Thứ Hai, 10 tháng 2, 2025

TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ, XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN TRONG BỐI CẢNH MỚI

Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là một trong những nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, luôn được Đảng ta coi trọng và xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của Đảng, là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên. Đây là quan điểm, chủ trương cần được quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng; giữ vững và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

 

Nhận thức chung về vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên

 

Sự cần thiết xây dựng tổ chức cơ sở đảng

 

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”(1). Quan điểm về vị trí, vai trò của tổ chức đảng cơ sở, được C. Mác và Ph. Ăng-ghen đưa vào điều 5 Điều lệ “Liên đoàn những người cộng sản” năm 1847 - Đảng cộng sản đầu tiên trên thế giới. Hai ông nêu rõ, để thực hiện sứ mệnh, mục tiêu của mình, Đảng cần đến một hệ thống tổ chức rộng khắp, chặt chẽ, đủ sức mạnh để tập hợp, dẫn dắt phong trào cách mạng. C. Mác viết: “Về cơ cấu, Liên đoàn gồm chi bộ, khu bộ, tổng khu bộ, Ban Chấp hành Trung ương và đại hội”(2). Theo đó, hệ thống tổ chức của Đảng được thiết lập từ Trung ương đến địa phương với thứ bậc và thẩm quyền rõ ràng. Chi bộ (tổ chức cơ sở nền tảng của Liên đoàn): Được lập ở các địa phương, các thành phố, khu vực có đông công nhân; quy định chặt chẽ về hệ thống tổ chức của Đảng, là cơ sở bảo đảm cho Đảng tồn tại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.

 

Trên cơ sở những luận điểm cơ bản C. Mác, Ph. Ăng-ghen về Đảng và xây dựng tổ chức đảng được tổng kết từ thực tiễn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trước sự tấn công liên tục của kẻ thù, V.I. Lê-nin đã tiếp tục đấu tranh bảo vệ tư tưởng của C. Mác, Ph. Ăng-ghen và phát triển hoàn thiện, xây dựng thành học thuyết về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Theo V.I. Lê-nin, việc xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trở thành hạt nhân chính trị lãnh đạo thực hiện đường lối của Đảng ở cơ sở; nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện, quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên; liên hệ chặt chẽ với quần chúng và lãnh đạo quần chúng thực hiện lý tưởng của Đảng, là công việc thường xuyên, liên tục. Trong tác phẩm Làm gì? V.I. Lê-nin dạy rằng, để sự nghiệp cách mạng thành công “đòi hỏi phải có cho toàn nước Nga một tổ chức thống nhất gồm những người cách mạng, một tổ chức có khả năng đảm nhiệm việc lãnh đạo các tổ chức nghiệp đoàn của công nhân trong phạm vi toàn Nga”(3). Đặc biệt, khi đề cập đến việc thành lập tổ chức đảng ở các công xưởng, nhà máy, các địa phương, V.I. Lê-nin chỉ rõ: “Ở tất cả các tổ chức, các hội, các hiệp hội, không trừ một loại nào... phải tổ chức những tiểu tổ hay những chi bộ Cộng sản... những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với Trung ương Đảng”(4). Người yêu cầu, sau khi thành lập, các chi bộ phải thực hiện cổ động, tuyên truyền,... thích nghi với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với mọi tầng lớp quần chúng lao động; giáo dục đội tiên phong của giai cấp vô sản đủ sức nắm chính quyền và dẫn dắt toàn dân tiến lên chủ nghĩa xã hội; qua thực tiễn ở cơ sở để kiểm nghiệm chủ trương, đường lối và bổ sung, phát triển đường lối của Đảng, nhiệm vụ chính trị của các tổ chức đảng.

 

Vận dụng sáng tạo quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về xây dựng Đảng và trong thực tiễn sáng lập, rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”(5). Qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: “Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt”(6); Người viết: “Muốn làm nhà cho tốt thì phải xây dựng nền cho vững, muốn thực hiện kế hoạch tốt phải chăm lo củng cố chi bộ”(7). Các chi bộ, đảng bộ cơ sở là “tổ chức cơ bản của Đảng”; là hạt nhân chính trị ở cơ sở; là “dây chuyền” để Đảng liên hệ với nhân dân. Tổ chức cơ sở đảng là nơi tiến hành các hoạt động giáo dục, rèn luyện đảng viên, phân công công việc cho đảng viên, kiểm tra và quản lý đảng viên; là nơi đào tạo, rèn luyện cán bộ của Đảng. Điều đó cho thấy, chi bộ, đảng bộ cơ sở có vai trò rất quan trọng là nơi trực tiếp nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân phản ánh với Đảng, để Đảng đề ra đường lối, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân, định hướng hoạt động và uốn nắn những lệch lạc của các tổ chức, đoàn thể ở cơ sở.

 

Hoạt động của chi bộ, đảng bộ cơ sở có ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, thanh danh của Đảng trong nhân dân. Người chỉ rõ, chi bộ tốt thì “kinh qua chi bộ mà Đảng càng được dân tin, dân phục, dân yêu”(8). Tổ chức cơ sở đảng thực hiện đưa đường lối, chính sách của Đảng vào nhân dân, tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân hiểu và lãnh đạo nhân dân thực hiện. Tổ chức cơ sở đảng còn là nơi kiểm nghiệm, khẳng định sự đúng đắn của đường lối, chính sách của Đảng, đóng góp cho Đảng những sáng kiến, kinh nghiệm để Đảng bổ sung, hoàn chỉnh đường lối, chính sách và đề ra chủ trương, chính sách mới. Chất lượng của chi bộ, đảng bộ cơ sở là một trong những yếu tố quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Thực tế cho thấy, chỗ nào chi bộ tốt công việc trôi chảy, chỗ nào chi bộ kém, công việc xộc xệch”(9); như vậy, muốn thực hiện tốt đường lối của Đảng phải chăm lo củng cố chi bộ. Chi bộ tốt thì mọi chủ trương, chính sách của Đảng mới được thi hành tốt, mọi công việc sẽ tiến bộ không ngừng; nếu chi bộ yếu kém thì các chủ trương, đường lối của Đảng không đi được vào cuộc sống.

 

Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của tổ chức cơ sở đảng trong quá trình xây dựng Đảng và lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã bổ sung, phát triển những điểm mới, nhất quán khẳng định trong các văn kiện của Đảng qua các kỳ đại hội: Sự vững mạnh của các tổ chức cơ sở đảng là điều kiện bảo đảm cho sự vững mạnh của toàn Đảng. Đảng ta chỉ rõ nhiệm vụ, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Trong công cuộc đổi mới, Đảng tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò to lớn của tổ chức cơ sở đảng: “Những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng được khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân là tổ chức đảng. Nhưng mặt khác sự yếu kém của nhiều tổ chức cơ sở đảng đã hạn chế những thành tựu của cách mạng”(10).

 

Sự cần thiết xây dựng đội ngũ đảng viên

 

Cùng với công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đối với tổ chức cơ sở đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Ngay từ khi chính đảng của giai cấp vô sản ra đời, khi nói về con người của tổ chức đảng, di sản lý luận về Đảng và xây dựng Đảng của C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã chỉ ra rằng, do yêu cầu lãnh đạo, tổ chức phong trào của đảng cộng sản, mà việc xây dựng tổ chức đảng phải chọn được những người tiên phong để xứng đáng với vai trò tiên phong của Đảng. Các ông yêu cầu, họ phải tiên phong trong hành động và tiên phong về lý luận. C. Mác viết: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”(11). Điều này cho thấy, năng lực, tính tiên phong của đảng viên là điều kiện bảo đảm tính tiên phong của Đảng; muốn vậy thì khâu kết nạp người vào Đảng phải được đặc biệt chú trọng.

 

C. Mác, Ph. Ăng-ghen chỉ rõ, muốn trở thành hội viên của Liên đoàn, những người cộng sản phải có: “a. Lối sống và hoạt động phù hợp với mục đích ấy; b. Nghị lực cách mạng và nhiệt tình trong công tác tuyên truyền; c. Thừa nhận chủ nghĩa cộng sản; d. Không tham gia vào mọi tổ chức - tổ chức chính trị hoặc tổ chức dân tộc - chống cộng sản và có nghĩa vụ báo cáo với cơ quan lãnh đạo hữu quan về việc mình tham gia một tổ chức nào đó; e. Phục tùng các nghị quyết của Liên đoàn; f. Giữ bí mật mọi công việc của Liên đoàn; g. Được một chi bộ nhất trí kết nạp. Ai không còn đủ những điều kiện ấy sẽ bị khai trừ”(12).

 

Kế thừa, phát triển tư tưởng của C. Mác, Ph. Ăng-ghen về xây dựng đội ngũ đảng viên của Đảng và hoàn thiện học thuyết về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân trong điều kiện mới, V.I. Lê-nin đã chỉ ra rằng, chất lượng đội ngũ đảng viên là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh của Đảng. Trong tác phẩm “Nhà nước của công nhân và Tuần lễ Đảng”, lãnh tụ V.I. Lê-nin yêu cầu cần “quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đảng viên, đến việc thanh trừ “bọn luồn lọt vào Đảng” ra khỏi hàng ngũ mình, chứ không phải là quan tâm làm tăng thêm số lượng đảng viên”(13); các chi bộ phải giáo dục đội tiên phong của giai cấp vô sản để họ đủ sức làm thầy, làm người dẫn đường, làm lãnh tụ của tất cả những người lao động.

 

Quán triệt, phát triển sáng tạo những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về chất lượng đội ngũ đảng viên của tổ chức cơ sở đảng, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ tầm quan trọng của đảng viên. Người viết: “Mỗi đảng viên tốt, mỗi chi bộ tốt là Đảng được mạnh thêm một phần; đảng viên kém, chi bộ kém là những khâu yếu của Đảng”(14); “Đảng mạnh là do các chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do các đảng viên hăng hái và gương mẫu”(15). Đảng viên là người đóng góp trí tuệ, sáng kiến góp phần xây dựng, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng và trực tiếp thực hiện. Trong quá trình thực hiện, đảng viên là người trực tiếp góp phần quyết định đưa đường đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng vào cuộc sống.

 

Đồng thời, đội ngũ đảng viên còn góp phần kiểm nghiệm, khẳng định tính đúng đắn, phát hiện những điều chưa hợp lý trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng để cấp có thẩm quyền bổ sung, làm cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đúng đắn hơn, để cấp ủy cơ sở sửa chữa, điều chỉnh nhiệm vụ chính trị của cơ sở hoàn chỉnh hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mọi công việc đều do đảng viên làm. Mọi nghị quyết Đảng đều do đảng viên chấp hành… Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện”(15). Người dạy rằng, nếu không có đảng viên thì lý tưởng cộng sản cao đẹp, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị đúng đắn của tổ chức cơ sở đảng sẽ không trở thành hiện thực. Mặt khác, đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, nhiệm vụ chính trị đúng đắn của tổ chức cơ sở đảng là yếu tố rất quan trọng để đảng viên thực hiện đạt kết quả tốt, đảng viên trưởng thành, tiến bộ.

 

Đảng viên là “cầu nối” giữa Đảng với nhân dân, điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng viên là “sợi dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng”(17). Đảng viên là người đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào quần chúng, trực tiếp tổ chức, giáo dục và lãnh đạo quần chúng thực hiện. Họ là người duy trì và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng. Người viết: “Mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng”(18); “Mỗi đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành”(19). Một mặt, được Đảng tổ chức, giáo dục và đưa vào phong trào cách mạng, quần chúng sẽ trưởng thành, mối quan hệ giữa đảng viên và quần chúng ngày càng được tăng cường. Mặt khác, phong trào cách mạng của quần chúng là môi trường tốt nhất để giáo dục, rèn luyện đảng viên và sàng lọc đội ngũ đảng viên. Qua phong trào cách mạng của quần chúng, những đảng viên suy thoái, không đủ tư cách đảng viên, không đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng và yêu cầu của cách mạng sẽ bị đưa ra khỏi Đảng.

 

Nhận thức sâu sắc và bổ sung, phát triển quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của đảng viên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên của tổ chức cơ sở đảng. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI đã khẳng định: "Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam(20). Điều quy định này cho thấy, Đảng là một cơ thể thống nhất, có tổ chức chặt chẽ, mỗi đảng viên là những “tế bào” tạo thành các tổ chức cơ sở đảng và tạo nên Đảng; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của từng tổ chức cơ sở đảng được quyết định chủ yếu bởi chất lượng của đội ngũ đảng viên của tổ chức cơ sở đảng; chất lượng của từng đảng viên và đội ngũ đảng viên là nhân tố quyết định đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và uy tín, thanh danh của Đảng trước nhân dân.

 

Công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên hiện nay

 

Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên có đủ phẩm chất và năng lực, đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong từng giai đoạn là nhiệm vụ thường xuyên của Đảng. Trong những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo việc rà soát sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của các loại hình tổ chức cơ sở đảng, bảo đảm phù hợp với tiến trình đổi mới, sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên; tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố và không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng là nhiệm vụ cơ bản của công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, góp phần năng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

 

Thực hiện các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Trung ương, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã tập trung chỉ đạo cụ thể hóa, tổ chức thực hiện đạt kết quả nổi bật: Tổ chức cơ sở đảng tiếp tục được củng cố, kiện toàn và bổ sung chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở và gắn với xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cấp ủy viên, bí thư cấp ủy cơ sở được quan tâm; chất lượng sinh hoạt đảng, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý đảng viên, đánh giá, xếp loại tổ chức cơ sở đảng được coi trọng, bảo đảm khách quan, toàn diện. Nhiều tổ chức cơ sở đảng đã giữ vững và phát huy vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở; lãnh đạo cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên; thực hiện có kết quả nhiệm vụ chính trị và công tác chuyên môn của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng được nâng lên, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

 

Đội ngũ đảng viên tăng thêm về số lượng và chất lượng, trình độ, kiến thức các mặt được nâng lên, thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng cách mạng trước những diễn biến phức tạp của tình hình trong nước và thế giới. Nhiều cấp ủy viên, cán bộ, đảng viên được rèn luyện, thử thách, trưởng thành qua thực tiễn công tác; thực hiện tốt vai trò, vị trí, nhiệm vụ của người đảng viên, gương mẫu thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chấp hành nghiêm túc các nguyên tắc trong tổ chức và sinh hoạt đảng; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, trong đó nhiều đảng viên trẻ được đào tạo cơ bản, có đủ phẩm chất và năng lực, từng bước thích ứng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới.

 

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, “chất lượng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế, chậm đổi mới phương thức lãnh đạo; chưa kịp thời sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc; thực hiện chưa nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; chất lượng sinh hoạt chi bộ, đảng bộ cơ sở, sinh hoạt cấp ủy, tinh thần tự phê bình và phê bình, công tác đánh giá, xếp loại còn hạn chế; chưa thể hiện rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trong giải quyết những khó khăn, bức xúc của nhân dân ở cơ sở”(21); không ít tổ chức cơ sở đảng chưa thực sự phát huy hết vai trò là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, cầu nối giữa Ðảng với nhân dân, cũng như bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở. Mô hình tổ chức ở một số loại hình tổ chức cơ sở đảng còn bất cập, chậm được kiện toàn, sắp xếp. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng khu vực ngoài nhà nước, nhất là doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế, tỷ lệ có tổ chức đảng, đảng viên thấp, vai trò lãnh đạo mờ nhạt, lúng túng cả về nội dung và phương thức hoạt động. Một bộ phận đảng viên năng lực, trình độ, trách nhiệm chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, chưa làm tròn trách nhiệm của mình trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân; một số đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu bản lĩnh chính trị; suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, vi phạm nguyên tắc, kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

 

Hiện nay, trước những khó khăn, thách thức do tình hình chính trị, an ninh thế giới và khu vực có những biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường; mặt trái của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; sự chống phá quyết liệt, ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch đối với Đảng, Nhà nước; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, đã ảnh hưởng tiêu cực đến các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, chúng ta cần tiếp tục khẳng định vai trò, ý nghĩa quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nhất là các cấp ủy, tổ chức đảng phải thường xuyên tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên của tổ chức cơ sở đảng để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng mới, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng.

 

Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ đảng viên trong tình hình mới

 

Để khắc phục những hạn chế, yếu kém nêu trên, “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng”(22); trong thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị cần thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau:

 

Một là, củng cố, kiện toàn mô hình tổ chức cơ sở đảng gắn với việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII, về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các loại hình tổ chức cơ sở đảng; sửa đổi, bổ sung và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc của cấp ủy.

 

Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ đảng viên. Chủ động nắm tình hình, diễn biến tư tưởng, kịp thời định hướng cho đảng viên trước những vấn đề phát sinh; tăng cường trách nhiệm của đảng viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, “tự soi”, “tự sửa”, đề cao danh dự, lòng tự trọng của đảng viên. Phát huy vai trò của cơ quan thông tấn, báo chí trong công tác thông tin, tuyên truyền, giới thiệu tấm gương đảng viên tiêu biểu, xuất sắc.

 

Ba là, đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng. Đây là giải pháp rất quan trọng, bảo đảm việc tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và của đảng bộ, cấp ủy cơ sở. Tập trung vào việc nâng cao chất lượng ban hành, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kế hoạch công tác hằng năm của cấp ủy, coi đây là một trọng tâm của đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng.

 

Bốn là, tập trung củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy viên, bí thư cấp ủy ở cơ sở. Đây là nhân tố then chốt nhất của việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng trong những năm tới. Chú trọng việc rà soát, bổ sung quy hoạch, chuẩn bị tốt nhân sự cấp ủy cơ sở nhiệm kỳ tiếp theo. Xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý, nghiệp vụ công tác đảng cho cấp ủy viên, bí thư cấp ủy.

 

Năm là, tăng cường công tác quản lý đảng viên; kịp thời rà soát, sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không còn đủ tư cách. Tiếp tục đổi mới công tác đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên; sửa đổi, bổ sung, quy định chặt chẽ việc sinh hoạt đảng.

 

Sáu là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, hướng dẫn các doanh nghiệp trong việc thực hiện các văn bản của Trung ương về phát triển tổ chức đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước. Kịp thời sơ kết, tổng kết để rút kinh nghiệm từ những mô hình hay, cách làm sáng tạo, những điển hình tiên tiến, hiệu quả và nhân rộng mô hình “chi bộ bốn tốt”.

 

Quán triệt, thực hiện tốt các nội dung, giải pháp nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới, là điều kiện tiên quyết để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, bảo đảm cho mọi hoạt động ở cơ sở tuân thủ và thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa./

BÀN VỀ TÌNH YÊU NƯỚC CỦA GIỚI TRẺ NGÀY NAY

Thời gian vừa qua, sau khi Bảo tàng quân sự Việt Nam mở cửa đón khách thăm quan đã thu hút một lượng khách đông kỷ lục. Trong số đó, có lẽ giới trẻ với đầy đủ lừa tuổi từ thanh thiếu niên đến những bạn trẻ lên chức cha mẹ chiếm số đông. Những ánh mắt, nụ cười đã biểu cảm sự thích thú với những hiện vật của lịch sử Việt Nam. Nhiều bạn trẻ khẳng định rằng không đến bảo tàng để khoe mẽ, adua theo đám đông chụp ảnh mà đến để cảm nhận được tình yêu với dân tộc, niềm hành diện, tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.

Những hình ảnh như vậy là minh chứng sống động để phản bác quan điểm cho rằng giới trẻ thờ ơ, không yêu quý, trân trọng lịch sử Việt Nam. Cho dù chưa thể hiện bằng nhiều hành động cụ thể như những câu khẩu hiệu vang dội, hay những bài diễn văn hùng hồn, nhưng trên thực tế, tình yêu ấy hiện diện trong nhiều việc dù nhỏ nhưng ý nghĩa.

Chẳng hạn như việc chúng ta bắt gặp hình ảnh trong buổi trò chuyện của họ với các cựu chiến binh sẽ thấy, giới trẻ lặng lẽ ngồi đó, chăm chú lắng nghe từng câu chuyện của những năm tháng khốc liệt được kể lại bằng những người “anh hùng” từng vào sinh ra tử để họ có được cuộc sống hòa bình.

Qua đây cũng sẽ giúp giới trẻ tiếp cận với tình yêu đất nước, lòng tự hào dân tộc không còn xáo rỗng mà thay vào đó là những câu chuyện thực tế, những kỷ vật, con người, câu chuyện có thực để làm tươi tốt hơn tình yêu với lịch sử, biết tri ân những thế hệ cha ông đã hy sinh vì độc lập, tự do, hòa bình, hạnh phúc của dân tộc.

Có thể thấy tình yêu đất nước của giới trẻ hôm nay không ồn ào, nhưng khá sâu sắc. Nó nằm trong cách mà họ tôn trọng lá cờ Tổ quốc, trân quý, biết ơn những người lính một thời. Dù chưa hiểu hết chiến tranh là gì, nhưng xuất phát từ tình yêu Tổ quốc chân thực như vậy sẽ là nền tảng tốt đẹp để các thế hệ thanh thiếu niên sẽ trở thành những người có nhân cách, đạo đức tốt, là những chủ nhân tương lai tài giỏi với lòng tự tôn dân tộc được hun đúc từng tháng năm.


ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO LÀ MINH CHỨNG SỐNG ĐỘNG CHO CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ TÔN GIÁO

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Đồng bào theo tôn giáo ở Việt Nam luôn được nuôi dưỡng bởi truyền thống ngàn năm văn hiến của dân tộc. Bởi vậy, họ không chỉ có đức tin và sự cố kết với tôn giáo của mình, mà luôn đoàn kết, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

Để đạt được mục tiêu trên, cùng với sự đoàn kết vốn có tong tâm thức của người Việt Nam, chính sách tự do tôn giáo, chủ trương, quan điểm của Đảng về đoàn kết tôn giáo đóng vai trò quan trọng, tạo môi trường lý tưởng giúp cho mối quan hệ đoàn kết lương – giáo, đoàn kết giữa các tôn giáo được phát huy mạnh mẽ.

Thực tế cho thấy, những ngày qua, trên khắp mọi miền Tổ quốc, trong lễ Giáng sinh của người Công giáo chúng ta bắt gặp rất nhiều hình ảnh đẹp về sự đoàn kết, những người lương dân đã được đón chào để thăm quan, theo dõi các chương trình văn nghệ đặc sắc, dành những lời chúc mừng an lành đến các giáo sĩ, giáo dân tại chính nhà thờ Công giáo.

Bên cạnh đó, đoàn kết giữa các tôn giáo cũng được thể hiện rõ nét, lãnh đạo các tôn giáo bạn trên địa bàn đã tổ chức đến chúc mừng các vị chức sắc, chức việc trong giáo hội Công giáo. Dù có sự khác biệt trong giáo lý, niềm tin tôn giáo, nhưng với truyền thống đoàn kết, tinh thần nhân văn, bác ái cao thượng của dân tộc Việt Nam, họ đã dành cho nhau những cái bắt tay, những lời chúc và những món quà dù nhỏ nhưng đậm đà tình người.

Với chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước hiện nay, đoàn kết dân tộc, trong đó có đoàn kết tôn giáo sẽ là nội lực quan trọng thúc đẩy sự vươn mình trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Đồng thời đoàn kết tôn giáo hiện nay ở Việt Nam còn là minh chứng hùng hồn bác bỏ những luận điệu sai trái, bịa đặt, xuyên tạc tình hình tôn giáo ở nước ta của các thế lực thù địch vẫn thường rêu rao bấy lâu nay.


XÃ LÀ TRUNG TÂM GIẢI QUYẾT CÔNG VIỆC

 Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, xã sẽ mạnh khi bỏ công an và thanh tra huyện. Phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy quản trị công, hướng tới một mô hình chính quyền linh hoạt và hiệu quả.

Bản chất của đề xuất không chỉ là sắp xếp lại bộ máy hành chính, mà còn là cuộc cách mạng về phân cấp và trao quyền. Việc loại bỏ các cơ quan công an, thanh tra cấp huyện và tập trung nguồn lực tại cấp xã mở ra một không gian quản trị hoàn toàn mới.

 

Điểm then chốt nằm ở việc chuyển từ mô hình quản lý tập trung sang hệ thống phi tập trung, nơi địa phương được chủ động tối đa. Loại bỏ cơ chế "xin - cho", trực tiếp trao quyền và nguồn lực sẽ giảm thiểu tình trạng quan liêu, kéo dài thủ tục.

 

Tuy nhiên, thách thức lớn nhất nằm ở năng lực cán bộ cấp xã. Liệu hệ thống chính trị cơ sở có thể đáp ứng được yêu cầu mới về chuyên môn, trách nhiệm và tính minh bạch? Đây không chỉ là vấn đề cơ cấu mà còn là cuộc "cách mạng" về con người.

 

Nếu thành công, mô hình này sẽ kiến tạo một chính quyền năng động, gần dân và hiệu quả hơn. Người dân sẽ không còn phải chạy nhiều cấp, thủ tục được rút ngắn, và sự phục vụ trở nên trực tiếp hơn.

 

Quan trọng là phải xây dựng một hệ thống có trách nhiệm giải trình, nơi mà quyền lực được trao đi kèm với trách nhiệm tương xứng. Đó mới là bản chất của một nền hành chính hiện đại.

 

Cải cách không phải là thay đổi cơ cấu, mà là thay đổi tư duy quản trị./.

HÃY CẨN THẬN, KHÔNG ĐỂ MẦM MÓNG CÁCH MẠNG MÀU TỒN TẠI Ở VIỆT NAM!

Tháng 10/1963, ngoại trưởng Anh Alex Douglas phát biểu "con đường đánh bại chủ nghĩa cộng sản là dùng tư tưởng của chúng ta để đánh vào các nước cộng sản chủ nghĩa". Theo đó, Mỹ cần trao đổi du học sinh với Liên Xô, rồi sau đó dùng hưởng thụ vật chất để cải biến tư tưởng - văn hóa của những du học sinh này. Sau khi những du học sinh này về nước thì đó chính là những "hạt giống" để tư tưởng thân phương Tây, phủ định chủ nghĩa xã hội dần thâm nhập vào nhà nước và người dân các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong giới thanh niên. Tiêu biểu là Alexander Yakovlev, từng làm du học sinh ở Mỹ năm 1958, sau này trong cương vị Trưởng ban Tuyên giáo Đảng Cộng sản Liên Xô đã ngầm chấp thuận, cổ vũ cho các quan điểm xét lại lịch sử, phê phán cách mạng trên báo chí Liên Xô, góp phần làm Liên Xô tan rã.

Thanh niên, sinh viên, lực lượng đông đảo và có vai trò to lớn trong đời sống xã hội, là bộ phận năng động, nhạy bén, có khả năng tiếp nhận và thích nghi với cái mới nhanh, nhiệt tình, xông xáo; nhưng vốn sống và kinh nghiệm ít, kiến thức và bản lĩnh chính trị hạn chế, mức độ kiềm chế và năng lực đề kháng trước những cám dỗ thấp, dễ bị lôi kéo bởi những luồng thông tin sai lệch. Rất dễ bị nhồi sọ thứ dân chủ nửa mùa và quay lại chống phá đất nước như Liên Xô khi xưa.

Đó là bài học nhãn tiền. Thật ngạc nhiên khi thấy nhiều người xem đây là niềm hạnh phúc. Cáo đã gửi được nửa người chứ không chỉ là đuôi hay bàn chân. Nếu không cẩn thận thì nguồn lãnh đạo cách mạng màu lại được đào tạo ngay trong nội địa. Nếu có thể thì chỉ nên cho phép hợp tác, đào tạo những lĩnh vực như: khoa học, kỹ thuật, kinh tế...tuyệt đối không đào tạo hay được phép can dự vào chính trị. Kẻ thù trong lòng ta mới là kẻ thù nguy hiểm nhất. Lãnh tụ Lê Nin từng cảnh báo: "Không một kẻ thù nào có thể đánh bại chủ nghĩa Cộng sản, dù chúng hung bạo đến mấy. Chỉ sợ những người Cộng sản tự tiêu diệt chính họ, bằng những khuyết điểm không được sửa chữa". Và thực tiễn sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Ở Đông Âu đã kiểm nghiệm chân lý đó. Hãy cảnh giác./.


SỰ VĨ ĐẠI CỦA QUÂN ĐỘI ANH HÙNG

Trong những ngày này, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân cả nước sôi nổi tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 - 22-12-2024). Chặng đường 80 năm trường chinh cùng với sự nghiệp cách mạng của Đảng, nhân dân đã chứng minh sự vĩ đại của quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng.

Ngay sau khi ra đời, được rèn luyện, dìu dắt của Bác Hồ và Trung ương Đảng, sự đùm bọc, nuôi dưỡng của nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới: quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân phục vụ. Bởi vậy, trong lịch sử của nhân loại, hiếm có quốc gia nào người lính được toàn dân tin yêu, quý mến như bộ đội Việt Nam. Quân đội ta - bộ đội Cụ Hồ là niềm tự hào của toàn dân tộc, là biểu tượng cho tinh thần yêu nước, bản lĩnh kiên cường và ý chí quật cường của con người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước.

Chặng đường 80 năm chiến đấu và trưởng thành, quân đội ta đã lập nên rất nhiều chiến công hiển hách, làm rạng danh non sông, đất nước. Đó là thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8-1945; là những chiến công "long trời lở đất" trong kháng chiến chống Pháp, đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Là đại thắng mùa xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; là thành quả của các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc...

Từ khi ra đời đến nay, quân đội ta luôn trung thành vô hạn với Tổ quốc, với Đảng, gắn bó máu thịt với nhân dân để trở thành đội quân bách chiến, bách thắng. Trong sự nghiệp đổi mới, quân đội ta đã tích cực tham gia lao động, sản xuất, xây dựng kinh tế. Đó là các đơn vị bộ đội thực hiện khu kinh tế - đoàn kinh tế quốc phòng trên những địa bàn chiến lược vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Các doanh nghiệp quân đội đã khẳng định vai trò, vị thế trong sự phát triển của đất nước, góp phần nâng cao tiềm lực quốc phòng. Quân đội ta còn tích cực tham gia các hoạt động giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc, được bạn bè quốc tế tin tưởng và ngưỡng mộ.

Quân đội ta còn là lực lượng tiên phong trong phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ. Ở đâu xảy ra bão, lũ lụt, thiên tai thì ở đó có bộ đội Cụ Hồ. Hình ảnh các cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang không quản khó khăn, xông pha vào vùng bão lũ đã để lại tình cảm tốt đẹp trong lòng nhân dân và sự kính trọng của cộng đồng quốc tế. Thời điểm đại dịch Covid-19 bùng phát, bộ đội đã nhường doanh trại cho các hoạt động cách ly, điều trị người bệnh, là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm, là lực lượng trên tuyến đầu chống dịch. Bộ đội giúp nhân dân thu hoạch mùa màng, dựng nhà, mở lớp xóa mù chữ, hỗ trợ cây - con giống, hướng dẫn đồng bào ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao hiệu quả kinh tế. Có thể nói, trong bất cứ hoàn cảnh nào, quân đội ta đều hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ Đảng và nhân dân giao phó, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Truyền thống vẻ vang của quân đội ta là bài học quý báu, niềm tự hào, động lực để các thế hệ trẻ tiếp bước cha anh, xây dựng và bảo vệ đất nước ngày càng giàu đẹp, vững mạnh. Quân đội nhân dân Việt Nam là biểu tượng thiêng liêng về tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc và khát vọng độc lập, tự do, là nguồn sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc. Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tiếp tục khơi dậy niềm tự hào dân tộc, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa đất nước vững vàng tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.


VỚI KHÍ THẾ MỚI, SỨC MẠNH MỚI, NĂM 2025 ĐÓN ĐỢI NHỮNG THÀNH CÔNG

Vượt qua mọi trở lực, những khó khăn, thách thức của năm 2024, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vững tin bước vào năm mới 2025 với khí thế mới, tinh thần mới, sức mạnh mới nhờ đạt được những kết quả, thành tựu khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cùng nhân dân cả nước sớm về đích với việc vượt mức toàn bộ 15 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của năm 2024. Trong những thành tựu nổ bật của đất nước, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta có những niềm vui, niềm tự hào to lớn là có những đóng góp quan trọng, rất đỗi tự hào; đã lan tỏa mạnh mẽ hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới với những dấu ấn nổi bật:

(1) Cán bộ, chiến sĩ sĩ toàn quân đã thực hiện tốt chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về công tác quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc năm 2024. Trước những biến động phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, toàn quân vẫn bình tĩnh, sáng tạo, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước ứng phó và xử lý linh hoạt, mềm dẻo và hiệu quả các tình huống xảy ra; góp phần quyết định vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; có những đóng góp mới nổi bật về xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân; xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc; phát triển mạnh mẽ công nghiệp quốc phòng; chế tạo và sản xuất được một số loại vũ khí, trang bị quân sự hiện đại mang nhãn hiệu “made in Việt Nam”. Đây là sự nỗ lực phấn đấu rất đáng trân trọng, thể hiện rõ nhất tính chủ động, tích cực và quyết tâm chính trị rất cao của “Bộ đội Cụ Hồ”, bước đầu đáp ứng sự kỳ vọng, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại; góp phần củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới.

(2) Cán bộ, chiến sĩ toàn quân đã phát huy tốt vai trò là lực lượng chuyên trách, nòng cốt trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; xung kích đi đầu trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc. Nhờ đó, đã thực hiện tốt việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng và quốc phòng với kinh tế - xã hội; xây dựng được các công trình quốc phòng trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; thực hiện tốt ba chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Thành tích nổi bật rõ nét, rất đáng trân trọng, tự hào là toàn quân đã làm tốt nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình, nhất là thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, hỏa hoạn, cháy rừng, cung cấp nước sinh hoạt, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; giúp dân xóa đói, giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; xây dựng và củng cố chính quyền cơ sở vững mạnh; góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; giữ vững cuộc sống bình yên, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

(3) Toàn quân đã nghiêm túc quán triệt và thực hiện hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng về điều chỉnh tổ chức lực lượng, thành lập mới, điều chuyển, sát nhập, tổ chức lại nhiều tổ chức; nhờ đó, các Quân đoàn 12 và 34, cùng một số đơn vị mới đã được thành lập, bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định, tạo sự thống nhất cao trong nội bộ và nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, đào tạo; khả năng sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta. Cùng với đó, kết quả đổi mới của công tác hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng, khoa học, nghệ thuật quân sự có bước phát triển đột phá, mở ra tầm nhìn, triển vọng đổi mới, phát triển nhiều loại vũ khí, trang bị hiện đại; tiết kiệm được ngân sách nhà nước, từng bước giảm phụ thuộc vào nước ngoài. Kết quả phát triển về mọi mặt của Quân đội ta khẳng định sức mạnh Việt Nam trong thời kỳ mới, có những đóng góp quan trọng để xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tiến lên hiện đại.

(4) Dấu ấn nổi bật, rõ ràng nhất, thể hiện sâu sắc tính vượt trội về xây dựng Quân đội ta vững mạnh về chính trị; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; làm cho Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, mãi xứng đáng là “Bộ đội Cụ Hồ”, bộ đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; mang trong mình sâu đậm bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc; tuyệt đối đề cao cảnh giác cách mạng, không mắc mưu “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội mà các thế lực thù địch chủ mưu chống phá.

Hình ảnh, ấn tượng cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong diễu binh, diễu hành chào mừng 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 35 năm Ngày Hội quốc phòng toàn dân; 80 năm Ngày Truyền thống Tổng cục Chính trị và Triễn lãm quốc phòng quốc tế Việt Nam năm 2024 đã để lại ấn tượng sâu sắc, niềm tin mãnh liệt và tình cảm tốt đẹp trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế.

(5) Năm 2024 là năm quốc phòng Việt Nam tiếp tục khởi sắc, để lại nhiều ấn tượng và thành công vang dội với những điểm sáng tự hào. Cùng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân; đối ngoại quốc phòng đã làm tốt công tác tham mưu, xử lý hài hòa, mềm dẻo các mối quan hệ quốc tế, nhất là đối với các nước láng giềng, các nước ASEAN, các nước lớn, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và bạn bè truyền thống. Toàn quân đã thực hiện tốt đường lối ngoại giao mang bản sắc “cây tre Việt Nam” của Đảng và chính sách quốc phòng “bốn không”, “bốn tránh”. Nhờ đó, đã đóng góp tích cực vào thành công chung của các hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước, tăng cường mối quan hệ, niềm tin chiến lược với Trung Quốc, Lào, Campuchia…; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; củng cố quốc phòng, an ninh; nâng tầm cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Với những việc làm này, Quân đội ta đã góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Những kết quả đạt được trong năm 2024 đã khẳng định rằng, trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, Quân đội ta cũng luôn kiên định vững vàng, một lòng một dạ “tận trung với nước, trọn hiếu với dân”; luôn đoàn kết, thống nhất cao độ; luôn khắc phục mọi khó khăn, thử thách để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Đó là hành trang cần thiết để chúng ta vững tin bước vào năm 2025 - năm có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành tất cả các chỉ tiêu, mục tiêu mà Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Đại hội XIII của Đảng đã xác định. Đồng thời, chuẩn bị tốt nhất mọi điều kiện để tổ chức đại hội đảng các cấp nhiệm kỳ 2025-2030, tiến tới Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và Đại hội lần thứ XIV của Đảng thành công tốt đẹp. Đây cũng là cơ sở lý luận, thực tiễn sinh động để bác bỏ, đập tan mọi quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.

Phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp hơn 80 năm Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, phấn đấu hoàn thành xuất sắc các chức năng của Quân đội ta; trước mắt là các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong năm 2025 và những năm tiếp theo mà Đảng và Quân ủy Trung ương đã xác định là góp phần đưa đất nước ta vững tin bước vào kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đó là niềm vinh dự, tự hào và là trọng trách cao cả của cán bộ, chiến sĩ toàn quân ta./.


NHẬN DIỆN CHÍNH XÁC ĐỂ ĐẤU TRANH CÓ HIỆU QUẢ

 Hiện nay, những quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã và đang xuất hiện với tần suất ngày càng nhiều, mức độ ngày càng cao, biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, gây ra những tác động tiêu cực và hậu quả khó lường, làm tổn hại to lớn đến tiến trình xây dựng, phát triển đất nước.

 

Do đó, việc nhận diện chính xác các quan điểm sai trái, thù địch, từ đó đề xuất những biện pháp đấu tranh hiệu quả là một trong những nhiệm vụ cấp bách trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thời kỳ mới.

 

Những nội dung chống phá chủ yếu của các thế lực thù địch

 

Quan điểm sai trái, thù địch luôn xuất hiện trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta với nhiều mức độ, thủ đoạn ngày càng tinh vi, diễn biến ngày càng phức tạp, phạm vi chống phá ngày càng rộng lớn. Đặc biệt, trong suốt thời gian từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước thường bám vào các vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, dân chủ để đưa ra những quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội đất nước.

 

Bản chất của việc tiến hành những “quan điểm sai trái, thù địch” là nhằm mục tiêu xóa bỏ vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam; muốn Việt Nam từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; thay đổi chế độ chính trị theo hướng biến Việt Nam thành “sân sau”, thành bộ phận lệ thuộc vào hệ thống tư bản chủ nghĩa trên thế giới. Trong đó, “coi việc chống phá Đảng Cộng sản là một nhiệm vụ cơ bản, một khâu đột phá quyết định”[1].

 

Theo số liệu thống kê của Bộ Công an, trên thế giới hiện có khoảng 300 tổ chức phản động người Việt lưu vong và hàng chục cơ quan đặc biệt, các tổ chức nước ngoài có hoạt động chống phá Việt Nam. Các thế lực thù địch đã tận dụng công cụ thông tin hiện đại - mạng internet để truyền bá các quan điểm sai trái, hành động chống phá chế độ ta với mức độ ngày càng quyết liệt.

 

Cụ thể, chúng tìm mọi cách đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, đòi đưa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch hiểu rất rõ việc tấn công trực diện vào tư tưởng Hồ Chí Minh rất khó, vì vậy chúng đã đi đường vòng, tìm mọi cách đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là một chiêu trò rất nguy hiểm, thực chất đó không chỉ là sự phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn xuyên tạc, bóp méo, cô lập tư tưởng Hồ Chí Minh; từ đó, chúng khuyên chúng ta không nên lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng.

 

Chúng chống phá những thành tựu xây dựng, phát triển đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Việt Nam đang vững bước tiến lên trên con đường xây dựng xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phồn vinh, hạnh phúc với nhiều thành tựu đạt được trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do quá độ lên chủ nghĩa xã hội chưa có tiền lệ trong lịch sử, nên không tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm. Đảng ta nghiêm túc, thẳng thắn nhìn nhận, đúc rút kinh nghiệm, bài học để lãnh đạo công cuộc đổi mới ngày càng phù hợp với các quy luật phát triển khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động cố tình khoét sâu, thổi phồng những sai lầm, phủ định những thành tựu chúng ta đạt được hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo, đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

Các thế lực thù địch dùng những lời lẽ xuyên tạc, bịa đặt đối với cá nhân một số đồng chí lãnh đạo, các lãnh tụ của Đảng. Chúng đã xuyên tạc, bôi đen lý lịch, đời tư của một số đồng chí lão thành cách mạng; đổi trắng thay đen, tung hỏa mù gây nghi ngờ trong dư luận về phẩm chất đạo đức, năng lực và lý lịch gia đình; gây chia rẽ nội bộ trong Đảng. Đặc biệt, các thế lực thù địch hay tung hỏa mù làm cho thế hệ trẻ ít hiểu biết và đông đảo quần chúng nhân dân không có thông tin, hiền lành, chất phác dễ tin và dễ bị lừa bởi thông tin mập mờ không rõ. Mục đích của các thế lực thù địch là gây nghi ngờ trong nhân dân về uy tín của cá nhân các đồng chí lãnh đạo; từ đó hạ thấp uy tín cá nhân một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước để hạ uy tín của Đảng. Các thế lực thù địch thường lợi dụng công nghệ thông tin, các trang mạng xã hội tung tin giả, làm nhiễu thông tin. Do vậy, chúng ta phải rất thận trọng khi tham gia các trang mạng xã hội; không vội hùa theo những thông tin trên mạng xã hội khi chưa được kiểm chứng, xác thực.

 

Chúng xuyên tạc lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng. Hiện nay, lợi dụng sự phát triển của mạng xã hội, với nhiều hình ảnh cắt ghép, lời lẽ bình luận xuyên tạc bóp méo, nhân các dịp kỷ niệm lớn của dân tộc, của Đảng, các thế lực thù địch đã liên tục xuyên tạc lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng và lịch sử cách mạng. Sự chống phá này có tính hệ thống với mục đích cuối cùng là “đổi trắng thay đen lịch sử”, từ đó lớn tiếng đổ lỗi cho chúng ta về một số cuộc chiến tranh đã diễn ra. Tuy nhiên, các thế lực thù địch đã cố tình không biết rằng, Việt Nam là một dân tộc yêu chuộng hòa bình, luôn muốn chung sống hòa bình với nhân dân các dân tộc trên thế giới. Chỉ khi nào bị các thế lực ngoại bang xâm lược, nhân dân Việt Nam mới cầm vũ khí để chiến đấu bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc. Đặc biệt, khi chiến tranh kết thúc, với tinh thần “Gác lại quá khứ/Hướng tới tương lai”, Việt Nam luôn sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế. Vì thế, những lời lẽ xuyên tạc lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng của các thế lực thù địch chỉ là âm mưu “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam không ngừng nghỉ.

 

Các thế lực thù địch chống phá tổ chức của Đảng. Xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, đạo đức, văn minh, đủ năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu là nhiệm vụ, mục tiêu xuyên suốt, cốt lõi, bảo đảm sự tồn tại và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Cách mạng Việt Nam. Trong công tác tổ chức Đảng, các thế lực thù địch, phản động tập trung chống phá các nguyên tắc xây dựng Đảng, đặc biệt là nguyên tắc “tập trung dân chủ”. Chúng thường rêu rao luận điệu: “Thực hiện tập trung dân chủ sẽ dẫn đến mất dân chủ trong Đảng, làm cho Đảng rơi vào độc đoán, chuyên quyền” và tích cực tuyên truyền, khuyến khích thực hiện “dân chủ tuyệt đối”, “dân chủ phi chính trị”. Với chiêu bài này, các thế lực thù địch, phản động hướng đến mục tiêu phá vỡ sự thống nhất, đoàn kết của Đảng, âm mưu làm tê liệt hoặc tan rã tổ chức Đảng, làm cho năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, của đảng viên suy yếu dần, tạo “mảnh đất” màu mỡ cho việc phát triển các “thế lực dân chủ”.

 

Một số giải pháp cấp thiết

 

Một là, cần đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách của Nhà nước Việt Nam để đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch. Đặc biệt, cần phân biệt rõ quan điểm thù địch, quan điểm sai trái và xem xét chúng thuộc loại nào, trên cơ sở đó có các phương pháp đấu tranh, phê phán cụ thể, phù hợp và hiệu quả. Trong đó, đối với các quan điểm thù địch, chúng ta phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống lại, bác bỏ toàn diện, triệt để trên nhiều phương diện lý luận, pháp lý, lịch sử, khoa học và thực tiễn.

 

Hai là, trong bối cảnh tình hình mới cần đặc biệt coi trọng việc kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Chúng ta cần đa dạng hóa nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nhiều cấp độ, phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực và mỗi tầng lớp nhân dân.

 

Ba là, tiếp tục kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TƯ ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới đã đề ra, nhận thức rõ đây là nhiệm vụ chính trị vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài, không chỉ là công việc của các cơ quan Đảng, Nhà nước, mà là của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân.

 

Bốn là, tăng cường các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để phát hiện sớm, ngăn chặn tận gốc nguồn phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn các trang mạng độc hại. Đồng thời, xây dựng mới các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh của ta bám sát thực tiễn, tuyên truyền sâu rộng với lập luận sắc bén, “chắc tay”, thuyết phục về các thành tựu phát triển của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các định hướng, nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương, với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, từng bước giành thế chủ động, làm chủ thế trận tiến công về thông tin tư tưởng, lý luận trên internet.

 

Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là cuộc “đấu tranh không ngừng nghỉ”. Việc nhận diện chính xác “từ sớm”, “từ xa” để có những biện pháp đấu tranh kịp thời, hiệu quả là yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay, và càng có ý nghĩa hơn khi chúng ta đang tích cực chuẩn bị mọi mặt để tổ chức thành công đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng./.

 

 

KỶ LUẬT TỰ GIÁC, NGHIÊM MINH - GIÁ TRỊ ĐẶC TRƯNG, TIÊU BIỂU LÀM NÊN SỨC MẠNH BỘ ĐỘI CỤ HỒ

Trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta đã hình thành, xây dựng và lan tỏa những giá trị văn hóa quân sự đặc sắc, độc đáo. Trong đó, kỷ luật tự giác, nghiêm minh trở thành nét đẹp truyền thống, tiêu biểu của Bộ đội Cụ Hồ.

Cội nguồn làm nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội.

Kỷ luật Quân đội là kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua”. Kỷ luật Quân đội được xây dựng trên cơ sở ý chí, niềm tin cách mạng vững chắc, sự giác ngộ cao cả về lý tưởng cách mạng, tạo thành nhu cầu bên trong thúc đẩy mọi quân nhân tự giác, chủ động chấp hành. Sự giác ngộ của cán bộ, chiến sĩ từ nhận thức chuyển hóa thành thái độ, hành vi ứng xử tự giác trong mọi hoạt động, mọi mối quan hệ. Đó là hành vi cao đẹp, nhân ái, được xây dựng trên cơ sở trách nhiệm cao đối với Tổ quốc và nhân dân. Bác Hồ chỉ rõ, kỷ luật Quân đội tôn trọng phẩm chất, nhân cách, tình thương yêu con người: “Trong Quân đội cách mạng, cán bộ gương mẫu, phải chăm nom đến đời sống tinh thần, vật chất của chiến sĩ, phải gương mẫu học tập và giữ kỷ luật”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, kỷ luật có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng trong xây dựng Quân đội cách mạng, bởi lẽ “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm. Vì vậy, kỷ luật phải nghiêm minh”. Bác Hồ từng nhấn mạnh: “Muốn nâng cao chí khí chiến đấu, cố nhiên là phải học chính trị và quân sự, phải giữ thật nghiêm kỷ luật của Quân đội. Kỷ luật là sức mạnh của Quân đội”; đồng thời yêu cầu: “Kỷ luật cần nghiêm minh. Tổ chức là cơ thể của quân sự. Kỷ luật là sinh mệnh của quân sự”.

Quân đội ta đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Bản chất kỷ luật của Quân đội ta mang bản chất kỷ luật của Đảng, là kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ in đậm trong lòng nhân dân được tạo dựng không chỉ từ những chiến công vẻ vang trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc mà còn bởi một phần rất quan trọng từ tính kỷ luật của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta xây đắp nên.

Do đó, kỷ luật tự giác, nghiêm minh tạo ra giá trị đặc trưng, tiêu biểu làm nên sức mạnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Giá trị ấy được biểu hiện ở lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, tuân thủ nghiêm các nguyên tắc sinh hoạt đảng, luôn đặt lợi ích của Đảng và nhân dân lên trên, lên trước lợi ích riêng của bản thân. Bộ đội Cụ Hồ luôn giữ vững lập trường, tư tưởng, niềm tin và dũng khí chiến đấu, hành động cách mạng cụ thể, cho dù phải xa người thân, gia đình, sống ở nơi rừng sâu núi thẳm, gặp bao nhiêu hiểm nguy, khó khăn, thử thách nhưng vẫn một lòng một dạ phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

 

Kỷ luật tự giác, nghiêm minh tạo cơ sở xây dựng, củng cố, phát triển tình đồng chí, đồng đội, xây dựng mối đoàn kết gắn bó trong cơ quan, đơn vị, tạo bầu không khí dân chủ, tin tưởng, chia sẻ, tương thân tương ái. Kỷ luật tự giác, nghiêm minh bảo đảm cho mọi quân nhân phát huy mọi phẩm chất, năng lực trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự, quốc phòng; đề cao trí tuệ tập thể, sự đồng thuận, đoàn kết, thống nhất, giải quyết hài hòa các mối quan hệ. Qua đó, tình đồng chí, đồng đội trong Quân đội luôn được củng cố, phát triển, trở thành tài sản tinh thần thiêng liêng, cao quý trong nhận thức, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân, là nền tảng quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta.

Thực tiễn lịch sử xây dựng, chiến đấu của Quân đội ta đã chứng minh, kỷ luật tự giác, nghiêm minh đã ăn sâu vào tiềm thức, làm nên sức mạnh nội sinh của mỗi quân nhân, tập thể quân nhân, từ đó tự giác, tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh, sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Càng những lúc chiến đấu, công tác độc lập càng phải nêu cao tính tự giác trong chấp hành kỷ luật để tránh bị kẻ thù lợi dụng làm suy thoái, biến chất, thậm chí dụ dỗ, đe dọa, lôi kéo phản bội cách mạng, phản bội Tổ quốc và nhân dân. Lịch sử đã chứng minh nhiều tấm gương cán bộ, chiến sĩ dù hoạt động độc lập trong hàng ngũ kẻ thù vẫn luôn giữ nghiêm kỷ luật. Chính điều ấy đã làm nên tên tuổi của những anh hùng tình báo như Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn, Thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ, Thiếu tướng Đặng Trần Đức... Tính kỷ luật đã trở thành phẩm chất cao quý của quân nhân cách mạng, cội nguồn làm nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta.

Chăm lo bồi đắp, rèn luyện tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh.

Nhận thức rõ vai trò của kỷ luật tự giác, nghiêm minh đối với sức mạnh chiến đấu của Quân đội và đặc thù hoạt động quân sự, việc chấp hành kỷ luật của quân nhân không chỉ dừng lại ở ý thức mà chuyển hóa thành thói quen, nếp sống, nếp sinh hoạt, học tập, công tác, chiến đấu cũng như cuộc sống đời thường. Hoạt động trong lĩnh vực quân sự đặc thù, mỗi cán bộ, chiến sĩ thấy mình được tự do trong khuôn phép của kỷ luật. Vì vậy, chấp hành kỷ luật thống nhất trở thành thói quen, lối sống của mỗi quân nhân từ nếp ăn ở, sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử, xưng hô, chào hỏi, trang phục, đi đứng, lễ tiết tác phong. Thói quen, lối sống đó đã trở thành giá trị bền vững, thẩm thấu vào nhân cách của mỗi quân nhân, tạo nên nét đẹp văn hóa Bộ đội Cụ Hồ.

Nhờ kỷ luật tự giác, nghiêm minh, qua các giai đoạn cách mạng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn giữ vững phẩm chất chính trị, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, gắn bó mật thiết với nhân dân. Nhờ kỷ luật tự giác, nghiêm minh đã góp phần giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Đó cũng chính là yếu tố quan trọng cổ vũ, động viên, thôi thúc cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta phấn đấu vươn lên hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng, hướng tới những giá trị chân-thiện-mỹ.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng ngày càng cao; trong khi các thế lực thù địch tăng cường chống phá sự nghiệp cách mạng và cả những mặt trái của đời sống xã hội tác động không nhỏ đến tư tưởng bộ đội. Chính vì vậy, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, giáo dục nâng cao nhận thức, hình thành thói quen, hành vi tự giác chấp hành kỷ luật Quân đội. Chú trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong giữ vững và tăng cường kỷ luật Quân đội. Phát huy tính tự giác của mỗi quân nhân trong rèn luyện và chấp hành kỷ luật Quân đội. Xây dựng môi trường văn hóa quân sự phong phú, lành mạnh, tạo cơ sở, nền tảng tăng cường kỷ luật Quân đội.

Kỷ luật tự giác, nghiêm minh là giá trị cốt lõi làm nên sức mạnh Bộ đội Cụ Hồ, tạo nền móng xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Chăm lo bồi đắp, rèn luyện tính kỷ luật để mỗi quân nhân hoàn thiện nhân cách, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ, trở thành hình mẫu nhân cách lý tưởng trong thời đại mới./.