chung, còn cần có yêu cầu riêng về năng lực, phẩm chất và đạo đức. Để xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới, cần chú trọng một số nội dung, yêu cầu cơ bản sau đây:

Thứ nhất, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược phải thực sự tiêu biểu về đạo đức cách mạng, trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng và nhân dân, thực sự phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của nhân dân làm cơ sở cho mỗi quyết định, hành vi; thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, thể hiện khát vọng vươn lên của dân tộc.

Thứ hai, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược phải là những người có trí tuệ lớn, có tư duy chiến lược; thực sự thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; biết vận dụng lý luận vào thực tiễn, dùng lý luận để soi sáng thực tiễn và từ thực tiễn mà tổng kết, phát triển lý luận. Đội ngũ cán bộ cấp chiến lược phải có khả năng dự báo trên cơ sở khoa học để luôn chủ động trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo; có năng lực tổ chức thực tiễn, thực hiện hiệu quả Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ ba, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược phải có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế, có tri thức, phong cách phù hợp, am hiểu về luật pháp, đời sống chính trị, kinh tế, xã hội quốc tế; có tầm nhìn thời đại để đối thoại, trao đổi, khẳng định được diện mạo và tầm vóc của dân tộc, về khát vọng của dân tộc và mong muốn được đóng góp chung vào sự phát triển của nhân loại.

Thứ tư, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược phải có năng lực tiếp cận phương thức sản xuất số, hiểu biết sâu sắc về chuyển đổi số và có phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực được phân công, góp phần hình thành phương thức sản xuất số trong kỷ nguyên mới.

Một số giải pháp cơ bản nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược trong kỷ nguyên mới

Từ nhận diện về bối cảnh tình hình và nội dung, yêu cầu về xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này cần tập trung thực hiện giải pháp phù hợp để đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả; trong đó, cần chú ý một số nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược; tiếp tục hoàn thiện quy định, cơ chế, chính sách nhằm tạo cơ sở chính trị, pháp lý đầy đủ, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn để công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đi vào nền nếp, khoa học; chất lượng, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả được nâng lên tầm cao mới; chỉ đạo xây dựng chiến lược, kế hoạch tổng thể dài hạn, bài bản về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là đối với đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, để xây dựng đội ngũ này từ sớm, từ xa.

Thứ hai, các cơ quan tham mưu ở Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tiếp tục nâng cao tinh thần chủ động, tích cực nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tham mưu, đề xuất hoàn thiện quy định, cơ chế, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; nghiên cứu, tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư xây dựng chiến lược, kế hoạch tổng thể, dài hạn về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới. Tăng cường xây dựng nội dung đào tạo, bồi dưỡng về kỷ nguyên mới, về phương thức sản xuất số.

Thứ ba, đổi mới nội dung, chương trình bồi dưỡng, cập nhật kiến thức phải theo hướng bám sát nhu cầu của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược để xây dựng nội dung, chương trình phù hợp (hướng tới cung cấp kiến thức, kỹ năng mà cán bộ cần) về các khối kiến thức, kỹ năng, như lý luận chính trị; đường lối, chính sách; tầm nhìn, tư duy chiến lược; chuyển đổi số; kỹ năng lãnh đạo, quản lý; kỹ năng dự báo; kỹ năng xử lý tình huống; kỹ năng đàm phán, xử lý vấn đề quốc tế… Trong đó, đặc biệt chú trọng năng lực rất cần thiết trong kỷ nguyên mới, đó là khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ am hiểu sâu về luật pháp quốc tế, thương mại, đầu tư quốc tế, trước hết là cán bộ trực tiếp làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế, giải quyết tranh chấp quốc tế(10). Nội dung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm việc trong môi trường quốc tế cần bao quát ba nhóm kiến thức, kỹ năng: 1- Hệ thống tri thức chuyên môn, pháp luật, thông lệ quốc tế; 2- Hệ thống công cụ làm việc, như ngoại ngữ, tin học; 3- Hệ thống kỹ năng mềm, phản biện, đàm phán.

Thứ tư, đổi mới phương pháp và đa dạng hóa hình thức đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ cán bộ cấp chiến lược dựa trên nền tảng chuyển đổi số. Chuyển đổi mạnh mẽ phương pháp bồi dưỡng, từ cung cấp kiến thức một chiều sang trao đổi thông tin, kinh nghiệm và thảo luận. Điều này đòi hỏi người trao đổi thực sự có kỹ năng, có đủ tầm tri thức, thực sự am hiểu lý luận, sâu sát thực tiễn và người học rất chủ động, tích cực trong quá trình học tập. Cần phát huy hiệu quả từ việc nghiên cứu, khảo sát mô hình thực tiễn, thảo luận vấn đề thực tiễn đặt ra. Đẩy mạnh hình thức bồi dưỡng trực tuyến và học tập trên internet… Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu về chuyên đề, tài liệu để đội ngũ cán bộ cấp chiến lược chủ động tự học, tự nghiên cứu; đưa việc tự học, tự trau dồi tri thức trở thành văn hóa, trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược.

Thứ năm, đổi mới mạnh mẽ hoạt động nghiên cứu thực tế, không tổ chức nghiên cứu thực tế ở trong nước và nước ngoài cho tất cả học viên. Cần lựa chọn từng chuyên đề, từng nhóm học viên để tổ chức hoạt động nghiên cứu thực tế thực sự hiệu quả. Lựa chọn đối tác nước ngoài uy tín, chất lượng để cử cán bộ sang nghiên cứu, học tập. Nội dung, chương trình nghiên cứu ở nước ngoài phải được chuẩn bị kỹ lưỡng, cụ thể để khai thác tối đa hiệu quả của việc nghiên cứu; cần trao đổi với phía đối tác về nội dung, vấn đề mà cán bộ quan tâm để phía bạn chuẩn bị chu đáo, đáp ứng đúng yêu cầu. Kết quả nghiên cứu, khảo sát thực tế ở trong nước và nước ngoài cần phổ biến rộng rãi cho tất cả nhóm đối tượng bồi dưỡng, để tham khảo và học tập; đồng thời, tránh tình trạng trùng lặp về nội dung nghiên cứu.

Thứ sáu, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tổ chức thực hiện bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với đội ngũ cán bộ cấp chiến lược của cơ quan liên quan. Công tác tổ chức lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức phải được chuẩn bị từ sớm (để cán bộ cấp chiến lược có thời gian sắp xếp kế hoạch công tác, tham gia học tập đầy đủ); xây dựng kế hoạch tổ chức phải bảo đảm bài bản, khoa học. Phân công nhiệm vụ đối với thành viên trong Ban Chỉ đạo và cơ quan, đơn vị liên quan phải cụ thể, rõ trách nhiệm trên cơ sở phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; tránh trùng lặp hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Thiết lập chế độ thông tin, báo cáo kịp thời vấn đề liên quan đến lớp học; cơ quan, đơn vị, bộ phận liên quan thường xuyên phối hợp chặt chẽ để thực hiện hiệu quả mục tiêu, yêu cầu mà kế hoạch đề ra. Cần quản lý chặt chẽ quá trình học tập, coi đánh giá kết quả học tập của cán bộ như là một trong những hình thức xem xét, lựa chọn cán bộ phù hợp.

Đảng ta đã xác định và quyết tâm đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đó là sự chuyển động mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt, tích cực, nỗ lực, tự tin vượt qua thách thức, vượt qua chính mình, thực hiện khát vọng vươn lên đạt được những thành tựu vĩ đại. Để thực hiện mục tiêu cao đẹp đó, đòi hỏi xây dựng được đội ngũ cán bộ cấp chiến lược chất lượng cao, đủ trí tuệ và tầm vóc lãnh đạo đất nước, lãnh đạo cuộc cách mạng này. Do vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược phải thực sự đổi mới về tư duy và cách thức tổ chức thực hiện; người làm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ càng phải có tư duy chiến lược, xây dựng kế hoạch chiến lược, khoa học, bài bản để thực hiện mục tiêu. Trong nội dung trao đổi với học viên Lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ quy hoạch Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (Lớp thứ 3), Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu lên 5 giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ trong giai đoạn mới; trong đó, nhấn mạnh giải pháp “tăng cường tự đào tạo, tự bồi dưỡng, nhất là đối với yêu cầu của chuyển đổi số”(11). Do vậy, song song với quá trình đào tạo, bồi dưỡng ở trường, lớp, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược phải đề cao quá trình tự nghiên cứu, tự học tập, học tập suốt đời, nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của tình hình thực tiễn, của sự nghiệp cách mạng của dân tộc./.

 

 

Xây dựng nhân cách sống có lý tưởng hoài bão tốt đẹp

 

Thế hệ trẻ Việt Nam, nhất là thế hệ gien Z hôm nay đang được sống trong một đất nước độc lập và hòa bình mà biết bao các bậc tiền nhân đã phải đổ máu xương mới giành được. Thụ hưởng thành quả của 39 năm Đổi mới (1986 – 2025), thế hệ trẻ có nhiều cơ hội phát triển toàn diện. Cùng với sự phát triển của đất nước, các nhu cầu của thanh niên (học tập, vui chơi, giải trí,…) bước đầu đã được đáp ứng. Trong thời bình, chúng ta vẫn không thể nào quên lời dặn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Các thế hệ cha anh đã rửa được mối nhục mất nước, giành lại độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, vậy các thế hệ hôm nay phải đồng lòng chung sức, quyết rửa được mối nhục nghèo nàn lạc hậu, lập nên những kỳ tích mới trong xây dựng hòa bình”.

 Kế thừa công lao của các thế hệ cha anh từ xưa để lại, thế hệ thanh niên ngày nay cần phải học tập, trau dồi tri thức và ứng dụng những kiến thức có được một cách linh hoạt vào những công việc, mục tiêu, kế hoạch cụ thể, để góp phần xây dựng đất nước phồn thịnh về mọi mặt, đẩy lùi những tàn dư về một xã hội kém phát triển, đưa ra các biện pháp cụ thể để giúp cho mọi người sống tốt hơn, xã hội văn minh hơn. Đó cũng là một cách thể hiện lòng biết ơn với những thành quả mà cha ông đã để lại, và cũng là một hành động thiết thực để lưu giữ những chiến tích lịch sử của dân tộc.

Vừa qua, kết quả khảo sát cho thấy: giá trị xã hội quan trọng nhất trong giai đoạn hiện nay của phần lớn thanh niên là “Sống có lý tưởng hoài bão”. Và hơn 2/3 thanh niên được khảo sát chọn giá trị sống có ít cho xã hội, coi trọng lẽ sống công bằng, sống có lý tưởng hoài bão tốt đẹp, khẳng định vai trò của bản thân và sẵn sàng cống hiến vì cộng đồng. Trong khi đó, các giá trị khác như quyền lực (6,4%) và giàu có (8,1%) được đánh giá rất thấp. Khi được hỏi về xu hướng nào phổ biến trong thanh niên thành phố hiện nay có 66,2% thanh niên thích tham gia các hoạt động tình nguyện.

(2) Từ kết quả khảo sát đặt ra yêu cầu cho tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam cần phải tiếp tục bắt mạch nguyện vọng thanh niên, tạo những môi trường thuận lợi để tiếp thêm nguồn cảm hứng, động lực cho các bạn thanh niên rèn luyện và phấn đấu. Đồng thời, thông qua những phong trào hành động cách mạng cụ thể góp phần lan tỏa những giá trị nhân văn của chủ nghĩa yêu nước, làm cho nhiều hơn các bạn trẻ lấy mục tiêu cống hiến cho xã hội xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa làm lẽ sống của mình ./,

Nâng cao ý thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

 

Thời gian gần đây, làn sóng chống đối Đảng, Nhà nước ta về mặt tư tưởng chính trị lại rộ lên, có lúc dồn dập. Lợi dụng tình hình kinh tế - xã hội trong nước xuất hiện những khó khăn và thách thức mới, nhất là chịu ảnh hưởng nặng nề của cơn bão số 3 và tình trạng tham nhũng, quan liêu vẫn còn xảy ra ở một vài nơi... các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội ra sức chống phá với nhiều thủ đoạn và sách lược mới. Tuy nhiên, thủ đoạn của chúng không có gì mới, đó là vừa dùng các lực lượng và phương tiện từ bên ngoài, vừa tận dụng phát triển lực lượng ở trong nước để tạo ra sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chống đối từ nội bộ Đảng ta, xã hội ta. Bên cạnh đó, một số người cơ hội chính trị, bất mãn cũng lợi dụng các diễn đàn, các mối quan hệ để truyền bá những quan điểm sai trái, viết đơn thư, tài liệu vu cáo, đả kích chế độ ta, tác động vào Nhân dân, nhất là đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ… Nội dung các quan điểm của họ vẫn là những luận điệu lâu nay các nhà tư tưởng chống cộng đã từng nói và đã nhiều lần bị chúng ta phê phán, bác bỏ như phủ nhận thành tựu của cách mạng; thổi phồng khuyết điểm, tồn tại của chúng ta, bôi đen hiện thực, gieo rắc hoài nghi, lung lạc niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch đưa ra luận điệu mới rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm tròn nhiệm vụ lịch sử là giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Chúng rêu rao rằng, trong điều kiện thế giới phát triển hội nhập như hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò, không còn phù hợp nữa, cần có những lực lượng, tổ chức mới khác để đưa đất nước phát triển đi lên theo hướng hòa bình, dân chủ, tiến bộ… Rõ ràng, đây là những luận điệu sai trái, thù địch cần phải đấu tranh phản bác, góp phần củng cố niềm tin cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

  Vì vậy, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch luôn được các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến địa phương triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt. Đại hội XIII của Đảng (2021) khẳng định: “Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” . Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Sự khẳng định này phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam qua 92 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng.

  Mặc dù những kết quả đạt được, việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cũng còn những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng nổ của mạng internet, các mạng xã hội toàn cầu và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường. Mặt khác, các thế lực thù địch, phản động luôn có những chiêu thức, thủ đoạn mới để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao. Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng.

 Để Nâng cao ý thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, chúng ta cần thực hiện đồng bộ các giải pháp chủ yếu sau:

     Một là, tích cực tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Trong giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, coi trọng việc phân tích bản chất cách mạng và khoa học của học thuyết này. Kịp thời giải đáp có sức thuyết phục những băn khoăn, thắc mắc có liên quan đến những vấn đề lý luận và thực tiễn đất nước mà Nhân dân đang quan tâm. Đồng thời, vạch trần âm mưu, thủ đoạn và các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, từ đó có phương sách đối phó và có chủ trương, biện pháp xử lý tình huống một cách hiệu quả nhất. Ngoài ra, cần phát huy vai trò của Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban Tuyên giáo các tỉnh, thành trong cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

      Hai là, kiên trì thực hiện có kết quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII; chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chống các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, nhằm củng cố lòng tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tăng cường các biện pháp phòng chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực một cách có hiệu quả. Kết hợp phát triển kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng chính sách và từng bước phát triển. Có như vậy mới có thể đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả.

     Ba là, thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, từng bước xây dựng đời sống văn hóa trong Đảng. Xây dựng chế độ cung cấp thông tin kịp thời trong Đảng (trừ những thông tin có liên quan đến an ninh quốc gia), trong các đoàn thể chính trị - xã hội. Tăng cường xây dựng thế trận lòng dân trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch gắn với bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa, giữ vững ổn định chính trị và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

     Bốn là, đẩy mạnh công tác phối hợp giữa các bộ, ban, ngành, giữa Trung ương và địa phương trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc. Tập trung giải quyết tốt các vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội, nhất là giải quyết tốt các vụ tranh chấp, khiếu nại đất đai và các vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội, loại bỏ các “điểm nóng” trong vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo. Cùng với đó, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền con người; củng cố và tăng cường các thể chế, chính sách nhằm thực hiện đầy đủ hơn, tốt hơn các quyền tự do chính đáng của Nhân dân. Mặt khác, cần mở rộng và nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác thông tin đối ngoại, đặc biệt là công tác đấu tranh dư luận, chủ động chiếm lĩnh mặt trận thông tin, báo chí.

     Năm là, phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong xây dựng lực lượng đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, thù địch. Đặc biệt, phải ngăn chặn những kênh có tác động xấu vào nội bộ nước ta… Kịp thời định hướng thông tin trong hệ thống chính trị để cán bộ, đảng viên không bị “nhiễu” thông tin xấu. Mặt khác, cần ngăn chặn có hiệu quả sự móc nối tiến hành các hoạt động chiến tranh tâm lý giữa các phần tử cơ hội chính trị, chống đối ở trong nước với các đối tượng người nước ngoài có tư tưởng thù địch.

      Sáu là, tổ chức tốt công tác tuyên truyền, giáo dục về tư tưởng, chính trị, về lịch sử văn hóa Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, nhân ái của dân tộc ta trong quá trình dựng nước, giữ nước. Có cơ chế tạo điều kiện cho những ai quan tâm đến các vấn đề lớn của đất nước có diễn đàn thảo luận, trao đổi một cách dân chủ, cởi mở. Mặt khác, các cơ quan thông tấn báo chí cần ưu tiên chuyển tải các công trình khoa học, các bài viết có nội dung phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên phương tiện thông tin đại chúng.

Việt Tân và những luận điệu xuyên tạc về Vinfast và lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam

Trong thời gian gần đây, một số thế lực thù địch, đặc biệt là tổ chức phản động Việt Tân, đã lợi dụng những vấn đề liên quan đến sản phẩm xe ô tô VinFast để xuyên tạc, bôi nhọ tinh thần yêu nước và gây hoang mang trong dư luận. Điển hình là bài viết với tiêu đề: "Xe VinFast lỗi nhiều quá, bác Vượng ơi!", trong đó đưa ra những luận điệu sai trái, công kích không chỉ thương hiệu VinFast mà còn tấn công tinh thần tự hào dân tộc và lòng yêu nước của người Việt Nam. Là một công dân yêu nước, tôi xin đưa ra quan điểm rõ ràng để phản bác những luận điệu xuyên tạc này.

Trước hết, cần khẳng định rằng VinFast không chỉ là một thương hiệu ô tô thông thường mà còn là biểu tượng cho tinh thần khởi nghiệp, sáng tạo và khát vọng vươn tầm thế giới của người Việt Nam. Trong một thời gian ngắn, VinFast đã đạt được những thành tựu đáng tự hào. Từ việc xây dựng nhà máy sản xuất hiện đại tại Hải Phòng cho đến việc ra mắt các dòng xe điện mang tính cạnh tranh toàn cầu, VinFast đã khẳng định vị thế của mình trên bản đồ ngành công nghiệp ô tô thế giới.

“Kỳ tích này trước đó ít người nghĩ đến”, PGS. TS. Lý Hùng Anh, Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG TP.Hồ Chí Minh), thành viên Hội đồng kỹ thuật ASEAN NCAP, nói về thời khắc lịch sử của ngành công nghiệp ô tô nội địa, khi thương hiệu ô tô Việt - VinFast - vượt qua tất cả các hãng xe nước ngoài qua Nhật, Hàn, Mỹ… trở thành thương hiệu chiếm thị phần số 1 tại thị trường Việt.

Điều này không chỉ mang lại niềm tự hào cho người dân Việt Nam mà còn là minh chứng rõ ràng cho sự phát triển của đất nước trong thời kỳ đổi mới, thể hiện sự đúng đắn trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Việt Tân trong bài viết đã cố tình thổi phồng những vấn đề kỹ thuật nhỏ lẻ của một số sản phẩm xe VinFast, đặc biệt nhắm vào một vấn đề mà một số người dùng ô tô điện VinFast gặp phải: tình trạng xe hết pin giữa đường. Từ đó, họ cố tình bóp méo sự thật, cho rằng đây là minh chứng cho việc xe VinFast kém chất lượng, không đáng tin cậy. Tuy nhiên, thực tế lại hoàn toàn khác. Lỗi hết pin giữa đường không phải là vấn đề xuất phát từ chất lượng sản phẩm, mà chủ yếu liên quan đến cách sử dụng xe của người dùng.

Trong bất kỳ ngành công nghiệp nào, đặc biệt là ngành ô tô, việc sản phẩm gặp phải một số lỗi kỹ thuật ban đầu là điều không thể tránh khỏi. Ngay cả các thương hiệu lớn và lâu đời như Toyota, Ford hay Tesla cũng từng đối mặt với các vấn đề tương tự. Điều quan trọng là cách mà các doanh nghiệp giải quyết những vấn đề này. VinFast đã thể hiện trách nhiệm cao khi không chỉ nhanh chóng khắc phục các lỗi kỹ thuật mà còn lắng nghe ý kiến người dùng để cải tiến sản phẩm. Quan trọng hơn, VinFast đã chủ động cung cấp các giải pháp như hệ thống trạm sạc rộng khắp, ứng dụng theo dõi mức pin và hỗ trợ tính toán hành trình để giúp người dùng giảm thiểu các rủi ro.

Một luận điệu xuyên tạc khác mà Việt Tân đưa ra trong bài viết là việc cố gắng gắn kết chất lượng sản phẩm của VinFast với tinh thần yêu nước, từ đó đánh vào niềm tin của người dân. Họ cho rằng nếu sản phẩm “made in Vietnam” không đạt chất lượng thì “làm sao dám yêu nước”. Đây là một sự ngụy biện trắng trợn nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam không phải là một khái niệm mơ hồ hay chỉ dựa vào chất lượng của một sản phẩm cụ thể. Yêu nước là sự gắn bó, cống hiến và trách nhiệm đối với sự phát triển của đất nước. Lòng yêu nước không chỉ thể hiện qua lời nói mà còn qua những hành động cụ thể như ủng hộ sản phẩm Việt, khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, và đồng hành cùng các doanh nghiệp nội địa trên con đường phát triển.

VinFast là một ví dụ điển hình của một doanh nghiệp Việt Nam đang nỗ lực để xây dựng thương hiệu quốc gia trên thị trường quốc tế. Việc ủng hộ và đồng hành cùng VinFast không chỉ là hành động yêu nước mà còn là sự động viên cho các doanh nghiệp Việt khác vươn lên mạnh mẽ hơn.

Việc Việt Tân lợi dụng những vấn đề của VinFast để xuyên tạc, bôi nhọ không chỉ thương hiệu này mà còn cả tinh thần yêu nước của nhân dân là một phần trong âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Đây không phải lần đầu tiên Việt Tân sử dụng các chiêu bài như vậy. Từ việc xuyên tạc các chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động tâm lý bất mãn trong nhân dân, đến việc lợi dụng những sự cố trong đời sống kinh tế - xã hội để công kích, mục tiêu cuối cùng của họ vẫn là làm suy yếu niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và sự nghiệp xây dựng đất nước.

VinFast không chỉ là niềm tự hào của người Việt mà còn là minh chứng cho sự phát triển vượt bậc của đất nước. Những luận điệu xuyên tạc của Việt Tân nhằm bôi nhọ thương hiệu này và tấn công tinh thần yêu nước của nhân dân cần phải bị bác bỏ mạnh mẽ. Là người Việt Nam, chúng ta cần tỉnh táo trước những thông tin sai lệch, đồng thời tiếp tục ủng hộ và đồng hành cùng các doanh nghiệp Việt như VinFast trên con đường phát triển.

Tuy nhiên, nhân dân Việt Nam không dễ dàng bị lừa dối bởi những luận điệu xuyên tạc như vậy. Chúng ta hiểu rằng, trong bối cảnh đất nước đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, sẽ có những khó khăn, thách thức nhất định. Nhưng điều quan trọng là tinh thần đoàn kết, cùng nhau vượt qua khó khăn để xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.

Lòng yêu nước không phải là thứ có thể bị lung lay bởi những luận điệu phiến diện. Nó là sự gắn bó bền chặt với đất nước, được thể hiện qua hành động cụ thể, như việc tin tưởng và ủng hộ các thương hiệu Việt, góp phần xây dựng một Việt Nam ngày càng giàu mạnh và phát triển bền vững./.

Sưu tầm

Nhận diện âm mưu thủ đoạn lợi dụng vấn đề “xã hội dân sự” để chống phá cách mạng nước ta

 


Khái niệm “xã hội dân sự” được hiểu là những hoạt động tập thể tự nguyện, được hình thành và vận hành trong không gian công cộng và tư nhân; tồn tại độc lập, dưới hình thức các tổ chức và thiết chế tự quản, nằm ngoài vùng ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố nhà nước, yếu tố thị trường và ngoài khu vực gia đình

Tại Việt Nam, các tổ chức “xã hội dân sự” đang tồn tại dưới nhiều hình thức như: tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, nhân đạo, từ thiện, hữu nghị; các tổ chức cộng đồng theo dòng tộc, sở thích; các tổ chức dịch vụ công không phải do Nhà nước lập ra… Các tổ chức này hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự bảo đảm kinh phí, phi lợi nhuận, tuân thủ các quy định của pháp luật và tích cực phối hợp hoạt động với Nhà nước.

Tuy nhiên, với âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, các thế lực thù địch, chống đối, cơ hội chính trị đang bóp méo, biến tướng vấn đề về “xã hội dân sự”, coi việc hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” là bước đầu để tập hợp lực lượng, thái nghén, sản sinh ra các tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản ngay trong lòng đất nước.

Điều này chúng ta có thể dễ dàng thấy được hoạt động của nhiều hội, nhóm núp bóng “xã hội dân sự” do các cá nhân, tổ chức chống đối, cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước thành lập, điều hành, như: “Hội anh em dân chủ”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội nhà báo độc lập”, “Tổ chức xã hội dân sự”, “Viet Liberty” (Việt Nam Tự do), “Nhà xuất bản tự do”, “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”…

Đặc biệt, các đối tượng chống đối không chỉ đơn thuần thành lập các hội, nhóm dưới bóng “xã hội dân sự” trong lòng Việt Nam, hoạt động một cách độc lập, riêng rẽ, mà đã có sự móc nối, câu kết chặt chẽ với nhiều tổ chức quốc tế. Dưới vỏ bọc “xã hội dân sự”, các đối tượng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại Việt Nam; hình thành các hội nhóm, tổ chức để tập hợp lực lượng, tiến hành huấn luyện, đào tạo các phương thức hoạt động; tạo dựng lực lượng chống đối trong lòng đất nước, tiến đến các cuộc bạo loạn lật đổ theo hướng “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”. Mục tiêu của việc thúc đẩy cái gọi là “xã hội dân sự” tại Việt Nam là tạo ra con đường để hình thành các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản một cách công khai, hợp pháp. Từ đó, các đối tượng đưa Việt Nam đi vào con đường đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản với Nhà nước và xã hội.

Khi tiến hành chống phá dưới chiêu bài “xã hội dân sự”, trước nhất các đối tượng ra sức cổ súy tính ưu việt, sự dân chủ của “xã hội dân sự” để đánh lừa nhận thức của người dân, cũng như hạ bệ vai trò của hệ thống chính quyền. Các đối tượng này cố tình hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị; rêu rao luận điệu cho rằng các tổ chức “xã hội dân sự” hoạt động ưu việt và hiệu quả hơn nhiều so với các cơ quan công quyền. Từ đó, các đối tượng kích động sự hoài nghi, thiếu niềm tin vào Đảng trong một bộ phận quần chúng. Đặc biệt, không ít cá nhân, tổ chức chống đối, cơ hội chính trị cũng triệt để tận dụng vấn đề làm từ thiện trên để đánh bóng tên tuổi.

Đồng thời, các đối tượng tập trung tung ra luận điệu đòi tuyệt đối hóa sự “độc lập” của các tổ chức “xã hội dân sự”, đòi thúc đẩy thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức “xã hội dân sự”. Với lý do “bảo vệ sự dân chủ”, các đối tượng cho rằng cần có sự tách bạch một cách tuyệt đối giữa “công” và “tư”, giữa nhà nước và xã hội dân sự. Thậm chí, các đối tượng này còn đưa ra quan điểm cho rằng, các tổ chức “xã hội dân sự” chỉ cần hoạt động theo tôn chỉ, mục đích, thỏa thuận của những người lập ra nó mà không cần tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình tiến hành chống phá, các tổ chức chống đối núp bóng “xã hội dân sự” không chỉ hoạt động đơn lẻ, cá biệt, mà có sự câu kết, móc nối với các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối ngoài nước để cùng tiến hành công kích dưới hình thức “nội công, ngoại kích”. Các thế lực thù địch, chống đối, phản động ở nước ngoài trở thành chỗ dựa về tinh thần, nguồn viện trợ về vật chất cho các tổ chức trong nước.

Ngoài ra, các thế lực này dưới nhiều thủ đoạn khác nhau cũng tiến hành gây sức ép, đòi chúng ta thay đổi đường lối, chính sách, pháp luật, tạo điều kiện, nền tảng thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức chống đối trong nước hoạt động. Dưới sự chống lưng giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài, các hội, nhóm trong nước trực tiếp tiến hành các hoạt động chống phá, tấn công chính quyền, trở thành nơi tập hợp những thành phần bất hảo, hình thành lực lượng đối lập, sẵn sàng tiến đến bạo loạn lật đổ theo hình thức “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”.

Thông qua hình thức “xã hội dân sự”, lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do đóng góp ý kiến, các đối tượng thúc đẩy tư tưởng “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, hướng lái người dân hình thành tâm lý chống đối, phản kháng với chính quyền. Dưới danh nghĩa phản biện xã hội, đóng góp ý kiến, không ít đối tượng đã biến nó thành một diễn đàn để công khai các luận điệu xuyên tạc, công kích, chống phá chính quyền, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Chúng ta không kỳ thị, không ngăn cản việc người dân lập hội, tham gia các tổ chức “xã hội dân sự”. Tuy nhiên, tất cả các hội nhóm, đoàn thể đều phải tuân thủ nghiêm các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Mọi hoạt động núp bóng thành lập “xã hội dân sự” để sản sinh ra các hội, nhóm chống đối đều là vi phạm, cần phải chấn chỉnh, loại bỏ.

 

Đẩy mạnh đổi mới công tác lập pháp, góp phần khơi thông nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

 Công tác lập pháp của Quốc hội là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được khẳng định trong Hiến pháp, cụ thể: Quốc hội là cơ quan làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật. Với trách nhiệm cao cả, lớn lao và vinh dự đó, trong bối cảnh mới, Quốc hội tập trung đổi mới mạnh mẽ công tác lập pháp, tiến tới xây dựng hệ thống pháp luật chất lượng, tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, phục vụ hiệu quả công tác quản lý đất nước; đồng thời, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn, nút thắt về thể chế để cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi mọi mục tiêu trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

1- Năm 2024, tình hình thế giới và trong nước có nhiều khó khăn, thách thức, nhưng nhìn lại cả năm, có thể khẳng định chúng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện trên các lĩnh vực. Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch tích cực; đã hoàn thành 15/15 chỉ tiêu kinh tế - xã hội đề ra tại Nghị quyết số 01/ NQ-CP của Chính phủ. Tăng trưởng GDP cả năm đạt 7,09%, thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới, nâng quy mô nền kinh tế lên khoảng  476,3 tỷ USD. Thu ngân sách nhà nước lần đầu vượt ngưỡng 2 triệu tỷ đồng, vượt trên 19% so dự toán, khoảng 320 nghìn tỷ đồng. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 786,29 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm trước. An sinh xã hội được bảo đảm; đời sống nhân dân được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,93%. Lực lượng lao động, tỷ lệ lao động có việc làm tăng 1,14%; chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên. Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát được triển khai nhanh chóng với tư duy, cách làm mới và đạt kết quả ban đầu rất tích cực.

Quốc phòng - an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, phòng, chống lãng phí được triển khai đồng bộ, quyết liệt; hoạt động đối ngoại diễn ra sôi động, cùng với thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội đã nâng cao vị thế, uy tín đất nước trên trường quốc tế.

Đây là kết quả rất quan trọng trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều khó khăn, thách thức phức tạp hơn so với dự báo, khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn, sát sao, kịp thời của Đảng mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm; sự chủ động, đồng hành, giám sát linh hoạt, chặt chẽ, hiệu quả của Quốc hội; sự quản lý, chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ; sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các địa phương; sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự nỗ lực, phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cộng đồng doanh nghiệp.

2- Trong thành tựu chung đó của đất nước, cần nhấn mạnh sự phối hợp chặt chẽ, thực chất, hiệu quả giữa Quốc hội và Chính phủ trong việc quán triệt nghiêm túc các kết luận của Trung ương Đảng để tổ chức triển khai, hoàn thành nhiệm vụ được phân công, đặc biệt là phối hợp để đổi mới công tác lập pháp, tháo gỡ điểm nghẽn, nút thắt về thể chế, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về phối hợp trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.

Xây dựng và tổ chức thực thi pháp luật là 2 nhiệm vụ trọng tâm, căn bản, có mối quan hệ, tác động qua lại rất chặt chẽ, đòi hỏi Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện một cách đồng bộ nhằm hoàn thiện thể chế phát triển, vì sự nghiệp chung. Trong năm 2024, nhất là tại Kỳ họp thứ 8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan của Quốc hội, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã thường xuyên trao đổi, phối hợp công tác ngay từ khâu chuẩn bị nội dung cho kỳ họp và trong suốt quá trình chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo: i- Đảng đoàn Quốc hội và Ban Cán sự đảng Chính phủ tổ chức 2 cuộc họp liên tịch để cùng bàn bạc, thống nhất phương hướng, chỉ đạo xử lý đối với từng vấn đề cụ thể của Kỳ họp, tránh được sự lãnh phí về thời gian do công văn, giấy tờ gửi xin ý kiến qua lại nhiều lần, tăng tính hiệu quả, tạo sự đồng thuận cao. Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ thường xuyên trao đổi với Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội; ii- Cơ quan soạn thảo (các bộ, ngành) và cơ quan thẩm tra (các Ủy ban của Quốc hội) đã phối hợp chặt chẽ trong suốt quá trình xây dựng, hoàn thiện dự thảo các luật, nghị quyết bảo đảm quy định pháp luật vừa sát với thực tiễn, vừa có tính khả thi, trên tinh thần tôn trọng, lắng nghe, đồng hành, đặt lợi ích của quốc gia, của dân tộc lên trên hết, trước hết; iii- Nhiều dự án luật phức tạp, trong đó không ít dự án thông qua theo quy trình rút gọn hoặc quy trình tại 1 kỳ họp (như Luật Đầu tư công (sửa đổi), Luật sửa 4 luật về đầu tư, Luật sửa 9 luật về tài chính, ngân sách, Luật Điện lực, Luật Dữ liệu), có dự án được bổ sung ngay sát Kỳ họp Quốc hội (như Nghị quyết thí điểm thực hiện dự án nhà ở thương mại), nhưng các cơ quan đều có sự trao đổi, thống nhất về phương thức, cách làm; gửi sớm dự thảo để cùng nghiên cứu, góp ý; các cơ quan của Quốc hội tiếp cận sớm, chuẩn bị sẵn điều kiện, làm ngày làm đêm, nghĩ sớm, lo xa để kịp tiến hành thẩm tra ngay khi có hồ sơ chính thức của Chính phủ…

Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn, sát sao, kịp thời của Đảng mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Quốc hội, Chính phủ đã quán triệt sâu sắc và chỉ đạo phối hợp chặt chẽ, áp dụng triệt để đổi mới tư duy và phương thức tiến hành trong công tác xây dựng pháp luật. Tại Kỳ họp thứ 7 và Kỳ họp thứ 8, Quốc hội đã thông qua 29 luật và 41 nghị quyết, trong đó có nhiều luật, nghị quyết quy định chính sách mang tính đột phá nhằm khơi thông nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của đất nước, cụ thể:

Một là, các luật phải ngắn gọn, rõ ràng, chỉ quy định vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội, tạo điều kiện thuận lợi, giao quyền chủ động cho Chính phủ, bảo đảm sự linh hoạt và hiệu quả trong quản lý. Theo đó, các cơ quan đã rà soát, thống nhất cao về việc lược bỏ khỏi dự thảo luật quy định thuộc thẩm quyền của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan khác; không luật hóa nội dung nghị định, thông tư; đối với vấn đề cụ thể còn đang trong quá trình vận động, chưa ổn định thì luật chỉ quy định khung và giao cho Chính phủ quy định chi tiết, bảo đảm linh hoạt trong điều hành, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Vì vậy, số lượng chương, điều, khoản trong dự thảo luật sau khi tiếp thu, chỉnh lý đã giảm đáng kể so với dự thảo luật trình ban đầu, như Luật Điện lực giảm 49 điều, Luật Việc làm giảm 36 điều...

Hai là, Quốc hội và Chính phủ đã tập trung điều chỉnh quy định nhằm tăng cường phân cấp, phân quyền, theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ giữ vai trò kiến tạo, tăng cường hoàn thiện thể chế và kiểm tra, giám sát; bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ kết quả; tránh tạo cơ chế “xin - cho”; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, chủ thể; chuyển mạnh từ luật thiên về quản lý sang kết hợp hài hòa giữa quản lý hiệu quả với kiến tạo phát triển, khuyến khích đổi mới sáng tạo, kiên quyết từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, như Luật Đầu tư công (sửa đổi) chuyển thẩm quyền điều chỉnh Kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách trung ương từ Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho Thủ tướng Chính phủ; chuyển thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm B, nhóm C từ Hội đồng nhân dân các cấp cho Ủy ban nhân dân các cấp... Luật sửa đổi 9 Luật giao Chính phủ quyết định phân bổ, sử dụng khoản chi của ngân sách trung ương chưa phân bổ và Ủy ban nhân dân các cấp quyết định khoản chưa phân bổ vốn ngân sách địa phương...

Thứ hai, về hiệu quả trong công tác giám sát và thực thi chính sách.

Quốc hội và Chính phủ đã phối hợp chặt chẽ trong công tác giám sát, thể hiện sự đổi mới về tư duy trong cách thức tổ chức thực hiện, giải quyết vấn đề lớn liên quan đến quản lý, điều hành đất nước. Hoạt động giám sát ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả, không chỉ mang tính “hậu kiểm”, mà còn tập trung vào vấn đề khó, phức tạp, đang trong quá trình triển khai để giúp Chính phủ kịp thời tháo gỡ vướng mắc, khắc phục hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện; kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, đưa ra định hướng lâu dài, tạo chuyển biến tích cực trong thực tiễn.

Các báo cáo trình Quốc hội xem xét, báo cáo phục vụ đoàn giám sát, khảo sát được các bộ, ngành chuẩn bị công phu, đầy đủ, kỹ lưỡng, cơ bản đúng thời hạn và cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu của đoàn giám sát. Tại phiên chất vấn, đại biểu Quốc hội đặt câu hỏi thẳng thắn, trọng tâm; các thành viên Chính phủ trả lời với tinh thần trách nhiệm cao, tiếp thu ý kiến để điều chỉnh kịp thời chính sách còn bất cập. Phiên chất vấn tại Kỳ họp thứ 7, Kỳ họp thứ 8 đã thành công tốt đẹp với cam kết mạnh mẽ trong chỉ đạo, quản lý, điều hành của Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các bộ trưởng, trưởng ngành, được cử tri đánh giá cao.

Thứ ba, về phối hợp tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, triệt để cải cách thủ tục hành chính, khơi thông nguồn lực phát triển.

Quốc hội, Chính phủ đã có sự phối hợp hiệu quả, kịp thời xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật, áp dụng triệt để kỹ thuật “một luật sửa nhiều luật” để giải quyết điểm nghẽn về thể chế, với nhiều quy định mới được đánh giá là chính sách đột phá, kịp thời tháo gỡ ngay khó khăn cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, đẩy nhanh tiến độ dự án đầu tư công, thúc đẩy tăng trưởng. Điển hình, như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Các tổ chức tín dụng; Luật sửa 4 luật trong lĩnh vực đầu tư; Luật sửa 9 luật trong lĩnh vực tài chính, ngân sách,...

Trên cơ sở ý kiến của Quốc hội, Chính phủ đã xem xét, quyết định nhiều vấn đề quan trọng, tạo đột phá để hoàn thiện hạ tầng, phát huy tối đa nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển mới, như Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam; Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; thành lập thành phố Huế trực thuộc Trung ương; cho ý kiến Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Đồ án điều chỉnh tổng thể Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065... Đồng thời, với tầm nhìn dài hạn, các cơ quan đã khẩn trương xây dựng, ban hành quy định, tạo hành lang pháp lý cho các vấn đề mới, vấn đề mang tính chất thời đại, như quản lý và sử dụng dữ liệu, phát triển công nghiệp công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển hạ tầng năng lượng quốc gia (chủ trương khởi động lại việc đầu tư dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận)... tạo đột phá cho phát triển đất nước những năm tiếp theo.

Thứ tư, về phối hợp xử lý vấn đề an sinh xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.

Quốc hội và Chính phủ luôn đồng hành, thống nhất cao trong việc ban hành cơ chế, chính sách để giải quyết kịp thời vấn đề quốc kế dân sinh, tháo gỡ nhanh nhất khó khăn, điểm nghẽn, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển, giải phóng nguồn lực, hỗ trợ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, nhất là nhóm yếu thế, nhằm bảo đảm công bằng xã hội, đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn, như Luật Bảo hiểm y tế (sửa đổi) quy định từng bước liên thông, thông tuyến trong khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế; giảm thuế giá trị gia tăng, Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035, Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030… Đặc biệt, Quốc hội đã cho phép sử dụng nguồn cắt giảm, tiết kiệm 5% chi thường xuyên năm 2024 của ngân sách trung ương, ngân sách địa phương để hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo...

3- Từ sự đồng hành, phối hợp hiệu quả giữa Quốc hội và Chính phủ trong quá trình chuẩn bị và tổ chức Kỳ họp thứ 7 và Kỳ họp thứ 8 đã mang lại nhiều bài học quý giá, cụ thể như sau: 1- Phối hợp chặt chẽ trong tất cả giai đoạn, ngay từ khâu chuẩn bị trong công tác xây dựng pháp luật, bảo đảm tính khả thi của quy định trong dự án luật, nghị quyết, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành sau khi được thông qua; 2- Nội dung trình Quốc hội cần được chuẩn bị kỹ lưỡng, bám sát thực tiễn của đất nước, lắng nghe, phản hồi ý kiến giám sát, phản biện, góp ý của cử tri, đồng bào, nhà khoa học, người làm luật, nhà hoạt động thực tiễn; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, chú trọng công tác truyền thông chính sách; 3- Tăng cường đối thoại, tranh luận: Quy trình lập pháp cần tạo không gian cho sự trao đổi, tranh luận dân chủ giữa các cơ quan, lắng nghe ý kiến đa chiều, đặc biệt là ý kiến từ cơ sở, đồng hành vì mục tiêu chung để lựa chọn phương án tối ưu, hiệu quả nhất; 4- Gắn kết chặt chẽ công tác xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật và giám sát chặt chẽ việc thực thi, khắc phục tình trạng “tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu” để bảo đảm pháp luật được thực hiện công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực, hiệu quả.

4- Để tiếp tục phát huy kết quả đã đạt được, trong năm 2025, tập trung vào một số nội dung sau:

Thứ nhất, đề nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương tổ chức triển khai nhanh chóng, kịp thời các luật, nghị quyết vừa được thông qua tại Kỳ họp thứ 8 (nhiệm vụ, giải pháp, công việc và tiến độ đã được chúng ta thống nhất, xác định rất cụ thể tại Hội nghị triển khai luật, nghị quyết hồi cuối tháng 12 vừa qua với khoảng 700 nội dung được giao trong 18 luật và 10 nghị quyết của Quốc hội cần được quy định chi tiết); quán triệt tinh thần đổi mới tư duy trong xây dựng pháp luật gắn kết chặt chẽ với tổ chức thi hành pháp luật hiệu quả và giám sát chặt chẽ việc thực hiện để luật, nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả kiến tạo phát triển, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của từng địa phương và cả nước.

Thứ hai, tích cực phối hợp, rà soát và chuẩn bị kỹ nội dung kỳ họp Quốc hội, trước mắt là Kỳ họp bất thường lần thứ 9 trong tháng 2-2025; hạn chế việc đề xuất thêm nội dung sát kỳ họp hoặc trong kỳ họp nếu không thực sự cấp bách. Các cơ quan của Quốc hội chủ động đôn đốc và phối hợp chặt chẽ, bảo đảm chất lượng, tiến độ dự án, dự thảo, đề án, báo cáo… trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trong đó cần tập trung triển khai các nhiệm vụ:

Một là, tiếp tục đổi mới quy trình lập pháp, bảo đảm thận trọng, kỹ lưỡng, chất lượng, có tính ổn định, có giá trị lâu dài, nhưng cũng phải kịp thời, bám sát thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi đa dạng và thường xuyên biến động của thực tiễn. Thúc đẩy phân cấp, phân quyền, giảm thiểu thủ tục hành chính, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn lớn về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực.

Hai là, tiếp tục nâng cao hiệu quả giám sát và phản biện. Quốc hội và Chính phủ cần phối hợp chặt chẽ trong việc tổ chức đoàn giám sát, tăng cường giám sát việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội, bảo đảm chính sách đi vào cuộc sống một cách hiệu quả. Đẩy mạnh cơ chế giải trình, tiếp thu ý kiến của nhân dân và đại biểu Quốc hội.

Ba là, nâng cao chất lượng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước theo hướng ngày càng chính xác, kịp thời, nhất là việc quyết định ngân sách nhà nước, vấn đề về kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy, dự án quan trọng quốc gia. Tăng cường phối hợp để nghiên cứu, xây dựng chính sách thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, ứng dụng công nghệ cao trong quản lý nhà nước và sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.

Trong mọi mặt hoạt động, quán triệt và triển khai xuyên suốt chủ trương, định hướng của Đảng trong việc cần ưu tiên, đặt quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân làm trung tâm trong mọi quyết sách, tập trung xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách về an sinh xã hội, y tế, giáo dục và việc làm. Thực hiện nghiêm Quy định số 178-QĐ/TW, ngày 27-6-2024, của Bộ Chính trị, “Về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật”, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng “tham nhũng chính sách”; lồng ghép “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ trong xây dựng và ban hành văn bản pháp luật.

Thứ ba, đề nghị Chính phủ, cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật chỉ đạo các cơ quan nghiên cứu, sớm đề xuất dự án, lập dự kiến gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước ngày 1-3-2025 để xem xét, đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2026, điều chỉnh Chương trình năm 2025, chuẩn bị tốt nhất cho Kỳ họp thứ 9, thứ 10 của Quốc hội; trong đó, ưu tiên dự án để kịp thời thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, mới đây nhất là Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”; dự án phục vụ ổn định tổ chức bộ máy, hoàn thiện cơ chế hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị sau sắp xếp, tinh gọn.

Thứ tư, phối hợp chặt chẽ trong việc tổ chức tổng kết thực hiện Đề án Định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV. Trên cơ sở kết quả tổng kết và căn cứ chủ trương, định hướng được đề ra tại dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, các nghị quyết, kết luận của Đảng và nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật trong các lĩnh vực… đề nghị bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phối hợp với các cơ quan của Quốc hội đề xuất nhiệm vụ lập pháp cần thực hiện trong nhiệm kỳ tới, để xây dựng Định hướng chương trình lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, trình cấp có thẩm quyền quyết định.

Thứ năm, quán triệt và triển khai nghiêm túc, khẩn trương yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách của công tác sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Đây là nhiệm vụ lớn, mỗi cơ quan đều phải rất chủ động, đề xuất phương án cụ thể để thực hiện, đồng thời cần thường xuyên phối hợp để bảo đảm tính đồng bộ trong tổ chức bộ máy của cả hệ thống chính trị, làm sao để bộ máy sau khi tinh gọn sẽ vận hành trơn tru, hiệu quả, nhịp nhàng.

Năm vừa qua, thực hiện Kế hoạch số 734 (bổ sung Kế hoạch số 81) của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đã cùng với Chính phủ, các cơ quan liên quan tiến hành nghiên cứu, rà soát Luật Tổ chức Quốc hội và sắp tới trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật này. Chính phủ cũng đang rất khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và nhiều luật chuyên ngành khác có nội dung liên quan(1).

Do vậy, ngay từ bây giờ, Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án, Viện Kiểm sát cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội chủ động rà soát, cập nhật, đề xuất sửa đổi quy định liên quan trong các luật, nghị quyết trước đây do cơ quan mình chủ trì soạn thảo, gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội để xem xét, quyết định bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; trường hợp cần thiết, để bảo đảm yêu cầu tiến độ thì có thể trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về nội dung của dự án đồng thời với việc quyết định bổ sung vào Chương trình, để kịp trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp bất thường lần thứ 9; tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy, sự vận hành thông suốt của cả hệ thống, để chủ trương của Đảng được triển khai và phát huy hiệu quả nhanh nhất khi được Trung ương thống nhất thông qua.

Bước sang năm 2025 - năm có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thành mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2025, chuẩn bị tốt điều kiện để tổ chức thành công Đại hội XIV của Đảng, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Tiếp nối và phát huy kết quả của Hội nghị Trung ương Đảng và Kỳ họp thứ 8, tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự đồng lòng, quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa Quốc hội và Chính phủ, chúng ta sẽ vượt qua mọi thách thức, tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn, tạo tiền đề cho công cuộc đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới của dân tộc./.

 

 

 

Việt Tân tiếp tục dùng “mưu hèn, kế bẩn” để chia rẽ nội bộ Việt Nam

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta triển khai thực hiện chính sách tinh giản biên chế và sáp nhập bộ máy quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, giảm chồng chéo, tiết kiệm ngân sách và phục vụ nhân dân tốt hơn. Tuy nhiên bất chấp thực tế và những thành tự đã đạt được, các thế lực thù địch liên tục tung những bài viết bóp méo sự thật nhằm kích động dư luận, gây hoang mang trong nhân dân. Bài viết này xin làm rõ bản chất sai lệch của luận điểm trên, đồng thời khẳng định sự cần thiết của các cải cách nhằm phục vụ lợi ích chung của nhân dân và đất nước.

Đầu tiên phải khẳng định rằng việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, được triển khai trong nhiều năm qua chứ không phải đến khi Tổng Bí thư Tô Lâm nhậm chức mới xuất hiện. Công tác này đã được đề ra từ các kỳ Đại hội Đảng trước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính, tiết kiệm ngân sách, tránh tình trạng cồng kềnh, chồng chéo chức năng nhiệm vụ giữa các cơ quan. Việc thực hiện tinh gọn bộ máy là yêu cầu tất yếu để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, chứ không phục vụ lợi ích của bất kỳ bộ ngành nào.

Thứ hai, việc Việt Tân cố tình suy diễn Bộ Công an “thâu tóm, hớp các miếng mồi ngon của các bộ khác” là kiểu suy diễn phi lí, vô căn cứ. Bộ Công an là cơ quan thực thi pháp luật, có nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chứ không có chức năng quản lý kinh tế hay điều hành các lĩnh vực dân sự khác. Việc cơ cấu lại bộ máy không có nghĩa là các lĩnh vực kinh tế, tài chính, công thương, khoa học công nghệ… sẽ bị Bộ Công an kiểm soát. Ngược lại, chủ trương của Đảng là tăng cường sự phân công, phối hợp giữa các bộ ngành, đảm bảo mỗi cơ quan thực hiện đúng chức năng của mình một cách hiệu quả nhất.

Cuối cùng, xin nhấn mạnh rằng Tổng Bí thư Tô Lâm không đại diện riêng cho Bộ Công an mà là người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, chịu trách nhiệm lãnh đạo toàn diện đất nước. Quan điểm cho rằng ông thiên vị Bộ Công an là thủ đoạn xuyên tạc trắng trợn của những kẻ tự nhận là “nhà dân chủ” như Việt Tân hòng kích động, gây chia rẽ nội bộ nước ta. Thực tế, trong quá trình công tác, ông Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh vai trò của tập thể, của sự đoàn kết trong bộ máy lãnh đạo, chứ không hề có dấu hiệu thiên vị hay ưu ái một bộ ngành nào.

Tựu chung lại, thực tiễn với những kết quả tích cực từ những quyết sách của Đảng, Chính phủ và của Tổng Bí thư Tô Lâm như giảm số lượng đầu mối trung gian, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, hạn chế tiêu cực, tham nhũng … là câu trả lời chính xác nhất cho những luận điệu xuyên tạc của bè lũ phản động. Vì vậy, mọi người dân cần tỉnh táo, không để bị lôi kéo bởi những thông tin sai lệch, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định và phát triển của đất nước./.

Sưu tầm

 Mấy nay đọc trên mạng, có mấy người bảo rằng làm gì mà mấy chục năm qua không rà phá xong bom mìn, làm việc chậm chạp và quan liêu, chỉ biết dựa dẫm vào nước ngoài, bảo sao bị USAID cắt giảm tài trợ (?)


Rà phá bom mìn không phải như bán hàng. Bom đạn không hiện thù lù ra như hàng hóa để mà đem đi giao ngay cho khách. Trải qua thời gian, hoạt động kinh tế, biến động địa tầng, thiên tai, bom đạn đã trộn lẫn với bùn đất, nằm sâu dưới móng nhà, công trình, hạ tầng. Rà phà bom mìn cũng không đơn giản như nấu ăn, vài chục phút mà xong một bữa. Mà còn phải tìm bãi kích nổ, di chuyển, di dời các hộ dân, khoanh vùng, chuẩn  bị giao thông đầy đủ... 


Việt Nam phải hứng chịu hơn 15 triệu tấn bom đạn, là quốc gia hứng chịu bom đạn nhiều nhất lịch sử thế giới. Số bom đạn còn lại khi kết thúc chiến tranh năm 1975 lên tới 3 - 4 triệu tấn.  Theo ước tính, phải mất 150 năm mới có thể gỡ hết bom đạn ở Việt Nam. Vài chục năm đã là cái gì? Đến nay, dù Thế chiến thứ nhất đã qua hơn trăm năm, nhưng vẫn tìm thấy bom đạn ở Đức, Pháp, Bỉ, Hà Lan… 


Nếu 50 năm mà đòi hết sạch bom mìn ở Việt Nam, thì chắc chỉ có huy động hết toàn bộ máy xúc của thế giới này về đào hết đất đai, sông hồ ở Việt Nam để tìm bom mìn thì mới xong được thôi. 


Ngân sách rà phá bom mìn chủ yếu vẫn từ phía Việt Nam. Trong 10 năm gần đây, kinh phí rà phá bom mìn là 12 ngàn tỷ thì phía vốn trong nước đã là hơn 10 ngàn tỷ. Lực lượng rà phá bom mìn chủ yếu vẫn là những chiến sĩ công binh, cựu chiến binh làm nhiệm vụ hỗ trợ với khoảng 25 - 30 ngàn người, trong khi số người hưởng hỗ trợ từ nước ngoài chỉ là 1200 người.


USAID là một đơn vị nước ngoài, họ có thành ý thì ta nhận, đây là hợp tác, vừa ngoại giao, vừa khắc phục hậu quả chiến tranh. Họ chỉ góp một phần công sức, chúng ta trân quý điều này nhưng đừng vơ hết vào cho họ và phủ nhận những gì mà chúng ta đã làm. 


PN.Theo: tifosi

Câu chuyện bảo tồn văn hoá và những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch

Trong nhiều năm trở về đây lĩnh vực văn hóa, đặc biệt ngành công nghiệp giải trí của Việt Nam đang gặt hái được những thành công đáng kể từ hiệu ứng của các chương trình giải trí hiện nay, trong đó phải kể đến là tầm ảnh hưởng đến từ chương trình “Anh trai vượt ngàn chông gai” đây là một chương trình truyền hình thực tế về âm nhạc được phát sóng trên kênh VTV3 Đài truyền hình Việt Nam. Khán giả ủng hộ chương trình “Anh trai vượt ngàn chông gai” không chỉ vì những tiết mục quy tụ dàn nghệ sĩ tên tuổi, gạo cội mà còn ở những ca khúc được biến tấu bắt tai, vừa mang âm hưởng truyền thống vừa mới lạ của âm nhạc hiện đại. Họ yêu mến các nghệ sĩ khi thấy những câu chuyện hậu trường, quá trình tập luyện khắc nghiệt để cống hiến các tiết mục đặc sắc, hay là mối liên kết giữa những người đàn ông khác nhau về tính cách, sở trường. Qua bàn tay của đội ngũ sản xuất âm nhạc cùng với sự sáng tạo của 33 nghệ sĩ, không gian âm nhạc của “Anh trai vượt ngàn chông gai” tạo cơ hội để thế hệ trẻ thưởng thức dòng chảy âm nhạc và những nét đẹp văn hoá được bảo tồn và phát triển qua từng thời kỳ.

Bên cạnh những lời khen ngợi về chương trình và tiết mục của các nghệ sĩ, tuy nhiên, mới đây trên mạng xã hội xuất hiện một bài đăng có tiêu đề gây phẫn nộ là “Lợi dụng lòng yêu nước để làm truyền thông và cái kết của Anh trai vượt ngàn chông gai ?”. Theo đó, bài viết này cho rằng tiết mục “Áo mùa đông & Trở về” được biểu diễn vào đúng ngày 27/7/2024 là một sự sắp xếp, chiêu trò để thu hút lượt xem. Ngay lập tức, nhiều người tỏ ra bức xúc, phẫn nộ cho rằng đây là bài đăng có ý xuyên tạc, tạo làn sóng tranh cãi không đáng có. Thực tế, việc phát sóng chương trình vào kỷ niệm Ngày Thương binh Liệt sĩ chỉ là trùng hợp. Vì vậy, bài viết cho rằng chương trình “Anh trai vượt ngàn chông gai” đã “lợi dụng” lòng yêu nước là hoàn toàn không thoả đáng, sai lệch với mục đích của chương trình cũng như diễn biến đơn thuần của chương trình. Ngoài ra, bài viết trên cũng nhận lại nhiều cảm xúc phẫn nộ khi chỉ trích nghệ sĩ Bùi Công Nam đánh đàn với thái độ vui tươi quá lố, Duy Khánh trang điểm đậm. Nhiều bài viết của khán giả đã phản bác bênh vực rằng đây là tiết mục biểu diễn, việc nghệ sĩ quan tâm, chỉn chu hình ảnh để phục vụ công chúng là hết sức bình thường, hơn nữa thái độ vui tươi, hào hùng của người chiến sĩ chưa bao giờ là điều không đúng đắn. Dưới bài đăng chứa những luận điệu xuyên tạc này, tất cả các bình luận của khán giả đều bày tỏ thái độ bức xúc với những quan điểm sai lệch và tiêu cực này.

Qua những tiết mục được các nghệ sĩ biến tấu công phu, đặc biệt là tiết mục “Áo mùa đông & Trở về” khán giả như được khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc qua từng giai điệu và lời hát, cảm nhận sâu hơn về những gì ông cha ta, các thế hệ đi trước đã trải qua trong thời kỳ chiến tranh. Tiết mục còn có sự tham gia hỗ trợ của NSND Tự Long, khi trả lời phỏng vấn, NSND Tự Long bày tỏ: “Văn hoá là bản chất! Văn hoá là cội nguồn! Văn hoá là dân tộc!”. Nam nghệ sĩ cho biết bản thân mong muốn kết nối những giá trị văn hoá truyền thống để những người trẻ hôm nay hiểu hơn, được tiếp cận nhiều hơn để thêm yêu cái vốn cổ của dân tộc.

Có thể nói bài viết chứa những luận điệu xuyên tạc trên là một điển hình, là dấu hiệu để thấy rằng âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch nhằm vào nước ta chưa bao giờ có dấu hiệu dừng lại. Chúng lợi dụng các sự kiện, hiện tượng trên lĩnh vực văn hoá, giải trí, nhắm vào các chi tiết nhạy cảm để xuyên tạc, gây nên làn sóng tranh cãi không đáng có trên truyền thông, từ đó làm ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của ngành giải trí nước nhà cũng như uy thế của quốc gia trong mắt bạn bè quốc tế. Tuy hình thức, thủ đoạn hoạt động không mới, nhưng sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường nếu những luận điệu xuyên tạc này tiếp cận đến những người đọc thiếu hiểu biết, có bản lĩnh chính trị và tư tưởng đạo đức chưa vững vàng. Thậm chí, chúng có thể sử dụng những luận điệu xuyên tạc ấy để lôi kéo nhóm đối tượng này. Vì vậy, việc đọc và tiếp thu những thông tin chính thống, phát huy, củng cố lòng yêu nước trong mỗi cá nhân là điều vô cùng cần thiết. Từ đó giúp nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, hạn chế tối thiểu ảnh hưởng tiêu cực từ các luận điệu xuyên tạc, những thông tin bóp méo sự thật của thế lực thù địch, sẵn sàng phản bác đối với những luận điệu xuyên tạc đó, góp phần bảo tồn và phát triển văn hoá nước nhà ngày càng bền vững và mang đậm bản sắc dân tộc.

Sưu tầm