Thứ Hai, 10 tháng 2, 2025

RẠNG RỠ VIỆT NAM

Nhân kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2025)


        Một mùa Xuân mới đang về, mang theo niềm hân hoan, sức sống mới trên khắp mọi miền của Tổ quốc. Mùa xuân này càng trở nên ý nghĩa hơn khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2025) như một mốc son chói lọi để cả nước bước vào một chặng đường phát triển mới, hướng tới một tương lai rạng ngời.

Trong suốt 95 Xuân qua, Đảng ta - đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam - đã lãnh đạo đất nước vượt qua muôn vàn gian nan, thử thách, làm nên những thắng lợi, thành tựu vĩ đại, ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử vẻ vang của dân tộc.

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt và với một sứ mệnh đặc biệt. Từ giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta và áp đặt ách thống trị tàn bạo, khiến dân tộc ta chịu cảnh nô lệ, lầm than. Với truyền thống yêu nước và tinh thần không chịu khuất phục, nhân dân ta đã vùng lên đấu tranh liên tục và mạnh mẽ bằng nhiều con đường với nhiều khuynh hướng khác nhau, từ phong trào Cần Vương đến khởi nghĩa Yên Thế, từ các phong trào Đông Du, Đông kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đến khởi nghĩa Yên Bái... Nhân dân ta đã đấu tranh vô cùng anh dũng và chịu nhiều hy sinh, nhưng đều không thành công vì thiếu một đường lối đúng đắn, chưa tập hợp và phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, thiếu một phương pháp đấu tranh thích hợp và nhất là chưa có được một tổ chức lãnh đạo, một chính đảng đáp ứng được yêu cầu của dân tộc và của thời đại.

Cùng lúc đó, trên thế giới, sự phát triển của phong trào công nhân cùng thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một chân trời mới, thắp sáng hy vọng cho các dân tộc bị áp bức, bóc lột, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giành độc lập trên khắp các châu lục.

Trước yêu cầu của lịch sử và với một khát vọng cháy bỏng về giải phóng dân tộc, người thanh niên yêu nước nồng nàn Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước. Người đã đi khắp các châu lục, qua gần 30 quốc gia, hàng trăm thành phố, vượt qua muôn vàn gian khổ, chông gai và làm rất nhiều nghề để kiếm sống, để học những "sàng khôn" của nhân loại. Chính hành trình này đã giúp Người thanh niên Việt Nam hiểu rõ cội nguồn những khổ đau của các tầng lớp nhân dân lao động là ở sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản đế quốc và hình thành nên ý thức giai cấp rõ rệt. Với quyết tâm hướng tới: "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi", Nguyễn Tất Thành đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin một cách tự nhiên, như một tất yếu lịch sử và đã tìm thấy ở đó những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Trước yêu cầu lịch sử và dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác-Lênin, người thanh niên Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã tiến hành nhiều hoạt động, dày công chuẩn bị cả về tư tưởng, lý luận và con người cho sự ra đời của một tổ chức chính trị tiên phong lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam thông qua các tác phẩm như Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường Kách Mệnh (1927), đào tạo cán bộ cách mạng và thúc đẩy phong trào đấu tranh trong nước.

Ngày 03/02/1930, tại Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc), dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã diễn ra, thống nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một quyết định có ý nghĩa lịch sử trọng đại, quy tụ các tổ chức cộng sản Việt Nam thành một lực lượng duy nhất, có đường lối cách mạng rõ ràng, thống nhất. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã xác định con đường cơ bản của cách mạng Việt Nam, đáp ứng yêu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc. Sự kiện lịch sử này đã chấm dứt cuộc khủng hoảng đường lối và tổ chức của cách mạng Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nước ta - kỷ nguyên đấu tranh giành độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Từ khi thành lập, với đường lối đúng đắn, với phương pháp thích hợp và sáng tạo, với năng lực tổ chức thực tiễn và sự chiến đấu ngoan cường, hy sinh anh dũng của nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên, và sự tin yêu, đùm bọc, hết lòng che chở, bảo vệ của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước giành được những thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử và thời đại.

Chỉ trong vòng 15 năm sau khi ra đời, Đảng ta đã không ngừng phát triển và lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, thành lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 02/09/1945, xóa bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam, mở ra chương mới của lịch sử dân tộc. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội và cuộc sống của chính mình.

Ngay sau thành công của Cách mạng Tháng Tám, đất nước ta phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách; cùng một lúc phải đương đầu với "giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm". Trong hoàn cảnh "ngàn cân treo sợi tóc", Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta kiên cường bảo vệ và xây dựng chính quyền non trẻ, đồng thời tích cực chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Với đường lối đúng đắn, phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân ta lần lượt đánh bại mọi âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù trong chín năm kháng chiến gian khổ và anh dũng, đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (năm 1954) về hòa bình ở Đông Dương.

Trong suốt hơn hai mươi năm sau đó, đất nước ta bị chia cắt và chưa có hòa bình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với một ý chí sắt đá và quyết tâm không gì có thể lay chuyển, nhân dân ta đã vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, thực hiện cuộc kháng chiến vĩ đại, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, viết nên một trong những trang sử hào hùng nhất của dân tộc, một sự kiện có tầm vóc quốc tế và có tính thời đại sâu sắc. Đây là sự hiện thực hóa của tầm nhìn và quyết tâm mà Đảng ta đã đưa ra từ Đại hội III (tháng 9/1960): "Nước Việt Nam ta là một, dân tộc Việt Nam ta là một. Nhất định nước ta sẽ được thống nhất trên cơ sở độc lập và dân chủ, nhất định dân tộc sẽ được đoàn tụ trong hòa bình, tự do và hạnh phúc. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng ý chí thống nhất Tổ quốc của nhân dân cả nước ta quyết không bao giờ lay chuyển và cuối cùng chúng ta nhất định sẽ giành được thắng lợi".

Trong lúc phải khẩn trương khắc phục những hậu quả vô cùng nặng nề do chiến tranh để lại, đất nước ta lại tiếp tục phải đương đầu với những thử thách mới. Đảng tiếp tục lãnh đạo toàn quân và toàn dân ta vừa ra sức khôi phục kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống của người dân, vừa kiên cường chiến đấu giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và không gian sinh tồn của dân tộc. Đồng thời làm nghĩa vụ quốc tế cao cả đối với nhân dân Campuchia.

Trước những yêu cầu mới trong phát triển đất nước, để khắc phục những bất cập của cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp dẫn tới khủng hoảng kinh tế-xã hội những năm sau chiến tranh, trên cơ sở tổng kết sáng kiến, sáng tạo trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và sự thực thi của cả hệ thống chính trị và nhân dân, Đảng ta đã đề ra và thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đường lối đổi mới ra đời đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn quá trình xây dựng nền kinh tế, nền quốc phòng, an ninh, công tác đối ngoại của đất nước, thể hiện bản lĩnh vững vàng, tư duy sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của đất nước.

Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã vượt qua mọi khó khăn, vươn tới những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, bị chiến tranh tàn phá, bị bao vây, cô lập, đến nay Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức quốc tế, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Quy mô nền kinh tế năm 2024 đã đạt trên 470 tỉ USD, đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,93 % (theo chuẩn đa chiều) so với mức 60% năm 1986. Tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh không ngừng nâng cao. Cục diện đối ngoại không ngừng được mở rộng; vị thế, uy tín của đất nước không ngừng được lan tỏa, có những đóng góp tích cực vào giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu, đã thực hiện nhiều nhiệm vụ trong vai trò thành viên ASEAN, Liên Hợp Quốc và các tổ chức, thể chế quốc tế khác được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam suốt 95 năm qua bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định hàng đầu, cùng sự hy sinh, chiến đấu, lao động sáng tạo của toàn dân, toàn quân dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, sự hỗ trợ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Trong những thời điểm khó khăn, thử thách, Đảng ta đã thể hiện rõ bản lĩnh, tinh thần đoàn kết, là một khối thống nhất về ý chí và hành động, từ đó lãnh đạo, chỉ đạo cả hệ thống chính trị nỗ lực cố gắng đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện trên các lĩnh vực. Đồng thời, thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, vững mạnh, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của nhân dân. Thực tiễn đó đã khẳng định: ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ năng lực, bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm và uy tín để lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nhìn lại chặng đường 95 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn vô hạn và thành kính tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - vị lãnh tụ thiên tài, người Anh hùng giải phóng dân tộc, người đã khai sáng con đường cách mạng, làm rạng danh non sông ta, đất nước ta. Chúng ta cũng thành kính tưởng nhớ các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng, các anh hùng liệt sĩ, đồng bào, đồng chí đã chiến đấu kiên cường và hy sinh quên mình trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc và ấm no của nhân dân.

Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công lao của những người có công với nước, các gia đình liệt sĩ, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động, các thương binh, bệnh binh, các đồng chí từng bị giam cầm trong nhà tù của thực dân, đế quốc, các chiến sĩ đã chiến đấu trên mọi mặt trận và thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, các cựu chiến binh và những người miệt mài lao động, sáng tạo làm ra của cải vật chất cho xã hội. Chúng ta cũng luôn biết ơn các đồng chí, bạn bè quốc tế đã luôn đồng hành, ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây, cũng như tiếp tục hợp tác, hỗ trợ trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày nay.

Nhìn lại lịch sử, truyền thống vẻ vang và đầy tự hào của Đảng trong 95 năm qua, chúng ta càng thấy rõ hơn trách nhiệm của thế hệ lãnh đạo và đảng viên hôm nay trong tiến trình lịch sử của dân tộc. Sứ mệnh của Đảng hiện nay là phải lãnh đạo, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu; bảo đảm mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới, vì hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu. Ưu tiên hàng đầu là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao.

Để tiếp tục gánh vác trọng trách đó của lịch sử, Đảng phải không ngừng lớn mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu và sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Đảng phải luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, phát huy dân chủ trong nội bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, trong sạch, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, Đảng phải không ngừng hoàn thiện lý luận, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, tạo nền tảng vững chắc để lãnh đạo đất nước phát triển nhanh và bền vững. Trước những yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và những thách thức từ tình hình thế giới, công tác xây dựng Đảng càng cần được quan tâm, đổi mới và thực hiện quyết liệt hơn nữa, tập trung vào các nhóm vấn đề trọng tâm sau đây:

Một là, tiếp tục kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Đảng ta ra đời với sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu đấu tranh giành độc lập, đến khi trở thành Đảng cầm quyền, Đảng luôn kiên định mục tiêu giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đảng không tồn tại vì lợi ích riêng mà hoạt động vì quyền lợi của toàn dân. Quyền lực lãnh đạo của Đảng không phải tự thân mà có, mà do nhân dân trao quyền, là sự ủy thác của nhân dân. Đảng không có mục đích nào khác là đấu tranh vì lợi ích của nhân dân, quốc gia và dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: "Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng". Chính vì vậy, Đảng phải luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu cao nhất, giữ vững bản chất cách mạng và vai trò tiên phong của mình. Trong bối cảnh hiện nay, Đảng càng phải kiên định nền tảng tư tưởng của mình, tiếp tục vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn, bảo vệ vững chắc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, Đảng phải không ngừng đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để tiếp tục dẫn dắt dân tộc trên con đường phát triển trong kỷ nguyên mới, hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hai là, không ngừng hoàn thiện hệ thống lý luận của Đảng. Nền tảng lý luận vững chắc là kim chỉ nam cho hành động của Đảng, quyết định sự đúng đắn trong đường lối lãnh đạo và chiến lược phát triển đất nước. Trải qua hơn 95 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng đã đúc kết nhiều bài học kinh nghiệm, từng bước phát triển tư duy lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về quốc phòng, an ninh và đối ngoại cùng nhiều lĩnh vực quan trọng khác. Việc hoàn thiện nền tảng lý luận là yêu cầu cấp thiết để Đảng tiếp tục lãnh đạo đất nước trong bối cảnh thế giới hôm nay đang diễn ra những biến chuyển sâu sắc trên tất cả các mặt của đời sống. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, thực tiễn luôn đặt ra những vấn đề mới, đòi hỏi Đảng phải không ngừng tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận.

Công tác tổng kết thực tiễn cần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá chính xác kết quả đạt được, thẳng thắn, khách quan chỉ ra những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm và nguyên nhân; nhận diện rõ những điểm nghẽn, nút thắt đang kìm hãm sự phát triển của đất nước, từ đó đề xuất các giải pháp đột phá, tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình phát triển trong thời gian tới. Công tác nghiên cứu cũng cần chỉ rõ hơn đâu là cơ hội lớn cần tận dụng, đâu là thách thức lớn cần vượt qua, những yếu tố mới của thực tiễn cần bổ sung là gì. Sự thẳng thắn, khách quan, khoa học, trung thực, kiên định và thận trọng là cần thiết để tránh sai lầm, duy ý chí. Các vấn đề này cần được làm rõ trong quá trình xây dựng các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Đây không chỉ là công việc của cơ quan chuyên môn của Đảng mà còn đòi hỏi sự tham gia của toàn hệ thống chính trị, đội ngũ trí thức, các cơ quan nghiên cứu lý luận và từng cán bộ, đảng viên và nhân dân cả nước.

Ba là, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại, phát triển của Đảng. Cần không ngừng củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của từng tổ chức Đảng; xây dựng tổ chức cơ sở Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, làm nòng cốt trong hệ thống chính trị và gắn bó mật thiết với nhân dân. Đồng thời, cần tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát để giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí cần được tiếp tục triển khai quyết liệt, đồng bộ, toàn diện, bài bản, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, tạo sức răn đe, cảnh tỉnh, góp phần làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng. Cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu các cấp ủy đảng cần đề cao trách nhiệm nêu gương, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, kịp thời giải quyết những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội. Đồng thời, cần phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, bảo đảm Đảng luôn là lực lượng lãnh đạo trung thành với lợi ích của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Bốn là, quyết tâm củng cố tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, khắc phục tình trạng cồng kềnh, chồng chéo. Trong nhiều kỳ đại hội gần đây, các văn kiện đại hội đều nhấn mạnh các nhiệm vụ cụ thể về tinh gọn tổ chức bộ máy hoặc nghiên cứu xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Đảng cũng đã liên tục ban hành nhiều Nghị quyết, Kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Tuy nhiên, nhận thức và hành động của một số cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt, việc sắp xếp tổ chức bộ máy chưa đồng bộ, tổng thể, chưa gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại... Chính vì vậy, cho đến nay tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, quan hệ công tác giữa nhiều cơ quan, bộ phận chưa thật rõ ràng, còn trùng lắp, chồng chéo; phân định trách nhiệm, phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ, hợp lý, có chỗ bao biện làm thay, có nơi bỏ sót hoặc không đầu tư thích đáng. So với những thay đổi to lớn của đất nước sau 40 năm đổi mới, sự phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và những thành tựu khoa học công nghệ, tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta cơ bản vẫn theo mô hình được thiết kế từ hàng chục năm trước, nhiều vấn đề không còn phù hợp với điều kiện mới là trái với quy luật phát triển; tạo ra tình trạng "Nói không đi đôi với làm". Vì vậy, công tác trọng tâm trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới là xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Năm là, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp. Trước yêu cầu phát triển và hội nhập ngày càng cao, đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, phải đáp ứng những tiêu chuẩn quan trọng: có bản lĩnh chính trị vững vàng; có đạo đức trong sáng, tinh thần trách nhiệm cao, thực sự gương mẫu, liêm chính, tận tụy phục vụ nhân dân, không vụ lợi cá nhân, không tham nhũng, tiêu cực; có tư duy đổi mới, sáng tạo; biết nắm bắt cơ hội, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, không né tránh, trì trệ, thụ động trước những vấn đề mới phát sinh; có năng lực thực tiễn, khả năng lãnh đạo, quản lý. Để làm được điều này, cần đổi mới mạnh mẽ tư duy trong công tác cán bộ. Các quy trình về công tác cán bộ phải trở thành cơ chế để lựa chọn người tốt nhất, người xứng đáng nhất, chứ không phải là cơ chế để hợp thức hóa việc tuyển chọn, bổ nhiệm, đề bạt người không đảm bảo tiêu chuẩn, không thực sự tiêu biểu, không thực sự vì dân. Ngoài việc minh bạch hóa quy trình bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ và tăng cường kiểm tra, giám sát, cần xây dựng cơ chế phát hiện, bảo vệ và trọng dụng người tài, đồng thời có cơ chế xử lý trách nhiệm rõ ràng, trong đó ai giới thiệu, bổ nhiệm cán bộ sai tiêu chuẩn, thiếu phẩm chất, yếu năng lực thì phải chịu trách nhiệm. Đồng thời, cần kiên quyết chống chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm trong công tác quy hoạch, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ.

Sáu là, tăng cường công tác ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng. Các tiến bộ về công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội. Việc ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ vào công tác xây dựng Đảng không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là một bước đột phá nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong tình hình mới. Công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo sẽ góp phần hiện đại hóa công tác quản lý đảng viên, điều hành tổ chức Đảng. Việc xây dựng hệ thống quản lý đảng viên trên nền tảng số giúp tăng cường tính minh bạch, chính xác và hiệu quả trong quản lý hồ sơ, quá trình công tác, đánh giá, phân loại đảng viên. Điều này giúp các cấp ủy nắm bắt chính xác tình hình đội ngũ, từ đó có cơ chế đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển hợp lý, khắc phục tình trạng quan liêu, thiếu thực tiễn. Công nghệ số cũng giúp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng. Các nền tảng số, mạng xã hội có thể được sử dụng để tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng đến đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân một cách nhanh chóng, sinh động, hiệu quả. Các công nghệ mới cũng giúp nâng cao năng lực phát hiện sớm các vấn đề nổi cộm, phân tích, dự báo, đề xuất giải pháp phù hợp. Công nghệ số cung cấp dữ liệu chính xác, khách quan, giúp các cấp ủy đưa ra quyết định đúng đắn, dựa trên những phân tích khoa học thay vì cảm tính.

Bảy là, nhiệm vụ trọng tâm cấp bách trong năm 2025 của các cấp ủy đảng, từng chi bộ, mỗi đảng viên tập trung sức lực, trí tuệ cùng nhân dân phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu đã được nêu trong các Nghị quyết của các cấp ủy Đảng, đặc biệt chú trọng các chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội; tổ chức tiến hành đại hội đại biểu Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, trong đó chú trọng đóng góp ý kiến vào nội dung văn kiện của Đảng; giới thiệu và lựa chọn những người thật tiêu biểu, vì nước, vì dân tham gia vào hệ thống chính trị các cấp; tạo không khí thật sự dân chủ, đoàn kết, hăng say lao động sản xuất, xây dựng, phát triển quê hương đất nước trong mọi tầng lớp nhân dân.

Nhìn lại 95 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng, chúng ta có quyền tự hào và hoàn toàn tin tưởng vào tương lai rạng rỡ của Đảng và của dân tộc. Năm 1945, khi lãnh đạo toàn dân thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta chỉ có gần 5.000 đảng viên, nhưng với đường lối đúng đắn, tinh thần kiên trung, ý chí quật cường và lòng yêu nước, Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi vẻ vang, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đến năm 1960, khi đất nước bước vào giai đoạn kháng chiến trường kỳ chống Mỹ cứu nước, số lượng đảng viên đã tăng lên khoảng 500.000 người, trở thành hạt nhân dẫn dắt toàn dân tộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước. Ngày nay, với hơn 5,4 triệu đảng viên, lực lượng của chúng ta không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đủ sức gánh vác trọng trách đưa đất nước tiến lên trong thời kỳ mới. Mỗi đảng viên chính là biểu tượng của niềm tin, trí tuệ và ý chí đoàn kết của cả dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ tiếp tục hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình. Vững tin vào sức mạnh của Đảng và sự đoàn kết của toàn dân tộc, chúng ta khẳng định: Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta sẽ đồng lòng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới, xây dựng một tương lai huy hoàng, rạng rỡ cho dân tộc Việt Nam./.

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm


LẬT TẨY THỦ ĐOẠN LỪA BỊP, BẢO VỆ SỰ THẬT VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Mấy ngày gần đây, lại rộ lên bài viết của một tài khoản ẩn danh tự xưng "Lão Thất" trên các trang phản động hải ngoại, vu cáo Đảng CSVN "xây dựng đất nước bằng lừa bịp". Chúng cố tình bịa đặt về sự kiện Mậu Thân 1968, gán tội "tàn sát" cho cách mạng, rồi mơ màng so sánh Việt Nam với Nhật Bản nếu… không có Đảng. Toàn bộ luận điệu này chẳng mới, chỉ là sản phẩm rệu rã của nhóm cực đoan, lưu vong, nuôi dưỡng hận thù và cố bôi nhọ lịch sử để phục vụ mưu đồ chính trị đen tối.

Lịch sử đã chứng minh: Chính quân xâm lược Mỹ và chế độ tay sai mới là thủ phạm gieo rắc đau thương ở Huế năm 1968, còn Đảng CSVN luôn đứng về phía nhân dân để giải phóng dân tộc. Nói “không có Đảng thì Việt Nam thành Nhật Bản” là kiểu ngụy biện rẻ tiền – thời VNCH, đất nước chìm trong nạn đói, ngoại bang giày xéo, lấy đâu ra “dân chủ” để so sánh? Còn hiện tại, Việt Nam từ chỗ đói nghèo thành quốc gia có thu nhập trung bình, hội nhập toàn cầu, là minh chứng rõ nhất cho sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Bọn xuyên tạc gọi tuyên truyền là "lừa dối", nhưng thực chất chúng cay cú vì không thể che giấu sự thật: Nhân dân đã chọn Đảng, tin Đảng, cùng Đảng viết tiếp trang sử vàng!

Mạng xã hội đầy rẫy thông tin “giật gân” kiểu “Lão Thất”, nhưng hỡi đồng bào, đừng để bị dắt mũi! Những kẻ chống phá chỉ giỏi vỗ ngực “yêu nước” trên mạng, còn Đảng và Bác Hồ đã đổ máu xương giành độc lập thật. Chúng dùng chiêu “sửa lịch sử” để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, nhưng người Việt Nam không dễ bị lừa! Hãy tỉnh táo, đừng share, đừng tin những bài viết vô danh, không nguồn gốc. Nhớ lấy: Mỗi lời xuyên tạc là một mũi tên bắn vào Tổ quốc – đừng tự tay tiếp tay cho kẻ thù!


ĐỪNG ĐỂ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHIA RẼ DÂN TỘC

Dạo này, các trang mạng phản động lại rộ lên câu hỏi ngớ ngẩn: *“Sao miền Nam không ra Bắc giải phóng?”* – nghe cứ như trò đố vui của mấy đứa trẻ chưa học xong lớp Lịch sử! Tôi nghĩ rằng, chỉ có những kẻ cố tình bịt mắt trước sự thật mới dám đặt vấn đề này. Chúng muốn biến cuộc chiến chống Mỹ cứu nước thành trò “nội chiến” Bắc – Nam, nhưng sự thật thì cả dân tộc khi ấy chỉ có một kẻ thù: đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai. Không ai muốn chia cắt non sông, nhưng chính ngoại bang đã dùng vĩ tuyến 17 để khoét sâu hận thù!

Tôi đánh giá rằng, câu hỏi này chẳng khác gì việc hỏi *“Sao không để giặc tự rút về nước?”* – đúng là ngây ngô đến tội nghiệp! Lịch sử đã ghi rõ: Đảng và Bác Hồ lãnh đạo toàn dân đứng lên giành độc lập, thống nhất Tổ quốc. Hàng triệu thanh niên miền Bắc vượt Trường Sơn vào Nam không phải để “xâm lược”, mà để cứu đồng bào mình khỏi gót giày ngoại xâm. Còn người dân miền Nam khi ấy, liệu có ai muốn làm “bàn đạp” cho Mỹ - Ngụy? Đất nước thống nhất là khát vọng ngàn đời, sao cứ gọi đó là “Bắc thôn tính Nam”? Não mấy anh “rân chủ” chắc chỉ bằng hạt đậu!

Tôi cho rằng, đã đến lúc phải thẳng tay dập tan những luận điệu xảo trá này! Mấy kẻ xuyên tạc cố tình khơi lại vết thương lòng dân, chia rẽ khối đại đoàn kết Bắc – Nam chỉ để phục vụ âm mưu “diễn biến hòa bình”. Đồng bào ơi, đừng để bị dụ dỗ bởi mấy bài viết “giật title” câu view! Hãy nhớ: Sau 1975, chúng ta chỉ còn hai từ duy nhất – VIỆT NAM. Dòng máu Lạc Hồng chảy trong huyết quản mỗi người, sao lại tự chia thành “bên thắng – bên thua”? Thôi ngay trò so đo vặt vãnh, hãy cùng hướng về tương lai! Cứ để lũ phản động ngậm tăm – lịch sử đã lên tiếng, sự thật không thể bẻ cong! 🇻🇳


LẬT TẨY CHIÊU TRÒ KÊU GỌI TRẢ TỰ DO CHO NGUYỄN MẠNH HÙNG

Vụ việc liên quan đến Nguyễn Mạnh Hùng được cho là bị bắt vào ngày 16/01/2025 đang được một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí trong, ngoài nước lợi dụng để tuyên truyền, chống phá nhằm “tẩy trắng”, trả tự do cho Nguyễn Mạnh Hùng.

Từ “Việt Tân”, “VOA Tiếng Việt”, RFA và gần đây là cái gọi là “tổ chức Liên đới Kitô giáo Toàn cầu” (CSW) đã lợi dụng vụ việc này để tuyên truyền xuyên tạc, lên án Công an tỉnh Lâm Đồng bắt giữ Nguyễn Mạnh Hùng.

Họ lên án cho rằng Nguyễn Mạnh Hùng bị bắt vì đấu tranh cho tự do tôn giáo. Vậy nhưng trên thực tế, việc Nguyễn Mạnh Hùng bị bắt về “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Là một mục sư được bổ nhiệm từ năm 2011, từng là quản nhiệm Hội thánh Tin Lành Chuồng Bò thuộc Giáo hội Mennonite độc lập. Vậy nhưng Nguyễn Mạnh Hùng đã tham gia các tổ chức, hội nhóm mang danh nghĩa dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo như “No-U”, “Hội đồng Liên Tôn Việt Nam”… và đã tham gia nhiều hoạt động xuyên tạc về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo trên các diễn đàn quốc tế cũng như trên các tài khoản mạng xã hội.

Lẽ ra, với sứ mệnh và vai trò của mình đối với Giáo hội, đối với tín đồ của đạo Tin Lành, mục sư Nguyễn Mạnh Hùng cần phải đồng hành cùng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.

Vậy nhưng ý lại có những hoạt động đi ngược lại lợi ích của đất nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo và việc y bị bắt, xử lý theo quy định của pháp luật cũng là điều dĩ nhiên và đó là cái giá phải trả cho những hoạt động vi phạm pháp luật của Nguyễn Mạnh Hùng trong thời gian qua. Việc “lên đồng” để kêu gọi trả tự do cho Nguyễn Mạnh Hùng cũng chỉ là chiêu trò để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam mà thôi.


Đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ Quân đội

 

 

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ Quân đội nói chung, đội ngũ sĩ quan trẻ nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh. Điều đó đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng các cấp toàn quân, cần có nhiều giải pháp quyết liệt, đồng bộ, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quan trọng này.

Đội ngũ sĩ quan trẻ là lực lượng “rường cột” kế tục sự nghiệp cách mạng trong Quân đội, hay nói cách khác, sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc phụ thuộc phần lớn vào đội ngũ này. Đảng ta đã chỉ rõ, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là “giặc nội xâm” đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong đội ngũ sĩ quan trẻ, ít nhiều cũng có những biểu hiện suy thoái như Đảng ta đã chỉ ra. Tuy nhiên, sự suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ thường hay biểu hiện trước và có khả năng làm trầm trọng suy thoái về tư tưởng chính trị và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bởi, họ là thế hệ trẻ, đang cần tiếp tục được rèn luyện về nhân cách. Đạo đức, lối sống là điều căn bản, gốc của nhân cách mà bị suy thoái, thì khi đó con người cũng dễ đánh mất mình. Khi giá trị làm người đã không giữ được thì sĩ quan trẻ rất dễ ngả nghiêng, dao động về lập trường tư tưởng và bị dụ dỗ, mua chuộc, từ đó suy thoái, biến chất là điều khó tránh khỏi.

Suy thoái về đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ là trạng thái suy giảm và sa sút dần về phẩm chất đạo đức, xuống cấp về lối sống, lệch lạc trong nhận thức và thực hành các giá trị chuẩn mực đạo đức, lối sống, không tương xứng với chuẩn mực, yêu cầu nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”. Biểu hiện sự suy thoái của đội ngũ cán bộ này cũng là những biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra, nhưng thường biểu hiện và có nguy cơ trầm trọng hơn ở những mặt, như: sống thực dụng, ích kỷ, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn của đồng đội, háo danh, thổi phồng thành tích, che dấu khuyết điểm, “chạy chức”, “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, quân phiệt, quan liêu, thiếu sâu sát đơn vị, lười biếng, ngại khổ, ngại khó, ngại rèn luyện, v.v.

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ là vấn đề vừa cấp bách, vừa lâu dài. Cấp bách bởi vì sự suy thoái này làm hư hỏng đội ngũ sĩ quan trẻ, từ đó làm cho hoạt động của bộ máy chỉ huy, tổ chức đảng trong Quân đội suy yếu: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”1. Đây cũng là vấn đề lâu dài, bởi vì không phải làm một lần là xong. Và sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ là việc làm thường xuyên, như “rửa mặt” hàng ngày. Hơn nữa, đấu tranh với những hư hỏng, suy thoái trong mỗi con người có lúc còn khó hơn chống giặc ngoại xâm, vì nó là kẻ thù vô hình ở trong chính bản thân mỗi chúng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh tỉnh: “Có thể những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn địch không chịu khuất phục, nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường, sa vào tội lỗi. Cho nên bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “đạn bọc đường” vì nó làm hại mình mà mình không trông thấy”2. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, đối với nhiều người, đặc biệt là thế hệ trẻ những giá trị gần gũi, như: việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, tiền bạc, lợi ích kinh tế có sức thu hút và quan tâm hàng đầu, đôi khi còn trên cả các giá trị tinh thần. Những mặt trái của nó đã, đang làm giới trẻ, trong đó có đội ngũ sĩ quan trẻ có xu hướng quá đề cao giá trị vật chất và xem nhẹ giá trị đạo đức, tinh thần. Những tiêu cực đó làm cho lối sống tự do cá nhân cực đoan, thực dụng, thích hưởng thụ vượt quá khả năng bảo đảm của gia đình, xã hội ngày càng nảy nở. Đội ngũ sĩ quan trẻ, nếu không nghiêm túc rèn luyện đạo đức, lối sống sẽ rất dễ bị những tác động tiêu cực trên chi phối. Để chủ động đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống trong đội ngũ sĩ quan trẻ, cần thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản sau:

Một làtăng cường công tác giáo dục đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ. Đây là một trong những nội dung cơ bản của công tác bồi dưỡng cán bộ. Tuy nhiên, trong thực tế đôi khi vì quá nhấn mạnh yêu cầu về năng lực chuyên môn của đội ngũ sĩ quan trẻ mà công tác giáo dục đạo đức, lối sống chưa được coi trọng đúng mức, đặc biệt là lĩnh vực thực hành đạo đức. Việc thực hành đạo đức, lối sống chuẩn mực đòi hỏi đội ngũ sĩ quan trẻ phải tự nguyện, tự giác chứ không chỉ xuất phát bằng mệnh lệnh. Khi đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ đạt tới chuẩn mực, thì suy nghĩ, lời nói và hành động luôn thống nhất với nhau; luôn đặt lợi ích của Đảng, Tổ quốc, Nhân dân, tập thể lên trên lợi ích cá nhân; hết lòng, hết sức thực hiện nhiệm vụ được giao. Trong khi đó, những phẩm chất này không phải lúc nào cũng tự nhiên, có sẵn mà phải thông qua giáo dục, rèn luyện; do đó, thực hiện tốt giải pháp này càng có ý nghĩa quan trọng. Để đạt hiệu quả trong giáo dục, lãnh đạo, chỉ huy mỗi đơn vị phải xây dựng được môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh để tạo dư luận tích cực trong đấu tranh, phê phán những hành vi đạo đức, lối sống thiếu chuẩn mực của đội ngũ sĩ quan trẻ. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; bởi, nó là kẻ thù của đạo đức cách mạng, là căn nguyên của sự suy thoái đạo đức, lối sống trong đội ngũ sĩ quan trẻ. Do đó, cần phải thường xuyên, kiên trì lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy tấm gương tích cực để cổ vũ, lan tỏa những hành vi đạo đức, lối sống chuẩn mực.

Hai làthực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình. Đây là vũ khí sắc bén, nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Khéo sử dụng tự phê bình và phê bình là phương cách tốt nhất để rèn luyện đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ. Tuy nhiên, đó là vấn đề liên quan đến phẩm chất, nhân cách và lợi ích của con người nên rất nhạy cảm, dễ làm tổn thương đồng chí, đồng đội. Thậm chí, trong thực tiễn, có một số người còn bao biện, cho rằng, tự phê bình và phê bình là cần thiết, nhưng nên “nhẹ nhàng”, “nhân văn”, thông cảm, “vuốt ve nhau”, bởi ai chẳng có lúc va vấp,… nên dễ dàng cho qua những sai lầm, vi phạm đạo đức, lối sống của đồng đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”3. Đại đa số sĩ quan trẻ được sinh hoạt, rèn luyện trong các tổ chức đảng. Vì vậy, thường xuyên, kiên trì thông qua tự phê bình và phê bình thẳng thắn, trung thực là phương cách tốt nhất để đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ này. Tự phê bình và phê bình trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ chỉ có hiệu lực, hiệu quả khi cấp trên, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên và cấp ủy các cấp tự giác nêu gương về đạo đức, lối sống. Nếu người đứng đầu và cấp ủy không gương mẫu, không đặt lợi ích của tập thể lên trên hết, trước hết thì tự phê bình và phê bình dễ bị biến tướng trở thành nơi nịnh bợ cấp trên, “dĩ hòa vi quý”, nể nang, né tránh hoặc lợi dụng phê bình để trù dập, hạ bệ lẫn nhau.

Ba là, làm tốt công tác đào tạo, quy hoạch, bố trí, sử dụng đội ngũ sĩ quan trẻ. Với ưu điểm được đào tạo cơ bản, nhanh nhạy với sự phát triển khoa học, kỹ thuật và trong tương lai nhiều sĩ quan trẻ sẽ tiếp tục trưởng thành, nắm giữ các cương vị lãnh đạo, chỉ huy cao cấp trong Quân đội. Do đó, thông qua thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần thường xuyên bồi dưỡng đạo đức, lối sống cho đội ngũ sĩ quan trẻ. Cương quyết không bổ nhiệm sĩ quan trẻ có biểu hiện suy thoái và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đặc biệt là suy thoái về đạo đức, lối sống lên vị trí cao hơn.

Về cơ bản, đội ngũ sĩ quan trẻ có khát vọng cống hiến, năng nổ, nhiệt tình công tác. Thực hiện tốt công tác đào tạo, quy hoạch, bố trí, sử dụng đội ngũ sĩ quan trẻ chính là động lực cơ bản, quan trọng để họ phấn đấu, cống hiến và tự rèn luyện đạo đức, lối sống. Tuy nhiên, do tuổi đời còn trẻ, chưa trải qua nhiều gian khổ, nên khi gặp khó khăn, một bộ phận dễ nản chí. Do đó, cần phải tiếp tục rèn luyện, thử thách đạo đức, lối sống của đội ngũ này. Kịp thời đề xuất quy hoạch, tạo điều kiện phát triển cho sĩ quan trẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đồng thời, có cơ chế, biện pháp bảo vệ sĩ quan trẻ dám nghĩ, dám làm, tiên phong trong công tác.

Bốn là, thực hiện tốt hoạt động kiểm tra, giám sát đội ngũ sĩ quan trẻ. Đây là nội dung rất quan trọng, xuyên suốt trong ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái đạo đức, lối sống đối với đội ngũ sĩ quan trẻ; bởi nó thể hiện sự chủ động của cấp ủy, chỉ huy các cấp, lấy phòng ngừa là chính. Khi chủ động phát hiện, ngăn ngừa hành vi suy thoái đạo đức, lối sống sẽ góp phần hạn chế tổn thất, ngăn ngừa sự suy thoái của đội ngũ sĩ quan trẻ khi sự vi phạm còn nhỏ, mới hình thành. Quá trình kiểm tra, giám sát cần gắn việc thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ sĩ quan trẻ với cam kết của bản thân trong chấp hành kỷ luật, quy định về cán bộ, đảng viên của Đảng, cũng như thực hiện chỉ tiêu các phong trào thi đua của Quân đội và đơn vị. Khi phát hiện, sĩ quan trẻ có biểu hiện suy thoái và vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội cần xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội, tuyệt đối không bao che, dung túng cho hành vi vi phạm. Đó cũng là biện pháp để chủ động ngăn ngừa đẩy lùi sự suy thoái từ sớm, từ xa, đưa hoạt động xây dựng chỉnh đốn Đảng ngày càng đi vào thực chất, đạt chất lượng, hiệu quả cao.

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ, tổng hợp nhiều biện pháp. Quá trình đó, đòi hỏi đội ngũ sĩ quan trẻ và cấp ủy, chỉ huy các cấp phải nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, đặc biệt là phòng, chống sự suy thoái đạo đức, lối sống. Khi giữ được đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh thì những khuyết điểm, sự suy thoái khác sẽ ít dần đi. 

 

 

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh đồng ý để Bộ Giao thông Vận tải tổ chức các chuyến bay đưa người Việt tại Ukraine và thành viên gia đình về nước vào các ngày 7 và 9/3.

Phó Thủ tướng giao Bộ Tài chính giải quyết về kinh phí thực hiện các chuyến bay theo quy định.

Bộ Y tế hướng dẫn công tác kiểm soát phòng, chống dịch COVID-19 trong quá trình triển khai kế hoạch đón người về.

Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải (Cục Hàng không Việt Nam) khẩn trương tiến hành các thủ tục cần thiết để tổ chức đưa công dân về nước nhanh chóng, kịp thời; cung cấp danh sách công dân Việt Nam sơ tán về nước để các hãng hàng không bố trí nguồn lực phục vụ và tổ chức các chuyến bay theo kế hoạch.

Liên quan đến tình hình bảo hộ công dân tại Ukraine, theo các cơ quan đại diện Việt Nam tại Ukraine và các nước lân cận, tính đến 17h, ngày 6/3, các cơ quan đại diện đã đón được hơn 2.500 người Việt sơ tán khỏi vùng chiến sự tại Ukraine.

Trong số đó có hơn 1.700 người từ Ukraine sang sơ tán tại Ba Lan; 290 người tại Hungary; khoảng 600 người tại Romania; hơn 40 người tại Slovakia.

Các cơ quan đại diện Việt Nam đã hỗ trợ các thủ tục và giấy tờ cần thiết cho bà con từ Ukraine nhập cảnh, quá cảnh và phối hợp với nhà chức trách địa phương, các hội đoàn người Việt ở sở tại đón, thu xếp phương tiện đi lại, chỗ ăn, ở tạm thời và cung cấp vật dụng thiết yếu cho bà con.

Hiện Bộ Ngoại giao đang tích cực phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan liên quan và các hãng hàng không chuẩn bị cho 2 chuyến bay đưa người Việt và thành viên gia đình về nước trong các ngày 7/3 từ Romania và 9/3 từ Ba Lan.

Cụ thể, ngày 7/3, chuyến bay số hiệu VN88 của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) dự kiến chở 283 công dân khởi hành từ Bucharest (Romania), hạ cánh tại sân bay Nội Bài trưa 8/3.

Ngày 9/3, chuyến bay số hiệu QH9066 của Bamboo Airways dự kiến chở 270 công dân khởi hành từ Warsaw (Ba Lan), hạ cánh tại sân bay Nội Bài sáng

Ba2505

 

 

Bộ đội Cụ Hồ “bốn dám”

Đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung là một trong những đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được khái quát trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12 của Quân ủy Trung ương (sau đây gọi là Nghị quyết 847).

Trước hết, phải khẳng định rằng, đổi mới, sáng tạo và “bốn dám” (dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm) vì lợi ích chung là đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được hun đúc trong kháng chiến, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Qua thời gian, phẩm chất đó ngày càng được bồi đắp, phát huy. Thực tiễn cho thấy, hơn 77 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta luôn quan tâm, coi trọng, động viên, cổ vũ các phong trào thi đua, sáng tạo trong đội ngũ cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ.

Từ thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và lao động xây dựng đất nước đã xuất hiện nhiều tấm gương Bộ đội Cụ Hồ đổi mới, sáng tạo và “bốn dám” vì lợi ích dân tộc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh đầu tiên của Quân đội ta là người luôn đau với từng vết thương của mỗi người chiến sĩ, tiếc từng giọt máu của bộ đội. Trong những giờ phút cam go nhất của trận chiến, tại cuộc họp Đảng ủy và Bộ chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ, mặc dù nhiều ý kiến chưa thông suốt nhưng Đại tướng vẫn quyết định chuyển phương châm đánh nhanh, thắng nhanh sang đánh chắc, tiến chắc, hoãn nổ súng, kéo pháo ra. Thực tế lịch sử đã cho thấy đó là một quyết định sáng suốt và đầy trách nhiệm của Đại tướng và Bộ chỉ huy chiến dịch, giúp quân và dân ta giành thắng lợi "lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu".

Phát huy truyền thống quân đội “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, trong môi trường đặc thù, nhiều gian khó, nên phẩm chất đổi mới, sáng tạo và "bốn dám” vì lợi ích chung càng được bộc lộ rõ. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đổi mới, sáng tạo được coi là động lực quan trọng để phát triển quốc gia.

Chúng ta đều biết, khẳng định và làm nên tên tuổi của Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội (Viettel) hôm nay chính là từ quyết sách của đơn vị: Để giải quyết việc khó nhất, Viettel phải đi kiếm tìm, chiêu mộ và đào tạo nên những người giỏi nhất. Với khẩu hiệu: “Đổi mới, đổi mới, đột phá, tiên phong” từ trong thực tiễn công tác đã xuất hiện nhiều tấm gương biết cách giải quyết việc khó nhất theo cách làm khác biệt, đạt hiệu quả cao; đóng góp được nhiều nhất cho tổ chức, đơn vị. Đó là minh chứng về tinh thần đổi mới, sáng tạo và “bốn dám” của Bộ đội Cụ Hồ trong thời đại 4.0 hiện nay.

Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, trong cuộc chiến chống “giặc Covid-19” vừa qua, đã xuất hiện nhiều tấm gương cá nhân, tập thể dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Trong cuộc chiến ấy, nhiều gia đình quân nhân có cha mẹ, vợ con bị nhiễm Covid-19, nhiều người thân của cán bộ, chiến sĩ từ trần, nhưng vì công cuộc chống dịch, bảo vệ nhân dân, họ đã nén đau thương, gác lại niềm riêng để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ.

Không ít cán bộ, chiến sĩ bị nhiễm bệnh trong quá trình chống dịch, vừa khỏi bệnh lại xung phong ở lại tiếp tục phục vụ nhân dân. Cùng với đó, các đơn vị quân đội tăng cường vào miền Nam chống dịch tựa như những cánh quân, vững vàng, linh hoạt, mưu trí, sáng tạo, xử lý tốt các tình huống, đem lại cuộc sống mới bình yên cho nhân dân.

Từ năm 2014 đến nay, bằng việc tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, đã có hàng trăm cán bộ, chiến sĩ khắc phục sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, tập quán địa phương, tích cực tham gia các hoạt động giúp đỡ nhân dân nước sở tại, qua đó tạo được uy tín, ấn tượng tốt đẹp, góp phần giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Việt Nam thân thiện, yêu hòa bình với bạn bè quốc tế; góp phần thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình. 

Trên đây chỉ là một trong nhiều ví dụ về tinh thần đổi mới, sáng tạo và “bốn dám” vì lợi ích chung của Bộ đội Cụ Hồ. Mỗi cán bộ, chiến sĩ, tuy trên những cương vị khác nhau nhưng đều có một mẫu số chung, đó là, xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ và tâm huyết, trăn trở với công việc mà luôn mạnh dạn trong suy nghĩ, quyết đoán trong hành động, sẵn sàng hy sinh lợi ích bản thân vì mục tiêu phát triển bền vững của đất nước, của cơ quan, đơn vị.

Thực tiễn cũng cho thấy, càng trong khó khăn, gian khổ, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ càng tỏa sáng, có sức thuyết phục, góp phần bồi dưỡng nhận thức, tư tưởng, tình cảm, khơi dậy và nhân lên mặt tích cực trong nhân dân và bạn bè quốc tế.

Chúng ta khuyến khích tinh thần đổi mới, sáng tạo và “bốn dám” vì lợi ích chung. Thế nhưng thực tế hiện nay vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên có tư tưởng “trung bình chủ nghĩa”, làm việc theo kiểu hết giờ làm, chưa tích cực đổi mới sáng tạo, trông chờ, thụ động, né tránh công việc được giao, khi gặp việc khó thì dồn lên cấp trên. Nguyên nhân một phần vì tâm lý sợ sai sót, vì đổi mới, sáng tạo là không đi theo lối mòn, nên rất nhiều rủi ro.

Trong khi đó, một số tổ chức, cơ quan còn có tâm lý áp đặt, quy chụp khi đánh giá cán bộ, đảng viên mới gặp sai sót, khó khăn ban đầu, điều đó dễ làm nhụt chí tiến bộ. Nghị quyết 847 chỉ rõ: Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, băn khoăn dao động trước diễn biến phức tạp của tình hình... Thực trạng trên đã làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ và quân đội. 

Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ không phải là sản phẩm tự phát, bất biến, mà là kết quả tất yếu của quá trình lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện không ngừng và luôn vận động, phát triển phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và yêu cầu xây dựng quân đội qua từng giai đoạn cách mạng.

Để phát huy phẩm chất đổi mới, sáng tạo và “bốn dám” vì lợi ích chung, trước hết, các cấp ủy, tổ chức đảng cần có chính sách khuyến khích, động viên cán bộ đổi mới, sáng tạo và “bốn dám”. Mỗi cơ quan, đơn vị cần thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tạo môi trường tốt, dân chủ để cán bộ, đảng viên rèn luyện, dám bày tỏ chính kiến, cống hiến trí tuệ, sức lực cho Đảng, Tổ quốc và nhân dân.  

Đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ, đảng viên phát huy tính sáng tạo, đổi mới; theo dõi, kiểm tra, giám sát, phát hiện những vấn đề nảy sinh, kịp thời động viên, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn. Trong đánh giá cán bộ, đảng viên cần phải xem sự sáng tạo, đột phá của cán bộ là tiêu chí quan trọng.

Cán bộ, đảng viên tốt hay kém đến đâu thì ghi nhận và đánh giá đến đó; cương quyết không “dĩ hòa vi quý”, cào bằng trong đánh giá cán bộ. Mặt khác, cần định kỳ sơ kết, tổng kết, đẩy mạnh tuyên truyền, nhân rộng những mô hình, giải pháp; biểu dương, khen thưởng xứng đáng; ưu tiên bố trí, sử dụng cán bộ có tư duy đổi mới, cách làm đột phá, sáng tạo, hiệu quả.

Nghị quyết 847 cũng chỉ rõ: Tăng cường công tác lãnh đạo tư tưởng, giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Bởi vậy, mỗi cán bộ, đảng viên dù trên cương vị nào cũng phải mạnh dạn phát huy phẩm chất đổi mới, sáng tạo và “bốn dám”; phải có khát vọng vươn lên, thể hiện được bản lĩnh, trí tuệ, sự quyết đoán, xuất phát từ cái chung, không vì danh vọng, tư lợi cá nhân.

Quân đội là môi trường đặc thù nên càng trong khó khăn, cán bộ, đảng viên càng cần năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, không được thụ động, trông chờ, ỷ lại mới có thể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

Đổi mới, sáng tạo và “bốn dám” thiết nghĩ cũng không phải là việc gì “xa vời, cao siêu” mà mỗi cán bộ, đảng viên nên bám vào thực tiễn công tác của cơ quan, đơn vị để đề xuất cái mới, sáng kiến phục vụ nâng cao hiệu quả công tác của đơn vị, ví như: Người cán bộ quân nhu thì sáng chế ra máy thái thịt cho bếp ăn đơn vị; người lính vận tải thì sáng chế ra thiết bị nâng hạ hộp số ô tô; người lính quân y thi sáng chế ra máy phun khử khuẩn để phòng, chống dịch Covid-19...

Đối với cán bộ là chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong quân đội cũng cần đột phá vào các công trình, các lĩnh vực mũi nhọn, các chương trình, đề án góp phần tạo ra hiệu quả bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế-xã hội. Tựu trung lại, mỗi sáng kiến, đề xuất dù lớn hay nhỏ đều thể hiện tinh thần đổi mới, sáng tạo và “bốn dám” vì lợi ích chung, đó là phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ ngày nay.

         

 

 Vươn tới những đỉnh cao quyết thắng

Thứ Hai, 07/02/2022 14:58 | 

Thời sự

Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, thanh niên là lực lượng đông đảo, có tiềm năng lớn, lực lượng dự bị hùng hậu của Đảng, bổ sung và kế tục đội ngũ cán bộ cho Quân đội.

Trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu, cống hiến và trưởng thành (8/2/1952 - 8/2/2022), dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng, trực tiếp là sự chỉ đạo của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và hướng dẫn của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; tổ chức đoàn trong Quân đội nhanh chóng lớn mạnh, trở thành hạt nhân chính trị của phong trào thanh niên, là nòng cốt tổ chức, tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, phát huy vai trò của thanh niên Quân đội trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng.

Các thế hệ cán bộ, đoàn viên, thanh niên Quân đội đã đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, chiến đấu anh dũng và chiến thắng vẻ vang, có nhiều cống hiến xuất sắc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân viết nên những trang sử hào hùng, xây đắp nên truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. 

Liên kết phong trào thanh niên Quân đội với phong trào thanh niên toàn quốc

Những năm đầu của thập kỷ 50, thế kỷ XX, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bước vào giai đoạn ác liệt, cùng với phong trào đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang của quần chúng nhân dân, Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng cả về tổ chức và hoạt động. Tuy nhiên, trong Quân đội, hệ thống tổ chức Đoàn chưa được thành lập, điều đó đặt ra yêu cầu bức thiết cần đưa những người cộng sản trẻ tuổi vào sinh hoạt trong một tổ chức quần chúng tiên tiến, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Thực hiện chủ trương của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Quyết nghị của Tổng Quân ủy về tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội, củng cố, kiện toàn các tổ chức quần chúng, thống nhất hệ thống tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên trong toàn quốc, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã thống nhất với Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam chỉ đạo việc nghiên cứu, thành lập tổ chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc trong Quân đội.

Sau 5 tháng nghiên cứu, chuẩn bị về mọi mặt, ngày 8/2/1952, Chi đoàn Thanh niên Cứu quốc đầu tiên trong Quân đội được thành lập tại Đại đội 29, Tiểu đoàn 183, Trung đoàn 246 (Đoàn Tân Trào), là đơn vị bảo vệ Trung ương Đảng, bảo vệ Bác Hồ và Bộ Tổng Tư lệnh (nay là Đại đội 9, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 246, Sư đoàn 346, Quân khu 1). Chi đoàn có 32 đoàn viên, do đồng chí Phạm Ngọc Rao, Chi ủy viên, Trung đội trưởng Trung đội 1 làm Bí thư. Đến tháng 9/1952, Chi đoàn Thanh niên Cứu quốc được thành lập ở tất cả các đại đội và các ban chuyên môn của Trung đoàn 246, đánh dấu bước phát triển mới của công tác thanh niên trong Quân đội.

Ngay sau khi ra đời, Chi đoàn Thanh niên Cứu quốc đầu tiên của Quân đội đã có nhiều hoạt động thiết thực trong công tác tập hợp, giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện thanh niên; phát huy vai trò xung kích sáng tạo của tuổi trẻ vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đơn vị. 

Cùng với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội, hệ thống tổ chức đoàn và đội ngũ cán bộ đoàn, cán bộ đảm nhiệm công tác thanh niên trong Quân đội được quan tâm, chăm lo giáo dục, đào tạo, bồi dư­ỡng phát triển từ cơ sở đến toàn quân. Khởi nguồn từ một chi đoàn, ngày nay, tổ chức đoàn được xây dựng trong toàn quân, trải khắp mọi miền, trở thành lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Sự kiện Chi đoàn Thanh niên Cứu quốc trong Quân đội ra đời khẳng định nguyên tắc Đảng luôn nắm chắc, liên hệ mật thiết với lực lượng quần chúng, thấy rõ vai trò và sức mạnh của quần chúng để tổ chức tập hợp quần chúng; đồng thời đáp ứng nguyện vọng thiết tha của thanh niên Quân đội là được sống, học tập và rèn luyện trong tổ chức của những ngư­ời cộng sản trẻ tuổi để thi đua phấn đấu, cống hiến tài năng, sức lực, trí tuệ cho cách mạng. 

Đặc biệt, sự kiện Chi đoàn Thanh niên Cứu quốc trong Quân đội ra đời còn là một mốc son lịch sử quan trọng đối với sự ra đời, phát triển của công tác đoàn và phong trào thanh niên trong Quân đội. Kể từ đó, cùng với các tổ chức khác trong Quân đội, tổ chức đoàn, hệ thống cơ quan thanh niên và nay là hệ thống phòng, ban (trợ lý) công tác quần chúng (thanh niên) các cấp cho đến Ban Thanh niên Quân đội đã không ngừng phát triển, lớn mạnh, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ những căn cứ lịch sử, thể theo nguyện vọng của các thế hệ cán bộ, đoàn viên, thanh niên trong Quân đội, ngày 20/6/2016, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã ký Quyết định số 1034/QĐ-CT, công nhận ngày 8/2/1952 là ngày Truyền thống của Thanh niên Quân đội và Ban Thanh niên Quân đội.

 

 

“Phi chính trị hóa” quân đội – thủ đoạn cũ nhưng ngày càng tinh vi, sảo quyệt

“Phi chính trị hóa” quân đội là một chiêu bài, âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm, tinh vi, sảo quyệt, thâm độc trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta. Vì thế, đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội trở thành tất yếu khách quan, một nội dung đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng quân đội về chính trị trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng cũng chỉ rõ một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là: “Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hoá” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an”.

Mục đích của âm mưu “Phi chính trị hóa” quân đội là tách Quân đội nhân dân Việt Nam ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phá hoại nền tảng tư tưởng của quân đội, xuyên tạc, phủ định mục tiêu, lý tưởng và bản chất, truyền thống của quân đội ta… từ đó làm mất bản chất giai cấp công nhân của quân đội, mất phương hướng và mục tiêu chiến đấu, không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn này.
“Phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nói chung, “phi chính trị hóa” quân đội nói riêng là một thủ đoạn không mới, nhưng cực kỳ nguy hiểm, bởi nội dung của âm mưu này hết sức đa dạng, với nhiều biểu hiện khác nhau. Thực chất của những toan tính phản động đó là phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam. Để thực hiện điều đó, lực lượng thù địch, phản động ra sức tuyên truyền phủ nhận quan điểm, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân; xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối quân sự của Đảng ta. Đặc biệt, thời gian gần đây, chúng tăng cường xuyên tạc, phủ nhận chức năng, nhiệm vụ của quân đội nhân dân; xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng về công tác QP-AN, xây dựng LLVT nhân dân, xây dựng nền QPTD gắn với thế trận ANND…
Để âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, các thế lực thù địch không từ bỏ bất cứ một phương thức, biện pháp nào, trong đó, chúng triệt để lợi dụng mạng internet để thực hiện mưu đồ đen tối, như: Sử dụng các website, các trang mạng xã hội, blogger… để lôi kéo, tuyên truyền kích động bạo lực, khủng bố, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; cổ xúy tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục; đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân… Hoạt động chống phá diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi vì đối tượng chúng hướng đến để tuyên truyền những thông tin, luận điệu xuyên tạc là các tầng lớp nhân dân, nhưng trọng tâm, trọng điểm là thế hệ trẻ, trong đó có quân đội.

Ba2505