Thứ Hai, 10 tháng 2, 2025

Tinh gọn tổ chức bộ máy với quyết tâm chính trị cao

 

Về Báo cáo công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ, tiếp tục nâng cao năng lực hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, đổi mới mạnh mẽ việc ban hành, quán triệt, thực hiện nghị quyết của Đảng, làm cho mỗi nghị quyết mới ban hành phải giải quyết được những vấn đề đặt ra từ thực tiễn, mang hơi thở cuộc sống, có tính dẫn dắt, mở đường và được thực hiện hiệu quả trên thực tế, bảo đảm cho các nhân tố mới phát triển; đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của Đảng, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tăng cường củng cố niềm tin của Nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng.

Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, tập trung hoàn thiện mô hình tổng thể tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Trong đó, khẩn trương thực hiện Nghị quyết số 18 về tinh gọn tổ chức bộ máy với quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, thống nhất về tư tưởng của cả hệ thống chính trị. Đây là công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi sự đoàn kết, thống nhất, dũng cảm, hy sinh của từng cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp, tất cả vì sự phát triển của đất nước. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, trong đó chú trọng công tác thẩm định, đánh giá cán bộ; tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ cấp cơ sở; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung làm động lực cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Tổng Bí thư yêu cầu, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, tăng cường củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Chú trọng và tăng cường đoàn kết trong Đảng, lấy đoàn kết trong Đảng là cơ sở, nền tảng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tăng cường công tác dân vận, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân; phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 Tổng Bí thư chỉ rõ, tăng cường siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, kiểm soát quyền lực chặt chẽ, hiệu quả; thực hiện kiểm tra, giám sát có trọng tâm, trọng điểm và có tính đột phá; đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với phương châm "không ngừng, không nghỉ", "không có vùng cấm", "không có ngoại lệ". Trong đó, cần đẩy mạnh phòng, chống lãng phí như phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đưa thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trở thành "tự giác", "tự nguyện", "cơm ăn nước uống, áo mặc hàng ngày". Nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để Đảng mạnh hơn, đoàn kết hơn, phục vụ tốt hơn mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của Nhân dân.


Kiên quyết đấu tranh phản bác luận điệu tuyệt đối hóa vũ khí công nghệ cao, phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng

 Kiên quyết đấu tranh phản bác luận điệu tuyệt đối hóa vũ khí công nghệ cao, phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng

Trước sự phát triển và hiệu quả tác chiến của một số loại vũ khí hiện đại tại các cuộc xung đột gần đây trên thế giới, một số người lại tiếp tục cổ súy thuyết “vũ khí luận”, tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí công nghệ cao; đồng thời, hạ thấp vai trò của con người, phủ nhận đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng. Đây là những luận điệu không mới, song rất nguy hiểm, đòi hỏi chúng ta phải đề cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Chúng ta biết, vũ khí công nghệ cao được nghiên cứu, thiết kế và chế tạo dựa trên những tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, như: vũ khí hủy diệt lớn, vũ khí năng lượng định hướng, vũ khí chùm tia, laze, chùm hạt, điện từ và vũ khí mềm, v.v. Các vũ khí này có đặc điểm nổi bật là độ chính xác cao, uy lực lớn, hoạt động ở tầm xa; nếu sử dụng một cách hợp lý sẽ đạt hiệu quả tác chiến cao gấp nhiều lần so với vũ khí thông thường. Một số loại vũ khí công nghệ cao còn được gọi là vũ khí thông minh, có khả năng nhận biết địa hình, ghi nhớ tọa độ và tự động tìm kiếm, lựa chọn và tiêu diệt mục tiêu, v.v. Tuy nhiên, do đều có nguồn gốc từ các loại vũ khí thông thường, hoạt động theo quy luật nhất định và phải chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố (địa hình, thời tiết, trình độ của người sử dụng,...).

Sự xuất hiện của các loại vũ khí công nghệ cao không chỉ dẫn đến nhiều vấn đề lý luận mới trong chiến tranh, như: chiến lược tác chiến chiều sâu, chiến tranh bằng tiến công hỏa lực, làm mờ đi ranh giới giữa tiền tuyến và hậu phương, không gian chiến tranh mở rộng, không còn nơi nào là hoàn toàn an toàn…; mà sự ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến vào lĩnh vực quân sự hiện nay còn làm xuất hiện những công cụ chiến tranh mới (trí tuệ nhân tạo, rô bốt, công nghệ hóa sinh, công nghệ na nô...), môi trường tác chiến mới (không gian mạng), kéo theo đó là sự ra đời của các loại hình chiến tranh và phương thức tác chiến mới, làm gia tăng tính “phi đối xứng”, “phi tiếp xúc”, tạo tính đột biến, thay đổi cục diện chiến trường.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ quân sự, những cuộc thử nghiệm, công bố các loại vũ khí mới của một số quốc gia và viện dẫn về tình hình thế giới gần đây, nhất là những diễn biến phức tạp của cuộc xung đột quân sự ở Trung Đông ngày một lan rộng, cũng như xung đột giữa Nga - Ukraine đang diễn ra ác liệt,… một số người đã tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí, đề cao thuyết “vũ khí luận”, coi nhẹ nhân tố con người trong chiến tranh. Họ cho rằng, một nước nhỏ có thể chống lại một nước lớn nếu có vũ khí công nghệ cao; hay, chỉ khi được trang bị vũ khí công nghệ cao mới có thể giành được chiến thắng trong chiến tranh hiện đại. Từ đó, họ hồ đồ kết luận: ngày nay, thắng hay thua trên chiến trường là do vũ khí công nghệ cao quyết định và đưa ra những quan điểm có tính chất phủ nhận đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đường lối chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc của Đảng. Theo họ, để bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước không cần phải chi nhiều tiền của, công sức cho xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân và xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, cũng như các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố làm gì, vì như thế là “dàn trải”, “không phù hợp”, “không có sức mạnh để chế áp kẻ thù”, “làm cho đất nước suy yếu”. Họ còn đưa ra các yêu sách đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta nên dùng các khoản ngân sách chi cho quốc phòng, an ninh để mua sắm các loại vũ khí công nghệ cao,… và sớm phải có vũ khí hạt nhân nhằm răn đe kẻ thù, coi đó là biện pháp quyết định trong thực hiện mục tiêu chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, v.v.

Những luận điệu nêu trên cho thấy, hoặc là họ không nhận thức đầy đủ hoặc “cố tình” không hiểu về mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố con người (giữ vai trò quyết định) và vũ khí (giữ vai trò quan trọng); cũng như tác dụng, giá trị và ý nghĩa của đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đường lối chiến tranh nhân dân và xây dựng “thế trận lòng dân” của Đảng, Nhà nước ta. Và dù là “vô tình” hay cố ý thì những luận điệu này là hoàn toàn sai trái, không có cơ sở khoa học và không thể chấp nhận được.

Trước hết, chúng ta không phủ nhận vai trò và hiệu quả tác chiến của vũ khí công nghệ cao trong chiến tranh, song cho dù vũ khí có tiên tiến đến đâu thì cũng do con người chế tạo ra và sử dụng nó. Do vậy, con người vẫn là nhân tố quyết định trong chiến tranh. Đây là sự thật hiển nhiên, được cả lý luận và thực tiễn minh chứng.

Về lý luận, theo V.I. Lênin - lãnh tụ vĩ đại của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, người đã cùng Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga giải quyết thành công hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức, xây dựng và lãnh đạo Hồng quân, đã chỉ rõ: Con người mới là nguồn gốc thắng lợi của mọi cuộc chiến tranh chứ không phải vũ khí là quyết định. V.I. Lênin khẳng định: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”1. Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, mối quan hệ giữa con người và vũ khí là mối quan hệ biện chứng, có tác động qua lại lẫn nhau để làm nên chiến thắng; trong đó, con người luôn giữ vai trò quyết định, còn vũ khí là yếu tố quan trọng, cần thiết - “người trước, súng sau”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Dân khí mạnh thì vũ khí nào cũng không chống nổi”2. “Vũ khí tốt mà tinh thần hèn, thì cũng vô dụng”3 và “không thể cậy vũ khí mà có thể quyết định được thắng lợi. Phải xem những người cầm vũ khí có phải là những chiến sĩ hăng hái đánh trận không”4. Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người trực tiếp chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ trên chiến trường Việt Nam, bằng trải nghiệm thực tiễn cũng khẳng định: “Vũ khí là cần, nhưng quan trọng hơn là con người vác súng”5.

Về thực tiễn, lịch sử truyền thống hào hùng chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã khẳng định rõ vai trò quyết định của con người trong chiến tranh. Thực tế hầu hết các cuộc chiến tranh chống quân xâm lược trong các triều đại phong kiến Việt Nam đều có một đặc điểm chung là tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch hết sức chênh lệch. Ta là một nước nhỏ, mọi tiềm lực đều có hạn; trái lại, các đế chế phương Bắc có khả năng huy động nguồn lực ưu thế hơn hẳn ta cả về quân số, trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh và có nguồn bổ sung to lớn6. Nhưng với ý chí của một dân tộc không biết khuất phục trước mọi kẻ thù, bằng nghệ thuật quân sự độc đáo “lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh”, các thế hệ người Việt đã đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Vậy, tại sao một nước nhỏ, tại sao một đội quân không đông mà đánh tan những đạo quân viễn chinh khổng lồ, hiếu chiến? Đó là, do ta đã biết phát huy sức mạnh của con người, đoàn kết một lòng, toàn dân đánh giặc, tạo thành sức mạnh tổng hợp đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Đây chính là bằng chứng cho thấy vai trò quyết định của con người chứ không phải vũ khí trong chiến tranh của dân tộc Việt Nam.

Trung thành, vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã luôn giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con người và vũ khí, đề ra đường lối chiến tranh nhân dân, tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, lãnh đạo quân và dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mặc dù được Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ về quân sự, song trình độ vũ khí trang bị của Quân đội ta vẫn lạc hậu so với các phương tiện chiến tranh tối tân của đế quốc Mỹ. Xét về trình độ khoa học và công nghệ vào thời điểm đó, nước Mỹ có tiềm lực khoa học, công nghệ lớn và quân đội được trang bị hiện đại nhất thế giới tư bản. Hầu hết các loại vũ khí hiện đại của quân đội Mỹ đều được sử dụng tham chiến tại chiến trường miền Nam. Nhưng với truyền thống yêu nước, ý chí quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước, toàn dân đoàn kết thống nhất đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để ta đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Nhìn lại hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm cho thấy, một trong những sai lầm của những người vạch kế hoạch chiến tranh ở Pháp là đã đánh giá thấp Việt Minh, họ cho rằng Việt Minh chỉ là những người du kích nông dân. Còn người Mỹ lại xem Việt Cộng chỉ là đội quân được trang bị vũ khí lạc hậu. Tóm lại, cả người Pháp và Mỹ đều có chung quan điểm coi ưu thế của khoa học, công nghệ quyết định tất cả - đó là sai lầm về chiến lược. Bởi vì, “Ở Việt Nam, không phải vũ khí mà là con người quyết định kết quả chiến đấu. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong hai cuộc đối đầu với các đội quân xâm lược được trang bị hiện đại nhất thế giới”7 và “Bí quyết thắng lợi thần kỳ của nhân dân Việt Nam không phải là nằm trong các điều kiện hoàn cảnh ngoài như viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa mà nằm trong nhân tố nội tại - con người”8. Nhà sử học người Anh Nigel Cawthorne, sau nhiều năm nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam đã khẳng định: “Nước Mỹ buộc phải chấp nhận một điều rằng dù với tất cả sức mạnh và sự ưu việt về kỹ thuật của mình, họ vẫn không thể đánh bại một đối thủ tuy nhỏ bé nhưng đầy quyết tâm”.

Mong muốn có vũ khí công nghệ cao để bảo vệ vững chắc Tổ quốc là điều tốt, nhưng không phải cứ muốn là làm ngay được. Hơn thế, xét đến cùng, vũ khí công nghệ cao dù hiện đại đến đâu, thì hiệu quả về sức mạnh vẫn phải do con người sử dụng nó. Con người mới là nhân tố quyết định mọi thắng lợi, còn vũ khí, trang bị tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả tác chiến; nó không thể quyết định thắng lợi; không thể thay thế vai trò của con người. Do vậy, tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí công nghệ cao, phủ nhận sức mạnh của con người là hoàn toàn sai trái, cần phải phê phán, bác bỏ.

Hai là, kiên trì đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là đúng đắn, sáng tạo và là vấn đề không thể đảo ngược; mọi luận điệu suy diễn chủ quan từ thuyết “vũ khí luận” để phủ nhận đường lối quan trọng này của Đảng là không thể chấp nhận được. Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc cho thấy, tư tưởng cơ bản, bao trùm nhất của tổ tiên ta là “Giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Ngày nay, để bảo vệ Tổ quốc, Đảng kiên trì đường lối quốc phòng toàn dân9, chiến tranh nhân dân. Đây không phải là vấn đề mới, nhưng trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, với sự xuất hiện của các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới, thì nội dung này càng trở nên quan trọng, cấp thiết hơn bao giờ hết. Cho dù các thế lực thù địch luôn cho rằng chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao mà xác định đường lối đó là lỗi thời, lạc hậu, thì với ta xây dựng một nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, một cuộc chiến tranh nhân dân đích thực thì không một thế lực nào có thể đánh bại được.

Đảng xác định, phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân toàn diện, vững mạnh ngay từ thời bình, sẵn sàng chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi có chiến tranh. Nền quốc phòng này không chỉ hiện đại, mà còn phát huy tối đa các giá trị truyền thống và cốt cách văn hóa Việt Nam, kết hợp sức mạnh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại tạo sức mạnh tổng hợp cao, khả năng đề kháng mạnh mẽ, sẵn sàng triệt tiêu các nguy cơ từ bên trong có thể gây đột biến và cũng là phương án hiệu quả nhất để ngăn chặn, đẩy lùi mọi nguy cơ xung đột và chiến tranh (kể cả trong bối cảnh chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao). Thực tiễn một số cuộc chiến tranh đã và đang xảy ra cho thấy, cùng với những ưu điểm trong tác chiến của vũ khí công nghệ cao, thì việc chi phí cho chế tạo, sản xuất các loại vũ khí này là rất lớn. Trong khi đó, với chiến trường rộng lớn của chiến tranh nhân dân Việt Nam, vũ khí công nghệ cao dù có uy lực mạnh, nhưng địch cũng không thể có đủ số lượng để tiến công và phá hủy tất cả mục tiêu trên khắp đất nước ta. Cùng với đó, chiến thắng trên chiến trường chỉ có thể quyết định thông qua hành động trên bộ, thì với thế trận chiến tranh nhân dân - mỗi người dân Việt Nam là một người lính, mỗi làng xã là một pháo đài, nếu địch tiến công trên bộ, đây chính là lúc thế trận chiến tranh nhân dân (dựa trên nền tảng quốc phòng toàn dân xây dựng vững chắc từ thời bình) sẽ phát huy hiệu quả cao nhất, buộc mọi kẻ thù xâm lược bị sa lầy, dẫn tới thất bại.

Với quan điểm chiến lược nhất quán, xuyên suốt, Đảng, Nhà nước ta đã và đang lãnh đạo, chỉ đạo tích cực, chủ động xây dựng nền quốc phòng toàn dân toàn diện, vững chắc, ngày càng hiện đại để bảo vệ Tổ quốc sẽ luôn là chủ trương hoàn toàn đúng đắn; phản ánh khả năng tự lực, khôn khéo trong chiến lược quốc phòng, biểu hiện ý chí và quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Những luận điệu cho rằng xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong điều kiện tác chiến hiện đại là sai lầm, thì thực sự những người nêu ra quan điểm này mới là những người mắc sai lầm. Bởi lẽ, con người luôn là nhân tố quyết định trong chiến tranh và việc xây dựng một nền quốc phòng toàn dân để tiến hành chiến tranh nhân dân chính là phát huy sức mạnh nhân tố con người trong bảo vệ Tổ quốc.

Điều chỉnh, bổ sung một số nội dung Chỉ thị 35-CT/TW

 Thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú ký ban hành Kết luận số 118-KL/TW về việc điều chỉnh, bổ sung một số nội dung Chỉ thị 35-CT/TW ngày 14-6-2024 của Bộ Chính trị về đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.


Điều chỉnh, bổ sung cơ cấu, số lượng ban chấp hành, ban thường vụ, phó bí thư của 4 Đảng bộ thuộc Trung ương

Theo đó, điều chỉnh, bổ sung cơ cấu, số lượng ban chấp hành, ban thường vụ, phó bí thư của 4 Đảng bộ thuộc Trung ương, gồm: Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương, số lượng ủy viên ban chấp hành không quá 39; số lượng ủy viên ban thường vụ không quá 17.

Đối với Đảng bộ Chính phủ: số lượng ủy viên ban chấp hành không quá 61; số lượng ủy viên ban thường vụ không quá 17.

Đối với Đảng bộ Quốc hội, số lượng ủy viên ban chấp hành không quá 39 và số lượng ủy viên ban thường vụ không quá 19.

Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Trung ương, số lượng ủy viên ban chấp hành không quá 45 và số lượng ủy viên ban thường vụ không quá 15.

Về số lượng phó bí thư, mỗi đảng bộ nêu trên có 1 phó bí thư thường trực đảng ủy và 2-3 phó bí thư đảng ủy chuyên trách.

Bộ Chính trị chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư, ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm và phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra các đảng ủy trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 và 2025-2030.

Ban thường vụ đảng ủy trực thuộc Trung ương quyết định thành lập tổ chức Đảng các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng ủy và chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư, ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm và phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp ủy nhiệm kỳ 2020-2025 và 2025-2030.

Quy định số lượng ban chấp hành, ban thường vụ, phó bí thư nhiệm kỳ 2025 – 2030 của 2 Đảng bộ trực thuộc tỉnh

Kết luận số 118-KL/TW cũng quy định quy định số lượng ban chấp hành, ban thường vụ, phó bí thư nhiệm kỳ 2025 – 2030 của 2 Đảng bộ trực thuộc tỉnh là Đảng bộ các cơ quan Đảng và Đảng bộ UBND tỉnh của các tỉnh, thành phố.

Cụ thể về Đảng bộ các cơ quan Đảng của tỉnh, thành phố, số lượng ủy viên ban chấp hành không quá 27 (riêng Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh không quá 33); số lượng ủy viên ban thường vụ, đối với các tỉnh và thành phố không quá 9 (Hà Nội và Hồ Chí Minh không quá 11); số lượng phó bí thư, các tỉnh, thành phố có 1 phó bí thư thường trực và 1 phó bí thư Đảng ủy chuyên trách.

Về Đảng bộ UBND tỉnh, thành phố, số lượng ủy viên ban chấp hành không quá 27 và số lượng ủy viên ban thường vụ không quá 9.

Về số lượng ban chấp hành, ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh và cấp huyện nhiệm kỳ 2025-2030, thực hiện theo Chỉ thị 35-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XIII.

Điều chỉnh, bổ sung theo hướng số lượng ban thường vụ cấp ủy cấp xã từ 5-7

Riêng số lượng, cơ cấu ban thường vụ cấp ủy cấp xã có điều chỉnh, bổ sung theo hướng số lượng ban thường vụ cấp ủy cấp xã từ 5-7; định hướng cơ cấu ban thường vụ ngoài các chức danh đã nêu ở Chỉ thị 35 thì bổ sung thêm chức danh phó chủ tịch UBND cấp xã.

Đối với các Đảng bộ, chi bộ dự kiến kết thúc hoạt động thì không tổ chức đại hội nhiệm kỳ 2025-2030.

Đối với các Đảng bộ, chi bộ thành lập mới, hợp nhất, sáp nhập, tiến hành đại hội với 2 nội dung: tổng kết thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ, chi bộ nhiệm kỳ 2020-2025 (nếu có) và xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp nhiệm kỳ 2025-2030; thảo luận, đóng góp ý kiến dự thảo các văn kiện đại hội XIV của Đảng và văn kiện đại hội Đảng bộ cấp trên trực tiếp.

Ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư, ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm và phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp ủy nhiệm kỳ 2025-2030; phân bổ số lượng và chỉ định đại biểu của các Đảng bộ, chi bộ này dự đại hội Đảng bộ cấp trên trực tiếp.

Các Đảng bộ, chi bộ không thuộc diện phải kết thúc hoạt động, thành lập mới, hợp nhất, sáp nhập thì tổ chức đại hội theo Chỉ thị số 35-CT/TW.

Ngày 14-6-2024, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, trong đó quy định số lượng, cơ cấu cấp uỷ viên, uỷ viên ban thường vụ đối với đảng bộ xã, phường, thị trấn nhiệm kỳ 2025 - 2030:

Số lượng cấp uỷ viên không quá 15 đồng chí; ban thường vụ không quá 5 đồng chí. Cơ cấu cấp uỷ gồm cán bộ, công chức cấp xã và cán bộ hoạt động không chuyên trách, do ban thường vụ cấp uỷ cấp tỉnh quy định cụ thể.

Định hướng bố trí cơ cấu ban thường vụ cấp uỷ, gồm: Bí thư, phó bí thư, chủ tịch uỷ ban nhân dân, chủ tịch hội đồng nhân dân, trưởng công an, chỉ huy trưởng quân sự, chủ tịch Mặt trận Tổ quốc do ban thường vụ cấp uỷ cấp tỉnh cụ thể hoá và chỉ đạo ban thường vụ cấp uỷ cấp huyện xem xét, quyết định cơ cấu cụ thể cho thống nhất và phù hợp với tình hình, yêu cầu nhiệm vụ”.

Phản bác các quan điểm sai lệch nhận thức về kỷ nguyên mới

Năm vừa qua, trong nhiều bài phát biểu, bài viết quan trọng, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ việc xác lập tư duy, lý luận mới về kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lập tức tung ra các quan điểm sai trái, xuyên tạc chống phá. Do đó, cần nhận diện, đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, thù địch nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Thời gian qua, nhân cơ hội này, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lập tức tung ra các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bôi nhọ, xuyên tạc các khái niệm, nội hàm cũng như mục đích, ý nghĩa vấn đề trên. Tinh vi hơn, dưới chiêu bài “hội luận”, đóng góp ý kiến, chúng tung ra quan điểm khác biệt, trái chiều, giả danh “dân chủ”, “khoa học” để gây nhiễu… Từ đó, các thế lực xấu nhằm hướng lái, tạo ra nhận thức sai trái, lệch lạc về kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam cũng như xuyên tạc, đả phá những định hướng chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương và của đồng chí Tổng Bí thư.

Những quan điểm của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn có tư tưởng chống phá, chúng đưa ra những quan điểm trái ngược, có tính ngụy biện nhằm tạo sự mơ hồ, dao động về lập trường tư tưởng, nhận thức của người dân về kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, chúng hướng lái, tác động hòng làm suy giảm niềm tin, ý chí của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những định hướng chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của người đứng đầu Đảng ta. Đây là âm mưu nguy hiểm trong bối cảnh đất nước ta bước sang năm 2025 - năm cuối cùng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, giai đoạn “tăng tốc về đích” cần tập trung mọi nguồn lực, phát huy mọi động lực để hoàn thành những mục tiêu đề ra. Những quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch nếu không được ngăn ngừa sẽ tác động đến nhận thức, tư tưởng, ý chí, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân nên cần phải nhận diện và có những luận cứ đấu tranh xác đáng, thuyết phục.

Chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới với niềm tin và khát vọng, quết tâm lớn lao nhưng đồng chí Tổng Bí thư cũng luôn nhắc nhở, bên cạnh thời cơ, thuận lợi cũng có nhiều khó khăn, thách thức đan xen. Một trong những khó khăn, thách thức phải kể đến là các nguồn lực trong và ngoài nước không được khơi thông và phát huy một cách tối đa. Sự mơ hồ về nhận thức, không vững vàng về lập trường tư tưởng, dao động về niềm tin và ý chí của một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng là một lực cản lớn để Việt Nam tiến vào kỷ nguyên vươn mình dân tộc; sự chống phá ngày càng tinh vi, quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước. Do đó, một mặt cần phải đẩy mạnh tuyên truyền, lan tỏa cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về nội hàm cũng như mục tiêu, nhiệm vụ của kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; song mặt khác cũng cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Điều này góp phần tạo ra sự thống nhất về nhận thức, đồng thuận về tư tưởng, tập trung về hành động để phát huy tối đa sức mạnh vật chất, tinh thần của cả dân tộc; đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam chính là góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo ra sự thống nhất về nhận thức, đồng thuận, đồng sức, đồng lòng vượt qua những khó khăn, thách thức, đưa đất nước vững bước tiến vào một giai đoạn phát triển mới, bứt phá của dân tộc Việt Nam.

Sưu tầm

Xuyên tạc mối quan hệ giữa Quân đội với Công an - chiêu trò nguy hiểm của các thế lực thù địch

 Xuyên tạc mối quan hệ giữa Quân đội với Công an - chiêu trò nguy hiểm của các thế lực thù địch

Xuyên tạc mối quan hệ giữa Quân đội nhân dân với Công an nhân dân nhằm làm mất uy tín, chia rẽ, biến chất lực lượng vũ trang nhân dân của ta là mưu đồ rất thâm độc trong hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Đây là chiêu trò hết sức nguy hiểm cần nhận diện, đấu tranh bác bỏ.

Nhằm xuyên tạc mối quan hệ giữa Quân đội với Công an, các thế lực thù địch thực hiện tổng hợp nhiều thủ đoạn rất tinh vi, xảo quyệt, đưa ra những luận điệu nhằm tiến công trực tiếp vào chức năng, nhiệm vụ, sự cống hiến và cả những ưu đãi của Đảng, Nhà nước đối với hai lực lượng này. Họ cố tình tách rời chức năng, nhiệm vụ của Quân đội và Công an, cho rằng Quân đội chỉ thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, còn Công an chỉ bảo vệ an ninh, giữ gìn trật tự, trấn áp tội phạm; Quân đội phối hợp với Công an trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội là “không đúng”, “sai” chức năng, nhiệm vụ; Quân đội tham gia vào các vụ án chống tiêu cực, tham nhũng là “lấn sân” Công an, v.v. Cùng với đó, họ kích động, phân hóa nội bộ của hai lực lượng, gây chia rẽ Quân đội, Công an với nhân dân; tìm mọi cách hạ thấp uy tín của cán bộ Quân đội và Công an, đặc biệt là những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cao cấp của Quân đội và Công an. Họ so sánh một cách phi lý, xằng bậy rằng, Quân đội “vất vả, hy sinh nhiều”, được “nhân dân yêu mến hơn”; Công an “an nhàn, sung sướng hơn”, được “ưu đãi hơn” và bị “nhân dân xa lánh”, v.v. Gắn với điều đó, họ còn ra sức tuyên truyền lối sống thực dụng, hưởng thụ vào Quân đội và Công an, tạo dựng tâm lý tiêu cực, thờ ơ về chính trị, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội và Công an nhận thức lệch lạc, dao động về tư tưởng, mất phương hướng, xa rời mục tiêu lý tưởng chiến đấu, gây mất đoàn kết và rạn nứt nội bộ trong lực lượng vũ trang. Sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động là đặc biệt nguy hiểm. Nó không những trực tiếp gây nên sự nghi kị, hiềm khích, bất ổn trong nội bộ Công an và Quân đội, hủy hoại sức mạnh đoàn kết của lực lượng vũ trang nhân dân, làm suy yếu công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, thúc đẩy việc thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam; đồng thời, gây nên sự hoài nghi, suy giảm niềm tin của nhân dân đối với lực lượng vũ trang, đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội và Công an.

Như vậy, âm mưu, thủ đoạn chia rẽ mối quan hệ giữa Quân đội với Công an của các thế lực thù địch là rất rõ ràng, nham hiểm, tác hại và ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ các vấn đề xây dựng Quân đội và Công an. Sự tác động đó không những ảnh hưởng tới sự đoàn kết gắn bó giữa Quân đội với Công an, mà còn ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc; không những ảnh hưởng đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ Quân đội và Công an, mà còn đối với nhận thức, tư tưởng, tình cảm của các tầng lớp nhân dân; không những đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội và Công an, mà còn đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng và an ninh, công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trước hết, cần khẳng định rõ rằng, mối quan hệ giữa Quân đội với Công an là mối quan hệ đoàn kết, gắn bó bền chặt, dựa trên cơ sở vững chắc cùng chung mục tiêu lý tưởng chiến đấu và sự quan hệ khăng khít, không thể tách rời. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ, phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng là lý tưởng chiến đấu, nền tảng vững chắc cho mối quan hệ đoàn kết đó: “Công an và quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính”1; “cả hai đều phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng cả”2.

Ở Việt Nam, lĩnh vực quốc phòng và an ninh, nhiệm vụ quốc phòng và nhiệm vụ an ninh, chiến lược quốc phòng và chiến lược an ninh quan hệ chặt chẽ, đan xen và thâm nhập lẫn nhau. Quốc phòng là công việc giữ nước, nhưng không chỉ để chống xâm lược, chống sự phá hoại của các thế lực bên ngoài đối với đất nước. An ninh không chỉ là vấn đề giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Cả quốc phòng và an ninh đều hướng vào mục tiêu chung bảo vệ Tổ quốc trên tất cả phương diện tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội trong chỉnh thể thống nhất. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân”3.

Mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” - quốc phòng và an ninh là mối quan hệ thống nhất chặt chẽ cả về thế trận và lực lượng trong mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, bao gồm cả việc giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Thế trận và lực lượng của nền quốc phòng toàn dân quan hệ chặt chẽ với thế trận và lực lượng của nền an ninh nhân dân trong thế trận và lực lượng chung để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vừa bảo đảm sử dụng có hiệu quả mọi lực lượng, cả vật chất và tinh thần, nhằm hoàn thành thắng lợi mọi yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa phù hợp với tính chất, đặc thù của từng lĩnh vực; trong đó, lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” là Quân đội và Công an.

Mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh là nền tảng quy định mối quan hệ khăng khít, không tách rời nhau, không biệt lập nhau về chức năng, nhiệm vụ của Quân đội và Công an. Do đó, không thể nói bừa, xuyên tạc rằng Quân đội tham gia bảo vệ an ninh là “không đúng” với chức năng, nhiệm vụ, là “lấn sân” Công an. Những luận điệu Quân đội chỉ bảo vệ Tổ quốc, Công an chỉ bảo vệ an ninh, giữ gìn trật tự, trấn áp tội phạm là sự cố tình xuyên tạc, bóp méo bản chất, tính chất chức năng, nhiệm vụ của Quân đội và Công an, thực chất là trực tiếp đánh vào cơ sở rất quan trọng của mối quan hệ đoàn kết giữa Quân đội với Công an. Cũng không thể khiên cưỡng so sánh, ai “sướng hơn”, ai “khổ hơn”, “ai được nhân dân yêu mến hơn”, bởi “mỗi ngành có nghiệp vụ chuyên môn của nó. Nhưng cả hai đều phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng cả”4.

Những kẻ rắp tâm xuyên tạc cần thấy rõ thêm rằng, mối quan hệ giữa Quân đội với Công an là mối quan hệ thuộc về bản chất, truyền thống tốt đẹp của hai “thành phần trọng yếu” của lực lượng vũ trang nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quân đội nhân dân và Công an nhân dân ra đời từ các phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, đều do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Chiến đấu vì nhân dân, phục vụ nhân dân là lý do tồn tại và phát triển của Quân đội và Công an; là phương châm hành xử của cán bộ, chiến sĩ Quân đội và Công an. Quân đội và Công an không chỉ là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành của Đảng, Nhà nước, mà còn là của nhân dân, chiến đấu vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội và Công an luôn gắn bó với nhau, đoàn kết, kề vai, sát cánh, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, chiến đấu xả thân vì nước, vì dân, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, làm nên những thắng lợi vẻ vang trong các thời kỳ cách mạng.

Thứ hai, phải khẳng định rằng, ngày nay, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, Quân đội và Công an luôn sát cánh bên nhau, đoàn kết, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh quốc gia, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm, góp phần giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình - cơ sở tiền đề thuận lợi phục vụ hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại của đất nước. Sự phối hợp, hiệp đồng, đoàn kết gắn bó giữa Quân đội với Công an là truyền thống quý báu, là yêu cầu khách quan, là vấn đề có tính nguyên tắc trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc, không thể xuyên tạc sự phối hợp đó là “lấn sân” lẫn nhau.

Sự phối hợp, hiệp đồng giữa hai thành phần quan trọng “trọng yếu” của lực lượng vũ trang nhân dân được thể hiện rõ trong quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; được nêu rõ trong các Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược An ninh quốc gia, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc, v.v. Đồng thời, được cụ thể hóa bằng những quy chế phối hợp rõ ràng, như: Quyết định số 107/QĐ-TTg, ngày 02/6/2003 về Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới; Nghị định số 77/2010/NĐ-CP, ngày 12/7/2010 về Phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng; Nghị định số 152/2007/NĐ-CP, ngày 10/10/2007 của Chính phủ về khu vực phòng thủ, quy định gắn thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân; Nghị định số 03/2019/NĐ-CP, ngày 05/9/2019 của Chính phủ về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng, v.v.

Trên thực tế, Quân đội và Công an luôn đẩy mạnh công tác phối hợp, hiệp đồng, với những giải pháp, biện pháp đồng bộ, phù hợp và hiệu quả. Luôn đoàn kết, thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo, hiệp đồng chiến đấu từ Trung ương đến cơ sở, đảm bảo đúng nguyên tắc trong sử dụng lực lượng, phương tiện, trong sử dụng biện pháp nghiệp vụ của từng lực lượng, tạo sức mạnh tổng hợp, giữ đất nước “trong ấm, ngoài êm”, hóa giải mọi thách thức, nguy cơ, mối đe dọa từ bên trong và bên ngoài, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và phát triển bền vững đất nước.

Mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là mối quan hệ bản chất, thuộc tính của lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng; là truyền thống tốt đẹp, tài sản quý của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng khẳng định: “Quân đội và công an là hai lực lượng thanh kiếm và lá chắn, hai cánh của một con chim, bảo vệ giữ gìn hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”5. Những chiến công, thành tựu của Quân đội và Công an, cũng như sự đoàn kết gắn bó giữa hai lực lượng này đạt được trong thực tiễn gần tám thập kỷ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành là vô cùng to lớn, được Đảng, Nhà nước và các tầng lớp nhân dân rất tự hào, tin tưởng, đánh giá cao. Mọi luận điệu xuyên tạc mối quan hệ giữa Quân đội với Công an không thể đánh lừa được ai, đã và nhất định sẽ bị phá sản.

Vạch trần bản chất cái gọi là giải thưởng nhân quyền của Mạng lưới nhân quyền Việt Nam

Tổ chức “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” (tiếng Anh: Vietnam Human Rights Network – VHRN)  là một tổ chức tự xung ở Mỹ được lập ra với mục tiêu gia tăng các hoạt động dân chủ, nhân quyền trên thế giới, khoác dưới cái mũ “để thúc đẩy tiến trình cải tiến dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam”. Trên thực tế, cá nhân, tổ chức mà họ “vinh danh” để nhận “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam” hằng năm đều là những cá nhân, tổ chức đã có các hoạt động vi phạm pháp luật, phạm tội, có hoạt động tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, bị toà án các cấp kết án tù giam.

Từ năm 2002 đến nay, vào dịp cuối năm, VHRN lại công bố cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam” để “vinh danh” những cá nhân, tổ chức mà họ cho là đã có “thành tích tranh đấu bất bạo động cho lý tưởng nhân quyền tại Việt Nam”. Những tổ chức được VHRN tiến hành “vinh danh” nhận “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam” có thể kể đến như: Hội nhà báo độc lập Việt Nam, Bán nguyệt san Tự do ngôn luận của khối 8406, Hội Anh em dân chủ, Mạng lưới blogger Việt Nam... Còn  các cá nhân hoạt động chống phá đất nước Việt Nam dưới danh nghĩa là “tù nhân lương tâm”, “dân oan”, “tù nhân tôn giáo”, “tù nhân chính trị” được tổ chức này “vinh danh” bao gồm: Nguyễn Văn Lý, Lê Quang Liêm, Thích Quảng Độ, Phan Văn Lợi, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Nguyễn Đăng Quế, Nguyễn Chính Kết, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Hải (Hải “Điếu cày”), Trần Khải Thanh Thủy, Nguyễn Công Chính, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Huỳnh Thục Vy, Võ An Đôn, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Bắc Truyển, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Đình Mẫn, Phạm Đoan Trang, Lê Công Định, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, Đinh Thị Thu Thủy, Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Tường Thụy, Lưu Văn Vịnh, Trần Đức Thạch... Năm 2023, tổ chức này cũng đã “vinh danh” 3 “khôi nguyên” là đối tượng đang chấp hành án phạt tù về các tội danh tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bao gồm Trần Văn Bang, Y Wô Niê, Lê Trọng Hùng… 

Trong nội dung được tổ chức VHRN đăng tải trên các diễn đàn mạng cho biết, ngày 18/11/2024, VHRN đã công bố về 3 “khôi nguyên” được “vinh danh” nhận “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam năm 2024” là các đối tượng Đỗ Nam Trung, Bùi Văn Thuận, Đặng Đăng Phước. Cũng như các năm trước, những đối tượng được họ vinh danh lần này đều có điểm chung là đang phải chấp hành án phạt tù về các tội danh “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự.

Đối với Đỗ Nam Trung (sinh năm 1981, hộ khẩu thường trú đội 1, xã Nghĩa Lâm, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định), ngày 24/3/2022, tại trụ sở TAND tỉnh Nam Định, TAND cấp cao tại Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử phúc thẩm và tuyên y án 10 năm tù giam và phạt bổ sung 4 năm quản chế về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa  XHCN Việt Nam” theo điểm a, khoản 1, Điều 117 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đỗ Nam Trung là người đã từng có nhiều tiền án; trong đó, năm 2015, bị TAND tỉnh Đồng Nai xử phạt 14 tháng tù giam về tội "Lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”. Sau khi ra tù vào năm 2016, Đỗ Nam Trung đã có hành vi đăng tải 6 video có nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam, phỉ báng chính quyền nhân dân, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. Hành vi của Đỗ Nam Trung đã đi ngược lại với lợi ích quốc gia, dân tộc, chạy theo những lời kêu gọi, cổ xúy của các thế lực thù địch, phản động nhằm tạo ra sự bất ổn về chính trị tại Việt Nam, gây chia rẽ mối đoàn kết dân tộc, làm giảm lòng tin của nhân dân với chính quyền. Bản thân Đỗ Nam Trung khai báo không thành khẩn, phạm tội nhiều lần và là người biết rõ hậu quả hành vi vi phạm pháp luật của mình nhưng vẫn cố tình hoạt động chống Nhà nước. Do vậy, việc tòa án tuyên phạt 10 năm tù giam và phạt bổ sung 4 năm quản chế sau khi mãn hạn tù đối với Đỗ Nam Trung là hoàn toàn xứng đáng và thể hiện sự nghiêm minh, thượng tôn của pháp luật.

Đối với Bùi Văn Thuận (sinh năm 1981, quê quán ở xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình, đăng ký thường trú tại phường Mai Lâm, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa), là người đang phải chấp hành bản án 8 năm tù giam và áp dụng hình phạt bổ sung quản chế trong thời hạn 5 năm về tội “Tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo cáo trạng của VKSND tỉnh Thanh Hóa, từ năm 2016 đến tháng 8/2021, Bùi Văn Thuận là người đã tạo lập, quản trị và sử dụng tài khoản Facebook “Thuan Van Bui (Cha già dân tộc)” để đăng tải, chia sẻ, phát tán nhiều bài viết có nội dung xúc phạm uy tín, danh dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, địa phương; xuyên tạc, bịa đặt, suy luận vô căn cứ về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tuyên truyền, kích động chống phá, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Hành vi của Bùi Văn Thuận đã gây nguy hiểm cho xã hội cần phải xử lý nghiêm khắc và bản án mà TAND tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt trong phiên tòa xét xử diễn ra vào hai ngày 17-18/11/2022 là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật, đúng người, đúng tội. Đây cũng là bài học cảnh tỉnh cho Bùi Văn Thuận, người từng được xem là có trình độ, nhận thức, đã từng làm việc tại các Trường THPT Dân lập Bình Minh (Hoài Đức, Hà Nội), Trường THPT Dân lập Phương Nam (Hai Bà Trưng, Hà Nội).

Còn đối với Đặng Đăng Phước (sinh năm 1963, trú tổ dân phố 7A, phường Tân Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk), TAND cấp cao tại Đà Nẵng trong phiên xét xử phúc thẩm ngày 7/10/2023 đã tuyên y án sơ thẩm với bản án 8 năm tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự. Theo cáo trạng, từ năm 2019 đến tháng 8/2022, Đặng Đăng Phước đã đăng tải, chia sẻ hơn 200 bài viết có nội dung công kích lãnh đạo cấp cao và chính quyền, xuyên tạc tình hình chính trị - xã hội trong nước; công khai thể hiện tư tưởng, quan điểm bất mãn, bôi nhọ, nói xấu lực lượng Công an; lợi dụng các vấn đề đang được xã hội và cộng đồng mạng quan tâm để xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước. Đồng thời, Đặng Đăng Phước thường xuyên tham gia các hội, nhóm, diễn đàn trên mạng xã hội để ủng hộ hoạt động của các nhóm chống đối như: “No U,” “Phổ biến Hiến pháp”; lôi kéo những đối tượng bất mãn, chống đối trên địa bàn tỉnh tham gia các phiên tòa xét xử một số đối tượng vi phạm pháp luật; căng băng rôn, cản trở hoạt động của các cơ quan chức năng, kích động, gây phức tạp về an ninh trật tự; tụ tập hát những bài hát có nội dung kích động, phá hoại về tư tưởng, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân. Những hành động của Đặng Đăng Phước đã vi phạm các quy định của ngành giáo dục, trái với đạo đức nhà giáo, vi phạm pháp luật. Các hành vi đó đã diễn ra trong một thời gian dài. Mặc dù đã được các cơ quan, lực lượng chức năng nhiều lần mời làm việc để tuyên truyền, vận động, giải thích, nhắc nhở nhưng Đặng Đăng Phước không chấp hành. Bản án 8 năm tù giam là hình phạt thích đáng với quá trình vi phạm pháp luật, tuyên truyền chống phá đất nước của Đặng Đăng Phước.

Như vậy, với những hoạt động tuyên truyền chống phá Nhà nước Việt Nam của Đỗ Nam Trung, Bùi Văn Thuận, Đặng Đăng Phước mà tổ chức “VHRN lại “vinh danh” cho họ cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam năm 2024” đủ để thấy rõ bản chất của tổ chức này cũng như việc trao “giải thưởng” cũng chỉ là chiêu trò bịp bợm nhằm xuyên tạc về tình hình nhân quyền, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam cũng như nhằm cổ xuý cho những kẻ đang chấp hành án phạt tù về các hành động chống phá đất nước.

Sưu tầm

“Một số điểm mới của Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, trừ điểm, phục hồi giấy phép lái xe”

 Để đảm bảo triển khai thi hành Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 168/2024/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe, thay thế cho Nghị định 100/2020/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 123/NĐ-CP), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2025. Theo đó: Một số hành vi, nhóm hành vi vi phạm về quy tắc giao thông: Không chấp hành hiệu lệnh của tín hiệu đèn giao thông; chạy quá tốc độ, quay đầu, lùi xe, đi ngược chiều, đi vào đường cấm, khu vực cấm, lùi xe, đi ngược chiều trên cao tốc; chạy xe lạng lách, đánh võng; rải vật sắc nhọn...”, đây là những hành vi lỗi cố ý và là nguyên nhân của rất nhiều vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng đã xảy ra trong thời gian qua.

Một số hành vi, nhóm hành vi vi phạm về điều kiện của phương tiện tham gia giao thông, xâm phạm trật tự quản lý nhà nước như: “Xe không gắn biển số, gắn biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp, che dán biển số; cơi nới kích thước thành thùng xe...”. Vì hiện nay, rất nhiều cá nhân cố tình đi xe không gắn biển số, che dán biển số để thực hiện các hoạt động phạm pháp, vận chuyển hàng lậu, hàng cấm, hoạt động tội phạm, trốn tránh sự quản lý của cơ quan chức năng, trốn tránh phạt “nguội” của Hệ thống giám sát, do vậy cần tăng chế tài để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.

Nghị định mới quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe đã xử lý nghiêm khắc những hành vi là nguyên nhân gây tai nạn giao thông, thể hiện ý thức coi thường pháp luật khi tham gia giao thông với việc nâng mức phạt tiền rất cao, thậm trí tịch thu phương tiện đối với một số hành vi như vượt đèn đỏ, đi ngược chiều, chạy xe lạng lách, đánh võng…Cụ thể, đối với người điều khiển ô tô vi phạm không  chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông mức phạt tiền được nâng từ 4 triệu – 6 triệu đồng lên 18 triệu - 20 triệu đồng, vi phạm nồng độ cồn ở mức  từ 0,25mg - 0,4mg/l khí thở hoặc từ 50mg- 80mg/100ml máu sẽ được tăng mức xử phạt thêm 2 triệu đồng (từ 16-18 triệu đồng lên 18-20 triệu đồng). Một số hành vi như vận chuyển hàng trên xe không chằng buộc chắc chắn; cản trở, không chấp hành yêu cầu kiểm tra, kiểm soát của người thực thi công vụ; không chấp hành hiệu lệnh chỉ dẫn của người điều khiển giao thông... sẽ có mức phạt cao gấp 3 - 30 lần; quy định về quay đầu xe trên đường cao tốc, đi ngược chiều hoặc lùi xe trên cao tốc, đi mô tô vào đường cao tốc... cũng được cụ thể hóa với mức phạt tăng mạnh 2-3 lần.

Minh chứng sinh động về tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam bác bỏ những cáo buộc xuyên tạc, sai sự thật

Việt Nam là đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời và là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Cùng với quá trình đổi mới đất nước, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có nhiều chuyển biến mới: sự trở lại của niềm tin tôn giáo, sự gia tăng số lượng chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo; nhiều hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra với quy mô lớn hơn trước thu hút đông đảo tín đồ và người dân tham dự; các tổ chức tôn giáo được công nhận xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo phù hợp với văn hóa truyền thống, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc… Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đã và đang đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của đông đảo quần chúng nhân dân và có những đóng góp tích cực đối với đời sống xã hội. Ðảng và Nhà nước ta luôn khẳng định vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tôn giáo có vị trí chiến lược trong sự nghiệp phát triển đất nước.

Hiến pháp năm 2013 phân định rõ ràng hai khái niệm quyền con người và quyền công dân, trong đó ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với tư cách là một quyền con người với tính phổ quát của nó: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật” (khoản 1 Điều 24). Hơn thế, Hiến pháp năm 2013 mở rộng phạm vi nghĩa vụ của Nhà nước, không chỉ là bảo hộ nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo như Hiến pháp năm 1992 mà là: “tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo." Đối tượng bảo hộ gồm cả quyền tự do theo hay không theo tín ngưỡng, tôn giáo; các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và tổ chức tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo (nơi thờ tự). Như vậy, tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tự nhiên của con người, đã được pháp luật quốc tế công nhận và bảo hộ với tư cách một quyền con người cơ bản ngay từ khi Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người - đạo luật nhân quyền quốc tế đầu tiên - được ban hành. Ở Việt Nam, tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn luôn là một quyền hiến định mà Nhà nước có nghĩa vụ bảo hộ. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta. Chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi như hiện nay. Những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được khẳng định thông qua nhiều bằng chứng sống động, từ việc công nhận tổ chức, đăng ký hoạt động, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, đến việc bảo đảm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được mở cơ sở đào tạo, in ấn kinh sách, sinh hoạt giáo lý…

Thực tiễn cho thấy, kể từ khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đi vào đời sống, số lượng chức sắc, chức việc, cơ sở thờ tự và công dân theo tôn giáo tăng theo thời gian, ở tất cả các tôn giáo. Đến nay, Nhà nước đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, với trên 27 triệu đồng bào theo đạo (chiếm trên 27% dân số cả nước), trong đó, có trên 54.000 chức sắc, 135.500 chức việc; trên 29.600 cơ sở thờ tự tôn giáo và khoảng trên 54.000 cơ sở tín ngưỡng. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các tổ chức và đại đa số đồng bào theo các tôn giáo ở Việt Nam luôn phát huy truyền thống yêu nước và đại đoàn kết dân tộc, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các tổ chức tôn giáo với tình yêu thương con người đã chung tay với Nhà nước trong công tác an sinh xã hội, chung sức, đồng lòng với chính quyền, nhân dân trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đến nay, cả nước có khoảng 300 trường mầm non, 2.000 cơ sở giáo dục mầm non, 22 cơ sở dạy nghề thuộc các tổ chức tôn giáo, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội.

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, các tổ chức tôn giáo được tham gia vào đời sống chính trị xã hội. Quốc hội khóa XV, có 5 vị chức sắc trúng cử đại biểu; 88 chức sắc, chức việc và 35 tín đồ các tôn giáo trúng cử đại biểu HĐND cấp tỉnh; 225 chức sắc, chức việc, nhà tu hành và 246 tín đồ trúng cử đại biểu HĐND cấp huyện; 646 chức sắc, chức việc, nhà tu hành và trên 5.000 tín đồ trúng cử đại biểu HĐND cấp xã nhiệm kỳ 2021 - 2026, là thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và tích cực tham gia các Hội, đoàn thể khác như: Hội Người cao tuổi Việt Nam, Hội Người bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi Việt Nam, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam... Cùng với đó, các tổ chức tôn giáo đã vận động chức sắc, chức việc, đồng bào theo đạo chấp hành nghiêm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, các tổ chức tôn giáo là một kênh truyền thông quan trọng góp phần đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống và đến với đồng bào có đạo nhanh và hiệu quả.

Trong nhiều năm qua, Việt Nam luôn là điểm đến được các tổ chức tôn giáo lớn trên thế giới lựa chọn làm nơi tổ chức các sự kiện, các lễ kỷ niệm như: năm 2009, Nhà nước cho phép và hỗ trợ Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức Hội nghị Nữ giới Phật giáo thế giới lần thứ XI tại TP Hồ Chí Minh, với hơn 2.000 ni sư từ hơn 47 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới tham dự sự kiện này. Đặc biệt, năm 2024 đã diễn ra những hoạt động đối ngoại, nổi bật là Tổng Giám mục Marek Zalewski bắt đầu đảm nhiệm vai trò Đại diện Thường trú đầu tiên của Toà thánh ở Việt Nam từ tháng 1/2024.

Bộ trưởng Ngoại giao Tòa thánh Vatican, Tổng Giám mục Paul Richard Gallagher thăm Việt Nam từ ngày 9-14/4/2024 qua đó diện kiến Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và có các cuộc gặp và làm việc với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà; thăm các Tổng Giáo phận Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Huế. Trong chương trình tại Việt Nam, Mục sư Franklin Graham, Chủ tịch kiêm Giám đốc Điều hành Hiệp hội Truyền giáo Billy Graham đã gặp Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình và Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà, lãnh đạo Ủy ban nhân dân TP Cần Thơ. Đồng thời, mục sư Franklin Graham tham dự Chương trình Thánh nhạc Truyền giảng “Mùa Yêu thương 2024” do Hiệp hội Truyền giáo Billy Graham tổ chức tại Cần Thơ, với 2 đêm nhạc vào ngày 3-4/12/2024, thu hút khoảng 10.000 người tham dự gồm chức sắc, chức việc, tín đồ Tin lành và khách mời của 13 tỉnh miền Tây.

Những con số trên là minh chứng sinh động cho thấy tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được pháp luật bảo hộ và luôn được bảo đảm, thực thi trong thực tiễn, các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi và ngày càng phát triển. Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra sôi động ở khắp các vùng, miền, các cộng đồng dân cư, các tầng lớp xã hội, nhất là vào dịp đầu năm, lễ hội truyền thống.

Sưu tầm

Nghị định 168 - Chỉ bàn tiến, không bàn lùi!

 

Theo con số thống kê, trong năm 2024 trên cả nước đã xảy ra 21.532 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 9.954 người, bị thương 16.044 người. Trong số này có tới 3.065 vụ là do người điều khiển phương tiện đi không đúng chiều đường, phần đường, làn đường quy định, làm chết 1.423 người, bị thương 2.764 người. Bên cạnh đó có 360 vụ tai nạn do người điều khiển phương tiện không chấp hành tín hiệu đèn giao thông (vượt đèn đỏ), làm chết 122 người, bị thương 301 người. Có 143 vụ tai nạn do phương tiện giao thông đi ngược chiều, làm chết 38 người, bị thương 141 người…

Nghị định 168/2024/NĐ-CP ra đời chính là để cảnh tỉnh, răn đe tình trạng tùy tiện tham gia giao thông, coi thường pháp luật về trật tự an toàn giao thông, nhất là quy tắc giao thông -  nguyên nhân cơ bản dẫn đến tai nạn và những cái chết thương tâm không đáng có. Mục đích cụ thể là để nâng cao ý thức chấp hành quy định về an toàn giao thông, mục đích tối thượng là nhằm bảo vệ sức khỏe, tính mạng của con người và sự trật tự, bình an của xã hội.

Cũng cần nói thêm rằng tính chính danh của Nghị định 168/2024/NĐ-CP đã được khẳng định. Ông Hồ Quang Huy, Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thuộc Bộ Tư pháp, nêu rõ: Nghị định 168/2024/NĐ-CP được ban hành đúng quy định, theo “trình tự rút gọn”. Khi nghị định được cấp có thẩm quyền là Thủ tướng Chính phủ đồng ý ban hành theo trình tự thủ tục rút gọn thì sau khi ký sẽ có hiệu lực ngay.

Như vậy, mọi việc xung quanh Nghị định 168/2024/NĐ-CP đều đã tỏ tường, từ mục đích, ý nghĩa, bối cảnh ra đời cho đến tác động ban đầu tới toàn xã hội.

“Bàn lên, lật xuống” theo góc nhìn thiếu khách quan, tiêu cực chỉ làm nhiễu loạn thông tin.

“Việc cần làm ngay” là toàn dân đồng lòng cùng lực lượng chức năng nghiêm chỉnh thực hiện Nghị định này!

Những tiếng nói xuyên tạc, lạc lõng nơi xứ người

Nhiều năm qua, Hội nghị Thượng đỉnh về tự do tôn giáo quốc tế đã căn cứ vào những nguồn tin không đầy đủ, thiếu khách quan, nguồn tin cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật của các tổ chức, cá nhân phản động, cực đoan, cơ hội chính trị về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Từ đó, họ kêu gọi Chính phủ các nước cũng như các tổ chức quốc tế gây sức ép với chính quyền Việt Nam, kích động phần tử chống đối ở trong nước tiến hành các hoạt động gây rối phá hoại, làm mất ổn định an ninh, trật tự. Năm nay, hội nghị này được tổ chức từ ngày 4 - 5/2/2025 tại Washington DC, Hoa Kỳ, các thế lực chống phá tiếp tục đưa ra nội dung xuyên tạc, hướng lái sai lệch các vụ án có liên quan đến dân tộc, tôn giáo tại Việt Nam nhằm hạ uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Dù có tên gọi là Hội nghị Thượng đỉnh liên quan đến vấn đề tự do và tôn giáo toàn cầu được tuyên truyền trên mạng xã hội một cách rầm rộ cả về số người tham dự và số tiền chi ra để tổ chức trong những năm qua nhưng về bản chất, hội nghị này chỉ là một diễn đàn để các tổ chức và các đối tượng chống đối đưa ra những thông tin vu cáo, xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trong thời gian hội nghị diễn ra với những công bố thiếu khách quan, sai sự thật, ngay lập tức đã được các tổ chức thiếu thiện chí, thù địch chống phá Việt Nam tung hô, xem đó như là bằng chứng quy kết Đảng, Nhà nước ta có những đối xử “bất công”, “phân biệt đối xử”, “đàn áp” tôn giáo, tín ngưỡng của người dân…

Cũng như các năm trước, năm nay tại hội nghị này, các đại biểu tham dự đều là các tổ chức, cá nhân tự xưng quen thuộc trên không gian mạng về các hoạt động xuyên tạc, vu cáo, bóp méo sự thật về tự do tôn giáo tại nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Với mục đích chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, qua đó kêu gọi các quốc gia, tổ chức quốc tế can thiệp, gây sức ép với những chủ trương, đường lối chính sách của Việt Nam, có thể kể đến như đối tượng Nguyễn Đình Thắng làm Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành tổ chức do chính y lập ra là Ủy ban cứu người vượt biển - BPSOS. Dù không sinh sống cũng như không có mối liên hệ mật thiết nào ở Việt Nam nhưng đối tượng trên vẫn đưa ra những thông tin bịa đặt, bóp méo sự thật việc “Việt Nam tiếp tục vi phạm tự do tôn giáo một cách có hệ thống và giới hoạt động muốn hội nghị quan tâm đến hiện trạng đàn áp ở Việt Nam”, đồng thời mong muốn các tổ chức, cá nhân tham dự tiếp tục vận động Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh dách quốc gia phải quan tâm đặc biệt (CPC) về tự do tôn giáo.

Ngoài ra, thông qua hội nghị này, nhiều đối tượng tiếp tục cổ suý và tẩy trắng cho các hành động khủng bố tại Việt Nam như đối tượng Y Phic Hdok, hiện đang sống lưu vong tại Mỹ, là một trong những đối tượng cốt cán của tổ chức Người Thượng vì công lý - MSFJ” (Montagnards Stand For Justice) đã kêu gọi các tổ chức quốc tế tự xung về nhân quyền can thiệp vào Việt Nam nhằm thả các đối tượng vi phạm pháp luật và đang chấp hành án phạt như Y Thinh Niê, Nay Y Blang, Y Krếc Byă). Thậm chí, đối tượng này còn lớn tiếng kêu gọi các tổ chức quốc tế trên can thiệp, gây sức ép đối với Chính  phủ Thái Lan trong việc không trục xuất đối tượng khủng bố Y Quynh Bdap chủ mưu, cầm đầu vụ khủng bố xảy ra tại Đắk Lắk ngày 11/6/2023 về Việt Nam.

Như vậy, về bản chất hội nghị này không phải là một diễn đàn để đưa ra những tiếng nói công bằng về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như đại diện cho tổ chức tôn giáo nào cho người dân toàn cầu mà là một trong những công cụ chính trị để các thế lực thù địch nhắm vào các quốc gia được cho là không thân thiện nhằm tạo áp lực chính trị, tức là mục tiêu “quốc tế hóa”, “chính trị hóa” vấn đề tôn giáo, tiến tới các hoạt động kích động gây bất ổn ở trong nước và thực hiện can thiệp quân sự từ bên ngoài. Điểm qua những thành phần tham dự Hội nghị đều là những gương mặt quen thuộc của các tổ chức quốc tế tự xưng về nhân quyền, các cá nhân, tổ chức gắn mác “đấu tranh tự do tôn giáo” chỉ nhằm mục đích vận động chính sách, chứ không phải là đại diện các quốc gia đến bàn thảo, nghị sự về tôn giáo. Dù được các đối tượng chống đối và các tổ chức phản động lưu vong tuyên truyền trên mạng xã hội nhưng suy cho cùng, đây chỉ là một diễn đàn mang tính nhỏ lẻ không tính quốc tế, không đại diện cho tiếng nói của một quốc gia nào nên không có được sự quan tâm từ các tổ chức truyền thông hay bất cứ tổ chức tôn giáo nào trên thế giới.

Bản chất các hoạt động cổ xúy cho hội nghị trên của các thế lực thù địch, phản động lưu vong và số đối tượng chống đối ở trong nước thời gian qua chỉ nhằm mục đích kích động “ngòi nổ” tín ngưỡng, tôn giáo để kích động mâu thuẫn giữa các tôn giáo với nhau, giữa người theo đạo và người không theo đạo, giữa các tôn giáo với chính quyền các cấp, từ đó gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tiến tới can thiệp vào công việc nội bộ, chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, gây tổn hại đến vị thế và uy tín của Việt Nam hiện nay.

Sưu tầm

Những chiêu trò “bẻ lái”, xuyên tạc công cuộc cải cách, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.

Trong những năm qua, chủ trương tinh giản biên chế và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước triển khai đồng bộ, mạnh mẽ, đạt nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng tình hình để xuyên tạc, phủ nhận chủ trương cũng như kết quả của công cuộc cải cách này.

Mặc dù chủ trương tinh giản biên chế, sắp xếp lại bộ máy được Đảng và Nhà nước ta triển khai với mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giảm chi phí nuôi bộ máy, dành nguồn lực cho phát triển đất nước, phục vụ nhân dân nhưng một số đối tượng chống đối vẫn tiếp tục xuyên tạc, bóp méo sự thật, lợi dụng sự thay đổi này để tung tin bịa đặt, thổi phồng khuyết điểm hòng đánh tráo mục tiêu, gây hoang mang dư luận. Các đối tượng bịa đặt rằng, việc tinh giản biên chế ở Việt Nam “chỉ là hình thức, mị dân”, không đem lại hiệu quả thực tế mà chỉ là gây tốn kém tiền bạc, ngân sách. Họ cho rằng, cơ cấu bộ máy nhà nước nói là tinh gọn nhưng không thay đổi mà chỉ chuyển người từ chỗ này sang chỗ khác, chỉ gây tốn kém, phức tạp.

Một số đối tượng bịa đặt rằng, việc sáp nhập các đơn vị, hợp nhất bộ máy chỉ nhằm mục đích chia ghế và “chạy chọt”, gây tốn kém ngân sách. Thậm chí, các thế lực thù địch xuyên tạc tinh giản biên chế là “đấu đá quyền lực, phe nhóm”, nhằm cắt giảm quyền lực của người này để tăng quyền lực cho người kia, là cách để “hạ bệ” hoặc “gia cố” quyền lực. Từ đó họ nguỵ biện rằng, Việt Nam không có tinh giản biên chế, không có tinh gọn bộ máy mà đây chỉ là “miếng bánh phân chia quyền lực”, chuyện của “các phe phái”... Đây là những luận điệu vu cáo, cố tình bóp méo sự thật nhằm làm nhiễu thông tin, “tung hoả mù” gây hoang mang dư luận, tạo cớ chỉ trích, miệt thị lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Bộ máy cồng kềnh gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm đi vào thực tiễn cuộc sống hoặc một số chủ trương không được triển khai hoặc triển khai hình thức trên thực tế. Một trong những lý do chính để tiến hành cải cách bộ máy hành chính là giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Cải cách bộ máy hành chính là một trong những yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan nhà nước, đồng thời giảm thiểu các chi phí hành chính không cần thiết. Trong thời gian qua, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác cải cách bộ máy hành chính. Đặc biệt, việc tinh giản biên chế và giảm bớt các đầu mối hành chính đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Cụ thể như tháng 4/2015, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức với mục tiêu đến năm 2021 tinh giản tối thiểu 10% biên chế. Kết quả, chúng ta đã tinh giản được 11,67% biên chế trong giai đoạn này, vượt chỉ tiêu đề ra. Trình bày Báo cáo của Chính phủ về công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2023 tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV (tháng 5/2024), Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Tài chính Hồ Đức Phớc cho biết, Chính phủ đã ban hành 27 Nghị định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; các bộ, ngành đã giảm được 17 tổng cục và tương đương; giảm 10 cục và 144 vụ/ban thuộc tổng cục và thuộc bộ; giảm 108 phòng trong vụ/ban thuộc bộ, ngành; giảm 22 đơn vị sự nghiệp công lập. Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, trong năm 2023, Thủ tướng đã phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa 144 quy định kinh doanh. Tổng số quy định kinh doanh được cắt giảm, đơn giản hóa từ năm 2021 đến nay là 2.770 quy định. Có 147 thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư được thực hiện đơn giản hóa đạt 49,26%. Về quản lý và tinh giản biên chế, thực hiện các nghị định của Chính phủ, từ năm 2015 đến ngày 15/12/2023, cả nước tinh giản biên chế 84.140 người.

Rõ ràng, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức, bộ máy thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Nhà nước ta, với mục đích rõ ràng, hoàn toàn không có chuyện “làm cho có”, “chỉ là hình thức”, “tranh giành quyền lực” hay “đấu đá nội bộ” như các thế lực thù địch xuyên tạc, rêu rao. Cần thấy rằng, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là việc làm không hề dễ dàng, không đơn giản, không phải làm một sớm, một chiều, làm một lần là xong do liên quan nhiều vấn đề nhạy cảm, phức tạp. Do đó đòi hỏi sự chặt chẽ, khoa học, với quyết tâm chính trị cao, thống nhất trong nhận thức và hành động. Để cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị bảo đảm thắng lợi, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: “Thời điểm 100 năm đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và 100 năm thành lập nước không còn xa, để đạt được các mục tiêu chiến lược, không chỉ đòi hỏi những nỗ lực phi thường, những cố gắng vượt bậc, mà còn không cho phép chúng ta chậm trễ, lơi lỏng, thiếu chính xác, thiếu đồng bộ, thiếu nhịp nhàng trên từng bước đi”.

 Sưu tầm

Ông Mervyn Thomas đừng kiếm cớ xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam

 Mới đây, ông Mervyn Thomas, Chủ tịch sáng lập ra cái gọi là Tổ chức Đoàn kết Công giáo Toàn cầu (CSW) đã ra “Thông cáo” xuyện tạc việc lực lượng chức năng của Việt Nam bắt giam đối tượng được gọi là “Mục sư Tin lành” Nguyễn Mạnh Hùng là “biểu hiện xem nhẹ nhân quyền; là dấu hiệu khác cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam thiếu quan tâm đến nghĩa vụ của mình theo luật pháp quốc tế là tôn trọng quyền của mọi công dân Việt Nam”...

Cần phải thấy ngay rằng, việc các cơ quan chức năng của Việt Nam bắt giam Nguyễn Mạnh Hùng về tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117 Bộ luật Hình sự chỉ là cái cớ để ông Mervyn Thomas đưa ra nhận định hết sức sai trái, trắng trợn xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.

Từng là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, bị vi phạm lớn nhất quyền con người, hơn ai hết Việt Nam hiểu rõ giá trị của quyền con người. Đảng và Nhà nước Việt Nam không chỉ xác định: Xây dựng con người phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển, luôn tôn trọng và bảo vệ quyền con người mà còn làm hết sức mình để bảo đảm và thực hiện quyền con người trên thực tế, thông qua việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi các biện pháp cụ thể nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, để mọi người dân có cuộc sống ngày càng đầy đủ về vật chất, phong phú về tinh thần; xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy quyền con người trên đất nước Việt Nam. Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước. Nhà nước Việt Nam khẳng định con người là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Việt Nam đều nhằm phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, tất cả vì con người và cho con người… Không chỉ thực thi, đảm bảo, thúc đẩy quyền con người ở trong nước một cách nghiêm túc, nhất quán, liên tục, Việt Nam còn nỗ lực góp phần quan trọng thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trên phạm vi toàn thế giới.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân bằng hệ thống pháp luật. Nhà nước Việt Nam đã và đang xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm các quyền con người được tôn trọng và thực hiện một cách đầy đủ nhất. Quyền con người, một khi đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận, sẽ trở thành ý chí chung của toàn xã hội, được xã hội tuân thủ và được pháp luật bảo vệ.

Đối với trường hợp Nguyễn Mạnh Hùng, đối tượng không phải là “Mục sư Tin lành” như ông Mervyn Thomas nêu. Cái danh “Mục sư Tin lành” chỉ là do ông Mervyn Thomas tự khoác lên hòng đánh lừa dư luận, dung túng, bao che cho những đối tượng lợi dụng tôn giáo, dân chủ, mượn danh nhân quyền để vi phạm pháp luật, gây mất ổn định xã hội. Tất cả các tổ chức mà Nguyễn Mạnh Hùng tham gia như “Hội thánh Tin lành Chuồng Bò”, “Hội đồng Liên tôn Việt Nam”… đều là những tổ chức không được Nhà nước công nhận, hoạt động trái phát luật. Hành động của đối tượng Nguyễn Mạnh Hùng không phải vì lợi ích, tương lai tốt đẹp cho Việt Nam mà đó là những hành vi vi phạm pháp luật. Việc các cơ quan chức năng của Việt Nam bắt giam để điều tra về tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117, Bộ Luật hình sự là hoàn toàn đúng pháp luật. Hành động đứng ra che chắn, bảo vệ cho đối tượng Nguyễn Mạnh Hùng của ông Mervyn Thomas thực chất vẫn là thủ đoạn kiếm cớ vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, nhằm gây sức ép và hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế để tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam./.