Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2025

Một số thách thức, nguy cơ bên ngoài đặt ra đối với bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

 


Thế giới, thế kỷ XXI tiếp tục chứng kiến nhiều biến đổi phức tạp, khó lường, ảnh hưởng, tác động nhiều mặt đến nước ta. Với vị trí địa chính trị quan trọng, Việt Nam đã, đang và luôn luôn sẽ là “trọng điểm” cạnh tranh chiến lược, lợi ích, ảnh hưởng của các nước lớn trong khu vực và phạm vi toàn cầu. Hơn nữa với chế độ xã hội chủ nghĩa, Việt Nam còn là mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch… Những nguy cơ, thách thức này cần thiết phải nhận diện chính xác, đầy đủ :

Nguy cơ rơi vào thế mắc kẹt giữa các cường quốc hiện nay, thách thức trong triển khai chính sách đối ngoại, đối với các mối đe dọa. Cục diện thế giới, khu vực biến đổi mau lẹ, sự cạnh tranh, mặc cả chiến lược giữa các nước lớn; diễn biến khó lường, các điểm nóng khiến môi trường chính trị, an ninh khu vực ngày càng phức tạp, làm giảm lòng tin chiến lược giữa các quốc gia, kích thích chạy đua vũ trang và tâm lý dân tộc cực đoan, làm gia tăng căng thẳng và phức tạp quá trình giải quyết tranh chấp có liên quan đến lợi ích an ninh quốc gia. Với vị thế địa chính trị chiến lược quan trọng, vai trò tích cực trong các tổ chức quốc tế, khu vực, Việt Nam bị các nước tác động, gây ảnh hưởng, lôi kéo tham gia vào các cơ chế nhằm kiềm chế lẫn nhau, có thể đặt Việt Nam vào tình thế khó khăn trong ứng xử với từng nước và tại các diễn đàn quốc tế.

 Thách thức an ninh đối với chủ quyền quốc gia ngày càng lớn, tạo môi trường bất lợi, gia tăng áp lực bảo vệ lợi ích quốc gia. Các tranh chấp lãnh thổ giữa nước ta với các nước lân cận khó có thể giải quyết triệt để, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột. Vấn đề Biển Đông gia tăng, bất ổn, phức tạp do Trung Quốc hành động cứng rắn hơn, phức tạp, khó lường hơn, đặc biệt là sử dụng các biện pháp thô bạo để giải quyết tranh chấp làm tăng nguy cơ trên biển, chủ quyền lãnh thổ bị xâm phạm. Các bên tranh chấp khác không từ bỏ, tăng cường tiềm lực, chạy đua vũ trang khiến tình hình ngày càng phức tạp, tạo ra mối đe dọa với an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc, môi trường hòa bình, ổn định, phát triển đất nước.

 Nguy cơ tụt hậu và phụ thuộc kinh tế vào các nước phát triểncác nước lớn, các định chế quốc tế ngày càng tăng. Những hạn chế trong hội nhập quốc tế như năng lực cạnh tranh thấp, trình độ quản lý chưa theo kịp, thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện, cơ chế, chính sách, pháp luật còn thiếu đồng bộ. Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng vào nhiều định chế kinh tế, tài chính quốc tế, chịu nhiều bất lợi và sức ép cải cách chính sách, thể chế, nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề kinh tế để can thiệp chủ quyền, xâm phạm an ninh quốc gia. Các nước lớn xác định những vấn đề, tiêu chí tiêu chuẩn cơ bản của biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, chuỗi sản phẩm… làm điều kiện, tác động, chi phối, dẫn dắt quan hệ kinh tế quốc tế.

 Thách thức phát triển khoa học công nghệ, áp đặt các giá trị, tư tưởng, văn hóa. Các nước phát triển, nước lớn tăng cường sử dụng các ưu thế sức mạnh vượt trội về kinh tế, khoa học, công nghệ để can thiệp, ra điều kiện trong quan hệ kinh tế, áp đặt các giá trị tư tưởng, văn hóa phương Tây vào Việt Nam; phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc và những giá trị tinh thần của chủ nghĩa xã hội; nguy cơ an ninh mạng càng hiện hữu.

Các mối đe dọa từ an ninh bên ngoài từng bước chuyển vào nội bộ, bộc lộ rõ nét, tạo thách thức lớn đối với nhiệm vụ duy trì, ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Cùng với toàn cầu hóa, xu hướng “dân chủ hóa” trên thế với, các nước lớn đẩy mạnh phổ biến “sức mạnh mềm” thúc đẩy thay đổi chế độ chính trị, kích động phong trào ly khai, tự trị, thúc đẩy “môi trường tự do hóa, dân chủ hóa” theo kiểu phương Tây, làm xuất hiện, mở rộng khuynh hướng tư tưởng phức tạp trong nội bộ, các trào lưu xâm nhập vào Việt Nam, dẫn đến nguy cơ làm xói mòn truyền thống văn hóa dân tộc, phai nhạt lý tưởng, nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Sức ép vấn đề “dân chủ, nhân quyền” ngày càng lớn.

 Nguy cơ “diễn biến hòa bình”. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng triệt để lợi dụng xu hướng toàn cầu hóa, “tự do hóa chính trị”, “dân chủ hóa”, sự khác biệt về thể chế chính trị, pháp luật, những khó khăn, thiếu sót của Việt Nam…để tạo khủng hoảng về tư tưởng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gia tăng sức ép, chuyển hóa nội bộ, tác động vào quá trình cải cách tư pháp, lập pháp, thúc đẩy “tự do, dân chủ hóa”, công khai tài trợ, hậu thuẫn hình thành các tổ chức “xã hội dân sự”, hội nhóm khác nhau. Số phần tử cơ hội chính trị hoạt động ngày càng công khai, quyết liệt, phức tạp.

 Các vấn đề an ninh phi truyền thống tiếp tục gia tăng. Mối đe dọa an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng với quy mô, tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, tác động đến lợi ích, an toàn, an ninh quốc gia Việt Nam, như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, an ninh năng lượng, an ninh con người…

 Hai là, những thách thức, nguy cơ từ bên trong, nội bộ.

Việc xây dựng đồng bộ hệ thống chiến lược thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc còn chưa đồng bộ. Công tác tham mưu chiến lược chất lượng chưa cao, trên một số mặt chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình, yêu cầu nhiệm vụ. Đánh giá, dự báo tình hình có mặt chưa được cụ thể, kịp thời, còn bị động, bất ngờ trong một số tình huống. Chỉ đạo điều hành có lúc, có nơi thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị; công tác bảo vệ an ninh nội bộ, an ninh tư tưởng còn nhiều bất cập, sơ hở. Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân chưa toàn diện; tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân chưa thật vững chắc. Đất nước vẫn tiềm ẩn các nhân tố có thể gây mất ổn định. Việc kếp hợp hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có lúc, có nơi chưa thật hiệu quả; kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong thực tiễn còn có lúc, có nơi chưa thật hiệu quả, có mặt còn hình thức. Đầu tư cho quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận, khu vực phòng thủ, phát triển khoa học - công nghệ…chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

 Tình hình an ninh chính trị nội bộ xuất hiện một số biểu hiện tiêu cực. Các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chưa được đẩy lùi, có mặt bộc lộ rõ nét, nghiêm trọng hơn mà Đảng ta chỉ rõ: Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp cao, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tham nhũng, lãng phí…; công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ còn bộc lộ những sơ hở, để các đối tượng tác động, phân hóa, lôi kéo, chia rẽ, mất đoàn kết. Công tác bảo vệ bí mật nhà nước, tình trạng cung cấp tin, tài liệu bí mật, lũng đoạn nội bộ diễn biến phức tạp, có một số trường hợp bị móc nối làm nội gián, bị lôi kéo, mua chuộc, tham gia các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Tư tưởng, lối sống một bộ phận đông đảo, nhất là giới trẻ phai nhạt lý tưởng, đạo đức, lối sống.

 

An ninh kinh tế tiềm ẩn những bất ổn. Trước tác động của đại dịch, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, các doanh nghiệp tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, nợ xấu, khiến nhiều doanh nghiệp phá sản, lao động thất nghiệp, tiềm ẩn bất ổn xã hội. Tình trạng trốn thuế, trục lợi hoàn thế, vi phạm pháp luật, làm sai quy định với thủ đoạn tinh vi, thao túng thị trường, lĩnh vực cơ bản, như tài chính, chứng khoán, bất động sản của nhiều tổ chức, cá nhân, tập đoàn tư nhân lớn vừa qua gây thất thoát, tác động lớn đến nền kinh tế. Tình trạng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lập dự án, xin đất, huy động vốn, đưa được người vào Việt Nam, chuyển giao, chuyển giá, nợ đọng lương, lãn công, biểu tình ở các nhà máy, khu công nghiệp ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, đối ngoại, môi trường đầu tư ở Việt Nam.

 

An ninh mạng tiếp tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát. Các nước lớn xác định an ninh mạng là “vấn đề cốt lõi”, đe dọa an ninh mạng là đe dọa an ninh quốc gia. Ở Việt Nam, an ninh mạng đặt ra ngày càng cấp bách. Các cơ quan đặc biệt nước ngoài, tin tặc thường xuyên lợi dụng điểm yếu này để tấn công xâm nhập, thu thập thông tin, bí mật nhà nước, cài cắm mã độc, phần mềm gián điệp. Đồng thời, đây là công cụ đắc lực để phá hoại nền tảng tư tưởng, tuyên truyền xuyên tạc, luận điệu sai trái, thù địch. Các tổ chức phản động lưu vong tăng cường xâm nhập, móc nối, mua chuộc, phát triển lực lượng, hình thành tổ chức, hội nhóm chống, phá quyết liệt. Các loại tội phạm mạng, tội phạm công nghệ cao diễn biến phức tạp, hoạt động tinh vi, quy mô, tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm, nghiêm trọng. Công tác bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin còn nhiều sơ hở, quản lý nhà nước, cơ chế kiểm soát bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng còn có hạn chế, bất cập.

 

An ninh xã hội có nhiều yếu tố mất ổn định. Các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo gia tăng hoạt động, công khai chống phá quyết liệt. Số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo tuyên truyền, xuyên tạc, kêu gọi quốc tế gây sức ép, can thiệp vấn đề “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”; cổ vũ, kích động, chỉ đạo, ủng hộ tinh thần, vật chất, hình thành tổ chức, hội nhóm chống phá. Hoạt động của các “đạo lạ”, “tà đạo”, “hiện tượng tôn tín ngưỡng, tôn giáo mới” có chiều hướng phát triển, lây lan phức tạp, gây mất an ninh trật tự. Tình hình tranh chấp, khiếu kiện diễn biến phức tạp, bị phần tử xấu lợi dụng, gây rối trật tự công cộng. An ninh các địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ.

 

 Tình hình tội phạm diễn biến phức tạp. Hoạt động của các loại tội phạm vẫn diễn ra hết sức phức tạp, tính chất, mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng. Tội phạm xâm phạm thân thể hành vi gây án ngày càng dã man, tàn bạo. Tình trạng chống người thi hành công vụ, nhất là cán bộ công an, hành vi chống đối manh động, liều lĩnh. Tội phạm kinh tế, tham nhũng nổi lên trong nhiều lĩnh vực, nhất là tài chính, ngân hàng, đất đai - bất động sản, y tế, cố ý làm trái tại các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân gây thất thoát, lãng phí lớn.

 

Một số thách thức, nguy cơ đặt ra đối với bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

 


Bên cạnh đó, trên một số lĩnh vực còn có hạn chế và trong tình hình mới xuất hiện những thách thức, nguy cơ mới tác động tiêu cực, là những vấn đề đặt ra đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc từ xa, từ sớm. Thế giới, thế kỷ XXI tiếp tục chứng kiến nhiều biến đổi phức tạp, khó lường, ảnh hưởng, tác động nhiều mặt đến nước ta. Với vị trí địa chính trị quan trọng, Việt Nam đã, đang và luôn luôn sẽ là “trọng điểm” cạnh tranh chiến lược, lợi ích, ảnh hưởng của các nước lớn trong khu vực và phạm vi toàn cầu. Hơn nữa với chế độ xã hội chủ nghĩa, Việt Nam còn là mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch… Những nguy cơ, thách thức này cần thiết phải nhận diện chính xác, đầy đủ ở cả hai hướng sau đây:

 Nguy cơ rơi vào thế mắc kẹt giữa các cường quốc hiện nay, thách thức trong triển khai chính sách đối ngoại, đối với các mối đe dọa. Cục diện thế giới, khu vực biến đổi mau lẹ, sự cạnh tranh, mặc cả chiến lược giữa các nước lớn; diễn biến khó lường, các điểm nóng khiến môi trường chính trị, an ninh khu vực ngày càng phức tạp, làm giảm lòng tin chiến lược giữa các quốc gia, kích thích chạy đua vũ trang và tâm lý dân tộc cực đoan, làm gia tăng căng thẳng và phức tạp quá trình giải quyết tranh chấp có liên quan đến lợi ích an ninh quốc gia. Với vị thế địa chính trị chiến lược quan trọng, vai trò tích cực trong các tổ chức quốc tế, khu vực, Việt Nam bị các nước tác động, gây ảnh hưởng, lôi kéo tham gia vào các cơ chế nhằm kiềm chế lẫn nhau, có thể đặt Việt Nam vào tình thế khó khăn trong ứng xử với từng nước và tại các diễn đàn quốc tế.

 Thách thức an ninh đối với chủ quyền quốc gia ngày càng lớn, tạo môi trường bất lợi, gia tăng áp lực bảo vệ lợi ích quốc gia. Các tranh chấp lãnh thổ giữa nước ta với các nước lân cận khó có thể giải quyết triệt để, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột. Vấn đề Biển Đông gia tăng, bất ổn, phức tạp do Trung Quốc hành động cứng rắn hơn, phức tạp, khó lường hơn, đặc biệt là sử dụng các biện pháp thô bạo để giải quyết tranh chấp làm tăng nguy cơ trên biển, chủ quyền lãnh thổ bị xâm phạm. Các bên tranh chấp khác không từ bỏ, tăng cường tiềm lực, chạy đua vũ trang khiến tình hình ngày càng phức tạp, tạo ra mối đe dọa với an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc, môi trường hòa bình, ổn định, phát triển đất nước.

 Nguy cơ tụt hậu và phụ thuộc kinh tế vào các nước phát triểncác nước lớn, các định chế quốc tế ngày càng tăng. Những hạn chế trong hội nhập quốc tế như năng lực cạnh tranh thấp, trình độ quản lý chưa theo kịp, thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện, cơ chế, chính sách, pháp luật còn thiếu đồng bộ. Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng vào nhiều định chế kinh tế, tài chính quốc tế, chịu nhiều bất lợi và sức ép cải cách chính sách, thể chế, nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề kinh tế để can thiệp chủ quyền, xâm phạm an ninh quốc gia. Các nước lớn xác định những vấn đề, tiêu chí tiêu chuẩn cơ bản của biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, chuỗi sản phẩm… làm điều kiện, tác động, chi phối, dẫn dắt quan hệ kinh tế quốc tế.

 Thách thức phát triển khoa học công nghệ, áp đặt các giá trị, tư tưởng, văn hóa. Các nước phát triển, nước lớn tăng cường sử dụng các ưu thế sức mạnh vượt trội về kinh tế, khoa học, công nghệ để can thiệp, ra điều kiện trong quan hệ kinh tế, áp đặt các giá trị tư tưởng, văn hóa phương Tây vào Việt Nam; phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc và những giá trị tinh thần của chủ nghĩa xã hội; nguy cơ an ninh mạng càng hiện hữu.

Các mối đe dọa từ an ninh bên ngoài từng bước chuyển vào nội bộ, bộc lộ rõ nét, tạo thách thức lớn đối với nhiệm vụ duy trì, ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Cùng với toàn cầu hóa, xu hướng “dân chủ hóa” trên thế với, các nước lớn đẩy mạnh phổ biến “sức mạnh mềm” thúc đẩy thay đổi chế độ chính trị, kích động phong trào ly khai, tự trị, thúc đẩy “môi trường tự do hóa, dân chủ hóa” theo kiểu phương Tây, làm xuất hiện, mở rộng khuynh hướng tư tưởng phức tạp trong nội bộ, các trào lưu xâm nhập vào Việt Nam, dẫn đến nguy cơ làm xói mòn truyền thống văn hóa dân tộc, phai nhạt lý tưởng, nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Sức ép vấn đề “dân chủ, nhân quyền” ngày càng lớn.

 Nguy cơ “diễn biến hòa bình”. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng triệt để lợi dụng xu hướng toàn cầu hóa, “tự do hóa chính trị”, “dân chủ hóa”, sự khác biệt về thể chế chính trị, pháp luật, những khó khăn, thiếu sót của Việt Nam…để tạo khủng hoảng về tư tưởng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gia tăng sức ép, chuyển hóa nội bộ, tác động vào quá trình cải cách tư pháp, lập pháp, thúc đẩy “tự do, dân chủ hóa”, công khai tài trợ, hậu thuẫn hình thành các tổ chức “xã hội dân sự”, hội nhóm khác nhau. Số phần tử cơ hội chính trị hoạt động ngày càng công khai, quyết liệt, phức tạp.

 Các vấn đề an ninh phi truyền thống tiếp tục gia tăng. Mối đe dọa an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng với quy mô, tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, tác động đến lợi ích, an toàn, an ninh quốc gia Việt Nam, như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, an ninh năng lượng, an ninh con người…

Bàn về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”

 

Thực tế công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước ta đã thực hiện phương châm trên. Tuy nhiên đây là lần đầu tiên, tư duy, lý luận về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” được Đảng ta hoàn thiện, phát triển mới, chính thức đưa vào văn kiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc.

 Về bản chất bảo vệ Tổ quốc: là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nội hàm bảo vệ Tổ quốc không chỉ có bảo vệ sự tấn công từ bên ngoài biên giới quốc gia lãnh thổ, mà còn giữ ổn định bên trong; không chỉ bảo vệ khi có kẻ thù xâm lược, mà phải tổ chức phòng thủ, phòng ngừa từ trước, chủ động về mọi mặt ngay từ trong thời bình; ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh từ bên ngoài; xử lý, giải quyết các vấn đề bên trong với phương châm “trong ấm, ngoài êm”, “giữ vừng bên trong là chính” với hàm ý giữ vững chính trị ổn định, kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển, quốc phòng, an ninh giữ vững, đối ngoại không ngừng được mở rộng xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

 Về bảo vệ Tổ quốc từ “sớm”: “Sớm” là trước thời điểm quy định, rất lâu trước đó (về thời gian). Bảo vệ Tổ quốc từ “sớm” là sớm về tư duy, nhận thức, sớm có quan điểm chỉ đạo, phương châm hành động, sớm trong nhận diện nguy cơ uy hiếp, sớm có phương án, lực lượng, phương tiện bảo vệ. Quá trình xây dựng, củng cố, phát triển cũng là quá trình triển khai các biện pháp phòng ngừa, bảo vệ, tự bảo vệ từ trước. Nói “bảo vệ Tổ quốc từ sớm” có nghĩa là phải có chiến lược bảo vệ, tự bảo vệ bên trong, từ bên trong; ngăn ngừa, triệt tiêu các nhân tố xâm lược, phá hoại, mất ổn định bên trong lẫn bên ngoài.

 Về bảo vệ Tổ quốc từ “xa”: là bao hàm về không gian và cả thời gian, chủ động, cảnh giác, sớm phát hiện, triệt tiêu các nhân tố bất lợi từ xa về không gian địa lý, ngay trong lòng địch; xa về thời gian, phát hiện, triệt tiêu ngay từ nguyên nhân, điều kiện hình thành nguy cơ đe dọa, uy hiếp. Chủ động phân tích, dự báo, đấu tranh, làm thất bại từ bên ngoài, từ bên trong mọi âm mưu, hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa có mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời, chuyển hóa lẫn nhau. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm là điều kiện, tiền đề để bảo vệ Tổ quốc từ xa; bảo vệ Tổ quốc từ xa là để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, bảo đảm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bảo vệ sự tôn nghiêm của nhà giáo

 

Việc dạy thêm tràn lan, bị biến tướng trá hình dưới nhiều hình thức không chỉ bị phụ huynh than phiền, dư luận xã hội kêu ca mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh tôn nghiêm của nhà giáo.

Trước một số ý kiến băn khoăn của một bộ phận giáo viên, nhà trường về việc siết chặt quản lý hoạt động dạy thêm, trao đổi tại Hội nghị quán triệt triển khai thực hiện Kết luận số 91-KL/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045, tổ chức ngày 6-2, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Ngọc Thưởng bày tỏ quan điểm thẳng thắn: “Quy định quản lý dạy thêm, học thêm mới giúp việc này diễn ra minh bạch, bảo vệ sự tôn nghiêm của thầy cô và ngành giáo dục. Bộ không cấm dạy thêm, học thêm, nhưng dứt khoát hoạt động này không được ảnh hưởng tới việc thực hiện chương trình phổ thông chính khóa, tức không cắt xén, trùng lặp kiến thức và tuyệt đối không được ép buộc học sinh học thêm dưới mọi hình thức”.

Cùng chung quan điểm này, trong phiên họp ngày 7-2 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật Nhà giáo, Trưởng ban Công tác đại biểu Nguyễn Thanh Hải nhấn mạnh, dù phụ huynh có đơn tự nguyện đăng ký cho con học thêm thì nhà giáo cũng không được thu tiền, bởi chữ “tự nguyện” này đôi khi phản ánh không đúng bản chất vấn đề. Mặt khác, giáo viên đã nhận lương ngân sách, sử dụng cơ sở vật chất của Nhà nước thì dạy không thu tiền của học sinh là hợp lý, chính đáng, hợp lòng dân.

Như vậy, cả cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và cơ quan dân cử đều lên tiếng dứt khoát, mạnh mẽ về việc siết chặt quản lý hoạt động dạy thêm trong các nhà trường phổ thông. Bởi thời gian qua, việc dạy thêm tràn lan, bị biến tướng trá hình dưới nhiều hình thức không chỉ bị phụ huynh than phiền, dư luận xã hội kêu ca mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh tôn nghiêm của nhà giáo, như lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhận định.

Chỉ còn mấy ngày nữa (14-2-2025), Thông tư số 29/2024/TT-BGDĐT, ngày 30-12-2024 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về dạy thêm, học thêm chính thức có hiệu lực. Văn bản này không chỉ là động thái quyết liệt của ngành giáo dục trong việc thiết lập lại trật tự kỷ cương trong hoạt động dạy thêm, mà còn là giải pháp phòng ngừa, hạn chế những biểu hiện tiêu cực trong công tác dạy học. Trên thực tế, không ít giáo viên vì chạy theo lợi ích thuần túy mà sao nhãng việc dạy học chính khóa, gây phiền hà, áp lực đối với phụ huynh và học sinh để ép buộc các em phải đi học thêm, từ đó gây méo mó, tổn thương hình ảnh thiêng liêng của nhà giáo.

Một thông tư rất ý nghĩa, rất nhân văn như vậy đáng ra phải được tất cả những người trong cuộc, trong ngành giáo dục ủng hộ, thực hiện. Chỉ tiếc rằng, vì lợi ích cục bộ, lợi ích cá nhân mà một số người đứng trên bục giảng lại làm ngơ, thậm chí có biểu hiện phản ứng ngấm ngầm, thiếu thiện chí. Có lẽ không gì hơn là nhắc lại ý kiến ví von của một nhà giáo tên tuổi đã về hưu, đại ý: Dạy thêm chính danh có thể mang lại đôi chút thu nhập cho nhà giáo, nhưng dạy thêm không chính danh, không đúng đối tượng thì nhà giáo lại tự vẩy những vết mực đen lên tấm áo trắng trong của mình. Được thêm vài ba đồng mà làm tổn hại đến danh thơm, hình ảnh nhà giáo, liệu họ có còn xứng đáng trong con mắt học trò?

 

Sự cần thiết của tư duy dám nghĩ, dám làm

Trong điều kiện tình hình cách mạng nước ta hiện nay, kinh nghiệm chống dịch vừa rồi, có rất nhiều tình huống đòi hỏi người cán bộ phải linh hoạt, sáng tạo, trên cơ sở phải có kinh nghiệm dám nghĩ, dám làm phong phú thì mới có thể giải quyết được những vấn đề nảy sinh khó khăn và phức tạp.​ ​Tư duy năng động, dám nghĩ, dám làm hoạt động bao giờ cũng là mảnh đất hiện thực cho sự hình thành, phát triển những phẩm chất nhân cách, trí tuệ, tài năng của mỗi con người. Chính thông qua dám nghĩ, dám làm, người cộng sản có điều kiện áp dụng tri thức đã tiếp thu, tích luỹ kinh nghiệm, vốn sống nâng cao nhận thức, giác ngộ chính trị. Mặt khác, thông qua dám nghĩ, dám làm họ bày tỏ tình cảm, cảm xúc của mình, biểu lộ thái độ, hành vi, ý chí cá nhân trước sự kiện, khó khăn thử thách.

​Bằng tư duy dám nghĩ dám làm, thông qua thực tiễn, họ mới tự kiểm tra, đánh giá được trình độ nhận thức, tình cảm và ý chí của họ so với cái chuẩn, từ đó hình thành ý thức rèn luyện, tu dưỡng. V.I.Lê-nin vạch rõ: Chúng ta căn cứ vào cái gì để xét đoán những tư tưởng, tình cảm thực của cá nhân có thực, tất nhiên căn cứ ấy chỉ có thể là những hoạt động của cá nhân ấy. Như vậy, Lê Nin đã rất đề cao vai trò của thực tiến, của tư duy dám nghĩ dám làm. Những vấn đề được V.I.Lê-nin nêu ra cách đây gần một thế kỷ chính là những chỉ dẫn có ý nghĩa phương pháp luận cần tiếp tục nghiên cứu, khai thác trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam hiện nay. ​

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng căn dặn: Học lý luận cốt là để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không đem ra thực hành, thì khác nào cái hòm đựng sách. Với ý nghĩa đó, giáo dục lý tưởng cộng sản phụ thuộc rất lớn vào khả năng và mức độ dám nghĩ, dám làm của họ. Tư tưởng của Người vẫn luôn còn đúng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh của cách mạng.

​Như vậy, dù trong cương vị công tác nào, mỗi đảng viên, cán bộ phải luôn tích cực tu dưỡng, rèn luyện tư duy dám nghĩ, dám làm để có đủ bản lĩnh và năng lực hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng giao phó./.

Sưu tầm

Bàn về giữ nước từ khi nước chưa nguy

 

Dựng nước đi đôi với giữ nước là kết tinh kinh nghiệm quý báu lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta. Nói về giữ nước từ sớm, từ xa, Trần Quang Khải (1241 - 1294) nhà chính trị, quân sự thời Trần đã từng nói: “Thái bình tu trí lực. Vạn cổ thử giang san” (Thái bình nên tu dưỡng trí lực, vận lực. Đất nước vững nghìn thu). Hay Vua Lê Thái Tổ (1385 - 1433) căn dặn con cháu, muôn dân trăm họ: “Biên phòng hảo vị trù phương lược. Xã tắc ung tu kế cửu an” (Biên phòng cần có phương án, chiến lược tốt. Đất nước phải có kế lâu dài), “Lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”. Cùng với đó, tổ tiên ta đã thực hiện nhiều chính sách làm cho “quốc phú, binh cường”, khi đất nước thanh bình thì khuyến khích nhân dân tích cực tham gia lao động, sản xuất, phát triển kinh tế, chuẩn bị tốt các điều kiện, có lực lượng đánh giặc, bảo vệ đất nước khi lâm nguy, coi trọng nuôi dưỡng lòng dân, “lấy dân làm gốc”. Cũng chính vì vậy, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn từng nói: “Thời bình, phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốcĐó là thượng sách giữ nước…”. Tư tưởng, triết lý, kinh nghiệm quý báu của cha ông kết tinh từ lịch sử được kế thừa, vận dụng trong tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo nên giá trị văn hóa, nghệ thuật dựng nước, giữ nước Việt Nam. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là mối quan hệ gắn bó “máu thịt”, phát triển đất nước về mọi mặt không tách rời với nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc.

Các nhà kinh điển mácxít, đặc biệt là V.I. Lênin đã đặt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc phải đi đôi với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ngay sau khi Cách mạng tháng Mười thắng lợi, Người yêu cầu: “Một khi chúng ta bắt tay vào công cuộc hòa bình kiến thiết thì chúng ta phải đem hết sức mình để tiến hành công cuộc đó không ngừng. Đồng thời, hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của chúng ta như chăm lo con ngươi của mắt mình[1]. Người nhấn mạnh, giành được chính quyền đã khó, giữ được chính quyền càng khó hơn, giai cấp bóc lột, các lực lượng thù địch với giai cấp công nhân không bao giờ tự nguyện rút khỏi vũ đài lịch sử; ngược lại, chúng tìm mọi cách, điên cuồng phản kích để khôi phục lại “thiên đường” đã mất. Đúng như V.I. Lênin đã kết luận: “Không có và không thể có cách mạng mà lại không có phản cách mạng[2]. Vì vậy, lãnh đạo cuộc đấu tranh trấn áp các hoạt động chống phá của các thế lực phản cách mạng, bảo vệ thành quả của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của đảng cộng sản cầm quyền. Hàm ý của Người là hết sức tranh thủ thời gian hòa bình, tận dụng mọi điều kiện thuận lợi, ra sức xây dựng các tiềm lực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tinh thần, khoa học - kỹ thuật, tiềm lực quân sự…chuẩn bị để đất nước sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc.

Trong thời đại Hồ Chí Minh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy tiếp tục được kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” và căn dặn toàn dân, toàn quân ta: “Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”; “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững, chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”. Tư tưởng này được vận dụng góp phần làm nên cách mạng giải phóng dân tộc, đất nước ta giành được những thắng lợi to lớn, dân tộc được độc lập, nhân dân tự do, có cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc; là nguồn cảm hứng thôi thúc, cổ vũ phong trào giải phóng các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới.

 Trong thời kỳ đổi mới, kế thừa bài học kinh nghiệm quý báu lịch sử dân tộc, thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không để bị động, bất ngờ. Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX, XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về quốc phòng, an ninh đã xác định những vấn đề cơ bản về bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục phát triển, hoàn thiện đường lối về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa, từ khi “nước chưa nguy”, trở thành tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công cuộc đối mới đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới: “Chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”, “có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến[3]Thực hiện dĩ bất biến, ứng vạn biến, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến, kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt;... giữ trong ấm, ngoài êm, giữ nước “từ sớm, từ xa”, từ khi nước chưa nguy”.

Bằng chứng sinh động phủ nhận sự xuyên tạc của các thế lực thù địch “Đảng không vì hạnh phúc của nhân dân”

 

Sau gần 40 năm đổi mới, các tầng lớp nhân dân tràn đầy niềm tin tưởng và lạc quan bởi những thành tựu to lớn mà đất nước đã đạt được. Điều đó chứng tỏ bản lĩnh, năng lực và uy tín của Đảng đã in sâu vào trái tim, khối óc nhân dân.

Mục tiêu “tất cả vì hạnh phúc của nhân dân” luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đó cũng là bằng chứng sinh động phủ nhận mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch “Đảng Cộng sản Việt Nam không vì hạnh phúc của nhân dân”.

1. Hạnh phúc là mục tiêu phấn đấu chung của nhân loại tiến bộ hiện nay. Xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc là ước mơ ngàn đời của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cội nguồn hạnh phúc của nhân dân là đất nước được độc lập, tự do, hòa bình, cùng những điều bình dị mà nhân dân cần có, đó là cơm ăn, áo mặc, có nhà để ở, được học hành, được làm chủ vận mệnh của mình và làm chủ xã hội.

Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định phải lấy việc xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân làm mục tiêu hàng đầu của Đảng. Ngay từ ngày đầu thành lập, Đảng ta chỉ rõ, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới “đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc”. Rõ ràng, mục tiêu của Đảng luôn gắn liền với mục tiêu giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa nhân dân ta lên vị thế chủ nhân của đất nước, làm chủ vận mệnh của mình, được hưởng các quyền con người, quyền tự do, công bằng. Hướng tới lợi ích của nhân dân, lấy nguyện vọng và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu lâu dài đã trở thành nhân tố quyết định quy tụ sức mạnh toàn dân tộc. Trong cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, sức mạnh của tinh thần đoàn kết dân tộc, từ nội lực nhân dân đã làm nên một Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu” và đại thắng mùa xuân năm 1975 đưa non sông thu về một mối. Khi Đảng, Nhà nước quan tâm chăm lo đời sống nhân dân thì dù “khó vạn lần dân liệu cũng xong” và khi Đảng, Nhà nước chăm lo hạnh phúc của nhân dân thì sẽ luôn được nhân dân đồng tình, ủng hộ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Quá trình đổi mới đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN), Đảng ta luôn xác định “lấy nhân dân là chủ thể, trung tâm”, “lấy ấm no, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, nhu cầu của nhân dân; xác định nhân dân chính là nguồn lực, động lực chủ yếu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng yêu cầu phải giải phóng mọi tiềm năng, sức mạnh, khả năng sáng tạo của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đã có nhiều nghị quyết được ban hành, nhiều chiến lược phát triển kinh tế-xã hội được hoạch định ở nhiều thời điểm khác nhau, các chương trình quốc gia hỗ trợ giảm nghèo, phát triển kinh tế và an sinh xã hội được nỗ lực thực hiện, tạo ra những chuyển biến căn bản trong xã hội và trong đời sống của nhân dân.

Sau gần 40 năm đổi mới đất nước, kinh tế-xã hội nước ta có nhiều khởi sắc. Với mức tăng trưởng trung bình gần 7% mỗi năm, tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300USD năm 2023, Việt Nam đang tiến tới trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu thiên niên kỷ. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam thuộc nhóm trung bình cao của thế giới. Từ năm 1990 đến 2022, giá trị HDI của Việt Nam nâng từ 0,492 lên 0,726, tăng gần 50%. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng. Quy mô nền kinh tế năm 2024 đã đạt hơn 470 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,93% (theo chuẩn đa chiều) so với mức 60% năm 1986. 

2. Tuy nhiên, mỗi bước tiến trong quá trình xây dựng hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam vẫn còn những khó khăn, trở ngại. Một trong những lực cản, đó là các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tìm cách chống phá. Họ xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới. Với luận điệu hết sức trắng trợn, họ cho rằng, phải thay đổi đường lối xây dựng đất nước thì Việt Nam mới phát triển, người dân mới có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Thời gian qua, các đối tượng chống phá cố tình “đổi trắng thay đen” những tiến bộ và kỳ tích trong xóa đói, giảm nghèo đã được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế ghi nhận. Họ còn rêu rao rằng khoảng cách giàu nghèo cách biệt là do cán bộ, đảng viên tham nhũng, vơ vét tài sản của dân. Họ cố tình thổi phồng những khuyết điểm, hạn chế trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước để quy kết Đảng chỉ biết lo cho mình mà không vì hạnh phúc của nhân dân.

Những luận điệu xuyên tạc đó nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân ta và phá hủy niềm tin của nhân dân vào con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn.

3. Để công cuộc xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, mang lại hạnh phúc cho nhân dân được hiện thực hóa trong đời sống, điều có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là phải kiên trì thực hiện tốt quan điểm “dân là gốc”, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. 

Các cấp, các ngành, các địa phương cần phải nhận thức sâu sắc, vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm Đại hội XIII của Đảng đã đúc kết được, trong đó có bài học “lấy dân làm gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho nên mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN, vì chỉ có CNXH mới bảo đảm hạnh phúc lâu dài cho nhân dân.

Mục tiêu cao cả, tối thượng của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì hạnh phúc của nhân dân. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần tuyệt đối trung thành với con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn và hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Cán bộ, đảng viên luôn nêu cao tinh thần cách mạng, rèn đức luyện tài, không ngừng trau dồi đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, phấn đấu trở thành người cán bộ vừa "hồng", vừa "chuyên". Trong bài viết “Rạng rỡ Việt Nam” nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2) vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu các cấp ủy đảng cần đề cao trách nhiệm nêu gương, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, kịp thời giải quyết những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội; đồng thời phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, bảo đảm Đảng luôn là lực lượng lãnh đạo trung thành với lợi ích của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Giải pháp căn cơ là bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; coi trọng nhân tố con người, phát huy tiềm năng, sức mạnh, năng lực sáng tạo của con người trong phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân. Trong từng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế phải luôn gắn với chính sách xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, xuất phát từ lợi ích thiết thực của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động của nhân dân. Xây dựng các chính sách xã hội phù hợp, kiểm soát sự phân hóa giàu nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc; bảo đảm phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân để không ai bị bỏ lại phía sau; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, gắn nâng cao chất lượng cuộc sống với hạnh phúc của nhân dân.

Đại hội XIII của Đảng xác định: Phấn đấu đến năm 2030, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, theo định hướng XHCN. Khát vọng phát triển đất nước “cường thịnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” không phải là viển vông mà hoàn toàn có cơ sở khoa học, được thực tiễn đúc kết, kiểm nghiệm trong các hoạt động, lao động sáng tạo của nhân dân, bằng chính sự đoàn kết, chung sức đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Trong suốt 95 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy ấm no, hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu phấn đấu, là cội nguồn làm nên sức sống, sự trường tồn của Đảng. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát ở nước ta là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”. Không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Một chế độ chính trị-xã hội tốt đẹp như vậy chính là môi trường, điều kiện thuận lợi để nhân dân yên tâm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm đem sức lực, tài năng, trí tuệ của mình đóng góp vào sự nghiệp chung của đất nước.

Sau gần 40 năm đổi mới, các tầng lớp nhân dân tràn đầy niềm tin tưởng và lạc quan bởi những thành tựu to lớn mà đất nước đã đạt được. Điều đó chứng tỏ bản lĩnh, năng lực và uy tín của Đảng đã in sâu vào trái tim, khối óc nhân dân. Tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và trong tương lai, mục tiêu “tất cả vì hạnh phúc của nhân dân” tiếp tục là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng CNXH. Đây là bằng chứng sinh động phủ nhận mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch “Đảng Cộng sản Việt Nam không vì hạnh phúc của nhân dân”.

 

Lý tưởng sống của thanh niên Việt nam trong kỷ nguyên đất nước vươn mình là gì?

 

“Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không thể có con đường nào khác” - lời nói đó đã trở thành lý tưởng sống, mệnh lệnh hành động thôi thúc biết bao thế hệ thanh niên Việt Nam.

Tuổi 18, trước toà đại hình do bọn thực dân Pháp lập ra để xét xử tù chính trị ngày 17/4/1931, Lý Tự Trọng – người đoàn viên thuộc lớp đầu tiên của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không thể có con đường nào khác”. Lời nói đó đã trở thành lý tưởng sống, mệnh lệnh hành động thôi thúc biết bao thế hệ thanh niên “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh” trong thời kỳ chiến tranh với một mục tiêu – lý tưởng tất cả vì tiền tuyến, vì độc lập tự do của đất nước.

Bước vào “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc, đất nước ta đang trên đà hội nhập với nền kinh tế quốc tế với rất nhiều thời cơ và thách thức được mở ra. Và thanh niên Việt Nam chúng ta, những người chủ tương lai của đất nước phải góp một phần sức cho quê hương của mình. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ và xem lại cách sống của mình, và một câu hỏi lớn được đặt ra:  Lý tưởng sống của thanh niên Việt Nam ngày nay là gì?Vâng, mỗi chúng ta khi vô tình chạm đến hai chữ “lý tưởng” thì cảm thấy như gặp một cái gì đó xa vời, không thực tại chút nào. Chúng ta cứ nghĩ rằng lý tưởng là cái gì đó vĩ đại như lý tưởng cách mạng của K. Marx -  F. Engels, như là lý tưởng vô sản của V.I.Lenin. Thế nhưng ,chúng ta lại không biết rằng lý tưởng lại là thực tại, rất đời thường và gần gũi gắn bó với cuộc sống thường ngày mỗi chúng ta. Lý tưởng chính là cái mục  tiêu phấn đấu và nó đã trở thành một phần của cuộc sống của mỗi con người. Vì thế cho nên cuộc sống sẽ vô vị biết bao nếu  thiếu đi “lý tưởng”.

Tôi thường đề cập đến “lý tưởng”  bằng từ “niềm tin”. Niềm tin mạnh mẽ có thể giúp những người bình thường làm được những việc phi thường hoặc không tưởng. Ngược lại, niềm tin giới hạn có thể làm thui chuột những con người tài năng nhất. Lý tưởng giống như “hệ điều hành” cho não bộ của chúng ta. Chúng quyết định những gì bạn mong muốn và những gì bạn có thể đạt được. Và trên hết mọi thứ, lý tưởng là ngọn đèn chỉ đường; không có lý tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống.
          Nếu bạn tin rằng, bạn có thể trở thành một doanh nhân thành đạt hay một chính trị gia quyền lực, bạn sẽ “dám” mong muốn bản thân mình đạt được điều đó. Nếu bạn tin rằng bạn không bao giờ có khả năng trở thành người như vậy, bạn sẽ chẳng dám mong muốn chứ đừng nói đến việc hành động để biến nó thành hiện thực. Khi đã có lý tưởng  bạn sẽ có dũng khí làm những gì bạn quyết định.
Quay ngược dòng thời gian để tìm về những dấu ấn lịch sử, cách đây 104 năm, ngày 05/6/1911, tại Thương cảng Sài Gòn (nay là Bến cảng Nhà Rồng), người thanh niên yêu nước mang tên Nguyễn Tất Thành cùng với hai bàn tay trắng xuống tàu buôn ra nước ngoài mang trên mình hàng trang duy nhất là lý tưởng tìm đường cứu nước và khát vọng giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách áp bức của thực dân – phong kiến. Có thể thấy, nếu không có đủ sức mạnh của lý tưởng thì Bác Hồ của chúng đã không bao giờ có can đảm ra đi; để rồi đến năm 1920, Người đã đến với lý tưởng cộng sản, tìm thấy con đường cứu nước giải phóng dân tộc đúng đắn,…
Theo con đường cứu nước mà Bác đã chọn, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến nay đã căn cứ vào điều kiện cụ thể của nước ta và tình hình thế giới để đề ra đường lối đúng đắn, kịp thời và đã đưa dân tộc ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác: Cách mạng tháng Tám năm 1945, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, Đại thắng mùa xuân năm 1975. Ngày nay dân tộc Việt Nam vẫn tiếp tục đi theo con đường mà Bác đã chọn để xây dựng đất nước Việt Nam trở thành một quốc gia “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

          Một nhà lãnh đạo nổi bật trên thế giới trong thế kỷ XX mà chúng ta cũng cần đề cập đến là lãnh tụ Ấn Độ Mahatta Gandhi. Phải chăng Gandhi tạo nền tảng vững mạnh để giải phóng Ấn Độ khỏi Anh Quốc là nhờ gia đình ông có quyền thế? Dĩ nhiên là không, ông chỉ là một người bình thường, một luật sư. Và việc sử dụng kiến thức pháp luật mà ông học được từ chính… thực dân Anh chắc chắn không thể nào giúp ông giải phóng dân tộc mình. Thay vào đó, ông nhẹ nhàng dùng sức mạnh của việc biểu tình hòa bình với hàng chục ngàn người dân… cho đến khi Anh Quốc bị khuất phục.

Cả hai bậc vĩ nhân - Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh tụ Mahatta Gandhi đều khởi đầu mà chẳng có điều gì hứa hẹn sẽ giúp họ hoàn thành những việc họ mong muốn, nhưng rồi họ vẫn làm được… và lịch sử có không ít những vĩ nhân xuất chúng như thế. Điều không tương đồng của những người này so với những người bình thường ở chỗ là họ có niềm tin mãnh liệt (hay còn gọi là lý tưởng). Chính điều này đã mang lại sức mạnh giúp họ “chiến đấu” kiên cường và cuối cùng “chiến thắng” bất cứ gian lao trắc trở nào.

95 năm Khởi nghĩa Yên Bái (10-2-1930 / 10-2-2025): Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính và các đồng sự trong Khởi nghĩa Yên Bái

 

Cuộc Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra cách đây đã 95 năm (1930-2025), do Việt Nam Quốc dân đảng lãnh đạo. Việt Nam Quốc dân đảng là một tổ chức theo xu hướng cách mạng dân chủ tư sản, được thành lập ngày 25-12-1927, do Nguyễn Thái Học đứng đầu (Chủ tịch), bên cạnh là các đồng sự Nguyễn Thế Nghiệp (Phó chủ tịch), Phó Đức Chính (Tổ chức), Nguyễn Khắc Nhu[1]… Tổng bộ lâm thời tất cả gồm 15 người[2].

Khởi nghĩa Yên Bái bắt đầu nổ ra vào đêm 9, rạng sáng ngày 10-2-1930, ngoài Yên Bái còn có các địa phương khác, tuy nhiên cuộc khởi nghĩa diễn ra ở Yên Bái là lớn hơn cả. Nghĩa quân chiếm các đồn Pháp ở Yên Bái. Một bộ phận binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp phản chiến tham gia vào cuộc khởi nghĩa. Nghĩa quân chiếm được nhà dây thép (bưu điện), nhà ga, phát truyền đơn, hô hào quần chúng và binh lính hưởng ứng. Ngay sáng hôm sau, thực dân Pháp đã phản công, cuộc khởi nghĩa bị thất bại. Trong vòng một tuần, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt ở các nơi. Trong lúc Việt Nam Quốc dân đảng chuẩn bị khởi nghĩa, Nguyễn Ái Quốc đang ở Xiêm (Thái Lan). Nghe tin đó, Người đã nhận xét: “Cuộc bạo động nổ ra lúc này là quá sớm, và khó thành công[3]. Người muốn gặp các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân đảng để bàn lại kế hoạch[4] hòng hoãn một cuộc khởi nghĩa “non” nhưng không thực hiện được.

1. Bối cảnh dẫn tới cuộc Khởi nghĩa Yên Bái

Sau vụ ám sát trùm mộ phu Ba-danh, “bọn thực dân Pháp cũng khôn ngoan hơn. Mắc bệnh, chúng càng làm cho bệnh trầm trọng, càng khủng bố dân…”[5]. Theo tập tài liệu của Sở mật thám Đông Dương do trùm mật thám Louis Marty điều khiển, về Việt Nam Quốc dân đảng, có tên là Contribution à l’histoire des mouvements politiques de l’Indochine française thì Việt Nam Quốc dân đảng là một tổ chức “ăn rập theo khuôn của Trung Hoa Quốc dân đảng do Tôn Dật Tiên sáng lập”[6]

Kể từ khi ra đời năm 1927 đến trước cuộc Khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, Việt Nam Quốc dân đảng là một trong các đảng hoạt động sôi nổi, trong những năm cuối của thập niên 20 (của thế kỷ XX): “Trong ba đảng đồng thời hoạt động là Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, Tân Việt cách mạng đảng và Việt Nam Quốc dân đảng,… hai đảng trên là tiền bối của Đảng Cộng sản Đông Dương. Còn đảng dưới là chính đảng của giai cấp tư sản với một màu sắc quốc gia rõ rệt[7].

Theo bản chương trình hành động đã được duyệt y trong Hội nghị đầu tiên thành lập Việt Nam Quốc dân đảng vào ngày 25-12-1927, thì trước khi nổ ra cuộc khởi nghĩa giành chính quyền phải kinh qua ba thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất, tức thời kỳ phôi thai, đảng chú ý vào việc tổ chức các chi bộ, xây dựng cơ sở của đảng. Thời kỳ thứ hai tức thời kỳ dự bị, đảng chú ý vào tổ chức các hội quần chúng xung quanh đảng, mở những cơ quan tuyên truyền bán công khai và phái người đi du học nước ngoài về quân sự và cơ khí để đợi ngày về nước làm việc. Thời kỳ thứ ba là thời kỳ công khai, tức thời kỳ khởi nghĩa, đảng tổ chức những đoàn quân cảm tử hợp với những binh lính đảng viên trong đội ngũ quân đội Pháp nổi lên đánh địch, “Khôi phục giang sơn” và giải phóng dân tộc[8]. Tuy nhiên, đến đầu năm 1929, Việt Nam Quốc dân đảng chưa vượt qua thời kỳ thứ nhất; vậy thì nguyên nhân nào khiến Việt Nam Quốc dân đảng đã đốt cháy giai đoạn để tiến hành công cuộc bạo động? 

Việt Nam Quốc dân đảng ra đời trên cơ sở là Nhà xuất bản Nam Đồng thư xã. Nam Đồng thư xã ra đời tại Hà Nội vào năm 1925, là một nhà xuất bản chuyên in ấn các sách vở có nội dung yêu nước. Những người sáng lập Nam Đồng thư xã là Phạm Tuấn Tài (Mộng Tiên) cùng anh ruột là Phạm Tuấn Lâm (Dật Công)[9] và Hoàng Phạm Trân (Nhượng Tống). Các ông vốn đã quen biết nhau trong các hoạt động chính trị lúc đó ở Hà Nội. Về mặt lý tưởng các ông đều bàn bạc thống nhất không chấp nhận cách mạng hòa bình mà khẳng định cách mạng bạo lực tiến lên theo con đường của học thuyết Tôn Trung Sơn. Như vậy, có thể thấy Việt Nam Quốc dân đảng được tổ chức bởi những người “trí thức và giai cấp tiểu tư sản[10].

Ngoài ra, Nam Đồng thư xã còn quy tụ được thêm nhiều thanh niên hăng hái khác nữa như “Phó Đức Chính, Lê Văn Phúc, Lê Thành Vị, Nguyễn Thái Trác, Vũ Huy Châu, Nguyễn Hữu Đạt, Vũ Hiển, Phan Ngọc Trúc, Nguyễn Văn Lô, Trần Vĩ, Lưu Văn Phùng”[11]. Sách của Nam Đồng thư xã có xu hướng (chính trị và thương mại) rõ rệt nên bị cấm và vì thế mang đến hậu quả làm sụp đổ cơ sở Nam Đồng thư xã[12].

Tại Hội nghị thành lập Việt Nam Quốc dân đảng tại làng Thể Giao vì có động nên nửa chừng giải tán và quay về họp lại tại Nam Đồng thư xã. Mục đích và tổ chức của Việt Nam Quốc dân đảng đều được ghi trong điều lệ và được phỏng theo thể chế của Trung Hoa Quốc dân đảng. Tài liệu của Sở mật thám Đông Dương viết “Nguyễn Thái Học và đồ đảng bắt chước nguyên văn những lời nói của Tôn Dật Tiên trong Bảng luật của Cộng hòa Trung Hoa… hy vọng vào thế lực hữu hiệu của Trung Hoa giúp đỡ họ đuổi người Pháp ra khỏi Đông Dương bằng vũ lực[13].

Khi mới thành lập Việt Nam Quốc dân đảng chưa đề ra được một đường lối chính trị nào rõ ràng. Mà bản Điều lệ được thảo ra trong ngày thành lập phỏng theo chương trình chỉ ghi chung chung là: “Trước làm dân tộc cách mạng, sau làm thế giới cách mạng[14]. Trong bản Điều lệ năm 1928, đảng mới nêu chủ nghĩa của đảng là: Xã hội dân chủ. Đến năm 1929, Việt Nam Quốc dân đảng không chủ trương xã hội dân chủ nữa mà thay bằng các khẩu hiệu của Cách mạng tư sản Pháp là Tự do - Bình đẳng - Bác ái với mục tiêu là thực hiện một cuộc cách mạng dân chủ tư sản.

Chương trình của đảng chia thành bốn thời kì. Thời kì cuối cùng là bất hợp tác với chính phủ Pháp và triều đình nhà Nguyễn; cổ động bãi công, đánh đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập dân quyền.

Về tổ chức, Việt Nam Quốc dân đảng được tổ chức theo 4 cấp là: Tổng bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ và chi bộ; nhưng chưa bao giờ trở thành hệ thống trong cả nước. Tổng bộ trên thực tế là do kỳ bộ Bắc Kỳ kiêm nhiệm. Tổ chức cơ sở của Quốc dân đảng trong quần chúng rất ít. Địa bàn hoạt động của Quốc dân đảng chỉ bó hẹp trong một số địa phương ở Bắc Kỳ, còn ở Trung Kỳ và Nam Kỳ không đáng kể. “Tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ đảng đã nhanh chóng nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong số các công chức trẻ, giáo viên, sinh viên, binh lính và phụ nữ. Đầu năm 1929, đảng tổ chức được 120 chi bộ hoạt động ở Bắc Kỳ, quy tụ được 1.500 đảng viên, 120 người trong số này là binh lính[15]. Ngoài ra, Việt Nam Quốc dân đảng còn kêu gọi được sự ủng hộ của các nhà hảo tâm, tư sản, mạnh thường quân, “người ta kêu gọi đến vị mạnh thường quân Đặng Đình Điển được nhận vào đảng, mặc dầu tuổi đã cao, nhưng vì ảnh hưởng, ông đã có trong vùng Nam Định và nhất là gia tài kếch sù của ông. Từ tháng 10-1928, nhờ phần bảo chứng của ông, đảng có thể đặt tại Hà Nội Việt Nam Khách sạn…”[16]. Quốc dân đảng chủ trương tiến hành cách mạng bằng bạo lực, chú trọng lấy lực lượng binh lính người Việt trong quân đội Pháp giác ngộ làm lực lương chủ lực.

2. Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính cùng các đồng sự trong cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Yên Bái và các tỉnh Bắc Kỳ

Những nguyên nhân nào đã dẫn tới các cuộc khởi nghĩa của Việt Nam quốc dân đảng nổ ra sớm trước khi chương trình hành động của đảng phải bước sang thời kỳ thứ ba, thời kỳ công khai, khởi nghĩa, đánh đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập dân quyền. Có thể thấy một số nguyên nhân dẫn tới cuộc Khởi nghĩa Yên Bái (ngoài nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khởi nghĩa) là: Sự bất mãn về chính trị (như trong thư của Nguyễn Thái Học viết gửi cho Toàn quyền Đông Dương và Hạ nghị viện Pháp), và sự bần cùng hóa của người dân, còn có các hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Việc bắt người đi phu, mộ phu cho các đồn điền ở Nam Kỳ (nhất là đồn điền cao su), khi đi thì có khi về thì không, “khi đi trai tráng, khi về bủng beo”. “Kế đó lại xảy ra hai vụ mất mùa liên tiếp vào đúng lúc Đông Dương lâm vào tình trạng suy thoái lớn: Giá gạo xuống thấp, số nợ ở nông thôn ngày càng trở nên nghiêm trọng… Mặt khác, đồng bạc Đông Dương từ năm 1925 bị mất giá, do loại kim khí này liên tục bị mất giá… hậu quả là giá bán gạo trong nước giảm”[17], ngân sách Đông Dương ngày một phình to.

Cuối năm 1928, đầu năm 1929 Việt Nam Quốc dân đảng phát triển mạnh về số lượng và cơ sở đảng. Nhưng vì tổ chức không được chặt chẽ, bí mật, nên nhiều mật thám, chỉ điểm đã có thể lọt vào. Sở mật thám Pháp muốn ngăn chặn sự phát triển của Việt Nam Quốc dân đảng, nhưng lại không có bằng chứng buộc tội. Mâu thuẫn nội bộ, là một trong những nguyên nhân khiến cho Việt Nam Quốc dân đảng ở cấp lãnh đạo cũng không đoàn kết thống nhất với nhau: “Sự xung đột giữa hai khối lập pháp do Nguyễn Khắc Nhu; Nguyễn Thái Học đứng đầu và khối hành chính của Nguyễn Thế Nghiệp đã đưa Việt Nam Quốc dân đảng tới trước một đe dọa giết hại lẫn nhau”[18].

Tháng 2-1929, Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức ám sát tên trùm phu Bazin (Ba-danh) ở Hà Nội. “Bazin điều khiển tại Hà Nội một sở mộ phu Bắc Kỳ gởi đến các đồn điền ở miền Nam Đông Dương hay Nouvelle Calédonie. Buổi chiều Tết An Nam (9-2-1929), ông bị ám sát trên đường bởi nhiều phát súng sáu (súng lục 6,35mm) do một người bản xứ bắn… tiếng súng hòa lẫn tiếng pháo nổ mà người An Nam có tập tục đốt vào dịp lễ này[19]. Bazin bị ám sát khi vừa ở nhà nhân tình của ông là cô Germaine Carcelle, một đầm lai đứng bán hàng cho hãng buôn Gô đa ở số 110, phố Huế (phố Chợ Hôm). Thực hiện vụ ám sát là hai thanh niên bận màu xám, đầu trần, đứng chờ Bazin trước cửa. Một người tiến tới đưa cho ông một bức thư tuyên án tử hình… Bazin ngã lăn trên vũng máu, một hồi sau thì tắt thở[20].

Người ta cho rằng đây không phải là vụ giết người thông thường vì tiền bạc, vì ái tình, vì thù hằn cá nhân hay vì cạnh tranh việc làm ăn mà vì lý do chính trị. Thủ phạm là người bản xứ thuộc một tổ chức chính trị chống Pháp[21].

Nhân sự kiện này, thực dân Pháp tiến hành một cuộc khủng bố dã man, bởi chúng cũng nhân dịp này để đàn áp các đảng phái khác mà chúng thấy là nguy hiểm, không chỉ riêng Việt Nam Quốc dân đảng: “…bọn thực dân Pháp cũng khôn ngoan hơn. Mắc bệnh, chúng càng làm cho bệnh trầm trọng, càng khủng bố dân. Bắt bớ hàng loạt, án tử hình, giam cầm, tra tấn…[22]; “Trong một thời gian ngắn, hầu hết những đảng viên từ Trung ương đến các cấp địa phương đều bị bắt, hệ thống của đảng bị đứt đoạn. Một việc tình cờ là hai vị lãnh tụ của đảng là Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu lúc ấy vắng mặt ở Hà Nội, đang đi kiểm soát tại các tỉnh nên được tin trốn thoát. Đứng trước sự cơ gấp rút, hai vị lãnh tụ vốn giàu tính chất bạo động, chỉ có một quan niệm rất đơn giản là: nếu cứ ngồi yên để cho quân địch bắt được rồi lên máy chém hay vào nhà tù kết liễu một đời hoạt động, chi bằng thừa lúc còn được tự do ở ngoài, dốc hết lực lượng còn lại để đánh một trận cuối cùng:Không thành công cũng thành nhân[23]. Tình hình chính trị, căng thẳng và ngột ngạt, đã dẫn đến những thiệt hại lớn cho những chính đảng cách mạng ở Việt Nam khi đó: “Năm 1929, đế quốc Pháp bắt đầu tiến công các tổ chức... Cuộc tấn công bắt đầu bằng khoảng 300 vụ bắt bớ ở Nam Kỳ để đàn áp nhóm Thanh Niên (tức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên). Tiếp đó là ở Bắc Kỳ có hơn 800 vụ bắt bớ. Hầu hết An Nam Quốc dân đảng bị lọt vào lưới[24].

Học giả người Pháp Patric Morlat trong cuốn Chính quyền và sự đàn áp ở Việt Nam trong thời kỳ thuộc địa 1911-1940, đã viết: “Nhờ sự khám xét, cơ quan an ninh phát hiện ra nhiều chi bộ, trong đó có những chi bộ trong quân đội. Mục đích gây tổn hại đến nền an ninh bên trong của Nhà nước của Việt Nam Quốc dân đảng… Toàn quyền Pasquier gửi vụ việc lên Hội đồng Đề hình Bắc Kỳ…”[25]. Bị động trước tình thế đó, những nhà lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam Quốc dân đảng quyết định dốc hết lực lượng nhằm thực hiện cuộc bạo động cuối cùng để dù thất bại thì cũng thành danh nhân ở đời. Chứ không chịu khoanh tay chờ chết.

Những yếu nhân lãnh đạo của Việt Nam Quốc dân đảng cùng các đồng sự đã tiến hành hội nghị đi đến chỗ quyết định tại hội nghị Lạc Đạo. Trong cuộc hội nghị này, có hai chủ trương khác nhau giữa những đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng còn sót lại. Phái bạo động mà đại biểu của nó là Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu chủ trương phải khởi nghĩa ngay với những lý luận kể trên. Trái lại, phái cải tổ mà đại biểu là Lê Hữu Cảnh và Trần Văn Huân muốn dựa theo đường lối đã vạch ra từ trước và chủ trương tổ chức lại đảng, chưa nên bạo động. Kết quả là phái bạo động đã áp đảo được phái cải tổ. Và chủ trương bạo động đã được coi là quyết nghị của đảng. Phái bạo động dựa vào một số nhân sĩ, kỳ hào, phú nông ở các tỉnh trung du và hạ du, đặc biệt lấy các tỉnh Hải Dương, Kiến An, Phú Thọ và một số binh lính trong hàng ngũ Pháp như ở Yên Bái, Sơn Tây, Kiến An và Hải Phòng. Trái với dự định trước kia là cuộc tổng khởi nghĩa có tính chất toàn quốc, cuối cùng cuộc chuẩn bị khởi nghĩa chỉ còn hạn chế lại ở mấy địa bàn mà Việt Nam Quốc dân đảng còn có một phần nào thế lực.

Trong khi chuẩn bị khởi nghĩa đang gặp nhiều trở ngại thì tháng 9-1929, một sự kiện không may lại xảy ra tại Hội nghị Võng La với sự phản bội của Phạm Thành Dương, làm cho lực lượng khởi nghĩa bị tổn thương một lần nữa. Giới thống trị Pháp tung cảnh sát, mật thám và tay sai càng bủa lưới bao vây lùng bắt những người chủ trương bạo động, cố làm cho cuộc bạo động không thể nổ ra: “Các vụ “thanh toán” những thành phần phản bội và các tại nạn do việc chế tạo chất nổ đã báo động cảnh sát. Và những mẻ lưới lớn đã được giăng ra. Nhiều lãnh tụ cốt cán sa lưới, các bộ phận lãnh đạo bị phá hủy”[26].

Những vụ nổ do chế tạo bom của Việt Nam Quốc dân đảng cũng làm cho thực dân Pháp lần ra manh mối và nhiều vụ bị phát hiện. Theo tài liệu của Pháp cho biết: “Ngày 3-9 (1929) ba người chết trong căn nhà lá ở Mỹ Điền vì chế bom rồi bị nổ… Ngày 20-11, người ta khám phá được một trăm năm mươi quả bom ở một làng gần Bảy Chùa. Ngày 23-12 lại tìm thấy 150 quả bom nữa ở Nội Viên. Ngày 26, 290 quả ở Thái Hà. Ngày 10 tháng giêng, người ta đào được ở Bắc Ninh nhiều chum đựng truyền đơn cách mạng. Ngày 20, người ta bắt giữ một anh thợ rèn kiếm và những ngày sau còn bắt được rất nhiều bom, hàng trăm quả trong nhiều làng khác[27]

Những nhân vật trọng yếu còn lại trong phái bạo động thấy phải xúc tiến việc bạo động mặc dầu chuẩn bị chưa được đầy đủ. Đầu năm 1930, ngày định khởi nghĩa đã được đề ra. Theo sự phân công phụ trách khi ấy ông Nguyễn Thái Học sẽ nhận trách nhiệm chỉ huy những cuộc khởi nghĩa tại mấy tỉnh miền xuôi như Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Phả Lại... Còn Nguyễn Khắc Nhu “là người chỉ huy cuộc vũ trang khởi nghĩa ở khu Tây bắc Bắc bộ gồm các yếu điểm: Yên Bái, Hưng Hóa (Phú Thọ), Lâm Thao”[28]. Riêng Phó Đức Chính phụ trách đánh vào đồn Thông, một đại bản doanh quân sự của Pháp ở Sơn Tây.

Theo tài liệu của Sở mật thám Đông Dương viết: “Cuộc khởi nghĩa định vào ngày 10-2-1930. Kế hoạch tấn công như sau: Nguyễn Thế Nghiệp phải chiếm Lao Kay (Lào Cai). Nguyễn Khắc Nhu tức Xứ Nhu và Phó Đức Chính phải đánh Yên Bái, Hưng Hóa, Lâm Thao và Sơn Tây. Nguyễn Thái Học phải gây ra cuộc khởi nghĩa ở Bắc Ninh, Đáp Cầu, Hải Dương…[29]. Mặc dù thực dân Pháp hết sức đề phòng, cuộc khởi nghĩa vẫn bùng nổ. Các cuộc Khởi nghĩa do Việt Nam Quốc dân đảng lãnh đạo nổ ra ở nhiều tỉnh ở Bắc Kỳ, tuy cuộc khởi nghĩa ở mỗi nơi diễn ra có sự khác nhau, có nơi khởi nghĩa không nổ ra được. Yên Bái là tỉnh diễn ra cuộc khởi nghĩa mạnh mẽ nhất, nên người ta thường hay gọi là Khởi nghĩa Yên Bái.

Trong lúc Việt Nam Quốc dân đảng chuẩn bị khởi nghĩa Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Xiêm (Thái Lan). Thấy cuộc khởi nghĩa nổ ra lúc này là quá sớm bởi những điều kiện để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa chưa được chuẩn bị đầy đủ và chu đáo, bởi vậy Người đã nhận định khởi nghĩa “khó thành công”. Người muốn “bàn lại kế hoạch” nhưng không thực hiện được. Trong lúc lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị vượt biên giới Thái Lan đến Trung Quốc, cuộc bạo động đã được chuẩn bị và nổ ra[30].

Cuộc Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra vào lúc 1 giờ sáng ngày 10-2-1930[31]. Cùng đêm đó, khởi nghĩa nổ ra ở Phú Thọ, Sơn Tây; sau đó là ở Hải Dương, Thái Bình… Ở Hà Nội, cũng có đánh bom phối hợp. Cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái nổ ra lớn nhất, ở nhiều nơi Việt Nam Quốc dân đảng đã làm chủ được tình hình, tuy nhiên những vị trí quan trọng lại không chiếm được: “Sáng ngày 10-2-1930. Quân khởi nghĩa chủ yếu dựa vào binh lính khố đỏ, chiếm được đồn Thấp, diệt và làm bị thương hơn chục tên Pháp trong đó có tên quan ba Giuốc-đanh (Juordin), quan Hai Rô-be (Robert), viên quản Qui-nê-ô (Cunéo) và kho vũ khí, nhưng không chiếm được đồn Cao do tên quan tư Pháp chỉ huy, không chiếm được trại lính khố xanh và để tên Tuần phủ Yên Bái chạy thoát. Nhân dân thị xã Yên Bái bị bất ngờ không có hoạt động gì ủng hộ quân khởi nghĩa. Khi trời sáng quân Pháp từ đồn Cao phối hợp với đơn vị lính khố xanh phản công, quân khởi nghĩa tan rã. Thực dân Pháp ra sức truy lùng bắt toàn bộ những người lãnh đạo Việt Nam Quốc dân đảng và những người tham gia cuộc khởi nghĩa”[32].

Miêu tả của Louis Roubaud trong cuốn Viet-nam la Tragédie Indo-chinoise (Việt Nam thảm kịch Đông Dương) cho thấy cuộc Khởi nghĩa Yên Bái chi tiết hơn với những sự kiện: “Trung úy Robert bị hạ sát ngay trên giường, trước mắt người vợ. Thượng sĩ Cunéo chết không kịp tự vệ, nhưng trung sĩ Chevalier và Damour không may mắn bằng Bouhier, chết không kịp trở tay. Những người khác, thượng sĩ Trotoux, trung sĩ nhất Deschamps, các trung sĩ Hurugen và Reynaud với bà Reynaud bị chặn lại ở trong phòng và họ kháng cự bằng súng máy cho đến sáng. Đại úy Jourdan, ở trong sân pháo đài hô lệnh tập hợp quân sĩ, lập tức bị một viên đạn chết ngay. Đại úy Gainza bị thương ở sườn[33]

Lực lượng khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân đảng đã chiếm được nhà dây thép, ngà ga, phát truyền đơn… Ngày hôm sau, thực dân Pháp đã phản công, cuộc bạo động bị thất bại... Nguyễn Thái Học, cùng các nhân vật chủ chốt, và các đồng sự khác bị bắt. Trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930, Nguyễn Ái Quốc đã cho biết tình hình sau “vụ Quốc dân đảng” thì tình hình ở An Nam bị khủng bố gắt gao: “Đã hai lần tôi cố gắng về An Nam, nhưng phải quay trở lại. Bọn mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật, đặc biệt là từ khi xảy ra vụ An Nam Quốc dân đảng[34].

Khởi nghĩa Yên Bái bị thất bại, đồng thời với Yên Bái cuộc khởi nghĩa ở nhiều nơi khác cũng thất bại theo: “Cùng một đêm với Yên Bái, quân khởi nghĩa đã đánh đồn Hưng Hóa và chiếm phủ Lâm Thao. Theo kế hoạch, một khi Yên Bái đắc thắng, những toán quân này sẽ cùng hội quân ở Hưng Hóa, qua sông Trung Hà, đánh vào đồn Thông (Sơn Tây), họp với toán quân của Phó Đức Chính ở đây. Dân quân đánh đồn Hưng Hóa, do nhà lãnh tụ Nguyễn Khắc Nhu trực tiếp chỉ huy. Vì vũ khí kém và không có nội ứng, toán quân này không chiếm được đồn Hưng Hóa, phải rút về Lâm Thao. Tại Lâm Thao, nghĩa quân do Phạm Nhận chỉ huy đánh chiếm phủ Lâm Thao, hợp với toán quân từ Hưng Hóa kéo về. Bị quân đội Pháp từ Phú Thọ kéo đến phản công, lãnh tụ Nguyễn Khắc Nhu bị thương và bị bắt, cắn lưỡi chết”, “Chỉ trong một ngày, ông đã tự tử ba lần quyết chết để khỏi đội trời chung với quân thù[35]. Như vậy, là quân khởi nghĩa Yên Bái cũng như ở Hưng Hóa và Lâm Thao đã kế tiếp bị tan vỡ. “Dự định hợp binh đánh sang Sơn Tây không thực hiện được. Còn tại Sơn Tây cuộc chuẩn bị khởi nghĩa cũng bị lộ, thực dân Pháp hết sức đề phòng; thêm vào đấy ảnh hưởng thất bại của những quân khởi nghĩa tại Yên Bái và Phú Thọ, kết quả là kế hoạch đánh chiếm đồn Thông không thực hiện dược. Ít ngày sau Phó Đức Chính cũng bị bắt”[36].

Ở Thái Bình, cuộc đánh chiếm Phụ Dực (16-2-1930) theo tài liệu của thực dân viết: “Mấy ngày sau vụ nổi loạn ở Yên Bái, đêm ngày 15 rạng ngày 16-2-1930, huyện Phụ Dực cũng bị đánh chiếm cùng lúc với huyện Vĩnh Bảo (Hải Dương). Vào 9 giờ tối, một toán quân từ 40 đến 50 người, mang dao rựa, gậy gộc và một vài quả bom đột nhập vào nha môn của quan huyện… Toán quân ở đấy khoảng 2 tiếng  đồng hồ, đốt các hồ sơ, nổ nhiều bom… Tòa sứ Thái Bình chỉ nhận được tin Phụ Dực bị đánh qua khu đại lý hành chính Ninh Giang và Phủ Thống sứ vào hồi 4 giờ sáng[37].

Như vậy, ngoài ở tỉnh Yên Bái cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quốc dân đảng lãnh đạo nổ ra lớn nhất, còn ở các tỉnh khác, có sự phối hợp, nhưng nổ ra chậm và muộn hơn, quy mô nhỏ, không chiếm được những vị trí then chốt, chỉ gây ra một số thiệt hại đối với chính quyền cai trị. Mặc dù, cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Nguyễn Khắc Nhu lãnh đạo bị thất bại nhanh chóng, song đã cổ vũ lòng yêu nước, chí căm thù của nhân dân Việt Nam đối với thực dân Pháp và tay sai. Hành động yêu nước, tấm gương hi sinh của các chiến sĩ Yên Bái là sự nối tiếp truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc Việt Nam. Vai trò lịch sử của Việt Nam Quốc dân đảng với tư cách là một chính đảng cách mạng trong phong trào dân tộc vừa mới xuất hiện đã chấm dứt cùng với sự thất bại của khởi nghĩa Yên Bái.

*   *

*

Cuộc khởi nghĩa diễn ra ở tỉnh Yên Bái nói riêng, cuộc tổng khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân đảng ở các tỉnh Bắc Kỳ nói chung bị thất bại do những nguyên nhân khác nhau, nhưng về cơ bản có thể thấy là do: Tương quan giữa ta và địch còn chênh lệch nhiều; Việt Nam Quốc dân đảng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa còn non yếu;  Lực lượng vũ trang khởi nghĩa không đủ đảm bảo cho thắng lợi; Cuộc khởi nghĩa không được dựa vào sự ủng hộ của nhân dân…. Dù có nguyên nhân khách quan nào đi nữa thì nguyên nhân thất bại chính vẫn là điều kiện chủ quan. Chỗ dựa vững chắc để khởi nghĩa thành công không có, không được đảm bảo. Nổ ra lúc Việt Nam Quốc dân đảng đang tan vỡ đang bị nguy cơ tiêu diệt của thực dân Pháp. Không có một lý luận trong công tác khởi nghĩa. Không đặt sự tiến hành khởi nghĩa trên một cơ sở khoa học thực tiễn lúc đó, do vậy mà đã đánh liều với bạo động, dẫn đến một cuộc “khởi nghĩa non”, chưa chín muồi, vì vậy mà phải hi sinh nhiều nhân mạng của nghĩa quân, kết quả vẫn thất bại.

Dù khởi nghĩa không thành công, nhưng chúng ta cũng phải ghi nhận sứ mệnh lịch sử ngắn ngủi có tích chất cách mạng[38] của Việt Nam Quốc dân đảng thời kỳ 1927-1930. Với sự lãnh đạo của những yếu nhân quan trọng, lãnh tụ của đảng như: Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Nguyễn Khắc Nhu, cùng các đồng sự khác… với một tinh thần yêu nước căm thù giặc, đầy hi sinh, gian khổ, rất đáng để cho chúng ta khâm phục.

Kể từ khi Việt Nam Quốc dân đảng được thành lập từ cuối năm 1927 đến cuộc Khởi nghĩa Yên Bái, cho thấy tính chất dân tộc chống thực dân đã được biểu hiện rõ rệt. Nhưng đồng thời, nó cũng đánh dấu tính chất manh động và phiêu lưu của giai cấp tiểu tư sản và nông dân một khi không ở dưới quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân. Cuộc Khởi nghĩa Yên Bái thất bại không những kéo theo sự đổ vỡ hoàn toàn của Việt Nam Quốc dân đảng, mà còn tước quyền lãnh đạo cách mạng của một bộ phận tiểu tư sản. “Cách mạng Việt Nam đến đây bước sang một giai đoạn mới là giai đoạn độc quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân[39]

Cuộc khởi nghĩa Yên Bái tuy thất bại, nhưng đã cho chúng ta thấy tinh thần vì nước quên mình của các chiến sĩ Yên Bái và để lại bài học kinh nghiệm cho cách mạng Việt Nam giai đoạn tiếp sau: “Cuộc khởi nghĩa Yên Bái là một bằng chứng quật khởi của một dân tộc không chịu làm nô lệ, còn là một bài học lịch sử của một dân tộc bị áp bức quyết đánh ngã kẻ thù[40].

Đánh giá về ý nghĩa, vai trò lịch sử của khởi nghĩa Yên Bái Văn kiện của Đảng  Cộng sản Việt Nam đã viết: “… Cuộc bạo động ở Yên Bái tuy rằng do Đảng Việt Nam quốc dân tổ chức, đảng này đã hạn chế cuộc vận động trong một cái trình độ âm mưu hành động của một tốp người, song cuộc bạo động cũng có quần chúng nhân dân dự vào, cùng là một cái tang chứng hùng dũng tranh đấu của lính An Nam biết lo việc cho toàn nhân dân. Lịch sử, ý nghĩa của cuộc Yên Bái bạo động là một sự bắt đầu biến chuyển quần chúng lao động tuy là lính khố đỏ An Nam (do nông dân Bắc Kỳ giúp đỡ) ra trực tiếp làm vũ trang tranh đấu chống đế quốc chủ nghĩa Pháp. Bởi vậy cho nên cuộc bạo động ấy đóng một vai cách mạng to và trở nên một cuộc phản đế vận động của quảng đại quần chúng nhân dân bắt đầu bành trướng mạnh mẽ...”[41].

95 năm sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930-2025), lịch sử đã chứng tỏ rằng cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở thuộc địa phải do giai cấp công nhân lãnh đạo, liên minh với giai cấp nông dân và các tầng lớp cách mạng khác trong dân tộc mới có thề đảm bảo thắng lợi. Cuộc khởi nghĩa nổ ra không thể do ý chí quyết định của một số ít người, mà phải do những điều kiện chủ quan và khách quan chín muồi. Lãnh đạo cách mạng chỉ có thể thành công khi mà quyền lãnh đạo thuộc giai về giai cấp công nhân đoàn kết hết thảy dân tộc đứng lên làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đánh đổ đế quốc và phong kiến.

 

 

 

 

Vạch trần luận điệu sai trái về chi 80 tỷ đồng để lắp đặt 66 nút đèn tín hiệu giao thông

Gần đây, tổ chức phản động Việt Tân đã tiếp tục các hoạt động chống phá khi lan truyền bài viêt với luận điệu cho rằng việc lắp đặt hệ thống đèn giao thông tại Hà Nội là một hành động lãng phí, tham nhũng. Bài viết này đang chứa đựng nhiều thông tin sai lệch, thiếu cơ sở và mang tính chất gây hoang mang trong dư luận.

Trước hết, việc lắp đặt 66 nút đèn giao thông với tổng mức đầu tư 80 tỷ đồng là một dự án quy mô lớn, bao gồm nhiều hạng mục: trồng trụ đèn, hệ thống dây dẫn, bảng điều khiển tín hiệu, và công tác lắp đặt.

Chi phí lắp đặt đèn tín hiệu giao thông tại các nút giao có thể khá cao, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô của nút giao, công nghệ sử dụng, và điều kiện hạ tầng sẵn có. Lắp đặt một hệ thống đèn giao thông rất phức tạp, cần phải tính toán kỹ càng từ khâu khảo sát thiết kế, đến lắp đặt và bảo trì.

Riêng nói đến phần cứng và thiết bị, đèn tín hiệu bao gồm rất nhiều loại: các bộ đèn (đỏ, vàng, xanh); đèn tín hiệu giao thông hình mũi tên (đỏ, xanh, vàng); đèn chớp vàng cảnh báo nguy hiểm; đèn tín hiệu giao thông dành cho người đi bộ; đèn tín hiệu giao thông đếm ngược; đèn chữ thập đỏ. Cột đèn và giá treo: Giá cả thay đổi theo chất liệu (thép, hợp kim), chiều cao, và thiết kế. Bộ điều khiển tín hiệu giao thông: Đây là phần quan trọng, chi phí tương đối cao. Đối với những bộ điều khiển tín hiệu giao thông có tích hợp công nghệ hiện đại thì chi phí có thể đến vài trăm triệu. Cảm biến giao thông: Cảm biến phát hiện phương tiện hoặc người đi bộ để điều chỉnh tín hiệu, giá có thể từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng. Đèn tín hiệu thông minh: Hệ thống tích hợp trí tuệ nhân tạo hoặc IoT để tối ưu hóa lưu lượng giao thông sẽ tốn kém hơn so với hệ thống truyền thống. Chưa kể chi phí lien quan đến hệ thống liên kết giữa các nút giao (qua mạng không dây hoặc cáp quang).

Để lắp đạt một hệ thống đèn giao thông thì còn cần tính đến việc xây dựng hạ tầng: Gồm đào đường, lắp đặt cột, dây điện ngầm, và các công trình liên quan, có thể chiếm một phần đáng kể trong tổng chi phí. Hệ thống cần được bảo trì định kỳ, thay thế linh kiện, và cập nhật phần mềm. Việc thi công và bảo trì đòi hỏi đội ngũ kỹ thuật có tay nghề cao để đảm bảo hệ thống hoạt động ổn định trong thời gian dài, chi phí này cũng cần tính toán trong dài hạn.

Việc quy chụp mỗi cột đèn đỏ chỉ có giá vài triệu đồng là cách so sánh thiếu cứ liệu. Mỗi nút giao thông bao gồm hệ thống phụ trợ toàn diện, được thi công đảm bảo an toàn giao thông và độ bền lâu dài.

Hệ thống đèn giao thông là một yếu tố quan trọng trong việc điều tiết giao thông, giảm tình trạng tai nạn và ùn tắc. Mỗi nút đèn được lắp đặt theo quy hoạch dựa trên khảo sát lưu lượng xe cộ và tình hình giao thông tại khu vực.

Không thể quên vai trò của đèn giao thông trong việc giảm tai nạn và đảm bảo an toàn cho người đi bộ lẫn các phương tiện khác. Đề xuất “lấy tiền lắp đèn giao thông để làm việc khác” đôi khi là một sự nhầm lẫn giữa đầu tư ngắn hạn và lợi ích lâu dài. Việc cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông là cần thiết và đang được nghiên cứu, tiến hành từng ngày. Chúng ta không thể phủ nhận rằng những giải pháp như lắp đặt đèn tín hiệu, xây dựng cầu vượt, hoặc mở rộng các tuyến đường cũng góp phần quan trọng vào việc giảm ùn tắc và nâng cao hiệu quả giao thông. Cải thiện giao thông không phải là một giải pháp đơn lẻ, mà phải kết hợp nhiều biện pháp đồng bộ.

Bài viết đã sử dụng ngôn ngữ gây chia rẽ, quy chụp thiếu căn cứ, và không có bất kỳ dẫn chứng xác đáng nào cho những lời cáo buộc. Việc lan truyền thông tin như vậy không chỉ gây mất lòng tin trong xã hội mà còn ảnh hưởng tới hình ảnh các cơ quan chức năng. Người dân có quyền yêu cầu minh bạch và giám sát các dự án công, nhưng chúng ta cũng phải có cái nhìn khách quan, dựa trên các thông tin chính thức và đáng tin cậy. Hãy cùng nhau xây dựng một xã hội minh bạch, công bằng, và phát triển lâu dài. 

Sưu tầm

 

Lý tưởng của thanh niên trong kỷ nguyên đất nước vươn mình

Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc, là người chủ tương lai của đất nước…Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên”(1). Thanh niên luôn có hoài bão lớn, có ước mơ cháy bỏng. Giàu nghị lực, sống với lý tưởng mãnh liệt và dám xả thân vì nghĩa lớn, thanh niên rất năng động, sáng tạo, dám khám phá cái mới và đủ sức khỏe, đủ thời gian thực hiện những hoài bão cao đẹp của mình. Trong bất cứ thời đại nào, lực lượng thanh niên chính là nguồn xung lực mạnh mẽ nhất của đất nước, là đại biểu cho tinh thần tự tôn và sự đi lên của cả dân tộc.

Đầu thế kỷ XX, đất nước ta đã bị thực dân Pháp xâm lược và đặt ách đô hộ. Nhân dân ta muốn rửa vết nhơ nô lệ nhưng không được, rửa hận cũng không xong, không phải vì thiếu tinh thần và ý chí kiên cường dũng cảm, mà chính là thiếu phương hướng và đường lối đúng đắn, thiếu lý tưởng, thiếu người lãnh đạo. Những thử thách mới lại đòi hỏi lớp lớp người trẻ tuổi bước vào cuộc chiến đấu mới. Ngay trong bối cảnh đó, chính lớp thanh niên đã tìm ra chân lý, tìm ra con đường cho dân tộc đi theo và đảm nhận vai trò lãnh đạo toàn dân, đưa Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ.

Năm 1911, mặc dù tại thời điểm này ở Việt Nam đang tồn tại đồng thời ba sự lựa chọn từ ba giải pháp cứu nước (đó là con đường đấu tranh theo khuynh hướng phong kiến và con đường theo khuynh hướng tư sản với 2 xu hướng bạo động và cải cách), nhưng người thanh niên Nguyễn Tất Thành lúc này mới 21 tuổi, đã sớm nhận ra các giải pháp đó đều không phù hợp và không thể đáp ứng được yêu cầu của lịch sử dân tộc. Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã quyết tìm một hướng đi mới. Từ trải nghiệm của bản thân, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu của lịch sử dân tộc đồng thời phù hợp với xu thế của thời đại mới. Đó là con đường giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp và giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn liền với xã hội chủ nghĩa.

Trong thế kỷ XX, với chính sách nô dịch và kìm hãm kinh tế - xã hội và văn hóa với việc “gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát”(2) của thực dân thì những người Việt Nam, đặc biệt là thanh niên, “mặc dù bị người phương Tây coi là lạc hậu, vẫn hiểu rõ hơn hết sự cần thiết của một cuộc cải cách toàn bộ xã hội” và sự tồn vong của dân tộc phụ thuộc vào thanh niên. Vị lãnh tụ trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc đã rung lên hồi chuông đối với những người cùng trang lứa: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại. Người sẽ chết mất, nếu thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh!”(3).

Giữa vòng nô lệ, nhiều thanh niên mà trước hết là những thanh niên trí thức đã tìm đường “vượt ngục”. Họ cho rằng, việc xuất dương là một khám phá mới, bởi việc xuất dương không đặt các thanh niên trí thức vào tình trạng bên ngoài cuộc đấu tranh. Trong đó, con đường sang phương Tây, sang Pháp cũng là một con đường chống Pháp. Nếu không sang Pháp thì theo đường “Đông Du” đến Nhật hoặc vượt biên sang Trung Quốc, Thái Lan…. Họ ra đi mang theo một bầu nhiệt huyết đặng cứu giống nòi. Tiêu biểu như Lê Duy Doãn, Lê Văn Phan và Phạm Đài, là ba thanh niên cùng quê Xứ Nghệ. Họ nguyện ra đi để xứng với dòng máu Lạc Hồng, làm rạng danh vùng đất sông Lam núi Hồng, nên cả ba người cùng lấy tên mới với chữ “Hồng” làm tên lót: Lê Duy Doãn là Lê Hồng Phong; Lê Văn Phan là Lê Hồng Sơn và Phạm Đài là Phạm Hồng Thái. “Thái - Sơn - Phong có nghĩa là ngọn gió núi Thái Sơn, nhất định sẽ mạnh, nhất định sẽ thổi bay tất cả quân xâm lược”(4).

Trong thế kỷ XX, con đường tìm kiếm lý tưởng của thanh niên là con đường đầy khó khăn gian khổ. Không phải chỉ cần một trái tim nhiệt tình cháy bỏng, mà còn cần cả sự thông minh của khối óc; không phải chỉ bằng quan sát, chiêm nghiệm với một nghị lực phi thường, mà còn phải lăn lộn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mới có thể đến được với lý tưởng cao đẹp. Thanh niên Việt Nam biết rằng, “Dấn thân vô là phải bị tù đày - Là gươm kề tận cổ súng kề tai - Là thân sống coi như còn một nửa”(5). Những thanh niên Việt Nam vẫn chấp nhận hy sinh để trở thành nòng cốt, thành những cơn “Sóng Hồng”(6) trong phong trào cách mạng. Họ luôn trau dồi bản thân, luôn “Tự chỉ trích”(7) để vươn lên. Họ xác định phải chiến đấu vì dân tộc, vì nhân dân. Nguyện “Là con của vạn nhà - Là em của vạn kiếp phôi pha - Là anh của vạn đầu em nhỏ…”(8) để hiến dâng tuổi thanh xuân, kể cả tính mạng nếu cần, trong cuộc “Trường Chinh”(9) giành độc lập, tự do cho dân tộc. Hãy nghe câu nói của Hà Huy Tập trước họng súng kẻ thù: “Tôi không có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống tôi sẽ tiếp tục hoạt động”(10); còn Lý Tự Trọng, ở tuổi 16, cái tuổi thần tiên của cuộc đời, đã khẳng định lý tưởng của mình: “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng chứ không thể là con đường nào khác”(11). Những câu nói đầy khảng khái đó đã thể hiện lẽ sống của phần lớn thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ.

Trong thế kỷ XX, thanh niên Việt Nam là những người rất sớm xa rời chủ nghĩa quốc gia cải lương mà các lãnh tụ đã lên án việc bất hợp tác ở các trường. Có thể nói, thanh niên Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX đã tự tin đón nhận cuộc “chuyển giao thế hệ”, “họ lao vào một loại tìm kiếm không ngừng về tư tưởng và đến với chủ nghĩa Mác”(12). Trên thực tế, những thanh niên trì thức cấp tiến, đã nhanh chóng gia nhập tổ chức của thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập: Tổ chức Việt Nam cách mạng thanh niên và sau đó là gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam để thực hiện hoài bão, lý tưởng của mình ở độ tuổi mười chín hai mươi tiêu biểu như: Lê Hồng Phong (23 tuổi); Lê Hồng Sơn (24 tuổi); Hồ Tùng Mậu (29 tuổi); Trần Phú (21 tuổi); Hà Huy Tập (22 tuổi); Nguyễn Văn Cừ (17 tuổi); Võ Nguyên Giáp (29 tuổi); Trường Chinh (20 tuổi); Phạm Văn Đồng (20 tuổi); Nguyễn Văn Linh (14 tuổi); Lê Duẩn (22 tuổi); Nguyễn Thị Minh Khai (20 tuổi); Nguyễn Đức Cảnh (18 tuổi); Ngô Gia Tự (18 tuổi)….Thế hệ thanh niên đầu thế kỷ XX đã trở thành lực lượng xung kích của cách mạng Việt Nam.

Trong thế kỷ XX, thanh niên Việt Nam đã nhận thức rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(13). Đây là lý tưởng cao đẹp nhất, là niềm tin, lẽ sống của lớp thanh niên, sau đó đã trở thành lý tưởng cho cả dân tộc Việt Nam.

Thế kỷ XX là thế kỷ của lớp lớp thanh niên Việt Nam thực hiện những lời thề, đó là lời thề giành lại độc lập dân tộc “…dù phải hy sinh đến đâu, dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết giành cho được độc lập dân tộc” và sẵn sàng “…đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền độc lập ấy”, “…thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; là lời thề chiến đấu cho Tổ quốc và cho cả nhân loại với chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do”!

Sự nghiệp đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc và xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng lâu dài, gian khổ và quyết liệt nhất, triệt để và vinh quang nhất. Trong cuộc “trường chinh” này, thế hệ thanh niên thế kỷ trước đã tìm ra chân lý, tìm thấy lý tưởng chiến đấu và đồng thời thực hiện được một phần công cuộc ấy. Thế hệ đó đã giành lại độc lập dân tộc, tự do cho dân tộc. Nó cũng nói lên một điều rằng, thế hệ ngày nay sẽ bước tiếp con đường ấy, xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa - xã hội mà hiện nay toàn Đảng, toàn dân ta đang định hướng và từng bước định hình mà thanh niên sẽ là lực lượng quan trọng nhất quyết định sự thắng lợi này.

          Một thế kỷ là quãng thời gian đủ để chúng ta nhìn lại quá khứ với ý niệm “ôn cố tri tân” trong quy luật tất yếu của dòng chảy truyền thống. Bởi lịch sử phát triển của dân tộc là kết quả sự kế tục từ các thế hệ nối tiếp nhau. Nếu không biết trân trọng truyền thống thì chỉ có thể là những người không có trái tim. Nhưng nếu chúng ta không tiếp nối truyền thống để vươn lên thì chúng ta không có khối óc. Chúng ta không thể ăn bằng truyền thống, sống bằng tiềm năng, nhưng không thể thiếu những điều đó. Thực tiễn lịch sử diễn ra một thế kỷ trước cho thấy, tương lai của một đất nước, một sự nghiệp cách mạng không chỉ thể hiện ở chỗ nó giải quyết đúng đắn hay không về mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp mà còn tùy thuộc vào việc có chuẩn bị tốt về con người hay không. Thế hệ thanh niên Việt Nam trong thế kỷ XX đã cống hiến trọn đời vì lý tưởng cao đẹp, hoàn thành sứ mệnh cao cả của lịch sử. Họ đã làm nên một tấm gương sáng về con đường đi tìm lý tưởng sống cho thế hệ thanh niên ngày này và mai sau noi theo tiếp bước. Chính sức trẻ của các thế hệ thanh thiếu niên ở mọi thời đại trong lịch sử đã mang lại sức mạnh cho dân tộc ta vượt qua mọi thử thách. Lý tưởng của thế hệ thanh niên ngày nay vẫn là ra sức lao động, học tập và rèn đức luyện tài để trở thành “những con người xã hội chủ nghĩa”

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc của trang facebook chân trời mới media

Mới đây lợi dụng vào việc Bộ Chính trị có chủ trương tạm dừng tuyển dụng công chức từ ngày 01/12/2024 cho đến khi hoàn thành việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; trang Facebook Chân Trời Mới Media sử dụng một phát ngôn với nội dung bịa đặt, xuyên tạc, sai sự thật nhằm mục đích bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta. Một phát ngôn sặc mùi phản động với góc nhìn phiến diện, quy chụp, kích động nhằm lôi kéo dư luận tạo ra cái nhìn sai lệch về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tuyển chọn cán bộ trong quá trình đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Theo thông tin từ báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 01/12/2024 Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện nghị quyết 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; tình hình kinh tế - xã hội năm 2024, giải pháp tăng tốc phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và tháo gỡ những điểm nghẽn, nút thắt về thể chế, tại hội nghị Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu từng cấp, từng ngành bám sát kế hoạch tổng để tổng kết và đề xuất mô hình cơ quan, đơn vị mình về vấn đề tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bảo đảm đúng tiến độ. Mục đích của việc tạm dừng tuyển dụng công chức giúp giảm thiểu sự chồng chéo nhiệm vụ, quyền hạn và nâng cao tính hiệu quả trong quản lý nhà nước. Một hệ thống chính trị tinh gọn sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực và ngân sách, từ đó đáp ứng nhanh chóng và hiệu quả hơn các yêu cầu và thách thức trong tình hình kinh tế xã hội hiện nay.

Từ định hướng của Trung ương và chủ trương của Bộ Chính trị về tạm dừng tuyển dụng công chức thực hiện việc sắp xếp tổ chức bộ máy, những kẻ phản động lập lên trang Facebook Chân Trời Mới Media đã cố tình mượn cớ để quy chụp, thông qua đó xuyên tạc, kích động và nói xấu chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta với ngôn từ mang tính chất cay cú, bất mãn. Chúng cố tình thổi phồng, bóp méo sự thật tổ chức tuyên truyền, chống phá, hòng tạo dựng nhận thức sai lệch, hoài nghi, dao động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Qua đó chúng ta cũng khẳng định rằng chỉ có những kẻ phản động, chống phá mới đưa ra những phát ngôn mang tính phiến diện và lệch lạc đến vậy.

Chúng ta đều biết rằng Đảng và Nhà nước ta luôn kiên định vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ, Đảng đã thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu thật sự có đức, có tài, có uy tín trong Đảng và nhân dân. Xây dựng Đảng phải gắn kết chặt chẽ với lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Đảng ta trong từng thời điểm đã ban hành nhiều nghị quyết, quy định, hướng dẫn thể hiện các chủ trương, quan điểm về cán bộ và công tác cán bộ. Tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, quy định công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và minh chứng sống động nhất cho điều đó là sự phát triển về kinh tế cũng như vị thế trên trường quốc tế của nước ta trong suốt những năm qua. Bởi vậy xin khẳng định với những kẻ phản động đã lập nên trang Facebook Chân Trời Mới Media rằng công tác cán bộ ở Việt Nam luôn được coi trọng, thực hiện nhất quán theo quan điểm, mục tiêu của Đảng cộng sản Việt Nam.

Hiện nay, mạng xã hội ngày càng phát triển và dần trở thành một nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Tuy nhiên, trên mạng xã hội, bên cạnh nhiều thông tin hữu ích, tích cực thì vẫn còn không ít những “tin rác”, “tin độc hại” nhằm lôi kéo kích động người dân. Chính vì vậy, mỗi chúng ta cần phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt trong tiếp nhận thông tin tránh để những phát ngôn phiến diện, lệch lạc làm cho chúng ta mất đi niềm tin vào Đảng và Nhà nước. Những thông tin xấu độc của bọn phản động cần được loại bỏ kịp thời, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Sưu tầm