Cuộc Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra
cách đây đã 95 năm (1930-2025), do Việt Nam Quốc dân đảng lãnh đạo. Việt
Nam Quốc dân đảng là một tổ chức theo xu hướng cách mạng dân chủ tư
sản, được thành lập ngày 25-12-1927, do Nguyễn Thái Học đứng đầu (Chủ
tịch), bên cạnh là các đồng sự Nguyễn Thế Nghiệp (Phó chủ tịch), Phó Đức
Chính (Tổ chức), Nguyễn Khắc Nhu[1]… Tổng bộ lâm thời tất cả gồm 15
người[2].
Khởi nghĩa Yên Bái bắt
đầu nổ ra vào đêm 9, rạng sáng ngày 10-2-1930, ngoài Yên Bái còn có các
địa phương khác, tuy nhiên cuộc khởi nghĩa diễn ra ở Yên Bái là lớn hơn
cả. Nghĩa quân chiếm các đồn Pháp ở Yên Bái. Một bộ phận binh lính Việt
Nam trong quân đội Pháp phản chiến tham gia vào cuộc khởi nghĩa. Nghĩa
quân chiếm được nhà dây thép (bưu điện), nhà ga, phát truyền đơn, hô hào
quần chúng và binh lính hưởng ứng. Ngay sáng hôm sau, thực dân Pháp đã
phản công, cuộc khởi nghĩa bị thất bại. Trong vòng một tuần, cuộc khởi
nghĩa bị dập tắt ở các nơi. Trong lúc Việt Nam Quốc dân đảng chuẩn bị
khởi nghĩa, Nguyễn Ái Quốc đang ở Xiêm (Thái Lan). Nghe tin đó, Người đã
nhận xét: “Cuộc bạo động nổ ra lúc này là quá sớm, và khó thành công”[3]. Người muốn gặp các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân đảng để bàn lại kế hoạch[4] hòng hoãn một cuộc khởi nghĩa “non” nhưng không thực hiện được.
1. Bối cảnh dẫn tới cuộc Khởi nghĩa Yên Bái
Sau vụ ám sát trùm mộ phu Ba-danh, “bọn thực dân Pháp cũng khôn ngoan
hơn. Mắc bệnh, chúng càng làm cho bệnh trầm trọng, càng khủng bố dân…”[5]. Theo tập tài liệu của Sở mật thám Đông Dương do trùm mật thám Louis Marty điều khiển, về Việt Nam Quốc dân đảng, có tên là Contribution à l’histoire des mouvements politiques de l’Indochine française thì Việt Nam Quốc dân đảng là một tổ chức “ăn rập theo khuôn của Trung Hoa Quốc dân đảng do Tôn Dật Tiên sáng lập”[6]…
Kể từ khi ra đời năm 1927 đến trước cuộc Khởi nghĩa Yên Bái năm 1930,
Việt Nam Quốc dân đảng là một trong các đảng hoạt động sôi nổi, trong
những năm cuối của thập niên 20 (của thế kỷ XX): “Trong ba đảng đồng
thời hoạt động là Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, Tân Việt
cách mạng đảng và Việt Nam Quốc dân đảng,… hai đảng trên là tiền bối của
Đảng Cộng sản Đông Dương. Còn đảng dưới là chính đảng của giai cấp tư sản với một màu sắc quốc gia rõ rệt”[7].
Theo bản chương trình hành động đã được duyệt y trong Hội nghị đầu
tiên thành lập Việt Nam Quốc dân đảng vào ngày 25-12-1927, thì trước khi
nổ ra cuộc khởi nghĩa giành chính quyền phải kinh qua ba thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất, tức thời kỳ phôi thai, đảng chú ý vào việc tổ chức các chi bộ, xây dựng cơ sở của đảng. Thời kỳ thứ hai
tức thời kỳ dự bị, đảng chú ý vào tổ chức các hội quần chúng xung quanh
đảng, mở những cơ quan tuyên truyền bán công khai và phái người đi du
học nước ngoài về quân sự và cơ khí để đợi ngày về nước làm việc. Thời kỳ thứ ba
là thời kỳ công khai, tức thời kỳ khởi nghĩa, đảng tổ chức những đoàn
quân cảm tử hợp với những binh lính đảng viên trong đội ngũ quân đội
Pháp nổi lên đánh địch, “Khôi phục giang sơn” và giải phóng dân tộc[8].
Tuy nhiên, đến đầu năm 1929, Việt Nam Quốc dân đảng chưa vượt qua thời
kỳ thứ nhất; vậy thì nguyên nhân nào khiến Việt Nam Quốc dân đảng đã đốt
cháy giai đoạn để tiến hành công cuộc bạo động?
Việt Nam Quốc dân đảng ra đời trên cơ sở là Nhà xuất
bản Nam Đồng thư xã. Nam Đồng thư xã ra đời tại Hà Nội vào năm 1925, là
một nhà xuất bản chuyên in ấn các sách vở có nội dung yêu nước. Những
người sáng lập Nam Đồng thư xã là Phạm Tuấn Tài (Mộng Tiên) cùng anh
ruột là Phạm Tuấn Lâm (Dật Công)[9]
và Hoàng Phạm Trân (Nhượng Tống). Các ông vốn đã quen biết nhau trong
các hoạt động chính trị lúc đó ở Hà Nội. Về mặt lý tưởng các ông đều bàn
bạc thống nhất không chấp nhận cách mạng hòa bình mà khẳng định cách
mạng bạo lực tiến lên theo con đường của học thuyết Tôn Trung Sơn. Như
vậy, có thể thấy Việt Nam Quốc dân đảng được tổ chức bởi những người “trí thức và giai cấp tiểu tư sản”[10].
Ngoài ra, Nam Đồng thư xã còn quy tụ được thêm nhiều thanh niên hăng
hái khác nữa như “Phó Đức Chính, Lê Văn Phúc, Lê Thành Vị, Nguyễn Thái
Trác, Vũ Huy Châu, Nguyễn Hữu Đạt, Vũ Hiển, Phan Ngọc Trúc, Nguyễn Văn
Lô, Trần Vĩ, Lưu Văn Phùng”[11].
Sách của Nam Đồng thư xã có xu hướng (chính trị và thương mại) rõ rệt
nên bị cấm và vì thế mang đến hậu quả làm sụp đổ cơ sở Nam Đồng thư xã[12].
Tại Hội nghị thành lập Việt Nam Quốc dân đảng tại làng Thể Giao vì có động nên nửa chừng giải tán và quay về họp lại tại Nam Đồng thư xã.
Mục đích và tổ chức của Việt Nam Quốc dân đảng đều được ghi trong điều
lệ và được phỏng theo thể chế của Trung Hoa Quốc dân đảng. Tài liệu của
Sở mật thám Đông Dương viết “Nguyễn Thái Học và đồ đảng bắt
chước nguyên văn những lời nói của Tôn Dật Tiên trong Bảng luật của
Cộng hòa Trung Hoa… hy vọng vào thế lực hữu hiệu của Trung Hoa giúp đỡ
họ đuổi người Pháp ra khỏi Đông Dương bằng vũ lực”[13].
Khi mới thành lập Việt Nam Quốc dân đảng chưa đề ra được một đường
lối chính trị nào rõ ràng. Mà bản Điều lệ được thảo ra trong ngày thành
lập phỏng theo chương trình chỉ ghi chung chung là: “Trước làm dân tộc cách mạng, sau làm thế giới cách mạng”[14]. Trong bản Điều lệ năm 1928, đảng mới nêu chủ nghĩa của đảng là: Xã hội dân chủ.
Đến năm 1929, Việt Nam Quốc dân đảng không chủ trương xã hội dân chủ
nữa mà thay bằng các khẩu hiệu của Cách mạng tư sản Pháp là Tự do - Bình đẳng - Bác ái với mục tiêu là thực hiện một cuộc cách mạng dân chủ tư sản.
Chương trình của đảng chia thành bốn thời kì. Thời kì cuối cùng là
bất hợp tác với chính phủ Pháp và triều đình nhà Nguyễn; cổ động bãi
công, đánh đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập dân quyền.
Về tổ chức, Việt Nam Quốc dân đảng được tổ chức theo 4 cấp là: Tổng
bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ và chi bộ; nhưng chưa bao giờ trở thành hệ thống
trong cả nước. Tổng bộ trên thực tế là do kỳ bộ Bắc Kỳ kiêm nhiệm. Tổ
chức cơ sở của Quốc dân đảng trong quần chúng rất ít. Địa bàn hoạt động
của Quốc dân đảng chỉ bó hẹp trong một số địa phương ở Bắc Kỳ, còn ở
Trung Kỳ và Nam Kỳ không đáng kể. “Tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ đảng
đã nhanh chóng nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong số các công chức trẻ,
giáo viên, sinh viên, binh lính và phụ nữ. Đầu năm 1929, đảng tổ chức
được 120 chi bộ hoạt động ở Bắc Kỳ, quy tụ được 1.500 đảng viên, 120
người trong số này là binh lính”[15].
Ngoài ra, Việt Nam Quốc dân đảng còn kêu gọi được sự ủng hộ của các nhà
hảo tâm, tư sản, mạnh thường quân, “người ta kêu gọi đến vị mạnh thường
quân Đặng Đình Điển được nhận vào đảng, mặc dầu tuổi đã cao, nhưng vì
ảnh hưởng, ông đã có trong vùng Nam Định và nhất là gia tài kếch sù của
ông. Từ tháng 10-1928, nhờ phần bảo chứng của ông, đảng có thể đặt tại
Hà Nội Việt Nam Khách sạn…”[16].
Quốc dân đảng chủ trương tiến hành cách mạng bằng bạo lực, chú trọng
lấy lực lượng binh lính người Việt trong quân đội Pháp giác ngộ làm lực
lương chủ lực.
2. Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính cùng các đồng sự trong cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Yên Bái và các tỉnh Bắc Kỳ
Những nguyên nhân nào đã dẫn tới các cuộc khởi nghĩa của Việt Nam
quốc dân đảng nổ ra sớm trước khi chương trình hành động của đảng phải
bước sang thời kỳ thứ ba, thời kỳ công khai, khởi nghĩa, đánh đuổi giặc
Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập dân quyền. Có thể thấy một số nguyên
nhân dẫn tới cuộc Khởi nghĩa Yên Bái (ngoài nguyên nhân trực tiếp dẫn
đến cuộc khởi nghĩa) là: Sự bất mãn về chính trị (như trong thư của
Nguyễn Thái Học viết gửi cho Toàn quyền Đông Dương và Hạ nghị viện
Pháp), và sự bần cùng hóa của người dân, còn có các hậu quả của cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới. Việc bắt người đi phu, mộ phu cho các đồn
điền ở Nam Kỳ (nhất là đồn điền cao su), khi đi thì có khi về thì không,
“khi đi trai tráng, khi về bủng beo”. “Kế đó lại xảy ra hai vụ mất mùa
liên tiếp vào đúng lúc Đông Dương lâm vào tình trạng suy thoái lớn: Giá
gạo xuống thấp, số nợ ở nông thôn ngày càng trở nên nghiêm trọng… Mặt
khác, đồng bạc Đông Dương từ năm 1925 bị mất giá, do loại kim khí này
liên tục bị mất giá… hậu quả là giá bán gạo trong nước giảm”[17], ngân sách Đông Dương ngày một phình to.
Cuối năm 1928, đầu năm 1929 Việt Nam Quốc dân đảng phát triển mạnh về
số lượng và cơ sở đảng. Nhưng vì tổ chức không được chặt chẽ, bí mật,
nên nhiều mật thám, chỉ điểm đã có thể lọt vào. Sở mật thám Pháp muốn
ngăn chặn sự phát triển của Việt Nam Quốc dân đảng, nhưng lại không có
bằng chứng buộc tội. Mâu thuẫn nội bộ, là một trong những nguyên nhân
khiến cho Việt Nam Quốc dân đảng ở cấp lãnh đạo cũng không đoàn kết
thống nhất với nhau: “Sự xung đột giữa hai khối lập pháp do Nguyễn Khắc
Nhu; Nguyễn Thái Học đứng đầu và khối hành chính của Nguyễn Thế Nghiệp
đã đưa Việt Nam Quốc dân đảng tới trước một đe dọa giết hại lẫn nhau”[18].
Tháng 2-1929, Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức ám sát tên trùm phu
Bazin (Ba-danh) ở Hà Nội. “Bazin điều khiển tại Hà Nội một sở mộ phu Bắc
Kỳ gởi đến các đồn điền ở miền Nam Đông Dương hay Nouvelle Calédonie.
Buổi chiều Tết An Nam (9-2-1929), ông bị ám sát trên đường bởi nhiều
phát súng sáu (súng lục 6,35mm) do một người bản xứ bắn… tiếng súng hòa lẫn tiếng pháo nổ mà người An Nam có tập tục đốt vào dịp lễ này”[19]. Bazin bị ám sát khi vừa ở nhà nhân tình của ông là cô Germaine Carcelle,
một đầm lai đứng bán hàng cho hãng buôn Gô đa ở số 110, phố Huế (phố
Chợ Hôm). Thực hiện vụ ám sát là hai thanh niên bận màu xám, đầu trần,
đứng chờ Bazin trước cửa. Một người tiến tới đưa cho ông một bức thư
tuyên án tử hình… Bazin ngã lăn trên vũng máu, một hồi sau thì tắt thở[20].
Người ta cho rằng đây không phải là vụ giết người thông thường vì
tiền bạc, vì ái tình, vì thù hằn cá nhân hay vì cạnh tranh việc làm ăn
mà vì lý do chính trị. Thủ phạm là người bản xứ thuộc một tổ chức chính
trị chống Pháp[21].
Nhân sự kiện này, thực dân Pháp tiến hành một cuộc khủng bố dã man,
bởi chúng cũng nhân dịp này để đàn áp các đảng phái khác mà chúng thấy
là nguy hiểm, không chỉ riêng Việt Nam Quốc dân đảng: “…bọn thực dân
Pháp cũng khôn ngoan hơn. Mắc bệnh, chúng càng làm cho bệnh trầm trọng,
càng khủng bố dân. Bắt bớ hàng loạt, án tử hình, giam cầm, tra tấn…”[22]; “Trong
một thời gian ngắn, hầu hết những đảng viên từ Trung ương đến các cấp
địa phương đều bị bắt, hệ thống của đảng bị đứt đoạn. Một việc tình cờ
là hai vị lãnh tụ của đảng là Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu lúc ấy
vắng mặt ở Hà Nội, đang đi kiểm soát tại các tỉnh nên được tin trốn
thoát. Đứng trước sự cơ gấp rút, hai vị lãnh tụ vốn giàu tính chất bạo
động, chỉ có một quan niệm rất đơn giản là: nếu cứ ngồi yên để cho quân
địch bắt được rồi lên máy chém hay vào nhà tù kết liễu một đời hoạt
động, chi bằng thừa lúc còn được tự do ở ngoài, dốc hết lực lượng còn
lại để đánh một trận cuối cùng: “Không thành công cũng thành nhân”[23].
Tình hình chính trị, căng thẳng và ngột ngạt, đã dẫn đến những thiệt
hại lớn cho những chính đảng cách mạng ở Việt Nam khi đó: “Năm 1929,
đế quốc Pháp bắt đầu tiến công các tổ chức... Cuộc tấn công bắt đầu
bằng khoảng 300 vụ bắt bớ ở Nam Kỳ để đàn áp nhóm Thanh Niên (tức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên). Tiếp đó là ở Bắc Kỳ có hơn 800 vụ bắt bớ. Hầu hết An Nam Quốc dân đảng bị lọt vào lưới”[24].
Học giả người Pháp Patric Morlat trong cuốn Chính quyền và sự đàn áp ở Việt Nam trong thời kỳ thuộc địa 1911-1940, đã viết: “Nhờ
sự khám xét, cơ quan an ninh phát hiện ra nhiều chi bộ, trong đó có
những chi bộ trong quân đội. Mục đích gây tổn hại đến nền an ninh bên
trong của Nhà nước của Việt Nam Quốc dân đảng… Toàn quyền Pasquier gửi
vụ việc lên Hội đồng Đề hình Bắc Kỳ…”[25].
Bị động trước tình thế đó, những nhà lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam
Quốc dân đảng quyết định dốc hết lực lượng nhằm thực hiện cuộc bạo động
cuối cùng để dù thất bại thì cũng thành danh nhân ở đời. Chứ không chịu khoanh tay chờ chết.
Những yếu nhân lãnh đạo của Việt Nam Quốc dân đảng cùng các đồng sự
đã tiến hành hội nghị đi đến chỗ quyết định tại hội nghị Lạc Đạo. Trong
cuộc hội nghị này, có hai chủ trương khác nhau giữa những đảng viên Việt
Nam Quốc dân đảng còn sót lại. Phái bạo động mà đại biểu của nó là
Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu chủ trương phải khởi nghĩa ngay với
những lý luận kể trên. Trái lại, phái cải tổ mà đại biểu là Lê Hữu Cảnh
và Trần Văn Huân muốn dựa theo đường lối đã vạch ra từ trước và chủ
trương tổ chức lại đảng, chưa nên bạo động. Kết quả là phái bạo động đã
áp đảo được phái cải tổ. Và chủ trương bạo động đã được coi là quyết
nghị của đảng. Phái bạo động dựa vào một số nhân sĩ, kỳ hào, phú nông ở
các tỉnh trung du và hạ du, đặc biệt lấy các tỉnh Hải Dương, Kiến An,
Phú Thọ và một số binh lính trong hàng ngũ Pháp như ở Yên Bái, Sơn Tây,
Kiến An và Hải Phòng. Trái với dự định trước kia là cuộc tổng khởi nghĩa
có tính chất toàn quốc, cuối cùng cuộc chuẩn bị khởi nghĩa chỉ còn hạn
chế lại ở mấy địa bàn mà Việt Nam Quốc dân đảng còn có một phần nào thế
lực.
Trong khi chuẩn bị khởi nghĩa đang gặp nhiều trở ngại thì tháng
9-1929, một sự kiện không may lại xảy ra tại Hội nghị Võng La với sự
phản bội của Phạm Thành Dương, làm cho lực lượng khởi nghĩa bị tổn
thương một lần nữa. Giới thống trị Pháp tung cảnh sát, mật thám và tay
sai càng bủa lưới bao vây lùng bắt những người chủ trương bạo động, cố
làm cho cuộc bạo động không thể nổ ra: “Các vụ “thanh toán”
những thành phần phản bội và các tại nạn do việc chế tạo chất nổ đã báo
động cảnh sát. Và những mẻ lưới lớn đã được giăng ra. Nhiều lãnh tụ cốt
cán sa lưới, các bộ phận lãnh đạo bị phá hủy”[26].
Những vụ nổ do chế tạo bom của Việt Nam Quốc dân đảng cũng làm cho
thực dân Pháp lần ra manh mối và nhiều vụ bị phát hiện. Theo tài liệu
của Pháp cho biết: “Ngày 3-9 (1929) ba người chết trong căn nhà lá ở
Mỹ Điền vì chế bom rồi bị nổ… Ngày 20-11, người ta khám phá được một
trăm năm mươi quả bom ở một làng gần Bảy Chùa. Ngày 23-12 lại tìm thấy
150 quả bom nữa ở Nội Viên. Ngày 26, 290 quả ở Thái Hà. Ngày 10 tháng
giêng, người ta đào được ở Bắc Ninh nhiều chum đựng truyền đơn cách
mạng. Ngày 20, người ta bắt giữ một anh thợ rèn kiếm và những ngày sau
còn bắt được rất nhiều bom, hàng trăm quả trong nhiều làng khác”[27].
Những nhân vật trọng yếu còn lại trong phái bạo động thấy phải xúc
tiến việc bạo động mặc dầu chuẩn bị chưa được đầy đủ. Đầu năm 1930, ngày
định khởi nghĩa đã được đề ra. Theo sự phân công phụ trách khi ấy ông
Nguyễn Thái Học sẽ nhận trách nhiệm chỉ huy những cuộc khởi nghĩa tại
mấy tỉnh miền xuôi như Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Phả Lại... Còn
Nguyễn Khắc Nhu “là người chỉ huy cuộc vũ trang khởi nghĩa ở khu Tây bắc
Bắc bộ gồm các yếu điểm: Yên Bái, Hưng Hóa (Phú Thọ), Lâm Thao”[28]. Riêng Phó Đức Chính phụ trách đánh vào đồn Thông, một đại bản doanh quân sự của Pháp ở Sơn Tây.
Theo tài liệu của Sở mật thám Đông Dương viết: “Cuộc khởi nghĩa định vào ngày 10-2-1930. Kế hoạch tấn công như sau: Nguyễn
Thế Nghiệp phải chiếm Lao Kay (Lào Cai). Nguyễn Khắc Nhu tức Xứ Nhu và
Phó Đức Chính phải đánh Yên Bái, Hưng Hóa, Lâm Thao và Sơn Tây. Nguyễn
Thái Học phải gây ra cuộc khởi nghĩa ở Bắc Ninh, Đáp Cầu, Hải Dương…”[29]. Mặc
dù thực dân Pháp hết sức đề phòng, cuộc khởi nghĩa vẫn bùng nổ. Các
cuộc Khởi nghĩa do Việt Nam Quốc dân đảng lãnh đạo nổ ra ở nhiều tỉnh ở
Bắc Kỳ, tuy cuộc khởi nghĩa ở mỗi nơi diễn ra có sự khác nhau, có nơi
khởi nghĩa không nổ ra được. Yên Bái là tỉnh diễn ra cuộc khởi nghĩa
mạnh mẽ nhất, nên người ta thường hay gọi là Khởi nghĩa Yên Bái.
Trong lúc Việt Nam Quốc dân đảng chuẩn bị khởi nghĩa Nguyễn Ái Quốc
đang hoạt động ở Xiêm (Thái Lan). Thấy cuộc khởi nghĩa nổ ra lúc này là
quá sớm bởi những điều kiện để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa chưa được
chuẩn bị đầy đủ và chu đáo, bởi vậy Người đã nhận định khởi nghĩa “khó thành công”.
Người muốn “bàn lại kế hoạch” nhưng không thực hiện được. Trong lúc
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị vượt biên giới Thái Lan đến Trung Quốc,
cuộc bạo động đã được chuẩn bị và nổ ra[30].
Cuộc Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra vào lúc 1 giờ sáng ngày 10-2-1930[31].
Cùng đêm đó, khởi nghĩa nổ ra ở Phú Thọ, Sơn Tây; sau đó là ở Hải
Dương, Thái Bình… Ở Hà Nội, cũng có đánh bom phối hợp. Cuộc khởi nghĩa ở
Yên Bái nổ ra lớn nhất, ở nhiều nơi Việt Nam Quốc dân đảng đã làm chủ
được tình hình, tuy nhiên những vị trí quan trọng lại không chiếm được:
“Sáng ngày 10-2-1930. Quân khởi nghĩa chủ yếu dựa vào binh lính khố đỏ,
chiếm được đồn Thấp, diệt và làm bị thương hơn chục tên Pháp trong đó có
tên quan ba Giuốc-đanh (Juordin), quan Hai Rô-be (Robert), viên quản
Qui-nê-ô (Cunéo) và kho vũ khí, nhưng không chiếm được đồn Cao do tên
quan tư Pháp chỉ huy, không chiếm được trại lính khố xanh và để tên Tuần
phủ Yên Bái chạy thoát. Nhân dân thị xã Yên Bái bị bất ngờ không có hoạt động gì ủng hộ quân khởi nghĩa.
Khi trời sáng quân Pháp từ đồn Cao phối hợp với đơn vị lính khố xanh
phản công, quân khởi nghĩa tan rã. Thực dân Pháp ra sức truy lùng bắt
toàn bộ những người lãnh đạo Việt Nam Quốc dân đảng và những người tham
gia cuộc khởi nghĩa”[32].
Miêu tả của Louis Roubaud trong cuốn Viet-nam la Tragédie Indo-chinoise (Việt Nam thảm kịch Đông Dương) cho thấy cuộc Khởi nghĩa Yên Bái chi tiết hơn với những sự kiện: “Trung
úy Robert bị hạ sát ngay trên giường, trước mắt người vợ. Thượng sĩ
Cunéo chết không kịp tự vệ, nhưng trung sĩ Chevalier và Damour không may
mắn bằng Bouhier, chết không kịp trở tay. Những người khác, thượng sĩ
Trotoux, trung sĩ nhất Deschamps, các trung sĩ Hurugen và Reynaud với bà
Reynaud bị chặn lại ở trong phòng và họ kháng cự bằng súng máy cho đến
sáng. Đại úy Jourdan, ở trong sân pháo đài hô lệnh tập hợp quân sĩ, lập
tức bị một viên đạn chết ngay. Đại úy Gainza bị thương ở sườn”[33].
Lực lượng khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân đảng đã chiếm được nhà dây
thép, ngà ga, phát truyền đơn… Ngày hôm sau, thực dân Pháp đã phản
công, cuộc bạo động bị thất bại... Nguyễn Thái Học, cùng các nhân vật
chủ chốt, và các đồng sự khác bị bắt. Trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930, Nguyễn Ái Quốc đã cho biết tình hình sau “vụ Quốc dân đảng” thì tình hình ở An Nam bị khủng bố gắt gao: “Đã
hai lần tôi cố gắng về An Nam, nhưng phải quay trở lại. Bọn mật thám và
cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật, đặc biệt là từ khi xảy ra vụ An Nam
Quốc dân đảng”[34].
Khởi nghĩa Yên Bái bị thất bại, đồng thời với Yên Bái cuộc khởi nghĩa
ở nhiều nơi khác cũng thất bại theo: “Cùng một đêm với Yên Bái, quân
khởi nghĩa đã đánh đồn Hưng Hóa và chiếm phủ Lâm Thao. Theo kế hoạch,
một khi Yên Bái đắc thắng, những toán quân này sẽ cùng hội quân ở Hưng
Hóa, qua sông Trung Hà, đánh vào đồn Thông (Sơn Tây), họp với toán quân
của Phó Đức Chính ở đây. Dân quân đánh đồn Hưng Hóa, do nhà lãnh tụ
Nguyễn Khắc Nhu trực tiếp chỉ huy. Vì vũ khí kém và không có nội ứng,
toán quân này không chiếm được đồn Hưng Hóa, phải rút về Lâm Thao. Tại
Lâm Thao, nghĩa quân do Phạm Nhận chỉ huy đánh chiếm phủ Lâm Thao, hợp
với toán quân từ Hưng Hóa kéo về. Bị quân đội Pháp từ Phú Thọ kéo đến
phản công, lãnh tụ Nguyễn Khắc Nhu bị thương và bị bắt, cắn lưỡi chết”, “Chỉ trong một ngày, ông đã tự tử ba lần quyết chết để khỏi đội trời chung với quân thù”[35]. Như
vậy, là quân khởi nghĩa Yên Bái cũng như ở Hưng Hóa và Lâm Thao đã kế
tiếp bị tan vỡ. “Dự định hợp binh đánh sang Sơn Tây không thực hiện
được. Còn tại Sơn Tây cuộc chuẩn bị khởi nghĩa cũng bị lộ, thực dân Pháp
hết sức đề phòng; thêm vào đấy ảnh hưởng thất bại của những quân khởi
nghĩa tại Yên Bái và Phú Thọ, kết quả là kế hoạch đánh chiếm đồn Thông
không thực hiện dược. Ít ngày sau Phó Đức Chính cũng bị bắt”[36].
Ở Thái Bình, cuộc đánh chiếm Phụ Dực (16-2-1930) theo tài liệu của thực dân viết: “Mấy
ngày sau vụ nổi loạn ở Yên Bái, đêm ngày 15 rạng ngày 16-2-1930, huyện
Phụ Dực cũng bị đánh chiếm cùng lúc với huyện Vĩnh Bảo (Hải Dương). Vào 9
giờ tối, một toán quân từ 40 đến 50 người, mang dao rựa, gậy gộc và một
vài quả bom đột nhập vào nha môn của quan huyện… Toán quân ở đấy khoảng
2 tiếng đồng hồ, đốt các hồ sơ, nổ nhiều bom… Tòa sứ Thái Bình chỉ
nhận được tin Phụ Dực bị đánh qua khu đại lý hành chính Ninh Giang và
Phủ Thống sứ vào hồi 4 giờ sáng”[37].
Như vậy, ngoài ở tỉnh Yên Bái cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quốc dân
đảng lãnh đạo nổ ra lớn nhất, còn ở các tỉnh khác, có sự phối hợp, nhưng
nổ ra chậm và muộn hơn, quy mô nhỏ, không chiếm được những vị trí then
chốt, chỉ gây ra một số thiệt hại đối với chính quyền cai trị. Mặc dù,
cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Nguyễn Khắc
Nhu lãnh đạo bị thất bại nhanh chóng, song đã cổ vũ lòng yêu nước, chí
căm thù của nhân dân Việt Nam đối với thực dân Pháp và tay sai. Hành
động yêu nước, tấm gương hi sinh của các chiến sĩ Yên Bái là sự nối tiếp
truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc Việt Nam. Vai trò lịch sử
của Việt Nam Quốc dân đảng với tư cách là một chính đảng cách mạng trong
phong trào dân tộc vừa mới xuất hiện đã chấm dứt cùng với sự thất bại
của khởi nghĩa Yên Bái.
* *
*
Cuộc khởi nghĩa diễn ra ở tỉnh Yên Bái nói riêng, cuộc tổng khởi
nghĩa của Việt Nam Quốc dân đảng ở các tỉnh Bắc Kỳ nói chung bị thất bại
do những nguyên nhân khác nhau, nhưng về cơ bản có thể thấy là do: Tương quan giữa ta và địch còn chênh lệch nhiều; Việt Nam Quốc dân đảng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa còn non yếu; Lực lượng vũ trang khởi nghĩa không đủ đảm bảo cho thắng lợi; Cuộc khởi nghĩa không được dựa vào sự ủng hộ của nhân dân….
Dù có nguyên nhân khách quan nào đi nữa thì nguyên nhân thất bại chính
vẫn là điều kiện chủ quan. Chỗ dựa vững chắc để khởi nghĩa thành công
không có, không được đảm bảo. Nổ ra lúc Việt Nam Quốc dân đảng đang tan
vỡ đang bị nguy cơ tiêu diệt của thực dân Pháp. Không có một lý luận
trong công tác khởi nghĩa. Không đặt sự tiến hành khởi nghĩa trên một cơ
sở khoa học thực tiễn lúc đó, do vậy mà đã đánh liều với bạo động, dẫn
đến một cuộc “khởi nghĩa non”, chưa chín muồi, vì vậy mà phải hi sinh
nhiều nhân mạng của nghĩa quân, kết quả vẫn thất bại.
Dù khởi nghĩa không thành công, nhưng chúng ta cũng phải ghi nhận sứ mệnh lịch sử ngắn ngủi có tích chất cách mạng[38] của Việt Nam Quốc dân đảng thời kỳ 1927-1930. Với sự lãnh đạo của những yếu nhân quan trọng, lãnh tụ của đảng như: Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Nguyễn Khắc Nhu, cùng các đồng sự khác… với một tinh thần yêu nước căm thù giặc, đầy hi sinh, gian khổ, rất đáng để cho chúng ta khâm phục.
Kể từ khi Việt Nam Quốc dân đảng được thành lập từ cuối năm 1927 đến
cuộc Khởi nghĩa Yên Bái, cho thấy tính chất dân tộc chống thực dân đã
được biểu hiện rõ rệt. Nhưng đồng thời, nó cũng đánh dấu tính chất manh
động và phiêu lưu của giai cấp tiểu tư sản và nông dân một khi không ở
dưới quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân. Cuộc Khởi nghĩa Yên Bái thất
bại không những kéo theo sự đổ vỡ hoàn toàn của Việt Nam Quốc dân đảng,
mà còn tước quyền lãnh đạo cách mạng của một bộ phận tiểu tư sản. “Cách mạng Việt Nam đến đây bước sang một giai đoạn mới là giai đoạn độc quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân”[39].
Cuộc khởi nghĩa Yên Bái tuy thất bại, nhưng đã cho chúng ta thấy tinh
thần vì nước quên mình của các chiến sĩ Yên Bái và để lại bài học kinh
nghiệm cho cách mạng Việt Nam giai đoạn tiếp sau: “Cuộc khởi nghĩa
Yên Bái là một bằng chứng quật khởi của một dân tộc không chịu làm nô
lệ, còn là một bài học lịch sử của một dân tộc bị áp bức quyết đánh ngã
kẻ thù”[40].
Đánh giá về ý nghĩa, vai trò lịch sử của khởi nghĩa Yên Bái Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam đã viết: “… Cuộc
bạo động ở Yên Bái tuy rằng do Đảng Việt Nam quốc dân tổ chức, đảng này
đã hạn chế cuộc vận động trong một cái trình độ âm mưu hành động của
một tốp người, song cuộc bạo động cũng có quần chúng nhân dân dự vào,
cùng là một cái tang chứng hùng dũng tranh đấu của lính An Nam biết lo
việc cho toàn nhân dân. Lịch sử, ý nghĩa của cuộc Yên Bái bạo động là
một sự bắt đầu biến chuyển quần chúng lao động tuy là lính khố đỏ An Nam
(do nông dân Bắc Kỳ giúp đỡ) ra trực tiếp làm vũ trang tranh đấu chống
đế quốc chủ nghĩa Pháp. Bởi vậy cho nên cuộc bạo động ấy đóng một vai
cách mạng to và trở nên một cuộc phản đế vận động của quảng đại quần
chúng nhân dân bắt đầu bành trướng mạnh mẽ...”[41].
95 năm sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930-2025), lịch sử đã chứng tỏ
rằng cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở thuộc địa phải do giai cấp công
nhân lãnh đạo, liên minh với giai cấp nông dân và các tầng lớp cách mạng
khác trong dân tộc mới có thề đảm bảo thắng lợi. Cuộc khởi nghĩa nổ ra
không thể do ý chí quyết định của một số ít người, mà phải do những điều
kiện chủ quan và khách quan chín muồi. Lãnh đạo cách mạng chỉ có thể
thành công khi mà quyền lãnh đạo thuộc giai về giai cấp công nhân đoàn
kết hết thảy dân tộc đứng lên làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đánh
đổ đế quốc và phong kiến.