Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2025

PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Những thành tựu phát triển của Việt Nam trong quá trình đổi mới đã chứng minh giá trị bất hủ của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó có giá trị về công bằng xã hội. Điểm nổi bật trong sự sáng tạo lý luận về công bằng xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam là luôn quan tâm đến người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau, trên cơ sở bình đẳng, công bằng về cơ hội phát triển. Chính thành tựu lý luận và thực tiễn này đã phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận những thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

1. Sự bất công và bất bình đẳng của xã hội tư bản chủ nghĩa là không thể che đậy
Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga chính là sự hiện thực hóa học thuyết của chủ nghĩa Mác, mở ra tương lai tươi sáng cho sự phát triển của lịch sử xã hội loài người, xây dựng nên một hệ thống của các nước XHCN hiện thực, mang lại sự tự do, công bằng đích thực cho xã hội loài người. Tuy nhiên, lợi dụng tình huống CNXH ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào, các thế lực chống phá đã xuyên tạc, bóp méo giá trị lý luận và thành tựu thực tiễn của CNXH. Từ đó, dấy lên cái gọi là tiến bộ và công bằng xã hội chỉ có trong chủ nghĩa tư bản (CNTB) và cho rằng đó mới là giá trị nhân loại vĩnh viễn. Song, thực chất cái gọi là “công bằng xã hội” đạt được trong CNTB đó đã được trả lời qua bối cảnh thế giới đầy biến động ngày nay.
Để chỉ ra bản chất của cái gọi là “công bằng” trong CNTB, các nhà kinh điển mácxít đã sớm chỉ ra, trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, nguyên tắc trao đổi ngang giá đã bị đồng nhất với cái gọi là sự công bằng. Trong nền kinh tế thị trường tư bản, quan hệ trao đổi ngang giá được thực hiện đối với mọi hàng hóa nói chung, trong đó có hàng hóa sức lao động. Về mặt danh nghĩa, hàng hóa sức lao động trong CNTB đã thuộc sở hữu của chính người lao động, nên tưởng chừng người lao động đã được tự do định đoạt đối với lao động của chính mình. Nghĩa là người lao động đã thực sự được giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào ruộng đất của chủ đất, khỏi lao động cống nạp như thời kỳ phong kiến; và nhờ đó người công nhân trong CNTB được tham gia một cách tự do, bình đẳng vào quan hệ mua bán sức lao động với nhà tư bản, được toàn quyền quyết định bán hay không bán sức lao động của mình cho nhà tư bản trên cơ sở “thuận mua, vừa bán” theo đúng quy luật của thị trường.
Vì vậy, nhìn bề ngoài, quan hệ phân phối sản phẩm giữa nhà tư bản và người công nhân dựa trên sự đóng góp công sức của cả nhà tư bản và người công nhân vào việc làm ra sản phẩm là hoàn toàn công bằng và việc giai cấp tư sản coi nguyên tắc trao đổi ngang giá chính là thước đo của công bằng xã hội không phải là không có lý. Song, nếu xem xét kỹ thì sự thực lại hoàn toàn không phải như vậy. C.Mác đã chỉ rõ: “Giá trị hàng hóa được quy định bởi lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó. Nhưng tuy vậy, người ta thấy rằng trong thế giới tội lỗi của chúng ta hàng hóa được bán ra lúc cao, lúc thấp hơn giá trị của nó, vả lại không chỉ do những dao động bắt nguồn từ cạnh tranh”(1). Bởi vậy, trong quan hệ mua - bán sức lao động giữa nhà tư bản và người công nhân, nhà tư bản ở thế mạnh, vì anh ta sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất, còn người công nhân ở thế yếu, vì chỉ sở hữu sức lao động của mình. Điều đó buộc người công nhân phải bán sức lao động thấp hơn giá trị của nó. Vì thế, việc người công nhân chỉ nhận được phần tiền công ngang bằng với giá cả được đem bán trên thị trường thực ra là sự trao đổi không ngang giá chứ không phải là ngang giá, nghĩa là quan hệ bất công.
Phải chăng sau nhiều sự điều chỉnh, đến nay CNTB đã hoàn toàn khắc phục được sự bất công xã hội để đi đến một xã hội vượt xa trước đây. Về điều này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đặt câu hỏi: “Thực tế có phải hiện nay chủ nghĩa tư bản, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không? Có phải Việt Nam chúng ta đã chọn con đường đi sai không?”.
Trả lời cho câu hỏi này, Tổng Bí thư đã đi sâu phân tích để chỉ ra căn nguyên và nêu rõ: “Từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, để thích ứng với điều kiện mới, CNTB thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách “tự do mới” trên quy mô toàn cầu, nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra. Đặc biệt, năm 2008-2009, chúng ta đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế bắt đầu từ nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước trên thế giới. Các nhà nước, các chính phủ tư sản ở phương Tây đã bơm những lượng tiền khổng lồ để cứu các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, các tổ hợp công nghiệp, tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, nhưng không mấy thành công. Và hôm nay, chúng ta lại chứng kiến cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, kinh tế đang diễn ra dưới tác động của đại dịch Covid-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.
Sự biến đổi trong thế giới ngày nay càng cho thấy bản chất của CNTB, mặc dù luôn mệnh danh cho một xã hội của sự tiến bộ và công bằng, song về bản chất vẫn không hề thay đổi. Bản chất đó của CNTB đã luôn đẩy con người đến sự tha hóa, bất công, bất bình đẳng và phản tiến bộ. Sâu sắc hơn nữa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng còn vạch rõ: “Những tình huống “phát triển xấu”, những nghịch lý “phản phát triển”, từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với các làn sóng biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế”…
Những điều phân tích sâu sắc ấy càng thể hiện tầm nhìn thấu đáo của nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, bằng tư duy lý luận của một người mácxít xuất sắc đã chỉ rõ về sự tiến bộ và công bằng xã hội đích thực chỉ có trong CNXH.
Phản ánh thực chất của sự đi ngược giá trị con người thể hiện ở sự vi phạm công bằng xã hội, trong đó có công bằng về điều kiện phát triển, Báo cáo phát triển con người năm 1996 của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã thảo luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, nhấn mạnh rằng, cần tận dụng khả năng trong tiến trình hiện đại hóa để tránh tình trạng “tăng trưởng không phát triển” dẫn đến sự bất bình đẳng sâu sắc của xã hội.
Thứ nhất, tăng trưởng nhưng không có việc làm (jobless growth). Việc làm có nghĩa sự bảo đảm của cuộc sống. Không có việc làm đồng nghĩa với việc tước đi năng lực sống cũng như năng lực phát triển của một cá nhân. Tất nhiên, thiếu cơ hội việc làm có thể kéo theo sự tăng trưởng chậm của kinh tế. Tuy nhiên, ngay cả các quốc gia có nền kinh tế phát triển nhanh cũng thường không tạo ra đủ cơ hội việc làm. Thí dụ, ở Pakítxtan, từ năm 1975-1992, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực tế mỗi năm tăng trung bình 6,3%, trong khi việc làm chỉ tăng 2,4%. Tệ hơn, từ năm 1986-1991, GDP của Ghana mỗi năm tăng trung bình 4,8%, trong khi việc làm lại giảm hơn 13%.
Thứ hai, tăng trưởng câm (voiceless growth). Sự tham gia và quản lý của người dân vào công việc chung, sự tự do bày tỏ ý kiến và quan điểm của họ, là một phương diện quan trọng về sự phát triển con người. Tuy vậy, tăng trưởng kinh tế không phải lúc nào cũng song hành với sự mở rộng dân chủ và tự do. Một số quốc gia kinh tế tăng trưởng rất nhanh, song còn xa mới đạt tới dân chủ và tự do. Dân chủ và tăng trưởng không loại trừ lẫn nhau, mà có xu hướng tăng cường lẫn nhau. Dân chủ cũng có thể thúc đẩy tăng trưởng.
Thứ ba, tăng trưởng tàn nhẫn (vô cảm) (ruthless growth). Ở nhiều quốc gia đang phát triển, đặc biệt là ở Mỹ Latinh, mặc dù tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập cũng ngày càng gia tăng. Lợi ích gia tăng phần lớn rơi vào tay người giàu, trong khi tình trạng của người nghèo không được cải thiện bao nhiêu; thậm chí số lượng và tỷ lệ người nghèo ngày một tăng lên. Từ năm 1970-1985, thu nhập toàn cầu tăng 40%, trong khi số người nghèo lại tăng 17%. Từ năm 1965-1980, số lượng người giảm thu nhập là 200 triệu; từ năm 1980-1993, con số này đã vượt 1 tỷ người.
Thứ tư, tăng trưởng mất (không có) gốc (rootless growth). Thế giới có hơn 10.000 nền văn hóa, điều này làm cho cuộc sống của các dân tộc và các tộc người đa dạng, phong phú. Một mô hình tăng trưởng có tính dung nạp và tính tham gia, có thể bồi đắp và tăng cường truyền thống văn hóa, khiến cho các dân tộc và các tộc người khác nhau được thụ hưởng tính đa dạng của văn hóa.
Tuy nhiên, một mô hình tăng trưởng có tính bài ngoại và tính kỳ thị có thể phá hủy tính đa dạng văn hóa và do đó làm suy giảm chất lượng cuộc sống của con người. Trong thế giới ngày nay, nhiều ý kiến cho rằng văn hóa truyền thống gây nên sự phiền toái, rườm rà cho hiện đại hóa và phát triển, do đó đã áp chế văn hóa truyền thống dân tộc và văn hóa của các dân tộc thiểu số.
Thứ năm, tăng trưởng không có (bất chấp) tương lai (futureless growth). Đó là tăng trưởng bất chấp cạn kiệt tài nguyên và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống của con người. Hiện nay, trong quá trình tăng trưởng kinh tế, không ít quốc gia đã phá rừng, gây ô nhiễm môi trường, hủy diệt đa dạng sinh học và làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Nó không chỉ làm tổn hại đến điều kiện sống và sức khỏe của thế hệ hiện tại, mà còn gây thiệt hại to lớn cho sự phát triển các thế hệ mai sau.
Sự bất công và bất bình đẳng sâu sắc của xã hội TBCN đã không thể che đậy. Hơn nữa, với bản chất bóc lột, CNTB đương nhiên không tự giải quyết được những vấn đề đã nảy sinh từ chính bản chất của nó.
2. Cơ sở quy định và tính ưu việt của chế độ xã hội luôn bảo đảm thực hiện công bằng đích thực ở Việt Nam
Để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội thực sự ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn căn cứ vào cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác và vận dụng vào thực tiễn của đất nước. Trên cơ sở tổng kết quá trình phát triển đất nước trong những năm qua, đồng thời xuất phát từ việc thực hiện kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, phát huy nhân tố con người, lấy nhân dân làm trung tâm, phát huy vai trò của văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực nội sinh của sự phát triển, Đại hội XIII của Đảng xác định thực hiện công bằng xã hội là cơ sở bảo đảm cho mục tiêu kép, cả về hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Để đạt được mục tiêu kép của công bằng xã hội, Đại hội XIII không chỉ nhấn mạnh vai trò của Nhà nước, mà còn nhấn mạnh việc phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cùng tham gia xử lý những bất cập của cơ chế thị trường, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Đây cũng chính là cơ sở để phấn đấu sớm hoàn thành các mục tiêu đến năm 2030 vì sự phát triển bền vững. Đại hội XIII nêu rõ: “Phát triển vì con người, tạo điều kiện cho mọi người, nhất là trẻ em, nhóm yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số, người di cư hòa nhập, tiếp cận bình đẳng nguồn lực, cơ hội phát triển và hưởng thụ công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản. Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện các chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, cùng phát triển”.
Khẳng định vai trò của phát triển kinh tế trong việc thực hiện mục tiêu công bằng xã hội ở Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh… Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội”.
Xuất phát từ nền tảng kinh tế cùng với những đặc trưng của CNXH mà Việt Nam đang xây dựng, nhất là về giá trị của công bằng xã hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm nổi bật: “Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Như vậy, thực hiện công bằng xã hội và tiến bộ xã hội là cốt lõi trong mục tiêu tổng thể của sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam. Hơn nữa, để xây dựng thành công CNXH, trong đó nhấn mạnh đến gắn công bằng xã hội với phát triển văn hóa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng sâu sắc chỉ ra: “Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hóa nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao”; “Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh”.
Văn hóa cũng bao hàm sự ứng xử của con người với tự nhiên, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường”.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn thực hiện công bằng xã hội, Đại hội XIII nhấn mạnh phải nhận thức đầy đủ và bảo đảm định hướng XHCN trong các chính sách xã hội, trên cơ sở gắn chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội, quan tâm lĩnh vực công tác xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đây là quan điểm đúng đắn của Đảng trong nhận thức và trong thực tiễn thực hiện công bằng xã hội, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, cũng như tăng cường tiềm lực của đất nước. Theo đó, cần tăng cường quản lý xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người. Triển khai đồng bộ, toàn diện các mục tiêu kinh tế, tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường, phân bổ nguồn lực hợp lý để nâng cao hiệu quả phát triển xã hội. Xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế, chính sách phát triển xã hội bền vững, hài hòa, từ thực hiện công bằng về cơ hội phát triển; đồng thời, kiểm soát được sự phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH với mục tiêu thực hiện công bằng xã hội ngay từ cơ hội phát triển đã khơi dậy và phát huy tiềm năng phát triển con người Việt Nam trong công cuộc đổi mới. Đây cũng chính là động lực để nước ta phát triển nhanh, bền vững và hướng tới thực hiện thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH TỔ CHỨC BỘ MÁY - ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT ĐỂ ĐẤT NƯƠC BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH

Bày tỏ sự đồng tình cao với việc thực hiện "cách mạng" tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng, đây không chỉ là nhiệm vụ cấp bách mà còn là điều kiện tiên quyết để đất nước ta bước vào kỷ nguyên vươn mình phát triển mạnh mẽ, bền vững.

Bộ máy cần tinh gọn, hiệu quả
Phát biểu tại phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực hiện Nghị quyết 18, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định, đây là một cuộc "cách mạng" tinh gọn tổ chức bộ máy, đòi hỏi sự quyết tâm chính trị cao nhất, hành động quyết liệt và đồng bộ của cả hệ thống chính trị.
Tổng Bí thư nhấn mạnh, quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy phải gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ, có biên chế hợp lý; đổi mới mạnh mẽ công tác tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, vì việc tìm người, trên cơ sở sản phẩm cụ thể đo đếm được, không có vùng cấm, không có ngoại lệ trong đánh giá cán bộ; có cơ chế hữu hiệu để sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và sử dụng đối với người có năng lực nổi trội.
Để thực hiện thành công cuộc "cách mạng" này, điều quan trọng là sự vào cuộc đồng bộ của toàn hệ thống chính trị. Các cấp ủy Đảng, chính quyền cần rà soát lại toàn bộ cơ cấu tổ chức, loại bỏ những tầng nấc trung gian không cần thiết, tinh giản biên chế đi đôi với nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ.
Chủ trương này không chỉ là sự sắp xếp lại tổ chức, mà còn là một bước đi quan trọng nhằm đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả điều hành, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đây là cơ hội để bộ máy Nhà nước hoạt động một cách linh hoạt, hiện đại, hướng tới phục vụ nhân dân tốt hơn.
Hành động quyết liệt, thực chất
Theo đại biểu Trần Hoàng Ngân (Thành phố Hồ Chí Minh), tinh gọn bộ máy là một chủ trương đúng đắn, nhưng cần thực hiện một cách thận trọng, tính toán kỹ lưỡng theo đặc thù từng ngành, từng địa phương.
Ông nhấn mạnh, trước tiên cần rà soát, đánh giá lại chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, phòng ban, vị trí công tác để lên phương án tổng thể theo chỉ đạo của Tổng Bí thư.
Việc này không chỉ làm ở cấp xã, ở huyện, quận mà Trung ương phải gương mẫu. Trung ương và các tỉnh, thành phố cũng phải tiến hành một cuộc cách mạng đồng bộ, toàn diện, đại biểu Vũ Trọng Kim khẳng định.

Hội nghị Thượng đỉnh và những cáo buộc sai sự thật về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam

Nhiều năm qua, Hội nghị Thượng đỉnh về tự do tôn giáo quốc tế đã căn cứ vào những nguồn tin không đầy đủ, thiếu khách quan, nguồn tin cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật của các tổ chức, cá nhân phản động, cực đoan, cơ hội chính trị về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Từ đó, họ kêu gọi Chính phủ các nước cũng như các tổ chức quốc tế gây sức ép với chính quyền Việt Nam, kích động phần tử chống đối ở trong nước tiến hành các hoạt động gây rối phá hoại, làm mất ổn định an ninh, trật tự. Năm nay, hội nghị này được tổ chức từ ngày 4 - 5/2/2025 tại Washington DC, Hoa Kỳ, các thế lực chống phá tiếp tục đưa ra nội dung xuyên tạc, hướng lái sai lệch các vụ án có liên quan đến dân tộc, tôn giáo tại Việt Nam nhằm hạ uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Những tiếng nói xuyên tạc, lạc lõng nơi xứ người

Hội nghị Thượng đỉnh tự do tôn giáo quốc tế (International Religious Freedom Summit, viết tắt là IRF Summit) là sự kiện được tổ chức từ năm 2021 đến nay liên quan đến các vấn đề về tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hội nghị được khởi xướng và duy trì bởi hai đồng chủ tịch là ông Sam Brownback, cựu Đại sứ lưu động về tự do tôn giáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và bà Katrina Lantos Swett, một luật sư nhân quyền hiện đang giữ chức Chủ tịch Quỹ Nhân quyền Lantos.

Dù có tên gọi là Hội nghị Thượng đỉnh liên quan đến vấn đề tự do và tôn giáo toàn cầu được tuyên truyền trên mạng xã hội một cách rầm rộ cả về số người tham dự và số tiền chi ra để tổ chức trong những năm qua nhưng về bản chất, hội nghị này chỉ là một diễn đàn để các tổ chức và các đối tượng chống đối đưa ra những thông tin vu cáo, xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trong thời gian hội nghị diễn ra với những công bố thiếu khách quan, sai sự thật, ngay lập tức đã được các tổ chức thiếu thiện chí, thù địch chống phá Việt Nam tung hô, xem đó như là bằng chứng quy kết Đảng, Nhà nước ta có những đối xử “bất công”, “phân biệt đối xử”, “đàn áp” tôn giáo, tín ngưỡng của người dân…

Cũng như các năm trước, năm nay tại hội nghị này, các đại biểu tham dự đều là các tổ chức, cá nhân tự xưng quen thuộc trên không gian mạng về các hoạt động xuyên tạc, vu cáo, bóp méo sự thật về tự do tôn giáo tại nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Với mục đích chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, qua đó kêu gọi các quốc gia, tổ chức quốc tế can thiệp, gây sức ép với những chủ trương, đường lối chính sách của Việt Nam, có thể kể đến như đối tượng Nguyễn Đình Thắng làm Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành tổ chức do chính y lập ra là Ủy ban cứu người vượt biển - BPSOS. Dù không sinh sống cũng như không có mối liên hệ mật thiết nào ở Việt Nam nhưng đối tượng trên vẫn đưa ra những thông tin bịa đặt, bóp méo sự thật việc “Việt Nam tiếp tục vi phạm tự do tôn giáo một cách có hệ thống và giới hoạt động muốn hội nghị quan tâm đến hiện trạng đàn áp ở Việt Nam”, đồng thời mong muốn các tổ chức, cá nhân tham dự tiếp tục vận động Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh dách quốc gia phải quan tâm đặc biệt (CPC) về tự do tôn giáo.

Ngoài ra, thông qua hội nghị này, nhiều đối tượng tiếp tục cổ suý và tẩy trắng cho các hành động khủng bố tại Việt Nam như đối tượng Y Phic Hdok, hiện đang sống lưu vong tại Mỹ, là một trong những đối tượng cốt cán của tổ chức Người Thượng vì công lý - MSFJ” (Montagnards Stand For Justice) đã kêu gọi các tổ chức quốc tế tự xung về nhân quyền can thiệp vào Việt Nam nhằm thả các đối tượng vi phạm pháp luật và đang chấp hành án phạt như Y Thinh Niê, Nay Y Blang, Y Krếc Byă). Thậm chí, đối tượng này còn lớn tiếng kêu gọi các tổ chức quốc tế trên can thiệp, gây sức ép đối với Chính  phủ Thái Lan trong việc không trục xuất đối tượng khủng bố Y Quynh Bdap chủ mưu, cầm đầu vụ khủng bố xảy ra tại Đắk Lắk ngày 11/6/2023 về Việt Nam.

Như vậy, về bản chất hội nghị này không phải là một diễn đàn để đưa ra những tiếng nói công bằng về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như đại diện cho tổ chức tôn giáo nào cho người dân toàn cầu mà là một trong những công cụ chính trị để các thế lực thù địch nhắm vào các quốc gia được cho là không thân thiện nhằm tạo áp lực chính trị, tức là mục tiêu “quốc tế hóa”, “chính trị hóa” vấn đề tôn giáo, tiến tới các hoạt động kích động gây bất ổn ở trong nước và thực hiện can thiệp quân sự từ bên ngoài. Điểm qua những thành phần tham dự Hội nghị đều là những gương mặt quen thuộc của các tổ chức quốc tế tự xưng về nhân quyền, các cá nhân, tổ chức gắn mác “đấu tranh tự do tôn giáo” chỉ nhằm mục đích vận động chính sách, chứ không phải là đại diện các quốc gia đến bàn thảo, nghị sự về tôn giáo. Dù được các đối tượng chống đối và các tổ chức phản động lưu vong tuyên truyền trên mạng xã hội nhưng suy cho cùng, đây chỉ là một diễn đàn mang tính nhỏ lẻ không tính quốc tế, không đại diện cho tiếng nói của một quốc gia nào nên không có được sự quan tâm từ các tổ chức truyền thông hay bất cứ tổ chức tôn giáo nào trên thế giới.

Bản chất các hoạt động cổ xúy cho hội nghị trên của các thế lực thù địch, phản động lưu vong và số đối tượng chống đối ở trong nước thời gian qua chỉ nhằm mục đích kích động “ngòi nổ” tín ngưỡng, tôn giáo để kích động mâu thuẫn giữa các tôn giáo với nhau, giữa người theo đạo và người không theo đạo, giữa các tôn giáo với chính quyền các cấp, từ đó gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tiến tới can thiệp vào công việc nội bộ, chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, gây tổn hại đến vị thế và uy tín của Việt Nam hiện nay.

Minh chứng sinh động về tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam bác bỏ những cáo buộc xuyên tạc, sai sự thật

Việt Nam là đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời và là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Cùng với quá trình đổi mới đất nước, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có nhiều chuyển biến mới: sự trở lại của niềm tin tôn giáo, sự gia tăng số lượng chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo; nhiều hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra với quy mô lớn hơn trước thu hút đông đảo tín đồ và người dân tham dự; các tổ chức tôn giáo được công nhận xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo phù hợp với văn hóa truyền thống, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc… Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đã và đang đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của đông đảo quần chúng nhân dân và có những đóng góp tích cực đối với đời sống xã hội. Ðảng và Nhà nước ta luôn khẳng định vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tôn giáo có vị trí chiến lược trong sự nghiệp phát triển đất nước.

Hiến pháp năm 2013 phân định rõ ràng hai khái niệm quyền con người và quyền công dân, trong đó ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với tư cách là một quyền con người với tính phổ quát của nó: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật” (khoản 1 Điều 24). Hơn thế, Hiến pháp năm 2013 mở rộng phạm vi nghĩa vụ của Nhà nước, không chỉ là bảo hộ nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo như Hiến pháp năm 1992 mà là: “tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo." Đối tượng bảo hộ gồm cả quyền tự do theo hay không theo tín ngưỡng, tôn giáo; các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và tổ chức tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo (nơi thờ tự). Như vậy, tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tự nhiên của con người, đã được pháp luật quốc tế công nhận và bảo hộ với tư cách một quyền con người cơ bản ngay từ khi Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người - đạo luật nhân quyền quốc tế đầu tiên - được ban hành. Ở Việt Nam, tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn luôn là một quyền hiến định mà Nhà nước có nghĩa vụ bảo hộ. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta. Chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi như hiện nay. Những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được khẳng định thông qua nhiều bằng chứng sống động, từ việc công nhận tổ chức, đăng ký hoạt động, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, đến việc bảo đảm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được mở cơ sở đào tạo, in ấn kinh sách, sinh hoạt giáo lý…

Thực tiễn cho thấy, kể từ khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đi vào đời sống, số lượng chức sắc, chức việc, cơ sở thờ tự và công dân theo tôn giáo tăng theo thời gian, ở tất cả các tôn giáo. Đến nay, Nhà nước đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, với trên 27 triệu đồng bào theo đạo (chiếm trên 27% dân số cả nước), trong đó, có trên 54.000 chức sắc, 135.500 chức việc; trên 29.600 cơ sở thờ tự tôn giáo và khoảng trên 54.000 cơ sở tín ngưỡng. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các tổ chức và đại đa số đồng bào theo các tôn giáo ở Việt Nam luôn phát huy truyền thống yêu nước và đại đoàn kết dân tộc, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các tổ chức tôn giáo với tình yêu thương con người đã chung tay với Nhà nước trong công tác an sinh xã hội, chung sức, đồng lòng với chính quyền, nhân dân trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đến nay, cả nước có khoảng 300 trường mầm non, 2.000 cơ sở giáo dục mầm non, 22 cơ sở dạy nghề thuộc các tổ chức tôn giáo, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội.

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, các tổ chức tôn giáo được tham gia vào đời sống chính trị xã hội. Quốc hội khóa XV, có 5 vị chức sắc trúng cử đại biểu; 88 chức sắc, chức việc và 35 tín đồ các tôn giáo trúng cử đại biểu HĐND cấp tỉnh; 225 chức sắc, chức việc, nhà tu hành và 246 tín đồ trúng cử đại biểu HĐND cấp huyện; 646 chức sắc, chức việc, nhà tu hành và trên 5.000 tín đồ trúng cử đại biểu HĐND cấp xã nhiệm kỳ 2021 - 2026, là thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và tích cực tham gia các Hội, đoàn thể khác như: Hội Người cao tuổi Việt Nam, Hội Người bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi Việt Nam, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam... Cùng với đó, các tổ chức tôn giáo đã vận động chức sắc, chức việc, đồng bào theo đạo chấp hành nghiêm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, các tổ chức tôn giáo là một kênh truyền thông quan trọng góp phần đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống và đến với đồng bào có đạo nhanh và hiệu quả.

Trong nhiều năm qua, Việt Nam luôn là điểm đến được các tổ chức tôn giáo lớn trên thế giới lựa chọn làm nơi tổ chức các sự kiện, các lễ kỷ niệm như: năm 2009, Nhà nước cho phép và hỗ trợ Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức Hội nghị Nữ giới Phật giáo thế giới lần thứ XI tại TP Hồ Chí Minh, với hơn 2.000 ni sư từ hơn 47 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới tham dự sự kiện này. Đặc biệt, năm 2024 đã diễn ra những hoạt động đối ngoại, nổi bật là Tổng Giám mục Marek Zalewski bắt đầu đảm nhiệm vai trò Đại diện Thường trú đầu tiên của Toà thánh ở Việt Nam từ tháng 1/2024.

Bộ trưởng Ngoại giao Tòa thánh Vatican, Tổng Giám mục Paul Richard Gallagher thăm Việt Nam từ ngày 9-14/4/2024 qua đó diện kiến Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và có các cuộc gặp và làm việc với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà; thăm các Tổng Giáo phận Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Huế. Trong chương trình tại Việt Nam, Mục sư Franklin Graham, Chủ tịch kiêm Giám đốc Điều hành Hiệp hội Truyền giáo Billy Graham đã gặp Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình và Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà, lãnh đạo Ủy ban nhân dân TP Cần Thơ. Đồng thời, mục sư Franklin Graham tham dự Chương trình Thánh nhạc Truyền giảng “Mùa Yêu thương 2024” do Hiệp hội Truyền giáo Billy Graham tổ chức tại Cần Thơ, với 2 đêm nhạc vào ngày 3-4/12/2024, thu hút khoảng 10.000 người tham dự gồm chức sắc, chức việc, tín đồ Tin lành và khách mời của 13 tỉnh miền Tây.

Những con số trên là minh chứng sinh động cho thấy tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được pháp luật bảo hộ và luôn được bảo đảm, thực thi trong thực tiễn, các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi và ngày càng phát triển. Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra sôi động ở khắp các vùng, miền, các cộng đồng dân cư, các tầng lớp xã hội, nhất là vào dịp đầu năm, lễ hội truyền thống.

 

CẢNH GIÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC TINH GỌN BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

 Thời gian gần đây, triển khai thực hiện chủ trương của Đảng về tinh giản biên chế và sắp xếp lại bộ máy của hệ thống chính trị được triển khai mạnh mẽ và đạt được những kết quả tích cực, nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân. Tuy nhiên, đi ngược với tinh thần đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc, phủ nhận chủ trương và kết quả thực hiện tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị của Việt Nam. Trong bài viết, “Cồng kềnh do đâu” đăng trên các trang mạng xã hội, với cái nhìn định kiến, Tạ Duy Anh đã quy chụp rằng “bộ máy hệ thống chính trị cồng kềnh là do chế độ” và đưa ra đề xuất “thừa nhận xã hội dân sự , chính quyền bớt đi nhiều việc phải làm, do đó, một cách tự nhiên, bộ máy không cần phải phình to”... Đây là luận điệu xuyên tạc, cần bác bỏ kịp thời.

Thứ nhất, “xã hội dân sự” không thể là giải pháp hữu hiệu để làm cho bộ máy hệ thống chính trị bớt cồng kềnh.
Nhận thức được hệ lụy của sự cồng kềnh của bộ máy hệ thống chính trị đối với quá trình phát triển đất nước, những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã triển khai mạnh mẽ chủ trưởng tinh giản biên chế và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay vẫn còn những hạn chế, bất cập, là lực cản lớn, gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển của đất nước.
Trước tình trạng đó, việc tinh giản biên chế và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, đảm bảo cho bộ máy của hệ thống chính trị “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” là một đòi hỏi tất yếu khách quan để đất nước vươn mình, bước vào kỷ nguyên mới. Tuy nhiên, đây là công việc khó khăn, phức tạp, nhạy cảm, vừa cần quyết liệt, nhưng cũng thận trọng, có những giải pháp đồng bộ, toàn diện, thấu tình, đạt lý, tạo được sự thống nhất nhận thức trong Đảng, hệ thống chính trị, cán bộ, công chức, viên chức, sự đồng thuận xã hội như: Thực hiện Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của toàn hệ thống chính trị; sắp xếp, kiện toàn, tinh gọn đầu mối bên trong các tổ chức của hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị, khắc phục tình trạng trùng lặp, chồng chéo; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của Đảng, Nhà nước về tổ chức bộ máy của các cấp, các ngành, các địa phương, bảo đảm đồng bộ, thống nhất… chứ không phải chỉ cần “tuyên bố các hội đoàn từ nay là các tổ chức dân sự”, tự do thành lập, giải tán các hội đoàn mà không cần sự quản lý của Nhà nước như sự “ngây ngô” của Tạ Duy Anh. Đây chỉ là chiêu trò, nhằm cổ xúy cho cái gọi là “xã hội dân sự” và chống phá cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy trong hệ thống chính trị, gây mất ổn định chính trị và đoàn kết nội bộ của nước ta.
Thứ hai, thực tế “xã hội dân sự” đã bị các thế lực thù địch lợi dụng để lôi kéo, kích động quần chúng lật đổ chế độ ở các nước và không phải được hoàn toàn tự do thành lập, hoạt động như sự bịa đặt của Tạ Duy Anh.
Thực tiễn ở Đông Âu vào những năm 80 của thế kỷ XX, ở một số nước đã hình thành các công đoàn, hội có xu hướng tách khỏi quản lý của nhà nước, đối lập với chính quyền, hoạt động với danh nghĩa là “tổ chức xã hội dân sự” nhân danh bảo vệ công nhân, bảo vệ các quyền dân sự. Thông qua việc lôi kéo quần chúng, với sự hỗ trợ từ nước ngoài, một số tổ chức Công giáo, được kích hoạt thêm bởi các chính sách “công khai hóa”, “dân chủ hóa”; những tổ chức này nhanh chóng chuyển hóa thành tổ chức chính trị đối lập, đóng vai trò trọng yếu trong việc hạ bệ uy tín của nhà nước, thúc đẩy hình thành chế độ đa đảng và giành chính quyền thông qua cái gọi là “bầu cử dân chủ”; làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Các cuộc “cách mạng đường phố” tại các nước thuộc khu vực Trung Đông - Bắc Phi, “cách mạng màu”, “cách mạng nhung” ở một số nước thuộc không gian hậu Xô Viết thời gian qua cũng cho thấy vai trò của các tổ chức, cơ quan nước ngoài, các NGO trong việc hỗ trợ các tổ chức xã hội dân sự trong nước lôi kéo, kích động quần chúng lật đổ các chính thể hợp pháp, gây nên tình trạng khủng hoảng chính trị, thậm chí có nước còn lâm vào cảnh chia rẽ, xung đột triền miên, lãnh thổ bị chia cắt.
Mặc dù, ngoài miệng ca ngợi và có các hoạt động khuyến khích thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” ở các các nước, tuyên truyền đó là “chìa khóa vạn năng” để giải quyết mọi bất ổn trong xã hội. Nhưng, ở chính các nước phương Tây và Mỹ “xã hội dân sự” cũng không được tạo mọi cơ hội để hình thành và lớn mạnh như những gì Tạ Duy Anh ảo tưởng. Một mặt, họ khuyến khích “xã hội dân sự” trên hình thức mị dân chính quốc và thi hành chính sách “diễn biến hòa bình” ở các nước cần thay đổi thể chế chính trị; một mặt lại giám sát, cấm đoán một cách chặt chẽ các tổ chức xã hội nếu thấy có mối nguy cơ tiềm ẩn. Công ước châu Âu quy định, các nước tham gia cần có những hạn chế đối với hoạt động chính trị của người nước ngoài trong các trường hợp liên quan đến quyền tự do lập hội. Nhận xét về mối nguy hại của “xã hội dân sự” dưới góc độ kinh tế, Ngân hàng Phát triể châu Á cho rằng, các tổ chức xã hội công dân cũng có thể bao gồm những hiệp hội có động cơ bạo lực, tham lam, lợi ích cục bộ, thù địch sắc tộc và đàn áp xã hội, cũng như các tổ chức kinh doanh vận động hành lang như ngành công nghiệp thuốc lá, là không thể đại diện cho lợi ích đông đảo của quần chúng.
Tinh gọn bộ máy, nâng cao hiêu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị là đòi hỏi cấp bách hiện nay của nước ta, cần kiên quyết thực hiện một cách thận trọng, tạo sự thống nhất trong hệ thống chính trị, cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương từ ngân sách nhà nước và sự đồng thuận xã hội. Đồng thời, nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động có các biện pháp đấu tranh ngăn chặn các hoạt động xuyên tạc, chống phá cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy trong hệ thống chính trị của nước ta.

Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: "Chống tham ô lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận".

Minh bạch và kỷ cương hành chính

Thực tế thời gian qua, “tham nhũng vặt”, gây sách nhiễu, phiền hà cho người dân, doanh nghiệp có thể không tạo ra những hậu quả nhãn tiền như các vụ tham nhũng lớn, nhưng lại như những “ổ mối nhỏ ăn mòn con đê”, gây ra bức xúc cho người dân. Bởi thế việc đấu tranh với “tham nhũng vặt", nhũng nhiễu trong giải quyết công việc để vụ lợi luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng được các cấp, các ngành đặc biệt nhấn mạnh trong xây dựng chính quyền và nâng cao chất lượng công vụ.

Tại Hà Nội, học tập và làm theo tư tưởng của Bác, việc chống nhũng nhiễu, phiền hà cho người dân trong giải quyết công việc luôn được chú trọng. Trong đó, Thành phố đã rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, công khai minh bạch các hoạt động kinh tế - xã hội và công tác cán bộ; quy trình, thủ tục giải quyết công việc. Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4; ngăn chặn biểu hiện “xin - cho”, giảm tình trạng “tham nhũng vặt”. Hà Nội cũng chọn những lĩnh vực nhạy cảm để kiểm tra, giám sát thường xuyên. Kiên quyết xử lý các vi phạm, chuyển ngay sang cơ quan điều tra các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật kinh tế, tham nhũng.

Đặc biệt, với việc triển khai Đề án về "Đẩy mạnh công tác phát hiện, ngăn chặn, xử lý tình trạng tiêu cực, gây phiền hà, nhũng nhiễu người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc trên địa bàn TP Hà Nội", đã xây dựng được văn hóa công vụ, phòng ngừa được tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực. Đồng thời, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thu, quản lý, sử dụng phí, lệ phí, quy trình giải quyết thủ tục hành chính để góp phần ngăn ngừa kịp thời phát hiện các hành vi nhũng nhiễu ở cơ sở…

Vừa qua, trong Chỉ thị số 01/CT-UBND của Chủ tịch UBND TP Hà Nội về việc tăng cường thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại các cơ quan, đơn vị năm 2022, vấn đề này cũng được nhấn mạnh. Theo đó, để tổ chức triển khai hiệu quả chủ đề công tác năm 2022 “Kỷ cương, trách nhiệm, hành động, sáng tạo, phát triển”, Thành phố sẽ nâng cao hơn nữa tinh thần, ý thức trách nhiệm trong công việc của mỗi cán bộ, công chức, viên chức nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính. Đồng thời, nghiêm cấm hành vi gây nhũng nhiễu, phiền hà, trục lợi khi xử lý, giải quyết công việc liên quan đến người dân, tổ chức và doanh nghiệp.

Chấn chỉnh vi phạm, tăng sự hài lòng

Việc các cấp, ngành, đơn vị thực hành nghiêm việc phát hiện và xử lý kịp thời đối với các hành vi, các biểu hiện, hành vi vi phạm đạo đức công vụ, văn hóa ứng xử trong thực hiện công vụ và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà cho tổ chức và công dân cũng góp phần mang lại sự kỳ vọng và thêm niềm tin của người dân với các cấp chính quyền.

Đặc biệt, nhiều đơn vị tại Hà Nội cũng đã có những cách làm hay như xây dựng bản cam kết duy trì thực hiện kỷ cương, trách nhiệm, tận tụy, chuyên nghiệp với công việc được giao; không bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tiêu cực. Tăng cường công khai, minh bạch các cơ chế, chính sách, chế độ; công tác cán bộ, nhất là trong bổ nhiệm, tuyển dụng. Đồng thời, mọi hoạt động quản lý hành chính, đặc biệt là trong công tác thực hiện đầu tư; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng được công khai, cùng với tăng ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành… đã tạo điều kiện cho người dân giám sát, phòng ngừa các vi phạm.

Bằng kinh nghiệm nhiều năm qua và kết quả đã có, Hà Nội đang tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn triệt để các biểu hiện gây phiền hà, nhũng nhiều người dân, doanh nghiệp. Tại nhiều địa phương, các giải pháp được áp dụng đại trà đã tạo chuyển biến rõ nét trong mối quan hệ giữa chính quyền với người dân, từ đó loại trừ những vi phạm phát sinh, củng cố thêm niềm tin, tăng thêm sự gắn kết./.

HIỂU ĐÚNG VỀ CẢI CÁCH BỘ MÁY HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 Cải cách bộ máy hành chính ở Việt Nam là một trong những trọng tâm của hệ thống chính trị, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và phục vụ tốt hơn nhu cầu của nhân dân; đảm bảo tính công khai minh bạch, dân chủ rộng rãi trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, mới đây, trên trang Anhemdanchu Nguyễn Xuân Hiệp có bài viết: “Cải cách bộ máy hành chính phải gắn liền với cải cách dân chủ thì mới đem lại tương lai cho đất nước”. Y đưa ra những lời nhận định thiếu hiểu biết về Tự do, dân chủ ở Việt Nam khi cho rằng: “…phải có sự cam kết từ các nhà lãnh đạo Việt Nam để đặt lợi ích quốc gia và nhân dân lên trên hết”. Đây thực chất là âm mưu, thủ đoạn nhằm xuyên tạc tự do, dân chủ ở Việt Nam trong cải cách bộ máy hành chính ở nước ta hiện nay cần được đấu tranh, bác bỏ.

1. Mục tiêu cải cách bộ máy hành chính ở nước ta hiện nay
Cải cách bộ máy hành chính là chủ trương nhất quán của Đảng, nhằm xây dựng bộ máy, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và tinh gọn. Do đó, đòi hỏi sự quyết tâm cao về chính trị, nguồn lực và sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị và người dân, có ý nghĩa quan trọng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội: xây dựng bộ máy hành chính tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, giảm thiểu sự cồng kềnh và chồng chéo trong chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan; đảm bảo các quyết định quản lý được thực hiện nhanh chóng, kịp thời, và đúng pháp luật; thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; giúp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, giảm bớt thủ tục hành chính rườm rà, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân. Cải cách bộ máy hành chính còn góp phần tăng cường quản lý, sử dụng nguồn lực quốc gia hợp lý, hỗ trợ quá trình chuyển đổi số và hội nhập quốc tế; tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm, giúp xây dựng một nền hành chính công khai, minh bạch, giảm thiểu tham nhũng và lãng phí, đảm bảo dân chủ cả về kinh tế và chính trị trong quần chúng nhân dân; thúc đẩy trách nhiệm của cán bộ, công chức, tạo niềm tin cho người dân đối với cơ quan Nhà nước. Phục vụ tốt hơn người dân; rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, thủ tục, giảm phiền hà cho người dân. Hướng đến hiện đại hóa nền hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và cung cấp dịch vụ công; xây dựng chính phủ điện tử và tiến tới chính phủ số, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại; đảm bảo tính tương thích với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế trong quản trị công. Như vậy, cải cách bộ máy hành chính nhà nước không chỉ là nhiệm vụ cấp bách mà còn là điều kiện quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân.
2. Cải cách bộ máy hành chính ở Việt Nam rất dân chủ, tiến bộ; đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển mạnh mẽ.
Cải cách bộ máy hành chính ở nước ta trong những năm qua được tiến hành theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, đã góp phần tinh giản bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của Nhà nước, đưa nước ta phát triển mạnh mẽ theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa; nhiều cơ quan, đơn vị đã thực hiện tinh giản biên chế, hàng chục nghìn cán bộ ở những vị trí không thiết yếu đã được cắt giảm; nhiều cơ quan, đơn vị có chức năng trùng lặp đã được sáp nhập. Hàng nghìn thủ tục hành chính không cần thiết hoặc gây khó khăn đã được loại bỏ, giúp giảm thời gian và chi phí cho người dân và doanh nghiệp; hệ thống “một cửa” được triển khai rộng rãi tại các cấp chính quyền, đặc biệt là cấp xã, huyện, giúp người dân tiếp cận dịch vụ công thuận lợi hơn; nhiều dịch vụ công được cung cấp ở mức độ 3 và 4, tạo thuận lợi cho người dân thực hiện thủ tục từ xa, giảm thời gian chờ đợi. Ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng chính phủ điện tử được áp dụng rộng rãi; Việt Nam đã triển khai Cổng Dịch vụ Công Quốc gia, tích hợp hơn 4.400 dịch vụ công trực tuyến, giúp hàng triệu người dân và doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính nhanh chóng; các bộ, ngành, địa phương đã bắt đầu xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, doanh nghiệp, tạo nền tảng cho chính phủ số. Hàng nghìn cán bộ, công chức được đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ; nhiều cán bộ đã áp dụng phương pháp làm việc hiện đại, minh bạch và trách nhiệm hơn. Tăng cường minh bạch và chống tham nhũng rất có hiệu quả, nhiều cơ quan đã thực hiện công khai quy trình, thủ tục, và chi phí hành chính trên các cổng thông tin điện tử; các biện pháp giám sát chặt chẽ hơn từ người dân và các tổ chức xã hội đã góp phần giảm tình trạng nhũng nhiễu, tham nhũng trong bộ máy hành chính. 100% các bộ, ngành, địa phương đã kết nối vào trục liên thông văn bản quốc gia, hàng triệu giao dịch qua Cổng Dịch vụ Công Quốc gia… đã giúp tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng cho xã hội. Những kết quả đạt được trong cải cách bộ máy hành chính đã góp phần tạo ra môi trường kinh tế - xã hội minh bạch, thuận lợi hơn. Điều này thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, hiệu quả và phục vụ người dân tốt hơn, đảm bảo dân chủ trong hoạt đông của bộ máy nhà nước và dân chủ cho quyền lợi chính đáng của nhân dân.
Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam cần nâng cao nhận thức, tỉnh táo và cảnh giác trước những thông tin không chính thống xuyên tạc về chủ trương, đường lối cải cách hành chính ở Việt Nam. Chủ động đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động.

Toàn quân phấn đấu hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và nhiệm vụ quân sự, quốc phòng năm 2025

 

Năm 2024, tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược, chạy đua vũ trang, liên kết quân sự, chiến tranh, xung đột, khủng bố, bạo loạn lật đổ,... diễn ra ở nhiều khu vực, nhiều quốc gia, đã tác động sâu sắc đến sự ổn định và phát triển của toàn cầu. Ở trong nước, nắm bắt thuận lợi, thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã đoàn kết, chung sức, đồng lòng nỗ lực phấn đấu, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ, đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Kinh tế tăng trưởng khá; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố và tăng cường; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững, củng cố, tăng cường môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thực chất, hiệu quả; vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế được nâng cao. Bên cạnh những thành tựu đạt được chúng ta vẫn gặp không ít khó khăn, thách thức do tác động tiêu cực của tình hình thế giới, khu vực; cùng với đó, thiên tai diễn biến hết sức phức tạp đã gây thiệt hại nghiêm trọng trên diện rộng; các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước triệt để lợi dụng những sự việc, vấn đề nhạy cảm để chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội với nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc, v.v. Trong bối cảnh đó, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân đoàn kết, thống nhất, quyết tâm cao, chủ động, sáng tạo, vượt qua khó khăn, thách thức, hoàn thành toàn diện 13 nhóm nhiệm vụ năm 2024, góp phần hoàn thành cơ bản 15 nhóm nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đề ra, nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc, nổi bật là:

Quân đội đã thực hiện tốt chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước những chủ trương, đối sách chiến lược, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Triển khai đồng bộ chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 44-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; chủ động đề xuất Quốc hội sửa đổi, bổ sung, ban hành các luật, nghị quyết để thể chế hóa quan điểm, tư duy mới của Đảng về bảo vệ Tổ quốc, tạo hành lang pháp lý, huy động sức mạnh tổng hợp, tăng cường tiềm lực quốc phòng. Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp của các cuộc xung đột quân sự gần đây trên thế giới cùng những động thái đáng chú ý trong khu vực, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng chủ động nghiên cứu, nắm chắc tình hình, đề xuất nhiều chủ trương, chính sách lớn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả trước mắt và lâu dài. Toàn quân thực hiện nghiêm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; quản lý chặt chẽ biên giới, nội địa, vùng trời, vùng biển, đảo, không gian mạng; kịp thời bổ sung, hoàn chỉnh và luyện tập thuần thục các phương án trên từng hướng, địa bàn chiến lược, trọng điểm.

Quân đội tiếp tục phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân”, phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ tỉnh, huyện vững chắc, tạo sức mạnh tổng hợp để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phối hợp chặt chẽ với Công an và các lực lượng giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; kiểm soát, quản lý chặt chẽ biên giới, vùng trời, biển, đảo của Tổ quốc; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là xây dựng hạ tầng giao thông và công nghiệp quốc gia. Đặc biệt, toàn quân thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu trong thời bình, luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích giúp đỡ nhân dân phòng, chống khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, nhất là siêu bão số 3 (tháng 9/2024), được Đảng, Nhà nước ghi nhận, cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương đánh giá rất cao.

Toàn quân tập trung triển khai thực hiện tốt ba khâu đột phá mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đề ra, đạt nhiều kết quả quan trọng; đồng thời, cơ bản hoàn thành điều chỉnh tổ chức lực lượng tinh, gọn, mạnh theo Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17/01/2022 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 02/4/2022 của Quân ủy Trung ương về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo và định hướng của Ban Chỉ đạo tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của toàn quân được nâng lên, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Công tác huấn luyện, giáo dục, đào tạo đạt nhiều kết quả tốt; tổ chức và tham gia hội thi, hội thao trong nước, khu vực, quốc tế giành thành tích cao; tổ chức nhiều cuộc diễn tập quy mô lớn với nhiều thành phần, lực lượng tham gia, thực nghiệm nhiều vũ khí trang bị do Việt Nam sản xuất, góp phần nâng cao trình độ chỉ huy, hiệp đồng tác chiến và khả năng sẵn sàng chiến đấu của toàn quân.

Đảng bộ Quân đội được xây dựng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, gương mẫu đi đầu trong công tác xây dựng Đảng; giữ vững đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, luôn quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Trung ương; kịp thời kiện toàn các cấp ủy, tổ chức đảng đồng bộ với điều chỉnh tổ chức lực lượng Quân đội, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu được nâng lên. Toàn quân tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; triển khai thực hiện hiệu quả các giải pháp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; luôn xung kích, đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với tinh thần chủ động, tích cực, cách làm bài bản, hiệu quả cao. Công tác thi đua, khen thưởng và phong trào Thi đua Quyết thắng của Quân đội gắn kết chặt chẽ với phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động của các cấp, các ngành và địa phương, tạo sự lan tỏa mạnh mẽ, sâu rộng, cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên, chiến sĩ toàn quân khắc phục khó khăn, gian khổ, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn kiên định vững vàng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Công tác hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng, khoa học quân sự đạt kết quả tích cực, một số nội dung có bước đột phá; cơ bản làm chủ công nghệ; sửa chữa, thiết kế, chế tạo, sản xuất được nhiều chủng loại vật tư, vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại, góp phần tự chủ bảo đảm vũ khí, trang bị, từng bước đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội, củng cố quốc phòng, đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vai trò nòng cốt của các khu kinh tế - quốc phòng, các doanh nghiệp quân đội, tiêu biểu là Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội, Tổng Công ty Đông Bắc, Tổng Công ty Tân cảng Sài Gòn, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội,… tiếp tục được phát huy, có bước phát triển vững chắc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc phòng gắn với sản xuất, kinh doanh, đóng góp lớn vào ngân sách Nhà nước và ngày càng khẳng định được vị thế cao trên thế giới. Đặc biệt, chúng ta hoàn thành xây dựng giai đoạn 1 Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, khi đưa vào hoạt động đã thu hút rất đông du khách trong nước và quốc tế đến tham quan. Công tác cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số có nhiều thành tựu mang tính đột phá. Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng được tiến hành chủ động, linh hoạt, sáng tạo, thực chất, hiệu quả, tiếp tục là một trong những trụ cột của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân, góp phần nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước, Quân đội. Đặc biệt, năm 2024, Quân đội đã chủ trì, phối hợp với các ban, bộ, ngành, địa phương tổ chức thành công nhiều hoạt động kỷ niệm, sự kiện quan trọng, để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế.

Năm 2025, được Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 12 và Hội nghị Quân chính toàn quân năm 2024 xác định là năm tăng tốc, bứt phá, quyết tâm hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI; đồng thời, là năm diễn ra đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng, cùng nhiều ngày kỷ niệm trọng đại của Đảng, đất nước; bộ máy của hệ thống chính trị có nhiều thay đổi, v.v. Trong khi đó, dự báo tình hình thế giới tiếp tục có nhiều biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, có tính chất phức tạp hơn. Điều chỉnh chính sách và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, các trung tâm quyền lực sẽ ngày càng gay gắt. Xung đột, chiến tranh, bất ổn xã hội và an ninh phi truyền thống, như: an ninh mạng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, thiên tai, dịch bệnh,… tác động bất lợi đến an ninh và phát triển của tất cả các nước. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, song cũng là khu vực trọng điểm cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. Trong nước, sau gần 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để tiếp tục xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, đất nước ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội với những thủ đoạn ngày càng nham hiểm, tinh vi, v.v.

Tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, tiếp tục đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới, nặng nề hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2025 và mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đề ra, toàn quân cần tăng cường đoàn kết, thống nhất, khắc phục khó khăn, tăng tốc, bứt phá, quyết liệt triển khai thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau.

Một là, nâng cao năng lực nghiên cứu chiến lược, dự báo, đánh giá đúng tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước chủ trương, sách lược bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, trước hết là cơ quan tham mưu cấp chiến lược cần chủ động, nhạy bén nâng cao năng lực nghiên cứu, nắm, dự báo chính xác tình hình, nhất là những vấn đề chiến lược, ý đồ, động thái của các nước lớn, những biến động trên thế giới,… tác động trực tiếp đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Trên cơ sở đó, kịp thời đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ trương, đối sách linh hoạt, đúng đắn, phù hợp để chủ động xử lý thắng lợi các tình huống, không để bị động, bất ngờ. Trong nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thực hiện cần chú trọng các chủ trương, giải pháp mang tính tổng thể, cơ bản, lâu dài; coi trọng nghiên cứu những động thái, xu thế mới, bảo đảm ngăn ngừa hiệu quả các nguy cơ xung đột, chiến tranh từ sớm, từ xa. Đề xuất ban hành, triển khai thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chiến lược, đề án, dự án, kế hoạch, văn bản quy phạm pháp luật về quân sự, quốc phòng, nhất là các giải pháp huy động nguồn lực xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại.

Triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu; quản lý chặt chẽ biên giới, nội địa, vùng trời, vùng biển, không gian mạng; chủ động ứng phó với các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống; điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn kiện tác chiến; điều chỉnh quy hoạch thế bố trí chiến lược một số đơn vị; quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng, khu quân sự chặt chẽ, đúng pháp luật. Tham mưu, triển khai đồng bộ các hoạt động kỷ niệm và Kế hoạch diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thể hiện sức mạnh của Quân đội, sự phát triển của đất nước và lịch sử hào hùng của dân tộc.

Hai là, tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp và vai trò nòng cốt của Quân đội trong xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, khu vực phòng thủ các cấp vững chắc. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là tạo sức mạnh tổng hợp của đất nước về cả chính trị, quân sự, an ninh, kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ,… để giữ vững hòa bình, ổn định, ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, quy mô. Đây là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các cấp, ngành, địa phương và cả hệ thống chính trị; được xây dựng từ tổng thể các yếu tố, mang tính toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, vững chắc, nhằm tạo sức mạnh toàn diện, cân đối, đồng bộ; trong đó, sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Vì vậy, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương triển khai đồng bộ, hiệu quả các chiến lược, nghị quyết, kết luận của Đảng và hệ thống pháp luật về quân sự, quốc phòng.

Tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật nhằm tăng cường tiềm lực quốc phòng; tích cực huy động hiệu quả các nguồn lực, tạo sức mạnh tổng hợp, xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, gắn với “thế trận lòng dân”, trọng tâm là xây dựng thế trận phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ các cấp vững chắc; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả quốc phòng, an ninh với kinh tế - xã hội, đối ngoại, nhất là trên các hướng, địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác quân sự, quốc phòng ở các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, chuyển đổi, quy hoạch, quản lý, sử dụng đất quốc phòng chặt chẽ; nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng và an ninh; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên. Phối hợp giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm ổn định để phát triển đất nước.

Ba là, tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu, gương mẫu đi đầu trong công tác xây dựng Đảng; xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Các cấp ủy, tổ chức đảng và toàn quân tiếp tục quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trước mắt, tập trung làm tốt công tác chuẩn bị và tổ chức thành công Đại hội đảng các cấp; Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII thực sự mẫu mực, tiêu biểu; tham gia với trách nhiệm cao nhất, chất lượng tốt nhất các nội dung phục vụ Đại hội XIV của Đảng. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Thực hiện nghiêm quy định về những điều đảng viên không được làm, trách nhiệm nêu gương, chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Thường xuyên đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp quản lý, chỉ huy, điều hành theo tinh thần “7 dám”. Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, bảo đảm luôn bám sát nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng; trong đó, phải chú trọng giám sát thường xuyên, nắm tình hình, phát hiện sớm; kịp thời xử lý, giải quyết dứt điểm các vụ việc xảy ra, không để tồn đọng kéo dài. Kịp thời kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.

Toàn quân tiếp tục triển khai chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, trọng tâm là hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn và chào mừng đại hội đảng các cấp. Đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng, làm tốt công tác chuẩn bị và tổ chức thành công Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ XI; triển khai toàn diện công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, giữ gìn bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, an toàn hoạt động của toàn quân. Đồng thời, thực hiện tốt chức năng “đội quân công tác”, tích cực tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo, xóa nhà tạm, nhà dột nát, khắc phục hậu quả thiên tai, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Chăm lo xây dựng các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân vững mạnh, phát huy tốt vai trò, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ. Nâng cao hiệu quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ.

Bốn là, quyết tâm vượt mọi khó khăn, “tăng tốc, bứt phá” thực hiện ba đột phá và các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đã đề ra. Năm 2025 là năm “về đích” trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội nhiệm kỳ 2020 - 2025 với nhiều mục tiêu, nhiệm vụ mang tính bước ngoặt. Vì vậy, toàn quân cần tiếp tục triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, tập trung hoàn thành có chất lượng, đúng tiến độ các mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định trong chương trình toàn khóa. Trước hết, phải quán triệt sâu sắc, triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, trọng tâm là triển khai các chương trình, kế hoạch, đề án thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tập trung thực hiện tốt ba đột phá mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đã đề ra, trước hết, phải cơ bản hoàn thành việc xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh theo Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17/01/2022 của Bộ Chính trị về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo và chủ trương của Trung ương về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm các đơn vị mới thành lập, sáp nhập, tổ chức lại có sự tiếp nối ổn định vững chắc, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục và đào tạo sát đối tượng, trang bị kỹ thuật, tổ chức biên chế, bảo đảm chặt chẽ, đúng phương châm, quan điểm, nguyên tắc, các mối kết hợp; tổ chức các cuộc diễn tập, hội thao và tham gia các giải thể thao trong nước và quốc tế đạt kết quả cao. Thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, làm cơ sở vững chắc xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Kịp thời xây dựng, ban hành các văn bản cụ thể hóa, triển khai thực hiện chính sách, pháp luật Nhà nước về quân sự, quốc phòng; duy trì nghiêm chế độ, nền nếp chính quy, quản lý chặt chẽ kỷ luật, giữ nghiêm kỷ cương; tăng cường kiểm tra, xử lý sai phạm, hạn chế thấp nhất vi phạm pháp luật, kỷ luật và mất an toàn. Tích cực nghiên cứu, triển khai các giải pháp đẩy nhanh tiến độ xây dựng Chính phủ điện tử, cải cách hành chính quân sự và chuyển đổi số trong Bộ Quốc phòng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác.

Cùng với đó, phát huy tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường, sáng tạo thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án, dự án, quy hoạch về hậu cần, kỹ thuật, khoa học quân sự và công nghiệp quốc phòng, bảo đảm tốt cho các nhiệm vụ và đời sống bộ đội. Trong đó, chú trọng nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự và xây dựng cơ chế chính sách đặc biệt, đặc thù huy động nguồn lực cho công nghiệp quốc phòng; đầu tư, xây dựng nâng cao tiềm lực công nghiệp quốc phòng theo hướng hiện đại, lưỡng dụng; triển khai quyết liệt các dự án trọng điểm, nhóm sản phẩm được xác định trong Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 26/01/2022 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo.

Năm là, nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, góp phần tạo thế và lực, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Trên cơ sở quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 34-NQ/TW, ngày 09/01/2023 của Bộ Chính trị về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, Kết luận số 53-KL/TW, ngày 28/4/2023 của Bộ Chính trị và chủ trương, giải pháp của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo, các cơ quan, đơn vị tích cực, chủ động triển khai nhiều giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này và coi đó là định hướng chiến lược, kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình. Tích cực tham gia các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; chủ động tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng đa phương trong khuôn khổ ASEAN, xử lý hài hòa mối quan hệ với các nước. Tiếp tục duy trì, củng cố hợp tác quốc phòng song phương, đa phương; tăng cường hợp tác, xây dựng, củng cố lòng tin chiến lược với các nước láng giềng, các nước trong khu vực, các nước lớn, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và bạn bè truyền thống; triển khai hiệu quả các chương trình, dự án khắc phục hậu quả chiến tranh và hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; tổ chức tốt các hoạt động đối ngoại quốc phòng dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn và chương trình đối ngoại quốc phòng năm 2025.

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, toàn quân cần nêu cao tinh thần đoàn kết, nỗ lực tăng tốc, bứt phá, quyết tâm hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đã xác định, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

Thể chế chính trị ở Việt Nam được xác lập từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trải qua gần 80 năm xây dựng, thể chế chính trị ở nước ta ngày càng hoàn thiện và chứng tỏ là thể chế chính trị tiến bộ. Tuy nhiên, lợi dụng vào Internet và các ấn phẩm đi kèm, với quan điểm đối lập về ý thức hệ, website bbctiengviet đăng tải một số bài viết xuyên tạc về thể chế chính trị ở Việt Nam. Trong đó, đáng chú ý là bài viết “Việt Nam, đã chín muồi cho một cuộc cải cách?” của Đinh Đức Hùng. Nội dung bài viết này có nhiều thông tin xoay quanh cuộc cách mạng cải cách thể chế, tinh gọn tổ chức, bộ máy ở Việt Nam và qua đó xuyên tạc thể chế chính trị ở nước ta.

Thứ nhất, Đinh Đức Hùng phản ánh về chế độ “độc tài” ở Việt Nam là hoàn toàn xuyên tạc. Blogger này viện dẫn ý kiến của ông Nguyễn Gia Kiểng, thành viên một tổ chức phản động tại Pháp là Tập hợp Dân chủ Đa nguyên để cho rằng, “thể chế chính trị tại Việt Nam đã đi hết con đường”, và “nền độc tài bắt buộc phải thay đổi”. Thật vô lý với luận điệu xuyên tạc này của Đinh Đức Hùng, vì thực tế cho thấy, thể chế chính trị ở Việt Nam là thể chế chính trị tiến bộ, mang lại quyền làm chủ thực sự cho mọi người dân, được ghi nhận và bảo đảm thực hiện bằng Hiến pháp và pháp luật. Thể chế chính trị đó đặt dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, chưa bao giờ áp đặt quyền lực lên nhân dân, mà luôn “dựa vào dân”, “lấy dân làm gốc” trong mọi chủ trương, đường lối của Đảng. Mọi người dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận theo luật định và được bảo vệ quyền đó bằng quy định của pháp luật, đồng thời người dân là chủ thể cao nhất của quyền lực nhà nước, làm chủ sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước. Do vậy, thể chế chính trị ở Việt Nam thật sự tiến bộ, cách mạng, hoàn toàn phù hợp với xu thế khách quan của thời đại, nên mọi luận điệu vu cáo về chế độ “độc tài” ở nước ta hiện nay chỉ là sự bịa đặt vô căn cứ.
Thứ hai, Đinh Đức Hùng nêu lên hiện thực xã hội mất lòng tin do bất công, bế tắc của thể chế và quy kết đây là hậu quả nền giáo dục sai lầm, là sự vu cáo trắng trợn sự thật. Đây là lập luận vô cùng phi lý của blogger này, vì nó chỉ dựa trên suy diễn cá nhân, mà không hề dựa trên thực tiễn dư luận xã hội và kết quả điều tra chỉ số lòng tin của các tầng lớp nhân dân ở Việt Nam. Trải qua gần 40 năm đổi mới đất nước, chưa bao giờ nước Việt Nam có được cồ đồ, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ từ Đại hội XIII năm 2021 đến nay, dù đối diện với muôn vàn khó khăn, thách thức từ tình hình bên ngoài, nhưng kinh tế Việt Nam vẫn là điểm sáng của khu vực và quốc tế; người dân ngày càng được thụ hưởng đầy đủ mọi quyền đáng được hưởng và đoàn kết, đóng góp trách nhiệm trong xây dựng đất nước. Chủ trương đổi mới, tinh gọn tổ chức, bộ máy là sự nhất quán của Đảng ta, đồng thời được tất cả các tầng lớp nhân dân đồng thuận, ủng hộ cao. Thể chế được Đại hội XIII xác định là khâu đột phá, để tiếp tục hoàn thiện chế độ dân chủ và nâng cao quy trình quản trị xã hội văn minh. Nền giáo dục Việt Nam dù còn những bất cập do bệnh hình thức, nhưng có nhiều chuyển biến tích cực, được UNESCO và nhiều tổ chức giáo dục độc lập trên thế giới ghi nhận, đánh giá cao. Vì thế, suy diễn của Đinh Đức Hùng hoàn toàn lố bịch và không hề dựa trên luận cứ khoa học nào.
Thứ ba, yêu cầu mà Đinh Đức Hùng nêu ra đòi thay đổi cách quản trị xã hội và áp dụng công thức tự do, dân chủ của xã hội phương Tây là hoàn toàn phiến diện. Điều mà blogger này mong muốn thật nực cười, vì một thể chế chính trị tiến bộ đang ngày càng được hoàn thiện ở trình độ cao, phù hợp xu thế khách quan của thời đại, thì sao phải áp dụng công thức tự do, dân chủ của xã hội phương Tây?. Thực tế đã chứng minh, thể chế chính trị và nền dân chủ ở Pháp hay Mỹ được xác lập sau các cuộc cách mạng tư sản, nhưng không phải khi cách mạng tư sản thành công mà người dân Pháp hay Mỹ đã được hưởng ngay quyền, lợi ích cơ bản. Ngay trên nước Pháp, sau bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nổi tiếng năm 1789, và sau đó là sự ra đời của Hiến pháp đầu tiên của nước Pháp là Hiến pháp năm 1791, song sự thực là đa số người lao động ở Pháp không được hưởng các quyền tự do, dân chủ như khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái” mà giai cấp tư sản Pháp giương lên. Ngay cả phụ nữ Pháp cũng không được ngang quyền với nam giới, mà phải đến năm 1945, tức gần 200 năm sau Cách mạng tư sản Pháp, thì phụ nữ Pháp mới được thừa nhận quyền bình đẳng với nam giới. Trong khi đó, ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, phụ nữ Việt Nam đã bình đẳng với nam giới, và được chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước bảo đảm thực hiện. Hiện nay, thể chế chính trị tiến bộ ở Việt Nam thực sự đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người dân Việt Nam, đây là lẽ phải mà không ai có thể phủ nhận.
Như vậy, lập luận của Đinh Đức Hùng trên website của bbctiengviet hoàn toàn chỉ là sự xuyên tạc trắng trợn về thể chế chính trị ở Việt Nam. Đây chỉ là chiêu trò mang danh “tự do, dân chủ”, song về bản chất lại là sự xuyên tạc, phủ nhận thành quả và chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam về hoàn thiện thể chế chính trị, nên chúng ta cần nêu cao cảnh giác và đấu tranh loại bỏ.