Thứ Hai, 10 tháng 2, 2025

NHẬN DIỆN, PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG VỀ VIỆC THỰC HIỆN NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

 Tòng quân - Nhập ngũ - Thực hiện nghĩa vụ quân sự là truyền thống, nét đẹp văn hóa của các thế hệ thanh niên Việt Nam. Đó không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân với Tổ quốc mà còn là sự thể hiện tình yêu quê hương đất nước; là mong muốn được rèn luyện, trưởng thành trong môi trường quân ngũ của thế hệ trẻ.

 

Tuy nhiên, trước ngày hội tòng quân hàng năm, trên không gian mạng thường xuất hiện các thông tin sai trái, xuyên tạc nhằm bôi nhọ hình ảnh, truyền thống của Quân đội, tạo dư luận xấu, gây tâm lý hoang mang đối với giới trẻ, gieo rắc tâm lý tiêu cực, thoái thác trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân với Tổ quốc. Vì vậy, phòng, chống các luận điệu xuyên tạc về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là vấn đề thường xuyên và cấp bách hiện nay.

 

CÔNG DÂN PHẢI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ QUÂN SỰ VÀ THAM GIA XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN

 

Tham gia nghĩa vụ quân sự là quyền và trách nhiệm của mỗi công dân. Điều này không chỉ đúng ở Việt Nam mà còn là quy định trong luật pháp của nhiều quốc gia trên thế giới. Chẳng hạn như, tại Thụy Sĩ, tất cả nam thanh niên từ 19 - 26 tuổi đều phải đăng ký nhập ngũ và phục vụ trong quân đội ít nhất 260 ngày, trong đó có 18 tuần huấn luyện và 7 lần gọi tái nhập ngũ, mỗi lần kéo dài 3 tuần trong suốt 10 năm tiếp theo. Tại Hàn Quốc, nam công dân tuổi đời từ 18 - 35 đều thực hiện nghĩa vụ quân sự trong khoảng thời gian 21 tháng và không được phép có ngoại lệ. Theo đó, những ai đủ tiêu chuẩn mà từ chối thi hành nghĩa vụ quân sự sẽ bị phạt tù. Singapore cũng quy định mọi công dân nam đều bắt buộc thực hiện nghĩa vụ quân sự quốc gia khi đủ 18 tuổi, những người vi phạm đều phải đối mặt án phạt tiền lên tới 10.000 đô la, án tù lên tới ba năm hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt nói trên...

 

Tại Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân”; “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân... Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh”.

 

Thể chế hóa Hiến pháp, Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định: “1. Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân. Thực hiện nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của Quân đội nhân dân; 2. Công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định...”.

 

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng đã xác định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”.

 

Chính sách và chiến lược quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta là tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc... Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước.

 

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

 

Một sự thật hiển nhiên là, tùy vào tình hình chính trị, quân sự của mỗi quốc gia trên thế giới, chế độ nghĩa vụ quân sự được thực hiện theo những cách khác nhau chứ không phải như những luận điệu xuyên tạc cho rằng, chỉ có Việt Nam mới đưa ra quy định nghĩa vụ quân sự để “o ép người dân”.

 

Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn đã tìm mọi cách kích động người dân chống đối việc thực hiện nghĩa vụ quân sự. Cùng với đó, một số kẻ xấu còn “vẽ đường bày mưu” hướng dẫn thủ đoạn “lách luật” khi khám tuyển cho những thanh niên thiếu ý thức, như: tạo “vấn đề” về sức khỏe, lấy lí do đi làm ăn xa, đút lót hối lộ... để trốn thực hiện nghĩa vụ, gây khó khăn cho công tác tuyển quân, tạo nên những nguy cơ bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thậm chí chúng còn lôi kéo, xúi giục quân nhân đang thực hiện nghĩa vụ quân sự đào ngũ, gây áp lực cho tổ chức, hoặc đưa ra những đòi hỏi, yêu cầu vô lý với chính quyền cơ sở.

 

Thông qua một số trang web, chúng cắt ghép, đăng tải các cảnh bạo lực trong quân đội nước ngoài, cảnh quân đội tham chiến ở một số khu vực trên thế giới rồi lồng ghép lời bình xuyên tạc là “chuyện ở trong quân ngũ Việt Nam”. Những hình ảnh, video, lời bình mà chúng tung lên mạng thường lập lờ, võ đoán, không rõ địa chỉ cơ quan, đơn vị cụ thể; lời lẽ miệt thị, kích động, vu khống... làm cho không ít thanh niên và gia đình “bán tín bán nghi” dẫn đến “tự diễn biến”, đắn đo, do dự khi nhận thông báo khám tuyển và lệnh gọi nhập ngũ.

 

Trong nhiều trường hợp, chúng cổ xúy cho suy nghĩ và lối sống cá nhân vị kỷ, kích động tâm lý so bì, toan tính thiệt hơn khi nhập ngũ … Nguy hiểm hơn, nhằm xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, cứ trước mỗi mùa tuyển quân, chúng lại sử dụng, cắt ghép hình ảnh rồi tung mạng một số vụ việc cũ, hy hữu để kích động, xuyên tạc. Cùng với đó, chúng thường xuyên đưa ra các luồng tin đồn thất thiệt với những hình ảnh, clip video có sự can thiệp của công nghệ, có nội dung thông tin chưa được kiểm chứng, trong đó chủ yếu là nội dung về cảnh bạo lực, quân phiệt hay “cái chết oan ức” trong quân đội... Sau đó, chúng đặt các câu nghi vấn, bình luận lập lờ để reo rắc hoài nghi và kích động “cư dân mạng” nhất là giới trẻ. Đây thực chất là chiêu bài tâm lý để lừa bịp, “đánh” vào những người nhẹ dạ, cả tin, gây hoang mang dư luận xã hội, nghi ngờ, mất niềm tin trong nhân dân, làm cản trở, gây khó khăn trong thực hiện công tác tuyển quân tại các địa phương.

 

Cần phải khẳng định lại, những nội dung thông tin mà các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu tung lên mạng xã hội hầu hết có nội dung hoàn toàn bịa bặt hoặc chỉ phản ánh một phần của vấn đề - một vài hiện tượng cá biệt, hy hữu chứ không phải là bản chất của Quân đội. Điều nguy hại là không ít “cư dân mạng” vô tâm, vô ý thức chỉ vì muốn “câu view” “câu like” nên đã “hồn nhiên” đăng tải lại, chia sẻ, phát tán những nội dung xuyên tạc, phản động, không đúng bản chất... Điều này đã vô tình tiếp tay cho những dụng ý đen tối và dã tâm của các thế lực, phần tử xấu. Vì vậy, đi cùng với nhận diện đúng để kiên quyết đấu tranh với những toan tính thâm độc, cũng cần phê phán, lên án mạnh mẽ với những hành vi “tiếp tay” - dù là không có chủ ý - của những cá nhân thiếu ý thức.

 

NHẬN THỨC ĐÚNG VẤN ĐỀ ĐỂ CÓ CÁI NHÌN CHÍNH XÁC

 

Thực tế ở Việt Nam cho thấy, tham gia vào môi trường quân ngũ, thanh niên được rèn luyện mọi mặt cả về thể chất, tri thức và tinh thần. Họ được học tập, tiếp thu những kiến thức về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ; được rèn luyện tính kỷ luật và tác phong chính quy.

 

Môi trường Quân đội giúp thanh niên rèn luyện sức khỏe dẻo dai, thể lực bền bỉ; có tác phong chững chạc; có tinh thần, trách nhiệm cao hơn với công việc; có ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh; giải quyết các mối quan hệ xã hội, giao tiếp, ứng xử đúng chuẩn mực, có văn hóa.

 

Dù mang tính đặc thù của hoạt động quân sự, song trong môi trường quân ngũ, thanh niên vẫn được khẳng định bản thân, ngày càng trưởng thành hơn, sẵn sàng đối mặt với thử thách và vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.

 

Môi trường quân ngũ còn tôi luyện cho thanh niên ý thức tự giác, ý chí vươn lên, tinh thần trách nhiệm với tập thể, biết lắng nghe quan tâm, chia sẻ với mọi người. Thời gian học tập, rèn luyện trong môi trường quân ngũ là cơ sở, tiền đề quan trọng, vững chắc để thanh niên trưởng thành hơn sau khi ra xã hội lập thân, lập nghiệp, cống hiến cho sự phát triển của địa phương, đất nước.

 

KHÔNG NGỪNG TUYÊN TRUYỀN, ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG ÂM MƯU CHỐNG PHÁ VÀ CÁC LUẬN XUYÊN TẠC

 

Tiếp tục xây dựng và giữ gìn, phát huy hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”

 

Trước sự vận động, phát triển không ngừng của yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, truyền thống vẻ vang của Quân đội, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” vẫn luôn được giữ gìn, phát huy. Đại đa số cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã tích cực tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững và phát huy những chuẩn mực văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. Tuy nhiên, do sự tác động của mặt trái của nền kinh tế thị trường, một bộ phận cán bộ, chiến sĩ chưa nhận thức đầy đủ, chưa nêu cao trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện. Một số sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, dao động trước diễn biến phức tạp của tình hình, phát ngôn thiếu tính xây dựng...

 

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, truyền bá tư tưởng “phi chính trị hóa” quân đội; xuyên tạc truyền thống Quân đội; xuyên tạc hình ảnh, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”… với mưu đồ thâm độc là làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, niềm tin vào Đảng, chế độ trong mỗi cán bộ, chiến sĩ; xóa nhòa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tách rời Quân đội với Đảng và nhân dân…

 

Vì vậy, trong tình hình mới, việc giữ gìn, phát huy hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” vừa là yêu cầu khách quan, vừa là trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ. Theo đó, phải thường xuyên làm tốt công tác giáo dục góp phần thấm nhuần tư tưởng “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(1). Cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm tăng cường công tác lãnh đạo tư tưởng, giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ. Chú trọng đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phù hợp với từng nhóm đối tượng; đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao trách nhiệm, cổ vũ gương “người tốt, việc tốt” trong giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Tiếp tục quán triệt, thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới” gắn với đẩy mạnh việc học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh...

Thực hiện nghĩa vụ quân sự không chỉ là chấp hành pháp luật của Nhà nước, mà còn là nghĩa vụ thiêng liêng cao cả của công dân đối với dân tộc, với Tổ quốc. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, hàng triệu thanh niên Việt Nam đã xung phong lên đường chiến đấu, trở thành những chiến sĩ kiên trung, bất khuất. Ngày nay, trong thời bình, ổn định và hợp tác quốc tế, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” lại càng sống động hơn khi sát cánh cùng nhân dân vượt qua thiên tai, dịch bệnh; luôn sẵn sàng bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; đồng hành cùng đồng bào biên giới, miền núi, hải đảo, vùng sâu vùng xa trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới...

 

Đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến để nhân dân nhận thức đúng đắn và thực hiện nghiêm Luật nghĩa vụ quân sự.

 

Chú trọng thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Tích cực tuyên truyền Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015, làm cho mọi tầng lớp nhân dân nhận thức đúng: Luật Nghĩa vụ quân sự là cơ sở để thanh niên thực hiện quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc - nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân đã được ghi nhận tại Hiến pháp 2013. Công dân đến tuổi quy định phải có bổn phận, trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ quân sự đối với Tổ quốc, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp; việc cố tình không chấp hành sẽ bị xử lý nghiêm theo pháp luật.

 

Vận dụng linh hoạt nhiều biện pháp, cách thức tuyên truyền giáo dục khác nhau làm cho mọi người dân đều hiểu và thực hiện tốt nhiệm vụ này. Trong đó cần kết hợp tuyên truyền thường xuyên với tổ chức các đợt tuyên truyền cao điểm trong “mùa tuyển quân”; kết hợp giáo dục, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng với lồng ghép phổ biến luật trong hoạt động của các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội. Tuyên truyền tập trung làm rõ nội dung cơ bản về thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự, giúp công dân hiểu rõ nghĩa vụ thiêng liêng cũng như các chế độ, chính sách mà quân nhân, gia đình quân nhân được hưởng trong thời gian tại ngũ, khi xuất ngũ.

 

Cấp ủy, chính quyền địa phương, nhất là cấp huyện, cấp xã thường xuyên theo dõi, giám sát chặt chẽ công tác tuyển quân của địa phương mình; xét tuyển đảm bảo công bằng, công khai, đúng luật. Đối với các trường hợp thuộc diện tạm miễn, tạm hoãn phải được niêm yết ở trụ sở UBND cấp xã, nhà văn hóa thôn…, thông báo trên hệ thống truyền thanh của địa phương để nhân dân theo dõi, giám sát; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động; phổ biến đầy đủ những chế độ, tiêu chuẩn được hưởng của chiến sĩ nghĩa vụ. Đồng thời, xử lý nghiêm các hành vi trốn tránh, cản trở, chống đối trong công tác khám, tuyển quân; kịp thời biểu dương, động viên những gia đình, địa phương làm tốt công tác này; quan tâm, tổ chức thăm hỏi, tặng quà, động viên thanh niên và gia đình trước ngày lên đường nhập ngũ, tạo khí thế sôi nổi, trang nghiêm, ý nghĩa trong ngày giao nhận quân.

 

Gia đình cần động viên, giáo dục, khuyến khích con em nhận thức đúng trách nhiệm đối với đất nước, tích cực tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự khi đến tuổi quy định. Đoàn viên thanh niên nêu cao ý thức hành động theo khẩu hiệu: “Tuổi trẻ Việt Nam xây hoài bão lớn, rèn đức, luyện tài, đoàn kết, sáng tạo, xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

 

Đa dạng các hình thức tuyên truyền về đời sống quân ngũ để nhân dân, nhất là giới trẻ có cái nhìn khách quan, đúng đắn.

 

Tăng cường các chương trình truyền hình thực tế về môi trường quân ngũ, đăng tải rộng rãi trên các phương tiện truyền thông; tổ chức thường xuyên hơn mô hình học kì quân đội cho học sinh, sinh viên, tổ chức huấn luyện quốc phòng an ninh cho đối tượng học sinh THPT tại các đơn vị bộ đội phù hợp... Đối với tân binh, Quân đội và đơn vị cần có nhiều hơn những biện pháp, cách thức liên lạc giữa gia đình với đơn vị, để gia đình có thể nắm được tình hình huấn luyện và sự trưởng thành của con em; tổ chức những buổi gặp gỡ giữa các chiến sĩ với tân binh và những đối tượng trong độ tuổi tham gia nghĩa vụ quân sự để họ được tìm hiểu kĩ hơn về môi trường quân ngũ; lan toả mạnh mẽ và rộng rãi những hình ảnh đẹp trong môi trường quân đội trên các phương tiện truyền thông để mọi người dân cảm nhận được sự ưu việt của môi trường này, từ đó yên tâm động viên con em tham gia nghĩa vụ quân sự.

 

Kịp thời phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh không khoan nhượng với các hoạt động chống phá trên không gian mạng về khám tuyển nghĩa vụ quân sự.

 

Phát huy vai trò của các cơ quan chức năng trong kiểm soát các nguồn thông tin đăng tải, nhất là những luồng thông tin phi chính thống có liên quan đến các cá nhân và tổ chức phản động. Kịp thời ngăn chặn và xử lý các thông tin xấu độc, ngăn chặn, hạn chế việc chia sẻ các luồng tin sai trái, xuyên tạc. Khi đã xác minh được vấn đề cần có biện pháp xử lý nghiêm minh với những cá nhân, tổ chức có biểu hiện chống phá.

 

Để nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ nhận biết rõ về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và kẻ xấu về công tác tuyển quân, mỗi công dân khi tham gia mạng xã hội cần phải chấp hành nghiêm Luật An ninh mạng; tỉnh táo khi tiếp nhận, chia sẻ thông tin để hạn chế thấp nhất những vi phạm có thể mắc phải, không để mắc mưu các thế lực thù địch. Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên, hội viên đoàn thể chính trị - xã hội cần gương mẫu, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động người thân, hàng xóm không tham gia chia sẻ, bình luận theo kiểu “a dua” “vào hùa” trước những luận điệu xấu trên không gian mạng về công tác tuyển quân. Mặt khác, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động thanh niên sẵn sàng nhập ngũ, thực hiện nghĩa vụ, hoàn thành nghĩa vụ, trách nhiệm của mình với quê hương, đất nước. Mỗi người dân, mỗi gia đình tuyệt đối không nghe theo, làm theo thông tin sai sự thật, sự kích động lan truyền trên mạng xã hội do các thế lực thù địch phát tán.

 

Mặt khác, cần xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm luật nghĩa vụ quân sự, lên án những hành vi, việc làm thiếu ý thức, trách nhiệm của một người công dân với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.../.

PHÁT HUY VAI TRÒ NHÂN DÂN TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG BUÔN LẬU, HÀNG GIẢ, HÀNG KÉM CHẤT LƯỢNG

Việc phát huy vai trò của nhân dân trong cuộc chiến chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng thời đại hội nhập kinh tế phát triển là hết sức quan trọng.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Vì vậy, bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng đắn, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, việc phát huy mạnh mẽ vai trò của nhân dân trong cuộc chiến đấu tranh chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng trong thời đại hội nhập kinh tế phát triển hiện nay là hết sức quan trọng.

C.Mác từng viết “Không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào không có quyền lợi” (Trích C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, H.1995.1.16,tr.25). Trên thực tế, ở bất kỳ quốc gia nào, tất cả nhân dân ở quốc gia nào cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật.

Nhân dân có quyền tham gia vào công việc quản lý nhà nước, phê bình, kiểm tra, kiểm soát, giám sát mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước. Mọi nguồn lực mà Bác Hồ khẳng định chân lý đó qua câu nói “Gốc có vững cây mới bền xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”

Thực tế lực lượng nhân dân rất lớn, khả năng của nhân dân là phi thường. Trong tất cả mọi vấn đề, nếu có nhân dân là có tất cả. Vì vậy, tất cả các lĩnh vực nhà nước quản lý, vai trò của quần chúng nhân dân là không thể thiếu.

Một vài điều về công tác chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng

Công tác chống buôn lậu có ảnh hưởng đến thành quả cách mạng, công cuộc đổi mới của đất nước. Bởi tác hại lâu dài của hàng lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng đến người dân và nghiêm trọng hơn làm giảm uy tín của Đảng nhà nước trong nhân dân. Những nhân tố tác động đến tệ nạn buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng gồm:

Nhân tố kinh tế: Do ham mê lợi ích kinh tế trước mắt, lợi ích của bản thân mà các chủ thể hoạt động bất chấp tất cả. Đồng thời, nền kinh tế nước ta chuyển đổi nhưng vẫn còn hạn chế về dây chuyền sản xuất, trong khi sản phẩm của các nước có chất lượng cao kèm theo mẫu mã đẹp, do vậy tính cạnh tranh của hàng hóa trong nước ta rất thấp.

Nhân tố xã hội: Đời sống kinh tế khó khăn, nhiều người dân bị lôi kéo, tiếp tay trong buôn bán hàng lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng,….Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn làm góp phần nẩy sinh một bộ phận muốn làm giàu nhanh chóng bằng con đường phi pháp.

Nhân tố văn hóa: Việc giao lưu văn hóa và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, ảnh hưởng nhiều đến tâm lý người dân. Trong đó, tâm lý sính ngoại, thiếu coi trọng hàng Việt đặc biệt giới trẻ hiện nay, chịu ảnh hưởng nhiều phim, ca nhạc, truyền hình có khuynh hướng lăng xê tiêu dùng hàng ngoại.

 

Nhân tố về hệ thống pháp luật: hệ thống pháp luật của nước ta gắn liền với hoạt động kinh tế, đời sống nhân dân, đa dạng các lĩnh vực, tuy nhiên vẫn chưa được đồng bộ hóa, nhiều văn bản pháp luật vẫn còn sơ hở, thiếu sót.

Nghiên cứu chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng cần phân tích và không bỏ qua các nhân tố tác động có mối quan hệ chặt chẽ ảnh hưởng đến kết quả chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng. Nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả xã hội và tạo được chuyển biến căn bản về đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 09/6/2015 việc đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giá trong tình hình mới; Ban chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại đã ban hành Quyết định số 05/QĐ-BCĐ389 ngày 23/9/2015 ban hành kế hoạch triển khai Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ.

Vai trò của nhân dân trong công tác chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng

Chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng không phải là nhiệm vụ chuyên biệt của các cơ quan chức năng mà là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân. Sự quan tâm của các cấp, chính quyền địa phương là yếu tố quan trọng quyết định đến kết quả kiểm tra công tác chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng. Một nhân tố then chốt khác là sự tham gia của quần chúng nhân dân.

Lực lượng quản lý thị trường là một trong những cơ quan chức năng đã làm tốt việc tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân nhận thức rõ tác hại của tệ nạn buôn lậu, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, giúp chúng nhân dân tích cực chống tệ nạn buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng. Bởi tệ nạn này không chỉ gây thiệt hại về mặt kinh tế, phá hoại sản xuất mà nghiêm trọng hơn còn là nguy cơ đối với tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội.

Hàng năm, Bộ Công Thương đều ban hành Kế hoạch công tác đấu tranh, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, trong đó chú trọng và xây dựng kế hoạch công tác tuyên tuyền. Theo đó, Tổng cục Quản lý thị trường và các đơn vị trực thuộc đều xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Lực lượng quản lý thị trường đã tuyên truyền đến từng hộ kinh doanh, từng cơ sở kinh doanh và kể cả người tiêu dùng để tuyên truyền vận động bằng nhiều hình thức như cam kết, dán tờ rơi, khuyến cáo, dán decan đường dây nóng, treo băng rôn, tổ chức hội nghị, loa di động, … đặc biệt cập nhật rất nhiều thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Quản lý thị trường và các Cục Quản lý thị trường địa phương. Chính các hoạt động này đã góp phần nâng cao tích cực nhận thức trong quần chúng nhân dân, kêu gọi mọi người phát huy trách nhiệm của mọi tầng lớp nhân dân, tích cực tố giác về buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng. Trong đó, có rất nhiều nguồn thông tin chính xác và hiệu quả.

Lực lượng Quản lý thị trường phải quản lý phạm vi rộng, nhưng lực lượng mỏng, trang bị phương tiện còn thiếu, trong khi nhiệm vụ, yêu cầu công tác chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng phải dựa vào sức dân, động viên sức mạnh của quần chúng nhân dân theo lời Bác Hồ dạy “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Để làm tốt công tác tuyên truyền, chuyển biến nhận thức của quần chúng nhân dân, cần phải:

 

Thứ nhất, chú trọng công tác giáo dục tư tưởng văn hóa, nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân trong công tác chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng nhằm đề cao tinh thần yêu nước, gắn liền với lối sống cần kiệm và bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Thứ hai, thường xuyên thông tin cho người dân các thủ đoạn buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng để quần chúng nhân dân phát huy tinh thần yêu nước, tích cực tham gia chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng.

Thứ ba, phát huy sức mạnh của công luận trong vấn đề ích nước, lợi dân, tôn vinh doanh nghiệp chân chính, đề cao lối sống tín nghĩa, cao thượng, tẩy chay các doanh nghiệp bẩn.

Thứ tư, phát triển mạnh mẽ truyền thông hơn nữa về lực lượng Quản lý thị trường cũng như các cơ quan chức năng trong công tác chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng để quần chúng nhân dân tin tưởng hơn nữa lực lượng Quản lý thị trường, các cơ quan chức năng. Từ đó, quần chúng nhân dân đứng về cùng chiến tuyến với lực lượng Quản lý thị trường, cơ quan chức năng trong công tác chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng./. 


TÌNH CẢM ẤM ÁP CỦA BÁC HỒ VỚI ĐỒNG BÀO CÔNG GIÁO

Ngày nay, Lễ Giáng sinh không chỉ là ngày lễ hàng năm của đồng bào công giáo mà còn là ngày hội văn hóa của người dân mọi miền, thể hiện sự đoàn kết trong niềm vui chung. Ôn lại những bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào công giáo, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, chúng ta cảm nhận muôn vàn tình thương yêu của Người dành cho đồng bào, vững tin bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Lời hiệu triệu, kêu gọi đoàn kết dân tộc

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao các giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo, tín ngưỡng, quan tâm đến đời sống tinh thần của giáo dân. Sau ngày Độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 3.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu 6 vấn đề cấp bách, trong đó có vấn đề thứ sáu: “Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”. Theo Người, đó là một quyền tự do cơ bản của con người.

Trong thời khắc thiêng liêng của đất trời mùa Giáng sinh, chuẩn bị bước sang năm mới 2025, chúng ta nhớ về 79 năm trước, trong dịp Lễ Noel đầu tiên sau ngày nước nhà độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh - trên cương vị Chủ tịch Chính phủ Dân chủ Cộng hòa Việt Nam đã viết thư gửi các vị linh mục và đồng bào công giáo cả nước. Bằng tình cảm ấm áp, sự kính trọng và am hiểu sâu sắc, Người viết:

“Cách một nghìn chín trăm bốn mươi nhăm năm trước, cũng ngày hôm nay, một vị thánh nhân là đức Chúa Giêsu ra đời. Suốt đời Ngài chỉ hy sinh phấn đấu cho tự do, cho dân chủ. Từ ngày Ngài giáng sinh đến nay đã gần 2000 năm, nhưng tinh thần thân ái của Ngài chẳng những không phai nhạt mà tủa ra đã khắp, thấm vào đã sâu”. Trong thư, Người ca ngợi đồng bào toàn quốc, công giáo và ngoại công giáo, đều đoàn kết chặt chẽ, nhất trí đồng tâm như con một nhà, ra sức tranh đấu để giữ gìn nền độc lập của Tổ quốc! “Ở khắp nước, thì đồng bào công giáo và ngoại công giáo đương đem cả lực lượng giúp vào cuộc kháng chiến và kiến quốc! Tinh thần hy sinh phấn đấu tức là noi theo tinh thần cao thượng của đức Chúa Giêsu. Trong lịch sử Việt Nam ta, lần này là lần đầu mà đồng bào công giáo ta làm lễ Noel một cách vui vẻ sung sướng trong nước Việt Nam độc lập tự do. Tôi chắc rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của các vị Giám mục Việt Nam, đồng bào công giáo quyết một lòng với Nhân dân toàn quốc để giữ vững nền tự do độc lập đó".

Bức thư không chỉ thể hiện tấm lòng và sự quan tâm của Người với đồng bào công giáo, mà còn truyền đi lời hiệu triệu, kêu gọi đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo vì mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, kháng chiến, kiến quốc.

Trong giai đoạn này, nền độc lập của đất nước vừa giành được đang đối diện với muôn vàn khó khăn, thử thách của giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Tháng 11.1946, thực dân Pháp chính thức xâm lược miền Bắc nước ta. Ngày 19.12.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, toàn dân đứng lên chống thực dân xâm lược với tinh thần bất khuất: Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

 Lễ Noel năm 1946 diễn ra trong điều kiện kháng chiến, nhưng Người không quên gửi thư cho đồng bào Công giáo, cùng đồng bào toàn quốc: “Trong lúc này, thực dân Pháp gây cuộc chiến tranh, chúng mong cướp nước ta lần nữa. Chúng làm trái hẳn với lòng bác ái của Đức Giêsu. Toàn thể đồng bào ta, không chia lương, giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, để giữ gìn non sông Tổ quốc, mà cũng để giữ gìn quyền tôn giáo tự do”. Các dịp Lễ Noel từ 1947 đến 1954, tuy điều kiện kháng chiến gian khổ, ác liệt, nhưng năm nào Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thay mặt Chính phủ, dành thời gian viết thư thăm hỏi, chúc phúc đồng bào.

Đề cao tinh thần đoàn kết lương giáo

Năm 1950, khi cục diện chiến tranh đã có những chuyển biến mới có lợi cho ta trên các mặt trận kinh tế, chính trị, ngoại giao. Nhân dịp Lễ Noel, Người viết Thư gửi đồng bào công giáo, kêu gọi “chúng ta càng phải ghi nhớ lời dạy của Đức Chúa Phải thương yêu nhau, đùm bọc nhau để chống kẻ hung ác”. “Ngày nay, cuộc kháng chiến cứu nước đang chuyển sang giai đoạn mới, đồng bào càng phải vì Đức Chúa, vì Tổ quốc mà đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, kháng chiến hăng hái hơn nữa, để sớm đến ngày thắng lợi và thái bình. Tôi kính cầu Đức Chúa ban cho đồng bào mọi phúc lành”.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, chấm dứt ách thống trị hàng thế kỷ của thực dân Pháp, trong thư chúc mừng đồng bào công giáo nhân lễ Noel năm đó, Người khẳng định lập trường xuyên suốt và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta liên quan đến tôn giáo:“Nhân dịp này, tôi xin nhắc lại cho đồng bào rõ: Chính phủ ta thật thà tôn trọng tín ngưỡng tự do”, “Nhân dịp Lễ Noel, tôi gửi đồng bào lời chúc mừng thân ái và xin Chúa ban cho đồng bào mọi phúc lành”.

Hai bức thư sau cùng Bác Hồ gửi các hàng giáo sĩ và đồng bào công giáo được viết dịp Noel 1955, 1956, trong thư (1956) có đoạn: “Nhân dịp lễ sinh nhật này, tôi mong các hàng giáo sĩ và đồng bào, đã đoàn kết nay càng đoàn kết hơn, đoàn kết giữa Nhân dân và cán bộ, giữa đồng bào giáo và đồng bào lương”,… “thực hiện củng cố miền Bắc thắng lợi, do đó mà mau thống nhất nước nhà, cho Bắc Nam sum họp như lời cầu nguyện của Chúa Kirixitô: "Nguyện cho hết thảy đồng bào hoàn toàn hợp nhất với nhau"".

Nội dung xuyên suốt thông qua những bức thư nêu trên, Người ca ngợi Đức Thiên chúa giáng thế đã hy sinh cho tự do và bác ái của loài người, cứu loài người khỏi ách nô lệ, đưa loài người về với hạnh phúc, bình đẳng, bác ái, tự do. Đồng thời, Người đề cao tinh thần đoàn kết lương giáo - nhân tố quyết định tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Với tinh thần “Kính Chúa, yêu nước”, bày tỏ tình cảm và sự kính trọng đối với Bác Hồ, đồng bào Công giáo Việt Nam luôn đi theo đường hướng “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc”, “Tốt đời, đẹp đạo”, “Sống Phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phụng sự Tổ quốc và dân tộc” đã đoàn kết cùng đồng bào cả nước, đóng góp sức người, sức của vào công cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc./. 

 


Ý NGHĨA VIỆC TREO CỜ TỔ QUỐC TRONG CÁC DỊP LỄ, TẾT

 

Một quốc gia, dân tộc, đều có Quốc Kỳ riêng của mình. Việt Nam là một quốc gia độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.


Quốc Kỳ Việt Nam là lá cờ đỏ sao vàng, là biểu tượng của hồn Nước, lòng dân, của tình đoàn kết đời đời bền vững của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, biểu tượng này vô cùng thiêng liêng, thể hiện nhiệt huyết cách mạng, sự hy sinh anh dũng của toàn thể nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đánh đuổi quân xâm lược, giành độc lập, tự do cho Tổ Quốc.


Lá cờ đỏ sao vàng - Biểu tượng chung nhất của dân tộc Việt Nam, đã khắc sâu vào tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam và đã được cộng đồng Quốc Tế công nhận và tôn trọng.


Việc treo cờ Tổ Quốc là thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, là ý thức trách nhiệm của mỗi người dân. Treo cờ Tổ Quốc trang trọng trong những ngày lễ lớn, ngày Tết độc lập, Tết cổ truyền của dân tộc, thể hiện lòng yêu nước và tự hào của mỗi công dân Việt Nam, biểu tượng của tinh thần đoàn kết, chung sức, chung lòng phấn đấu xây dựng đất nước, quê hương ngày càng phồn vinh; thể hiện lòng tri ân của chúng ta đối với sự hy sinh xương máu của các thế hệ cha, anh trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.


Việc treo cờ Tổ quốc vào các ngày lễ tết, những sự kiện trọng đại của đất nước đã trở thành nghi lễ quen thuộc thể hiện lòng yêu nước, được thực hiện một cách trang trọng, tạo nét đẹp văn hóa của dân tộc.


Lá cờ đỏ sao vàng là biểu tượng thiêng liêng của Tổ quốc, là tinh thần quyết chiến quyết thắng của dân tộc. Việc treo cờ Tổ quốc trong các dịp lễ, tết không chỉ thể hiện nét văn hóa, lòng yêu nước và tự hào dân tộc mà còn là sự tri ân của chúng ta đối với các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Do đó, cần được giữ gìn và phát huy thành truyền thống và nét văn hóa treo cờ Tổ quốc vào các dịp lễ, Tết.

BẢO VỆ VỮNG CHẮC CHỦ QUYỀN, CÁC QUYỀN VÀ LỢI ÍCH QUỐC GIA TRÊN BIỂN

Sáng 23/12, tại thành phố Hải Phòng, Đảng ủy Quân chủng Hải quân tổ chức hội nghị ra Nghị quyết lãnh đạo năm 2025. Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dự, chỉ đạo hội nghị.

Tham dự hội nghị có Phó Đô đốc Trần Thanh Nghiêm, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Hải quân. Trung tướng Nguyễn Văn Bổng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Hải quân chủ trì. Cùng tham dự có đại biểu cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng, các đồng chí trong Thường vụ Đảng ủy và thủ trưởng Bộ Tư lệnh Hải quân.

Năm 2024, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ, nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc. Nổi bật là: Chủ động nắm chắc, nghiên cứu, đánh giá, dự báo đúng tình hình, tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng các chủ trương giải pháp và xử trí các tình huống trên biển đúng đối sách, hiệu quả, không để bị động, bất ngờ; bảo vệ vững chắc chủ quyền, các quyền và lợi ích quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên biển.

Cấp ủy các cấp đã lãnh đạo duy trì nghiêm chế độ, lực lượng, phương tiện trực sẵn sàng chiến đấu theo quy định; bảo đảm an ninh, an toàn cơ quan, đơn vị, địa bàn, các mục tiêu, công trình trọng điểm; chủ động và triển khai có hiệu quả nhiệm vụ phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn; tổ chức các đoàn đi kiểm tra, thăm quần đảo Trường Sa, Nhà giàn DK1 và vùng biển Tây Nam chu đáo, an toàn, hiệu quả. Quân chủng hiệp đồng chặt chẽ với lực lượng Kiểm ngư, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và chính quyền địa phương tuyên truyền, tuần tra, kiểm soát, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý tàu cá vi phạm IUU.

Đảng ủy Quân chủng thường xuyên lãnh đạo nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, phổ biến, giáo dục pháp luật, lãnh đạo tư tưởng; thực hiện tốt sơ kết 5 năm Chương trình phối hợp tuyên truyền biển đảo, giai đoạn 2019-2024; tổ chức kỷ niệm 60 năm Chiến thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam và quân dân miền Bắc, Đại hội thi đua quyết thắng giai đoạn 20019-2024… tạo được dấu ấn, sức lan tỏa rộng. Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ được triển khai kịp thời, hiệu quả.

Cấp ủy các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác chuẩn bị và tổ chức các cuộc diễn tập bảo đảm chặt chẽ, an toàn. Cán bộ, chiến sĩ tham gia diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ nghiêm túc, an toàn; thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, mẫu mực, tiêu biểu.

Đảng ủy Quân chủng, cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức bảo đảm đầy đủ, kịp thời hậu cần cho các nhiệm vụ thường xuyên và đột xuất; đồng bộ số lượng, chất lượng, tàu, xe, máy bay, trang bị kỹ thuật cho các nhiệm vụ. Hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp tục tăng trưởng. Đối ngoại quốc phòng tiến hành có hiệu quả.

 

Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên. Toàn Quân chủng luôn đoàn kết, kiên định, vững vàng, sẵn sàng nhận hoàn thành nhiệm vụ được giao. Quân chủng dẫn đầu khối thi đua số 3 Bộ Quốc phòng, Đảng bộ Quân chủng được đề nghị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Năm 2025, Đảng ủy Quân chủng Hải quân tiếp tục lãnh đạo quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm, hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương Bộ Quốc phòng về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Toàn Quân chủng duy trì nghiêm sẵn sàng chiến đấu, nắm chắc tình hình, tham mưu đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xử trí kịp thời, đúng đối sách các tình huống, không để bị động, bất ngờ; bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, các hoạt động kinh tế biển… giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên biển; tạo chuyển biến vững chắc về xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật; hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân chủng lần thứ XIII đã xác định.

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến biểu dương kết quả lãnh đạo nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của Đảng ủy Quân chủng Hải quân trên các mặt công tác; nhất là quản lý chặt chẽ vùng biển đảo, giữ vững môi trường hòa bình trên biển; hoạt động đối ngoại quốc phòng hải quân có nhiều dấu ấn nổi bật.

Đồng chí Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nhấn mạnh: Đảng ủy Quân chủng Hải quân tiếp tục quán triệt sâu sắc nghị quyết của Đảng; Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lãnh đạo hoàn thành tốt các chỉ tiêu đã xác định; tập trung lãnh đạo, tổ chức đại hội Đảng làm trước trong toàn quân chặt chẽ, chu đáo;

Tham gia và tổ chức các hoạt động nhân dịp kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025); 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2025); 70 năm thành lập Hải quân nhân dân Việt Nam (7/5/1975 - 7/5/2025) mang tầm vóc của một Quân chủng có bề dày truyền thống./.

 


NỮ BÁC SĨ QUÂN Y ĐAM MÊ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC.

Suốt những năm tháng gắn bó với ngành y, Thượng tá, bác sĩ chuyên khoa II Ngô Thị Tuyết Mai luôn đặt hết tâm huyết, trách nhiệm của mình vào những công trình nghiên cứu khoa học thực tiễn có tính ứng dụng cao.

Bác sĩ Ngô Thị Tuyết Mai sinh năm 1977 (quê ở Ninh Bình), hiện đang công tác tại Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và sản xuất thuốc của Học viện Quân y. Đây là nơi chuyên nghiên cứu ứng dụng để đưa ra các sản phẩm phục vụ chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân. Ngay từ nhỏ, chứng kiến những công việc thầm lặng mà vinh quang, trị bệnh cứu người của bố mình là bác sĩ quân y, chị mong ước sau này sẽ trở thành đồng nghiệp của bố. Tuyết Mai vào đào tạo tại Học viện Quân y năm 29 tuổi và luôn tự hào vì được học tập và rèn luyện ở chính ngôi trường mà bố chị từng theo học. Con nhỏ, chồng chị cũng là bộ đội, thường xuyên phải đi công tác xa nên việc sắp xếp, bố trí thời gian để hoàn thành tốt chương trình đào tạo cũng là một trong những áp lực lớn. Được sự ủng hộ của gia đình, Tuyết Mai đã xuất sắc hoàn thành khóa học, trở thành bác sĩ y học cổ truyền loại giỏi và tiếp tục các chương trình đào tạo bác sĩ chuyên khoa cấp I, bác sĩ chuyên khoa cấp II.

Ngày mới tốt nghiệp, bác sĩ Ngô Thị Tuyết Mai được phân công về Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và sản xuất thuốc của Học viện Quân y. Ban đầu, chị chưa thực sự hứng thú với môi trường nghiên cứu bởi muốn được trực tiếp khám, chữa bệnh tại bệnh viện. Cho tới khi thấy được vai trò của đơn vị nghiên cứu y học cổ truyền hiện đại, chị đã tìm tòi, nghiên cứu, cải tiến các sản phẩm thuốc y học cổ truyền áp dụng vào thực tiễn. Do đó, các nhược điểm của dạng bào chế truyền thống, đơn giản như thuốc sắc, cao đơn, hoàn tán... dần được thay thế tối ưu bằng sản phẩm hiện đại. Chị từng bước nâng cao năng lực chuyên môn và đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Suốt 15 năm gắn bó với Trung tâm, bác sĩ Ngô Thị Tuyết Mai đã chủ trì 1 đề tài nghiên cứu cấp Bộ Quốc phòng, 1 đề tài nhánh cấp Nhà nước về nghiên cứu quy trình công nghệ bào chế viên nang cứng GK1 điều trị suy thận mãn từ bài thuốc GK1. Ngoài ra, bác sĩ Ngô Thị Tuyết Mai còn tham gia 10 đề tài nghiên cứu các cấp (cấp Nhà nước có 4 đề tài; cấp Bộ Quốc phòng có 4 đề tài; 2 đề tài cấp thành phố) và là đồng tác giả của 20 bài báo khoa học trong nước, quốc tế.

Trong số những đề tài khoa học đã được công bố, Thượng tá Ngô Thị Tuyết Mai tâm đắc nhất là Đề tài “Nghiên cứu bào chế và đánh giá tác dụng tăng cường khả năng chịu đựng gánh nặng nhiệt, hỗ trợ phòng, chống say nóng cho bộ đội của viên nang giải thử khang GN16” từ bài thuốc y học cổ truyền. Đây là đề tài cấp Bộ Quốc phòng, bác sĩ Tuyết Mai trực tiếp đề xuất và chủ trì thực hiện. Kết quả đã hiện đại hóa được dạng bào chế viên nang, từ đó đánh giá được tác dụng trên thực nghiệm và thử tác dụng trên bộ đôi đặc công huấn luyện trong điều kiện khắc nghiệt, nắng nóng dễ ảnh hưởng tới sức khỏe. Kết quả nghiên cứu cho thấy sản phẩm viên nang chống say nắng, say nóng GN16 có dạng bào chế hiện đại, dễ sử dụng, bảo quản, đồng thời có tác dụng tăng cường sức chịu đựng nhiệt của cơ thể, tăng khả năng thích nghi với biến đổi nhiệt độ cao về nhịp tim, huyết áp, nhịp thở... Sản phẩm đã góp phần tăng cường thể trạng, giúp cán bộ, chiến sĩ tỉnh táo hơn, ăn ngon hơn, nhanh hồi phục hơn so với những người không dùng sản phẩm.

Thượng tá, bác sĩ chuyên khoa II Ngô Thị Tuyết Mai chính là tấm gương sáng trong Phong trào thi đua “Phụ nữ Quân đội đoàn kết-sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ, xây dựng gia đình hạnh phúc, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”./. 


MỘT Ý TƯỞNG HAY CẦN BÀN KỸ VÀ ĐI VÀO THỰC TIỄN

Ông Trần Quang Phương - Phó Chủ tịch Quốc hội nói về việc phải có quy định cụ thể điều động giáo viên luân chuyển ở vùng sâu, vùng xa như Quân đội không chỉ là sự công bằng cho giáo viên mà là một chính sách, chủ trương đúng cần quyết liệt và tạo sự đồng thuận cao trong ngành giáo dục. 

Thực tế lâu nay, có những người thì phải đi vùng sâu, vùng xa biền biệt hàng chục năm không được về vùng xuôi, lại có những người thì hết lần này đến lần khác đều "né", "khất" luân chuyển, thậm chí có những người cả đời công tác không phải đi vùng sâu, vùng xa bao giờ...

 

Hiện nay, cử tri rất mong muốn ngành giáo dục quyết liệt hơn trong điều động giáo viên giống như quân đội điều động luân chuyển cán bộ, chiến sĩ đi vùng sâu, vùng xa, song một số lại cho rằng khó khả thi vì nếu bỏ qua chuyện lương và thu nhập đi, thì yếu tố quan trọng đầu tiên ấy là tính chất đặc thù về quản lý nhân lực. Trong khi các lực lượng như Quân đội và Công an là 100% biên chế công chức, quản lý theo cơ chế điều lệnh và mệnh lệnh thì ngành giáo dục lại khác???

 

Mặt khác, chủ yếu giáo viên hiện nay đều chỉ là viên chức - tức là lao động hợp đồng, và hợp đồng này được xem xét ký lại hoặc không ký lại theo từng năm, chứ không cố định nên khó đưa vào quy định. Bên cạnh đó, việc quản lý giáo viên là do Uỷ ban nhân dân các cấp quản lý theo Luật công nhân viên chức, trong khi đó Luật Nhà giáo lại thuộc lĩnh vực của Bộ Giáo dục và Đào tạo, không điều chỉnh đến việc quản lý công nhân viên chức do vậy gặp không ít khó khăn.

 

Theo tôi, để giải quyết triệt để vấn đề, cốt lõi vẫn là chính sách đãi ngộ trong luân chuyển. Vì thế việc điều chỉnh chế độ đãi ngộ tốt hơn cho giáo viên công tác ở vùng sâu, vùng xa chắc chắn sẽ tạo được động lực và tính khả thi cho chủ trương này.

 

Ý kiến của ông Phương rất hay, ý nghĩa, thiết thực và rất công bằng cho đội ngũ giáo viên./.

 St

ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN QUYẾT, VỊ TƯỚNG KIÊN TRUNG, GƯƠNG MẪU, TẬN TỤY VÀ SÁNG TẠO

Đại tướng Nguyễn Quyết là vị tướng luôn được phân công đảm đương những vị trí công tác chiến lược ở những giai đoạn bước ngoặt của cách mạng. Năm 1945, khi mới 23 tuổi, đồng chí đã đảm đương cương vị Bí thư Thành ủy Hà Nội, cùng tập thể lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tiếp đó, năm 1947, đồng chí được phân công Nam tiến, đảm đương các chức vụ quan trọng trong Quân khu ủy Quân khu 5, Chính ủy Mặt trận Quảng Đà. Năm 1955, đồng chí Nguyễn Quyết được điều về làm quyền Chính ủy rồi Chính ủy Quân khu Tả Ngạn. Từ năm 1977 đến năm 1986, đồng chí Nguyễn Quyết giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Quân khu ủy Quân khu 3. Đặc biệt, trong dấu mốc Đổi mới năm 1986, đồng chí được điều về đảm đương cương vị Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trong bối cảnh Nghị quyết số 27 của Bộ Chính trị bắt đầu được thực hiện nhưng vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Đồng chí được chỉ định làm Trưởng đoàn đại biểu Đảng bộ Quân đội dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 từ ngày 15 đến 18/12/1986. Sau Đại hội, trên cương vị mới: Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, đồng chí đã có những đóng góp xuất sắc với những dấu ấn đặc biệt, những ý kiến quan trọng giúp Đảng ủy Quân sự Trung ương đề xuất với Bộ Chính trị ra những nghị quyết về nhiệm vụ quân sự - quốc phòng trong tình hình mới. Đây cũng là dấu ấn đặc biệt của vị Đại tướng năm nay đã bước sang tuổi 102.

Đại tướng Nguyễn Quyết tên khai sinh là Nguyễn Tiến Văn. Ông sinh ngày 20/8/1922 tại xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Hưng Yên cũng là mảnh đất sinh ra nhiều vị tướng lĩnh tài ba, kiên trung sớm theo Đảng, theo Bác Hồ và trưởng thành trong các cuộc chiến tranh vệ quốc như Trung tướng Nguyễn Bình, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Thượng tướng Phạm Thanh Ngân, Thượng tướng Lê Quang Hòa, Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên và đặc biệt là Đại tướng Nguyễn Quyết.

Đại tướng Nguyễn Quyết, trong cuộc đời hoạt động và cống hiến của mình, có thể nói, ở đồng chí là sự hội tụ nhiều phẩm chất cao quý của một cán bộ, đảng viên cộng sản: kiên trung, gương mẫu, tận tụy, sáng tạo và nhất là tinh thần đoàn kết máu thịt với Nhân dân. Thế hệ ông, trong đó có ông, trong mọi hoàn cảnh đều luôn tiên phong, gương mẫu, thực hiện đúng nguyên tắc của Đảng, luôn đặt lợi ích chung của Đảng, của dân tộc và quân đội lên trên hết, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn linh hoạt và sáng tạo giải quyết khó khăn thử thách và rất quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đây chính là phẩm chất nổi trội nhất của Đại tướng Nguyễn Quyết.

Trước khi giữ cương vị trọng yếu trong Tổng cục Chính trị, ở Quân khu 3, những năm cuối thập niên bảy mươi đầu thập niên tám mươi của thế kỷ trước, Tư lệnh kiêm Chính ủy Nguyễn Quyết đã để lại một dấu ấn khá sâu đậm về vai trò “chủ soái” trong phong trào “làm giàu, đánh thắng”, “vươn ra biển Đông làm giàu, đánh thắng” ở Quân khu 3. Phong trào này thể hiện rõ sự táo bạo và đổi mới trong cách nghĩ của một cán bộ có tầm chiến lược. Phong trào phát triển nhanh chóng, sâu rộng và có hiệu quả thiết thực, tạo nên một “hiện tượng” đối với toàn quân và cả nước thời gian đó. Nhiều chủ trương, nhiều kinh nghiệm mà quân và dân Quân khu 3 tiên phong thực hiện đã tạo tiền đề cho sự nghiệp đổi mới sau này.

Nhắc đến dấu mốc đổi mới năm 1986, không thể không nhắc đến Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, một người con quê Hưng Yên khi đó đã rất kiên quyết, đi đầu, khởi xướng các phong trào: “Những việc cần làm ngay”; “Nói đi đôi với làm”... mà chắc chắn người đứng đầu của Đảng đã cảm nhận rất sâu sắc từ thực tiễn các thành quả của Quân khu 3 - hậu phương lớn trong chiến tranh cũng là vựa người, vựa của, nơi cung cấp nhân tài vật lực, trí tuệ và cả những đột phá về cách nghĩ, cách làm để làm tiền đề cho công cuộc đổi mới của đất nước.

Khi đảm đương cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Đại tướng Nguyễn Quyết cùng tập thể đã có những tham mưu sâu rộng trong thực hiện điều chỉnh chiến lược lớn trong quân đội, chuyển trạng thái từ thời chiến sang thời bình khi hai đầu đất nước vừa im tiếng súng. Việc điều chỉnh, bố trí lại lực lượng thế trận quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là một việc rất lớn và rất khó. Đặc biệt, việc tham mưu và quyết sách giảm số quân thường trực, coi trọng việc huấn luyện và tổ chức quản lý lực lượng dân quân, tự vệ, dự bị động viên trên cả nước để tạo sức mạnh khơi thông các nguồn lực là những bước đi đúng đắn, phương lược lâu dài để tập trung huấn luyện và rèn luyện bộ đội, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng tiến thẳng lên hiện đại như hôm nay.

Từng trải qua nhiều cương vị trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, từ thực tiễn 30 năm gắn bó với Quân khu 3 - một vùng hậu phương lớn miền Bắc của tiền tuyến lớn miền Nam, Đại tướng Nguyễn Quyết hiểu rất sâu sắc rằng, công cuộc đổi mới của Đảng ta, Nhân dân ta chỉ có thể thắng lợi và phát triển bền vững, từng bước tạo ra những thành tựu về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh thì lực lượng quân đội, tiêu biểu và nòng cốt là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam phải gương mẫu đi đầu và có những tham mưu đề xuất chiến lược, lâu dài, phục vụ mục tiêu lớn nhất là phát triển đất nước, thực hiện dân chủ, công bằng, văn minh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Đại tướng Nguyễn Quyết cùng các đồng chí lãnh đạo trong Tổng cục Chính trị chỉ đạo sâu sát các hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội, xác định then chốt của công tác chính trị là phải giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững và kiên định đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, đường lối quân sự - quốc phòng nói riêng, kiên quyết bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Từ thực tiễn đã chứng minh, thành tích lớn nhất của công tác Đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang nhân dân những năm dưới sự chỉ đạo của Đại tướng Nguyễn Quyết và các đồng chí trong Ban Chủ nhiệm là đã góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, bảo vệ thành công vai trò lãnh đạo của Đảng trước sự chống phá của mọi loại kẻ thù. Trong các báo cáo, đánh giá, tổng kết, sách truyền thống của Quân đội, của Tổng cục Chính trị đều đã chỉ rõ những đóng góp lớn của Đại tướng Nguyễn Quyết trong khoảng thời gian đồng chí đảm đương cương vị Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Khoảng thời gian những năm tám mươi, chín mươi, kinh tế đất nước vô cùng khó khăn. Khi ở cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 3, đồng chí đã cùng với tập thể lãnh đạo Quân khu có những quyết sách linh hoạt và sáng tạo trong các phong trào mà tiêu biểu phải kể đến “Làm giàu, đánh thắng” nổi tiếng một thời. Có thực mới vực được đạo. Người chiến sĩ không thể nào yên tâm công tác, vững chắc tay súng nơi biên giới, hải đảo khi vợ con ở nhà nheo nhóc, cơ hàn. Có hòa bình mà không có ấm no, hạnh phúc tức là chưa làm tròn lời Bác Hồ dạy. Những suy nghĩ, trăn trở của người từng vào sinh ra tử trong các cuộc kháng chiến đã thôi thúc và trở thành hành động cách mạng một cách quyết liệt trong vị tướng luôn hiền hậu từ nụ cười, câu nói. Với bản tính dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và nhất là sự trong sáng như gương không mảy may hạt bụi đã cho ông cùng các đồng chí vững bước, vững chí bền gan thực hiện thắng lợi các công việc ích nước, lợi dân, mạnh quân. Đến bây giờ, vẫn còn rất nhiều câu chuyện như là huyền thoại về Đại tướng Nguyễn Quyết khi ông kiên quyết cho thực hiện phong trào “Làm giàu, đánh thắng” ở Quân khu 3.

Từ tiền đề ấy, khi làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Nguyễn Quyết, bên cạnh các chính sách của Đảng và Nhà nước, trước thực tiễn khó khăn của cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân, ông đã cùng tập thể lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị, cơ quan chức năng của quân đội phải tự thân trực tiếp tháo gỡ khó khăn trong đời sống cho bộ đội. Với phương châm “Trên dưới cùng lo, tổ chức và cá nhân cùng làm”, vẫn với tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, trong khoảng thời gian ông làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đã có hàng chục vạn sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng đã có nhà ở, dù nhỏ thôi nhưng ấm áp vô cùng mà kinh phí của Bộ Quốc phòng chỉ chiếm 20%, còn lại đều do địa phương, đơn vị và cá nhân giúp đỡ và lo liệu. Một con số đã nói lên rất nhiều điều. Hàng chục vạn mái ấm gia đình hạnh phúc chính là thế trận lòng dân, thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, nền tảng để chúng ta thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lâu dài, bền vững.

Hôm nay, trong không khí mùa xuân đổi mới của Đảng, trong vị thế đường hoàng, vững chắc của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế, mỗi người chiến sĩ chúng ta ai cũng rất tự hào được đứng trong đội ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam, bằng trí tuệ và niềm tin cống hiến cho đất nước. Chúng ta càng tự hào và vinh dự khi ở trong đội ngũ trùng điệp ấy, có những vị tướng tài ba, trí tuệ, đã cống hiến toàn bộ cuộc đời mình cho cách mạng, Tổ quốc và Nhân dân. Đại tướng Nguyễn Quyết, vị tướng trường thọ và tiêu biểu của Quân đội ta, vị Thủ trưởng Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đáng kính với những cống hiến xuất sắc của mình, luôn là tấm gương lớn để các thế hệ cán bộ, chiến sĩ chúng ta học tập và noi theo./.

 


THÔNG ĐIỆP CHÚC TẾT ẤT TỴ 2025 CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC LƯƠNG CƯỜNG

 

Nhân dịp Xuân Ất Tỵ 2025, đúng thời khắc Giao thừa thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Lương Cường có thông điệp chúc Tết gửi đến đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước, cũng như cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.


Thưa đồng bào, đồng chí, chiến sỹ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài!


Một mùa Xuân mới - Xuân Ất Tỵ đã đến, mang theo niềm vui, hy vọng và những ước mơ tốt đẹp. Trong thời khắc thiêng liêng chuyển giao năm mới, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi thân ái gửi tới toàn thể đồng bào, đồng chí, chiến sỹ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất. Tôi cũng trân trọng gửi tới bạn bè, nhân dân các nước trên thế giới lời chúc năm mới hòa bình, hạnh phúc, hữu nghị và phát triển.


Năm vừa qua, chúng ta đã trải qua nhiều “Sóng to, gió lớn”, nhưng cũng là một năm gặt hái được nhiều thành tựu rất đáng tự hào. Trong khó khăn, thử thách, tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái, nghĩa đồng bào và ý chí vươn lên của dân tộc ta lại càng được khẳng định mạnh mẽ. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm dẫn đầu thế giới; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao; chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được tăng cường, đối ngoại mở rộng, được bạn bè quốc tế trân trọng, đánh giá cao. Mỗi người dân Việt Nam, ở trong nước hay ngoài nước, từ công nhân, nông dân, doanh nhân, trí thức đến các chiến sỹ nơi biên cương, hải đảo xa xôi đều có quyền tự hào về những đóng góp vào thành tựu chung của Tổ quốc.


Năm 2025 là năm đầy ắp các sự kiện rất quan trọng của đất nước, năm “tăng tốc, bứt phá”, tạo nền tảng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh và thịnh vượng; ý Đảng hòa quyện với lòng Dân về mục tiêu hưng thịnh của Dân tộc. Mặc dù còn nhiều khó khăn, thử thách, song, Việt Nam sẽ luôn tiến về phía trước, không gì có thể ngăn cản khát vọng vươn mình và tương lai tươi sáng của Dân tộc ta. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đoàn kết một lòng, đồng tâm, hiệp lực, nêu cao tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, tận dụng mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để phát triển bứt phá, xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới.


Trong không khí đất - trời giao hòa, lòng người cảm động, hân hoan chào đón Xuân mới, một lần nữa tôi chúc toàn thể đồng bào, đồng chí, chiến sỹ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài một năm mới mạnh khỏe, an khang, thịnh vượng. Năm mới nhất định sẽ giành được nhiều thắng lợi mới.


Chào thân ái!

THỜI CƠ VÀ VẬN NƯỚC



Cả thế giới bao phủ mây mù

Bầu trời Việt Nam chúng ta vẫn sáng

Cả nước vào xuân tương lai rỡ rạng

Đất nước thanh bình, ổn định, yên vui.


Nhìn pháo hoa giăng nước mắt bùi ngùi

Mừng ơn Đảng đẩy lùi tham nhũng

Bóng đá nước nhà thoát ra vùng trũng

Biển, đất liền tiếng súng lặng im.


Dân với Đảng giữ trọn niềm tin

Đảng với Dân nhìn chung một hướng

Cờ Tổ quốc tung bay thắm đượm

Muôn triệu người rạo bước đón xuân.


Các cụ già phấn khởi, bâng khuâng

Các em nhỏ vui diện quần, áo mới

Các cặp uyên ương bên nhau chờ đợi

Thời khắc giao thừa năm mới bình an.


Ta yêu vô cùng đất nước Việt Nam

Khắp ba miền rực đỏ cờ Tổ quốc

Mừng Đảng, mừng Xuân thắm tình non nước

Cả dân tộc Lạc Hồng vững bước vào xuân./.

MONG MUỐN CỦA NGƯỜI DÂN LÀ CÓ MÔI TRƯỜNG SỐNG XANH, SẠCH

Mấy hôm nay trên mạng lại ra rả là mấy luận điệu “cấm xe máy là ép dân vào đường cùng” của mấy kẻ thích làm anh hùng bàn phím! Đúng là cứ nghe phong thanh có chính sách là liền nhảy dựng lên xuyên tạc, kêu nào là dân khổ, nào là chính quyền thế này thế nọ. Mấy vị chắc hẳn đang nghĩ mình là "hiệp sĩ cứu dân," cứ thích dựng lên viễn cảnh u ám để người ta hoang mang. Thử hỏi có ai cấm xe máy cái rụp đâu mà phải "khóc lóc" dữ thế?

Thay vì cứ phàn nàn “chính quyền này chính quyền nọ”, có lẽ nên thử nghĩ xem: các nước phát triển họ cũng từng trải qua chuyện tương tự, rồi cũng vượt qua thôi. Họ hạn chế xe máy để thay vào đó là phương tiện sạch và hiện đại hơn, và kết quả là ai cũng được hưởng lợi cả. Chính quyền làm sao cấm ngay khi chưa có hạ tầng, không phải hôm nay nói cấm là mai xong. Mà đến khi hạ tầng đủ rồi, giá cả phương tiện hợp lý, tự người dân cũng sẽ chuyển đổi vì môi trường sống của chính mình thôi.

Còn mấy cái trò “chống đối, dắt mũi” chỉ là cách để những kẻ lợi dụng kích động tâm lý người dân chứ có phải vì muốn tốt cho ai đâu! Mục đích của họ là gây hoang mang, để làm giảm lòng tin vào chính sách bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Cả nước ai mà không muốn hít thở không khí trong lành, con em mình sống khỏe mạnh? Cứ để cho Hà Nội hoàn thiện hạ tầng và tạo điều kiện thuận lợi, rồi mọi người cũng sẽ thấy là phương tiện sạch là tương lai tất yếu thôi.


 


XUÂN VỀ NHỚ BÁC!

 


Mỗi khi tết đến, xuân về, nhân dân cả nước, trong đó có đồng bào các dân tộc tỉnh Bình Phước lại nhớ đến Bác Hồ - Người đã hy sinh trọn cuộc đời để mang lại những mùa xuân ấm no, hạnh phúc cho đất nước.


Năm Ất Tỵ 2025, nhân dân cả nước nói chung và nhân dân Bình Phước nói riêng có khá nhiều sự kiện kỷ niệm liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự kiện đầu tiên đó là kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-2025) mà Bác Hồ là người sáng lập. Bác là tác giả đầu tiên của Cương lĩnh thành lập Đảng: Chính cương, sách lược vắn tắt; Chương trình hành động vắn tắt, Điều lệ Đảng… đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp vẻ vang của Đảng ta. 


Đảng ta ra đời vào mùa xuân - mùa xuân của đất nước và dân tộc. 11 năm sau sự kiện thành lập Đảng và 30 năm sau kể từ ngày Bác Hồ từ Bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước, xuân Tân Tỵ 1941, Người từ nước ngoài trở về Tổ quốc qua biên giới Việt - Trung, thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Bác về ở hang Pác Bó, trực tiếp cùng Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam kháng chiến, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Giữa một vùng núi non trùng điệp với muôn hoa đua sắc và lòng người rưng rưng, lắng đọng trong giờ phút Bác Hồ đặt bước chân đầu tiên lên đất mẹ tại cột mốc 108 (Pác Bó - Cao Bằng) sau bao năm xa Tổ quốc đã trở thành cảm hứng vô tận cho sự ra đời bài thơ “Mùa xuân năm 1941” của nhà thơ Tố Hữu: “Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt/Trắng rừng biên giới nở hoa mơ/Bác về... im lặng. Con chim hót/Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ...”.


Có sự trùng hợp khá thú vị của lịch sử, ngoài xuân Tân Tỵ, những mùa xuân năm Tỵ tiếp theo đều in đậm dấu ấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp cách mạng nước nhà. 


Mùa xuân Quý Tỵ 1953, sau 8 năm kháng chiến chống Pháp, chúng ta đã thu được nhiều thắng lợi, chuẩn bị bước vào giai đoạn tổng công kích 1953-1954. Bộ đội ta vừa qua chỉnh quân, chỉnh huấn khí thế đang trào dâng, phong trào dân chủ hòa bình thế giới đang có những thay đổi lớn ủng hộ Việt Nam chống thực dân Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Thơ chúc tết xuân Quý Tỵ 1953”. Bài thơ có đoạn: “Mừng năm Thìn vừa qua/ Mừng xuân Tỵ đã tới/ Mừng phát động nông dân/ Mừng hậu phương phấn khởi/ Mừng tiền tuyến toàn quân/ Thi đua chiến thắng mới/ Mừng toàn dân đoàn kết/ Mừng kháng chiến thắng lợi/ Mừng năm mới, nhiệm vụ mới...”.


Thơ chúc tết của Bác như hồi kèn thúc giục toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta lao vào trận tuyến để làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” năm sau (1954).


Xuân Ất Tỵ 1965, Bác Hồ bước vào tuổi 75 và bắt đầu suy nghĩ viết di chúc để lại. Như thường lệ, Bác gửi thơ xuân tặng đồng bào và chiến sĩ cả nước: “Chào mừng Ất Tỵ xuân năm mới/ Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi/ Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi/ Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới/ Đồng bào hai miền thi đua sôi nổi/ Đấu tranh anh dũng, cả nước một lòng/ Chủ nghĩa xã hội ngày càng thắng lợi!/ Hòa bình, thống nhất ắt hẳn thành công!”.


  8 giờ 30 phút mồng 1 tết Ất Tỵ 1965, Bác gặp mặt hơn 2 vạn đại biểu các dân tộc tỉnh Quảng Ninh để chúc mừng năm mới. Người biểu dương thành tích Quảng Ninh đã đạt trên tất cả lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và chiến đấu. Người cũng nhắc nhở quân và dân toàn tỉnh luôn nâng cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng chiến thắng. Người nhấn mạnh đến vai trò của tỉnh trong việc sản xuất than cho Tổ quốc, nêu lên một số phương hướng phấn đấu của ngành than trong những năm tới. Nhân dịp này, Người tặng quân và dân Quảng Ninh cờ luân lưu cho toàn ngành than và thiếp chúc tết cho những đơn vị, cá nhân có thành tích. 


10 giờ 30 phút, từ nơi mít tinh, Bác đến thăm cán bộ, công nhân mỏ than Uông Bí. Dọc đường, Bác dừng lại nói chuyện thân mật với cán bộ, công nhân đoàn địa chất 3. Người nhắc nhở ngành địa chất năm nay phải làm tốt hơn năm ngoái, vì năm 1965 cần có nhiều than hơn, phải thi đua mỗi người làm việc bằng hai.


Gần trưa mồng 1 tết, Bác rời Hòn Gai tiếp tục đi chúc tết nhân dân huyện Yên Hưng. Bác “xông đất” một số gia đình xã viên Hợp tác xã Khe Cát. Các cụ, các cháu trong xóm chạy ra nắm tay Bác, mời Bác vào nhà. Bác rất vui khi thấy trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng gia đình nào cũng có bánh mật, bánh chưng, chè Ba Đình và hoa đẹp. Bác thân mật chúc tết các gia đình, gần gũi thân thương như một người thân đi xa trở về...


Năm nay, đất nước kỷ niệm trọng thể 50 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 -30-4-2025). Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm đặc biệt cho đồng bào miền Nam. Bác nói: “Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi”. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ đầy hy sinh, gian khổ, Bác luôn theo sát từng bước đi của cách mạng miền Nam, trong đó có Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Bình Phước. 


Theo hồi ký của đồng chí Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác, mồng 1 tết Ất Tỵ, tại Quảng Ninh: “Rời Khe Cát, Bác đi bộ một quãng trên quốc lộ. Bỗng Bác dừng lại một cột mốc có khắc chữ: “Lộc Ninh - 1995km”. Nét mặt thoáng buồn, Bác nói với anh em trong đoàn: “Tết này, không biết đồng bào miền Nam ăn tết ra sao?””.


Xuân Kỷ Dậu 1969, Bác có thơ chúc tết đồng bào và chiến sĩ cả nước: “Năm qua thắng lợi vẻ vang/ Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to!/ Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/ Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào/ Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn!”. Lời chúc tết của Bác như lời hịch truyền cổ vũ cuộc đấu tranh cách mạng ngoan cường của dân tộc.


Thực hiện di chúc thiêng liêng của Bác, xuân Nhâm Tý 1972, Chiến dịch Nguyễn Huệ trên chiến trường miền Đông Nam Bộ đã được thực hiện trên địa bàn Bình Phước. Đúng 5 giờ 30 phút ngày 5-4-1972, quân và dân Bình Phước cùng các đơn vị chủ lực đồng loạt nổ súng, đánh chiếm các mục tiêu nhỏ lẻ của địch ở ngoại vi thị xã, bảo vệ hành lang và lần lượt thọc sâu tiến công vào nội thị, tiêu diệt và bắt sống hàng trăm tên địch. Ngày 7-4-1972, Lộc Ninh - huyện đầu tiên của miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Sau khi được giải phóng, Lộc Ninh trở thành thủ phủ của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Vùng giải phóng được mở rộng là một thuận lợi lớn cho việc xây dựng căn cứ. Để phù hợp với tình hình mới có lợi cho cách mạng miền Nam, Bộ Chỉ huy Miền đã dời từ huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh về Căn cứ Tà Thiết. Đây là căn cứ cuối cùng của Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền - một căn cứ dự trữ hậu cần chiến lược và là căn cứ cơ bản của Bộ Chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn, góp phần quan trọng làm nên chiến thắng vẻ vang của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Sáng 1-1-1975, ta bắt đầu nổ súng tiến công vào thị xã Phước Long, tiêu diệt từng mục tiêu của địch. Cuộc chiến diễn ra quyết liệt đến trưa 6-1-1975 thì lá cờ chiến thắng tung bay trên nóc dinh tỉnh trưởng Phước Long. Phước Long hoàn toàn giải phóng. Chiến thắng Phước Long có ý nghĩa cả về chiến thuật, chiến dịch và chiến lược; tạo thế và xây dựng lực lượng ở chiến trường B2; là một thực tiễn lớn để đánh giá khả năng phản ứng của ngụy và khả năng can thiệp trở lại của Mỹ, góp phần hạ quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa xuân Ất Mão 1975.


 Đầu xuân Ất Tỵ 2025, đọc lại Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta có quyền tự hào báo cáo với Người rằng, ước nguyện của Người đã và đang được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện. Đặc biệt, mùa xuân này là dấu mốc quan trọng để dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới với mục tiêu “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” theo đúng ý nguyện của Bác trước lúc đi xa./.

ĐÁM “VỆN VÀNG” THÍCH TỰ SƯỚNG VỚI LÁ CỜ ĐÁNG BỊ LÃNG QUÊN

Sau khi lá cờ vàng 3/// đỏ bị giới trẻ Việt Nam tẩy chay tại Bảo tàng Quân sự Việt Nam, đám “hậu duệ” của quân lực “Việt Nam cộng hòa” tỏ ra cay cú, nhưng rốt cuộc cũng chẳng thể làm gì hơn ngoài việc chế ảnh, tự sướng với nhau. Trên trang tin của đám “việt tân” và nhà rân chủ có tên nhưng chưa có tuổi “Tri nguyễn ông tám” liên tục đăng tải hình ảnh photo shop để tôn vinh lá cờ đáng bị lãng quên này.

Thậm chí một bức ảnh không rõ chụp từ thời điểm nào năm 1953 tại Thủ đô Hà Nội ghi lại hình ảnh lá cờ vàng 3 sọc đỏ được treo tại phố Tràng Tiền khiến đám kền kền cảm thấy vô cùng hãnh diện, hạnh phúc tột cùng, dùng những lời lẽ mĩ miều để ca ngợi, cho rằng đó là bức hình đẹp nhất về Hà Nội từ trước đến nay.

Đúng là, “Thu đi để lại lá vàng, Thiệu đi để lại 1 đàn 3 que”, đây là một comment vui trên mạng xã hội, tuy ngắn nhưng rất xúc tích, đủ troll đám cờ vàng ba sọc đỏ tức nổ đom đóm mắt vì cái thói trơ trẽn bấy lâu nay. Hà Nội là thủ đô ngàn năm văn hiến, với nhiều nét cổ kính, nhưng nếu như hình ảnh mà đám kền kền chia sẻ là có thật, thì đó chắc chắn là hình ảnh đáng quên nhất trong lịch sử của Thủ đô Việt Nam.

Quay ngược dòng lịch sử, năm 1953, khi đó thực dân Pháp và bè lũ tay sai đang quản lý thủ đô Hà Nội, lẽ tất nhiên, chẳng có một hình ảnh nào tử tế, đẹp về một Hà Nội trong thời kỳ bị thực dân đô hộ. Chỉ từ ngày 10/10/1954, dấu mốc của lịch sử với ngày giải phóng Thủ đô, nhân dân nô nức đổ ra đường với ngập tràn cờ đỏ sao vàng, hát vang khúc ca đón chào đoàn quân giải phóng. Từ đó, Hà Nội vốn đã đẹp và càng đẹp hơn bao giờ hết.

Bên cạnh đó, độ tự sướng cao của đám kền kền còn được thể hiện thông quan việc photo shop hình ảnh có là cờ vàng 3/// đỏ tại Bảo tàng Quân sự Việt Nam, trong đó nhiều nhất là trên facebook của rân chủ có tài khoản “Tri nguyễn ông tám”. Nhưng nực cười thay kiểu chống phá quên không mang não của đám kền kền này khi chia sẻ hình ảnh các thiếu nữ mà họ gắn mác “3 cô gái đại diện cho Bắc – Trung – Nam” bên lá cờ vàng 3 /// đỏ; để ý kỹ thì chúng ta thấy rằng, 3 cô gái trong hình ăn mặc với kiểu cách của cô gái Trung Hoa, chứ chẳng liên quan gì đến hình ảnh truyền thống của người con gái Việt Nam.

Có lẽ do không am hiểu về lịch sử, văn hóa, dân tộc Việt Nam, hoặc do bị lưu lạc nơi đất khách quê người nhiều thập kỷ, nên họ quên mất trang phục của người Việt Nam rồi chăng. Và với kiểu chống phá như vậy, thì sự nghiệp “f.ục c.uốc” của đám kền kền mãi mãi chỉ tồn tại trong sự ảo.




 


NHỮNG TƯ TƯỞNG SỐNG MÃI VỚI MÙA XUÂN

 

Một năm khởi đầu từ mùa Xuân!


Những ngày nắng cháy mưa giông, hoa tàn, lá úa đã qua đi. Thời gian chắt gạn những hạt vàng, hạt ngọc của Đời, ươm trồng, ấp ủ để đợi đến mùa Xuân mới tái tạo, sinh sôi. 


Mùa Xuân là mùa của đất trời giao hòa, mùa của hy vọng và ước mơ. Mùa Xuân là mùa của sức sống mãnh liệt, mùa cây lá đâm chồi, nảy lộc, mùa của những mầm non xanh mơn mởn thoát khỏi lớp vỏ bọc xù xì vươn vai đón chào những tia nắng ấm áp diệu kì. Mùa Xuân là sự mở đầu cho một năm mới, kế hoạch mới, dự định mới, tương lai mới. 


Khi tiết xuân về, khí trời ấm áp, từ lòng đất trồi lên những mầm biếc, cây xanh, hoa phô sắc thắm, trăm hồng, ngàn tía đua chen...  Đó là thời khắc thiêng liêng: Trời - Đất - Con người giao hòa, tương hợp. Người dân Việt Nam thắp nén nhang thơm, thành kính nghĩ về tiên tổ, nhớ tới cội nguồn và mang nặng ân tình nhắc mãi tên Người: Hồ Chí Minh.


“Tôi nói đồng bào nghe rõ không...”, lời Người truyền đi như tiếng vọng non sông, ấm áp mọi nhà. Ta nghe tiếng Người như tiếng gọi của mùa Xuân, tiếng gọi của ngàn xưa và tiếng gọi của tương lai! “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”(1). Đó là chân lý của muôn đời! “Sửa sang thế đạo kinh dinh nhân quyền”(2). Đó là việc phải làm của mọi quốc gia, của hôm qua, hôm nay và cả mai sau.


Những tư tưởng về “thành lập chính phủ nhân dân, áp dụng những nguyên tắc “tân kinh tế chính sách” được Người viết từ năm 1926 vẫn đang là công việc nóng hổi tính thời sự để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, dân tộc vươn mình thực hiện mục tiêu cao cả dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 


Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(3), “Đảng là gì? Đảng là mỗi chúng ta. Đảng lớn lên do mỗi chúng ta lớn lên”(4). Đó là những tư tưởng không bao giờ cũ, nó đang chỉ dẫn việc đổi mới, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng luôn mãi là mùa Xuân sáng tươi.


“Vô luận việc gì, đều do người làm ra”(5); “Đầu tiên là công việc đối với con người”(6), “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”(7)... vẫn mãi mãi là những dòng ánh sáng, là “thước đo” trí tuệ, lương tâm, danh dự của mọi nhân cách và chế độ chính trị.


“Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong”(8). Cán bộ tốt là người “vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, đức là gốc”. Phải thường xuyên chăm lo “đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài” và phải thực sự “sửa đổi cách lãnh đạo”. Đó là sức sống mãnh liệt của Đảng, của mùa xuân, làm cho cây đời mãi mãi xanh tươi. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Người luôn luôn “tỏa ra một nền văn hóa... của tương lai”(9).


Xuân đã về! Trong trái tim mỗi người Việt Nam ai ai cũng chứa chan một niềm tin và hy vọng. Và, ở khắp mọi miền đất nước thân yêu:

“Đâu chẳng vang lời Bác thiết tha?

Đời vui, tiếng Bác ấm muôn nhà

Như gió xuân về, đất nở hoa”.

(Thơ Tố Hữu).