Thứ Ba, 11 tháng 2, 2025

 

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN, XUYÊN TẠC HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Gần đây, trên trang mạng Vietnamthoibao có bài viết của tác giả Phạm Đình Trọng với tựa đề: “Lại hăm hở sắp xếp lại bộ máy nhà nước”. Bài viết đưa ra luận điểm đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và cổ súy Việt Nam nên đi theo mô hình “Tam quyền phân lập” kiểu phương Tây. Thực chất, đây là luận điệu xuyên tạc tuy không mới, nhưng mang đầy những lời lẽ kích động, hằn thù, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta, bởi những lý do sau:

Một là, điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) đã khẳng định rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

 Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Thực tiễn lịch sử hơn 94 năm ra đời và phát triển của Đảng đã chứng minh rằng:  Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền duy nhất đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua muôn ngàn khó khăn, thử thách; đánh đuổi các thế lực xâm lược đế quốc, thực dân, lật đổ chế độ phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đảng đã đem lại nền độc lập, hòa bình tự do cho dân tộc ta, nhân dân ta; từng bước đưa cách mạng Việt Nam đi lên con đường xã hội chủ nghĩa. Giành độc lập dân tộc nay tiếp tục giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo đưa Việt Nam từ nền kinh tế kém phát triển, nay đã trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Công cuộc phòng, chống tham nhũng được đẩy mạnh, gắn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mục tiêu đó của Đảng lkhông bao giờ thay đổi, Đảng đại diện trung thành lợi ích toàn dân, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Nhân dân ta đã thừa nhận và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng. Nguyên tắc “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” được ghi trong Hiến pháp đã khẳng định: Đảng thực hiện sự lãnh đạo xã hội qua chủ trương, đường lối được luật hóa. Nguyên tắc này còn bảo đảm cho Đảng giữ vững bản chất, mục tiêu, lý tưởng của mình, phòng, chống mọi nguy cơ thoái hóa, biến chất (có thể xảy ra) trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta.

Hai là, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được thể chế hóa thành Hiến pháp và pháp luật thông qua trình tự lập pháp, hành pháp, tư pháp, qua đó thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội (Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến pháp năm 2013). Trong Khoản 3, Điều 2 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi rõ: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đây là vấn đề đã được Đảng, Nhà nước ta nghiên cứu, tiếp thu một cách có chọn lọc trong kỹ thuật tổ chức các thiết chế nhà nước trên thế giới, trong đó việc phân công và phối hợp giữa 3 nhánh quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để tổ chức bộ máy nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước.

Theo đó, quyền lập pháp được giao cho Quốc hội, quyền hành pháp giao cho Chính phủ, quyền tư pháp giao cho Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân. Trong đó, Quốc hội Việt Nam là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng, cốt yếu của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Các cơ quan tư pháp (Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân) là cơ quan bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân… Bộ máy Nhà nước ta được vận hành như vậy là đúng với bản chất và nguồn gốc của quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước là thống nhất; mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước. Khi quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân, thì về nguyên tắc, quyền lực nhà nước không thể phân chia cho cá nhân hay tổ chức nào khác; các cơ quan nhà nước khi thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là thực hiện các quyền của nhân dân giao phó, ủy quyền… Điều này khác xa với cái gọi là “Tam quyền phân lập” trong bài viết:  “Lại hăm hở sắp xếp lại bộ máy nhà nước”của Phạm Đình Trọng là sự thể hiện tư tưởng phân quyền, về bản chất là đối lập với tư tưởng thống nhất quyền lực, phủ nhận sự phân chia quyền lực về mặt chính trị – xã hội, phủ nhận chân lý: Quyền lực của Nhà nước được bắt nguồn từ nhân dân.

 Từ lý luận và thực tiễn có thể khẳng định: Điều 4 trong Hiến pháp của Nhà nước ta về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo Nhà nước Việt Nam là điều tối thượng. Được Hiếp pháp và pháp luật Nhà nước ta bảo vệ. Đây là vấn đề không thể xuyên tạc và phủ nhận. Còn cái gọi là “Tam quyền phân lập” như Phạm Đình Trọng đã nêu ra trong bài viết “Lại hăm hở sắp xếp lại bộ máy nhà nước” thực chất chỉ là sự tiếp nối của việc kích động, chống phá đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta, cổ súy cho bất ổn chính trị, xung đột quyền lực, cần phải đấu tranh, bác bỏ./.

Luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin

Chủ nghĩa Mác do C.Mác và Ph.Ăng ghen sáng lập vào giữa thế kỷ XIX, đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã được V.I.Lênin phát triển thành chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ đó đến nay, thế giới đã trải qua biết bao biến cố thăng trầm, quanh co, phức tạp, song đời sống xã hội vẫn không nằm ngoài những quy luật phổ biến đã được C.Mác tổng kết. Khẳng định giá trị, sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời, bên cạnh việc bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, còn phải đấu tranh phê phán các quan điểm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin được phát tán trên mạng xã hội, kiểu như bài viết của Nguyên Anh đăng trên trang “Quyenduocbiet. com”, với tiêu đề “Bọn tâm thần hoang tưởng tự sướng “Mác – Lê”.

Thực tế cho thấy, trong quá trình xây dựng và phát triển học thuyết của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phải đấu tranh chống lại các quan điểm, duy tâm, siêu hình, các quan điểm giáo điều, xét lại. Đồng thời, trình bày quan điểm chính diện của mình, phát triển, hoàn thiện học thuyết của mình. Có thể nói, thông qua đấu tranh tư tưởng, lý luận để bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác là tính quy luật trong sự tồn tại của chủ nghĩa Mác. Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới, V.I. Lênin đã kiên quyết đấu tranh, kịch liệt phê phán những quan điểm cơ hội, xét lại, đồng thời vận dụng chủ nghĩa Mác một cách sáng tạo vào thực tiễn nước Nga, Lênin và Đảng Bônsêvích đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Nga tiến hành cuộc Cách mạng tháng Mười vĩ đại, mở ra thời đại mới trong sự phát triển của loài người – thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới.

Trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn là học thuyết khoa học và cách mạng duy nhất đáp ứng được nhiệm vụ lịch sử mà không một học thuyết nào cũng có thể thay thế được. Sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin được thể hiện ở chỗ nó soi sáng các nhiệm vụ lịch sử đã chín muồi của nhân loại. Nhiệm vụ giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, bất công, tha hóa. Thời đại ngày nay có nhiều nội dung, đặc điểm rất mới so với thời C.Mác và V.I.Lênin sống và hoạt động. Song, các giá trị bền vững trong tư tưởng, quan điểm và phương pháp của Mác, Ăngghen, Lênin đã và đang là lý luận và phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời cho đến nay, chủ nghĩa Mác – Lênin đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam và thời đại. Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho cách mạng.

Thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc, những thành tựu trong công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH gần 40 năm qua đã khẳng định sức sống, ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác – Lê nin đối với cách mạng Việt Nam.

Trong công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử cả về nhận thức lý luận và thực tiễn. Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn, ngày càng được bổ sung, phát triển qua các kỳ đại hội Đảng trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tiễn biến đổi của tình hình thế giới.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi chủ nghĩa Mác – Lênin là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất”. Người coi chủ nghĩa Mác – Lênin là “cái cẩm nang thần kỳ”, “mặt trời chói lọi” soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Vì vậy Đảng Cộng sản Việt Nam luôn yêu cầu “phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” trong tình hình mới.

Như vậy, có thể khẳng định, quan điểm của Nguyên Anh mới là hoang tưởng, phi lý và phiến diện, còn chủ nghĩa Mác – Lênin là khoa học và cách mạng, có giá trị và sức sống bền vững, trường tồn. Do đó, các tổ chức, lực lượng tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải thường xuyên trau dồi, nâng cao tri thức khoa học, bản lĩnh chính trị, kỹ năng nhận diện và đấu tranh trên các mặt trận tư tưởng, lý luận; thường xuyên bám sát thực tiễn của cuộc đấu tranh, nhất là hoạt động chống phá của các thế lực thù địch xuyên tạc lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh./.

 

ĐỪNG THẤY QUYẾT TÂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT MAN MÀ “BẺ LƯỠI” ĐỂ THỰC HIỆN MƯU ĐỒ ĐEN TỐI

Hiện nay, dư luận xã hội nói chung và quốc tế nói riêng đang rất quan tâm đến công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Đây là quyết tâm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước; quyết tâm loại bỏ những cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất đạo đức, đi ngược lại với lợi ích của Đảng và Nhân dân. Sự quan tâm đó, thể hiện niềm tin của Nhân dân và cộng đồng quốc tế vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước ta. Ở chiều ngược lại, đó chính là thể hiện sự cam kết của Đảng và Nhà nước ta trước Nhân dân và cộng đồng quốc tế về công tác phòng, chống tham nhũng, được đưa ra trong các văn kiện của Đảng và cam kết của Việt Nam với thế giới.

Vậy mà trên trang “Viettan”, bút danh Việt Tân có bài viết với tiêu đề : “Nhận định của chủ tịch Đảng Việt Tân về tình trạng đấu đá trên thượng tầng lãnh đạo Cộng sản Việt Nam”. Thực chất, đây là những giọng điệu mà các thế lực thù địch, phản động vẫn thường dùng để chống phá cách mạng Việt Nam như “Bureau CTM Media – Âu châu”, “Việt Nam Thời Báo”, “Danlambao.com”….Qua đọc nội dung bài viết Của Việt Tân, có đôi điều suy nghĩ sau:

Thứ nhất, người được gọi là “chủ tịch Đảng Việt Tân” và ai đó lấy bút danh Việt Tân của bài viết, cần “tìm đọc” thêm để “hiểu cho đúng” về tham nhũng

Tham nhũng là một vấn nạn của xã hội, bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng đều có vấn nạn này. Lênin từng khẳng định: “tham nhũng gắn bó hữu cơ với sự tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước và quyền lực công…”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng chỉ rõ ba căn bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu là những “thứ giặc nội xâm” bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân mà ra. Đảng Cộng sản Việt Nam nhận diện: Tham nhũng là một quốc nạn, một trong bốn nguy cơ làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; công tác phòng, chống tham nhũng được xác định là cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn và phức tạp. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII khẳng định “Thực hiện quyết liệt, nghiêm minh, có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng”. Quan điểm trước sau như một của Đảng ta là sai phạm đến đâu thì xử lý đến đó, không có “vùng cấm”, “không có ngoại lệ”

Cho nên, người xưng là “chủ tịch Đảng Việt Tân” và bút danh Việt Tân cho rằng: Từ khi lên giữ chức Tổng bí thư tại đại hội 11 vào tháng 1 năm 2011 cho đến nay, Nguyễn Phú Trọng chỉ tập trung vào một việc là “đốt lò” trên danh nghĩa “củng cố lòng tin của người dân vào chính  quyền và sự lãnh đạo của đảng”, nhưng những gì diễn ra qua các cuộc truy tố và phanh phui trên mặt báo về tên tuổi của những “củi khô, củi tươi” thì thực chất cho thấy đây là cuộc sát phạt của ộng Trọng nhắm vào các đối thủ chính trị của mình để “tập trung quyền lực và uy thế”…Thật là lực cười và bỉ ổi với những luận điệu suy diễn vô căn cứ. Trong khi đó công cuộc phòng, chống tham nhũng ở Việt nam đang được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, cộng đồng quốc tế đánh cao cao. Như giáo sư Dennis McCornac (ĐH Loyola Maryland, Mỹ) cho rằng, rõ ràng là mọi chuyện đã có chuyển biến khi luật pháp nghiêm minh hơn. Hiện giới đầu tư nước ngoài tin tưởng rằng Việt Nam đang quyết tâm đẩy mạnh chống tham nhũng, tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, không còn nhũng nhiễu, hối lộ. Còn Ông Miguel Chanco, chuyên gia ASEAN của tổ chức nghiên cứu Economist Intelligence Unit (Anh) cho rằng, công cuộc chống tham nhũng tại Việt Nam, sẽ làm đầu tư nước ngoài và các hạng mục đầu tư tiếp tục tăng ở mức mạnh và ổn định kể từ đầu năm 2016, thời điểm Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đẩy mạnh công cuộc này.

Thứ hai, Việt Tân đã suy diễn và vạch ra bốn nguy cơ đe dọa Niệt Nam; trong đó có nguy cơ: CSVN mất khả năng đối phó với những tác động khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang đè nặng lên đời sống hàng triệu người dân lao động.

Vậy hãy xem sự “tiên tri” của “chủ tịch Đảng Việt Tân” và bút danh Việt Tân có chính xác không? Tại Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 05/6/2024 về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5 năm 2024 nêu rõ, tình hình kinh tế – xã hội tháng 5 tiếp tục xu hướng phục hồi tích cực và tốt hơn tháng 4; tính chung 05 tháng đầu năm 2024 đạt kết quả tốt hơn cùng kỳ năm 2023 trên hầu hết các lĩnh vực. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, thúc đẩy tăng trưởng cả 3 khu vực, các cân đối lớn được bảo đảm. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 5 tháng tăng 4,03% so với cùng kỳ. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng khá, tổng vốn đăng ký 5 tháng đạt hơn 11 tỷ USD, tăng 2% so với cùng kỳ, trong đó vốn đăng ký mới tăng 50,8%, vốn thực hiện đạt 8,25 tỷ USD, tăng 7,8% (cao nhất so với cùng kỳ trong 05 năm qua). Công tác an sinh xã hội được thực hiện hiệu quả, việc làm, sinh kế và đời sống người dân tiếp tục được nâng lên. Nhiều tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá tích cực, dự báo lạc quan về tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2024.

Những con số trên, cho thấy Việt Tân cần hiểu rằng: tham nhũng và chống tham nhũng, ở mọi thời và muôn đời vốn không bao giờ cũ. Đó là vấn đề song hành cùng với sự tồn tại và phát triển của mọi quốc gia. Điều quan trọng là quốc gia đó có đủ quyết tâm, có đủ kiên trì để hạn chế, tiến tới xóa bỏ nạn quan liêu, tham nhũng hay không mà thôi. Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam hãy đề cao cảnh giác, tỉnh táo, quyết không mắc mưu và kiên quyết đấu tranh vạch trần bản chất của những kẻ phản động như Việt Tân./.

 

PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG – “MỆNH LỆNH TỪ TRÁI TIM”

Phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ thường xuyên, vừa cấp bách, vừa lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn dân. Với phương châm kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống. Những kết quả đạt được trong công cuộc phòng, chống tham nhũng thời gian qua, minh chứng cho chủ trương đúng đắn, kiên quyết, kiên trì của Đảng ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, cuộc chiến chống “giặc nội xâm”. Thế nhưng, lợi dụng vào đó các thế lực thù địch, phản động đưa ra những luận điệu xuyên tạc, chống phá.

Mới đây, trên trang Vietnamthoibao, Nguyễn Đình Cống có bài viết “Phải chăng họ chỉ lo việc vuốt đuôi” để tuyên truyền, xuyên tạc về công cuộc phòng, chống tham nhũng mà Đảng và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện. Nguyễn Đình Cống cho rằng, công cuộc phòng chống tham nhũng hiện nay chủ yếu là chống chứ “chưa phòng hiệu quả”; “chưa tìm đúng nguyên nhân cơ bản”; “Ban Phòng chống tham nhũng chỉ mới chạm vào cái đuôi chứ không chặn được cái đầu, không làm được như tên gọi là phòng chống”. Y còn cho rằng “để tìm ra nguyên nhân cơ bản của tham nhũng hãy để cho tự do ngôn luận được thực thi thì chẳng mấy chốc sẽ tìm ra”…

Thực chất, đây là luận điệu xuyên tạc hoàn toàn vô căn cứ, suy diễn chủ quan của cá nhân Nguyễn Đình Cống. Ý đồ sâu xa của Y là đổ lỗi cho cơ chế, do “chủ thuyết chính trị”… để từ đó hướng dư luận tin theo chúng hòng gây mất niềm tin của Nhân dân với Đảng; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động tư tưởng “đa nguyên, đa đảng”; cổ xúy cho các trang báo “lá cải”, trang mạng xã hội của chúng tự do phát triển, tự do chống phá.

Trước hết, chúng ta cần nhận thức rõ, tham ô, tham nhũng là một hiện tượng xã hội đã xuất hiện sớm trong lịch sử loài người, tồn tại ở mọi chế độ chính trị với những mức độ và dạng thức khác nhau, gắn liền với nhà nước và quyền lực, không phải của riêng chế độ xã hội chủ nghĩa. Tính chất nguy hiểm của tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến đội ngũ cán bộ, công chức; nếu nó không được ngăn chặn, triệt bỏ sẽ gây cản trở lớn cho sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước. Hệ lụy kéo theo là làm suy thoái đạo đức, lối sống trong đội ngũ lãnh đạo, gây ra sự bất bình, bức xúc trong dư luận xã hội và nghiêm trọng hơn là làm xói mòn, suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, với chế độ và sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay. Đấu tranh loại bỏ tham nhũng là quy luật mang tính tất yếu xuất phát từ tính chất nguy hại của hiện tượng này đối với xã hội. Đây là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp mà bất kỳ thể chế chính trị hay quốc gia nào cũng phải quan tâm để xóa bỏ tận gốc khuyết tật đó.

Để phòng chống tham nhũng hiệu quả thì phải được tổ chức chặt chẽ, có hệ thống từ Trung ương đến cơ sở để bảo đảm tính nghiêm minh, tính chính xác, không bỏ lọt người, lọt tội, cũng không để oan sai ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của tổ chức, cá nhân. Quá trình đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn tìm đúng nguyên nhân, phân tích nguyên nhân kỹ lưỡng để kết luận theo kết quả kiểm tra, giám sát bảo đảm tính nghiêm minh, chính xác, đó là yêu cầu bắt buộc, nhưng cũng hết sức khó khăn, phức tạp. Vì vậy, quan điểm của Đảng, Nhà nước là “phòng” trước, “chống” sau; “phòng” là chính, “chống” là bắt buộc phải thực thi – đó là mệnh lệnh từ trái tim, khối óc của những người cách mạng chân chính vì sự trong sạch vững mạnh của Đảng, vì sự phát triển chung, bền vững của đất nước.

Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để thực hiện được điều đó, vấn đề mang tính tất yếu và then chốt của Đảng là luôn phải tự đổi mới, chỉnh đốn, đấu tranh chống tham nhũng, thoái hóa, biến chất,… trong nội bộ và hệ thống chính trị. Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam về đấu tranh phòng, chống tham nhũng qua các thời kỳ đã thể hiện rõ quyết tâm chính trị lớn lao, dù khó khăn, lâu dài nhưng vẫn không chùn bước trước “nạn giặc nội xâm”. Thời gian vừa qua, một loạt các sai phạm được đưa ra xét xử nghiêm minh. Điều này khẳng định công tác phòng, chống tham nhũng đã đạt nhiều kết quả quan trọng, tạo chuyển biến tích cực, có đột phá, được tiến hành quyết liệt, có hiệu quả, ngày càng đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống” góp phần thức tỉnh, cảnh báo, ngăn chặn từng bước và đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái, đưa đất nước phát triển thịnh vượng, bền vững.

 

LUẬN ĐIỆU XẢO TRÁ CỦA RFA

Vừa qua, RFA đăng tải bài viết “Báo động tình trạng Việt Nam gia tăng đàn áp các nhóm tôn giáo độc lập”, trong đó dẫn lời ông Stephen Shneck – Chủ tịch USCIRF, về cái gọi là “thông cáo báo chí báo động về tình trạng đàn áp đang gia tăng đối với các nhóm độc lập tại Việt Nam”, và không quên kèm theo các “dẫn chứng” nhằm hướng lái dư luận tin vào nội dung báo cáo, hiểu sai tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Để “luận chứng” cho USCIRF về cái gọi là “các giới chức chính quyền đã kết án tù năm nhà sư người Khmer Krom với các bản án từ hai đến sáu năm tù, quấy nhiễu hoạt động thờ phượng của người theo đạo Cao Đài, và tiếp tục bắt những người Thượng theo Tin Lành ở Tây Nguyên phải bỏ đạo”, RFA đã dẫn ra việc “tòa án nhân dân Vĩnh Long kết án tù 09 nhà sư và Phật tử người Khmer Krom ngày 26/11 vừa qua, với cáo buộc “Lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước” và “Bắt, giữ người trái pháp luật””.

RFA chỉ đưa tin nửa vời, không đề cập đến toàn bộ tình tiết của vụ án và bỏ qua luôn việc “chín nhà sư và phật tử” kia đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và hối hận về những hành vi của mình. Thông tin thêm để bạn đọc biết. Về nội dung “chín nhà sư và phật tử người Khmer Krom” mà RFA đã đưa ra, thì vụ việc diễn ra tại ấp Tổng Hưng, xã Loan Mỹ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Theo đó, từ năm 2020, Kim Khiêm cùng một số người dân tiến hành khởi công, xây dựng công trình trái pháp luật trên phần đất trồng lúa thuộc quyền sử dụng của bà Thạch Thị Ôi (ngụ ấp Tổng Hưng, xã Loan Mỹ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long) mà không được sự đồng ý của bà Ôi. Sau đó vụ việc được tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử, buộc trả lại phần đất trên cho bà Ôi. Nhưng Kim Khiêm và một số người tại địa phương cản trở khiến cơ quan chức năng không thực hiện được nhiệm vụ thi hành bản án. Cũng từ đó, Kim Khiêm lôi kéo một số phần tử như Thạch Chanh Đa Ra (SN 1990), Dương Khải (SN 1994), Kim Khiêm (SN 1978), Thạch Ve Sanal (SN 1987), Quý Lầy (SN 1986), Kim Sa Rương (SN 1987), Kim Khu (SN 1959), Thạch Nha (SN 1998); Thạch Chóp (SN 2003) nhiều lần lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” và “bắt, giữ người trái pháp luật” làm mất an ninh trật tự, xáo trộn cuộc sống của nhân dân địa phương[*][†]. Vậy là, RFA đã cho mọi người thấy USCIRF hoặc là thiếu thông tin, hoặc là cố tình suy diễn sai lệch mà cáo buộc sai sự thật về tình hình tự do tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam.

Thực tiễn cho thấy, kể từ khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đi vào đời sống, số lượng chức sắc, chức việc, cơ sở thờ tự và công dân theo tôn giáo tăng theo thời gian, ở tất cả các tôn giáo. Hiện nay, Việt Nam có hơn 27 triệu tín đồ, chiếm 28% dân số cả nước; hơn 55.000 chức sắc; gần 150.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự. Từ năm 2021 đến năm 2023, tính riêng đạo Tin Lành, Nhà nước đã chấp thuận thêm 170 điểm nhóm, 6 tổ chức tôn giáo trực thuộc ở khu vực miền núi phía bắc; chấp thuận thêm 11 tổ chức tôn giáo trực thuộc từ các điểm nhóm đã được đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung trước đó ở 5 tỉnh Tây Nguyên. Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người dân. Tại Việt Nam, không ai bị phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng và các hoạt động của các tổ chức tôn giáo được bảo đảm theo đúng các quy định của pháp luật. Qua đó, cho thấy, các chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước đã đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, tạo dựng được tinh thần phấn khởi trong đồng bào tín đồ và các nhà tu hành. Điều này đã được thể hiện rõ trong Hiến pháp 2013, hệ thống pháp luật của Việt Nam và được tôn trọng trên thực tế. Các chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, trong đó có tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng đã được nhiều nước ghi nhận và đánh giá cao.

Thực tế trên là bằng chứng đanh thép phủ nhận sự bịa đặt trắng trợn của RFA nhằm hướng lái người dân hiểu sai bản chất vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc mà Đảng và Nhân dân ta đang xây đắp./.

 

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC “VIỆT NAM ĐÃ QUYẾT ĐỊNH “CHỌN PHE”

Mới đây, trên trang “Baotiengdan, Trương Nhân Tuấn” loan tin: “Việt Nam đã quyết định “chọn phe” rồi”; “Việt Nam theo phe Trung Quốc”. Đây là luận điệu phản động, lợi dụng các vấn đề, các sự kiện, xuyên tạc, làm sai lệch bản chất về chính sách đối ngoại của Việt Nam, cổ xúy cho cái gọi là “chọn phe”. Thực chất nhằm mục tiêu gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự xã hội, cản trở việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, hạ thấp vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, xa hơn là đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Thứ nhất, Việt Nam không chọn bên, không chọn phe, mà chọn chính nghĩa, lẽ phải, hòa bình và phát triển.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp từ ngoài vào. Tư tưởng độc lập, tự chủ đó đã trở thành “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt và định hình các hoạt động đối ngoại của Việt Nam, được phát huy cao độ trong quá trình đấu tranh cách mạng, góp phần đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta đi đến thắng lợi cuối cùng. Với đại thắng mùa Xuân năm 1975, đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ của Việt Nam đã đạt tới đỉnh cao, mở ra một thời kỳ mới trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay, Việt Nam luôn nhất quán quan điểm không chọn bên, không chọn phe. Khẳng định, đường lối đối ngoại xuyên suốt là: Độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, không phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào khác.

Thứ hai, hợp tác vẫn là dòng chảy chính trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc

Năm 2024 đánh dấu 25 năm ký kết Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc và 15 năm ký 3 văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc. Việc ký kết Hiệp ước đã giải quyết triệt để vấn đề phân định biên giới trên đất liền hai nước về mặt pháp luật, thể hiện ý chí và quyết tâm kiên định mà hai bên nỗ lực vì hòa bình, hữu nghị và hợp tác. Khu vực biên giới Việt Nam – Trung Quốc đã trở thành khu vực biên giới hòa bình, ổn định, giao lưu thương mại, đi lại sôi nổi. Hợp tác quốc phòng tiếp tục là một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, được cả hai bên quan tâm thúc đẩy, đạt nhiều kết quả nổi bật trên các lĩnh vực: Trao đổi đoàn, nhất là đoàn cấp cao; đào tạo; giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới; giao lưu giữa các lực lượng (biên phòng, sĩ quan trẻ, quân khu, tuần tra chung)… Đồng thời, lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch, giáo dục, hợp tác địa phương, giao lưu nhân dân, giao lưu thanh niên và một số hoạt động khác, có nhiều khởi sắc.

Trong gần 75 năm qua kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao (18-01-1950/18-01-2024), hợp tác vẫn là dòng chảy chính trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Việt Nam duy trì vị trí là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN, đối tác thương mại lớn thứ 5 của Trung Quốc trên thế giới. Chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2024, kim ngạch xuất, nhập khẩu đã tăng 24,1% so với cùng kỳ năm 2023; Trung Quốc tiếp tục đứng đầu về số lượng dự án cấp mới tại Việt Nam. Bên cạnh đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cùng các lãnh đạo bộ, ngành, địa phương hai nước đã trao đổi về các nội dung, cơ chế hợp tác mới trong thời gian tới và những biện pháp để thực hiện Tuyên bố chung năm 2023, nhằm thực hiện “6 hơn”: Đó là 6 phương hướng hợp tác lớn, bao gồm: Tin cậy chính trị cao hơn; hợp tác quốc phòng, an ninh thực chất hơn; hợp tác thực chất sâu sắc hơn; nền tảng xã hội vững chắc hơn; phối hợp đa phương chặt chẽ hơn; bất đồng được kiểm soát và giải quyết tốt hơn.

Như vậy khẳng định rằng, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc: Hợp tác sâu sắc, toàn diện, thực chất, “vừa là đồng chí, vừa là anh em”, không phải là Việt Nam theo phe Trung Quốc như Trương Nhân Tuấn đã loan tin, chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ những luận điệu sai trái đó./.

 

 TỰ DO, DÂN CHỦ - LÀ NIỀM KHÁT VỌNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Tự do, dân chủ và thịnh vượng là khát vọng thiêng liêng mà người dân Việt Nam luôn hướng tới. Tuy nhiên, mới đây, trên trang Doithoaionline Vũ Đức Khanh có bài viết: “Con đường hướng tới Tự Do, Dân Chủ và Thịnh Vượng”, Y đưa ra những lời phán đoán, hoài nghi thiếu hiểu biết về Tự do, Dân chủ ở Việt Nam rằng: “Những quyết sách được đưa ra trong hững năm tới sẽ xác định Việt Nam có trở thành một ngọn hải đăng của tự do và thịnh vượng hay không, hay vẫn bị kìm hãm bởi giới hạn của quá khứ” và “Thời điểm là bây giờ. Liệu chúng ta có dám đứng lên để thay đổi”. Đây là những âm mưu thâm độc nhằm xuyên tạc Tự do, Dân chủ ở Việt Nam cần được đấu tranh, bác bỏ.

  1. Tự do, dân chủ ở Việt Nam mang đậm nét văn hóa dân tộc, văn minh của nhân loại

Con đường hướng tới tự do, dân chủ và thịnh vượng luôn là ước mơ cháy bỏng của bao thế hệ người Việt Nam, những người đã và đang không ngừng hy sinh, cống hiến cho đất nước. Từ những năm tháng đấu tranh giành độc lập, vượt qua khói lửa chiến tranh đến hiện tại, xây dựng một Việt Nam phát triển, công bằng, văn minh vẫn luôn là khát vọng của dân tộc. Ngày nay, tự do ở Việt Nam còn là quyền được bày tỏ ý kiến, được học tập, làm việc và sáng tạo trong một môi trường không bị bó buộc bởi sự bất công hay áp bức. Mỗi người dân luôn cảm thấy mình được lắng nghe, được tôn trọng và được tự do ngôn luận, đây chính là động lực để xã hội phát triển toàn diện. Những nỗ lực bảo vệ quyền con người, quyền tự do dân chủ đã khẳng định sự trưởng thành của đất nước Việt Nam hùng cường, vươn mình trong kỷ nguyên mới, sự phát triển toàn diện trong mắt cộng đồng quốc tế. Mặt khác, tự do ở Việt Nam không chỉ là mục tiêu mà còn là điều kiện để các giá trị dân chủ được nuôi dưỡng, khi người dân có quyền được tự do bầu chọn, giám sát và đóng góp ý kiến vào các chính sách nhà nước. Tự do, dân chủ và thịnh vượng ở Việt Nam luôn là mục tiêu, động lực, giá trị mà chúng ta để lại cho các thế hệ mai sau, khi mỗi người dân Việt Nam, từ già đến trẻ, từ thành thị đến nông thôn, đều cảm nhận được ý nghĩa và giá trị của những điều này, đó chính là giấc mơ lớn lao của dân tộc.

  1. Thực tiễn về Tự do, Dân chủ và Thịnh vượng ở Việt Nam hiện nay

Việt Nam đang trải qua một giai đoạn phát triển đáng chú ý với nhiều thành tựu kinh tế, xã hội, và chính trị. Các giá trị tự do, dân chủ và thịnh vượng, dù còn những thách thức, đã và đang được thúc đẩy thông qua các chính sách và định hướng của Đảng và Nhà nước, cùng với sự tham gia tích cực của người dân. Khi người dân có quyền bầu cử, ứng cử và quyền tham gia xây dựng chính sách, các hoạt động xã hội với nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.” Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc cải thiện đời sống người dân, các chính sách thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã góp phần tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho hàng triệu lao động, chất lượng sống, giáo dục, y tế và môi trường đạt nhiều tiến bộ, chỉ số phát triển con người (HDI), tuổi thọ trung bình, tỷ lệ biết chữ và tỷ lệ nhập học ngày càng tăng.  Mỗi người dân Việt Nam, dù ở miền xuôi hay miền ngược, đều có cơ hội tiếp cận với các nguồn lực phát triển, mọi doanh nghiệp, từ nhỏ đến lớn, đã đều được khuyến khích đổi mới và cạnh tranh bình đẳng, người lao động được đảm bảo quyền lợi, trẻ em được học hành đến nơi đến chốn, và người cao tuổi sống an nhàn trong sự yêu thương của gia đình và xã hội.

Tóm lại, Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục khẳng định là một quốc gia yêu chuộng hòa bình, tôn trọng tự do, thúc đẩy dân chủ và hướng tới thịnh vượng cho mọi người dân. Mỗi người dân Việt Nam hãy cùng nhau giữ vững niềm tin và quyết tâm, đồng lòng hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, phát triển dựa trên ý chí tự chủ, tự cường, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội./.

 

 VŨ ĐỨC KHANH VÀ NHỮNG THỦ ĐOẠN “ĐỔI TRẮNG THAY ĐEN” 

Từ khi Việt Nam giành được độc lập sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nhờ đó, Việt Nam đã thực hiện thành công kháng chiến chống Pháp, Mỹ, thống nhất đất nước và cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trải qua gần 40 năm đổi mới đất nước, thế và lực, vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và nâng lên, nhờ đó, mọi người dân Việt Nam được thụ hưởng các giá trị của cuộc sống trong hoà bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Bất chấp sự thật đó, các thế lực thù địch vẫn tăng cường đẩy mạnh chống phá cách mạng nước ta, nhất là lợi dụng vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền để làm chệch hướng con đường phát triển của Việt Nam. Trong đó, đáng chú ý là bài viết “Học hỏi từ Nhật Bản sau 1945: Con đường dẫn tới tự do, dân chủ và thịnh vượng cho Việt Nam” của blogger Vũ Đức Khanh được trang baotiengdan.com đăng tải. Vũ Đức Khanh với thủ đoạn “đổi trắng thay đen”, đã xuyên tạc nghiêm trọng thực tiễn đời sống chính trị – xã hội ở Việt Nam, nhất là về thể chế, hệ thống chính trị và đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Đây là điều cần được nhận diện và đấu tranh loại bỏ, trả lại đúng sự thật đang diễn ra ở Việt Nam – nơi được coi là mảnh đất đáng sống, được nhiều người trên thế giới yêu thích lựa chọn là điểm đến.

Thứ nhất, “sự trì trệ của thể chế” là lập luận chủ quan, áp đặt của blogger này. Vũ Đức Khanh đã cố tình không hiểu thể chế chính trị ở Việt Nam là do nhân dân Việt Nam lựa chọn. Hiện nay, ở Việt Nam chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền – đây là sự tin tưởng của toàn thể nhân dân và dân tộc Việt Nam đối với Đảng, vì tất cả các đảng khác đã tự giải tán hoặc chấm dứt hoạt động, chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước Việt Nam và toàn xã hội. Qua gần 40 năm đổi mới đất nước, từ một nước nghèo, kém phát triển, Việt Nam đã lọt vào nhóm nước thu nhập trung bình, với giá trị thương mại nằm trong 30 nền kinh tế hàng đầu trên thế giới. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và bản lĩnh của Đảng, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí đang tiếp tục được đẩy mạnh; việc đổi mới tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị đang là một cuộc cách mạng, được triển khai đồng bộ, quyết liệt, thận trọng và được nhân dân, dư luận xã hội đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Mỹ và tất cả các nước đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam đều đã công nhận thể chế chính trị ở Việt Nam, ghi nhận, đánh giá cao hiệu quả của thể chế chính trị mà Đảng, Nhà nước, Nhân dân Việt Nam xây dựng.

Thứ hai, Vũ Đức Khanh thổi phồng Việt Nam quá lệ thuộc Trung Quốc là phi thực tế. Bằng lối tư duy áp đặt chủ quan cá nhân, blogger này xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam, xuyên tạc thành quả đường lối đối ngoại và chính sách ngoại giao “độc lập, tự chủ”, “mềm dẻo, linh hoạt”, “đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế trên tinh thần bình đẳng, đôi bên cùng có lợi” của Việt Nam. Trong khi đó, cả truyền thông phương Tây và truyền thông Trung Quốc đều đánh giá cao đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam là cân bằng lợi ích các nước lớn, không lệ thuộc vào bất cứ đối tác nào, và đây là thành quả nổi bật của trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”, giúp Việt Nam có được “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế”.

Thứ ba, “một dân tộc đang mất niềm tin” là sự xuyên tạc trắng trợn của Vũ Đức Khanh. Thực tế cho thấy, toàn thể nhân dân trong cộng đồng 54 dân tộc anh em ở Việt Nam đều đang phấn khởi, tin tưởng, đoàn kết, thống nhất cao dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán xác định, Nhân dân là chủ thể, động lực quyết định của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, để chuẩn bị tốt nhất các điều kiện bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Với những thành quả trong đẩy mạnh đổi mới tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị, hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, mọi người dân Việt Nam đang được bảo đảm tốt nhất quyền con người, quyền công dân, được thụ hưởng cuộc sống thật sự tốt hơn cả về vật chất, tinh thần so với trước đây, nên các tầng lớp nhân dân ngày càng tin tưởng, phấn khởi, tự hào và quyết tâm xây dựng nước Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, “sánh vai với các cường quốc năm châu” theo di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh dưới sự lãnh đạo của Đảng và vận hành của hệ thống chính trị.

Như vậy, các lập luận của Vũ Đức Khanh trên trang baotiengdan.com chỉ là thủ đoạn hết sức đen tối, phản ánh sự trắng trợn, tráo trở với chiêu thức “đổi trắng thay đen” không hề mới, dựa trên quan điểm chủ quan, duy ý chí, áp đặt của cá nhân, vô cùng phi lý và đi ngược lại thực tiễn xây dựng, vận hành thể chế, khả năng của hệ thống chính trị và sự hiệu quả của đường lối, chính sách đối ngoại theo trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”. Đây là thủ đoạn xuyên tạc sự thật bẻ cong nhằm gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng và hệ thống chính trị ở Việt Nam, cần được chúng ta nhận diện đúng và kiên quyết đấu tranh loại bỏ, vì nó không chỉ vô lý mà còn đi ngược lại với lương tri và phẩm giá của con người./.

 

CÂU HỎI “NGÂY THƠ” CỦA CAO NGUYÊN VỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

Kết quả tái đắc cử nhiệm kỳ 2026 – 2028, lần thứ hai liên tiếp vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc cho thấy sự tham gia tích cực của Việt Nam trong các hoạt động quốc tế và sự nỗ lực mạnh mẽ thực hiện những cam kết của Việt Nam về thúc đẩy, bảo vệ quyền con người. Phủ nhận điều này, Cao Nguyên đã đăng bài: “Hồ sơ nhân quyền tồi tệ Việt Nam vẫn 2 lần đắc cử Hội đồng nhân quyền LHQ – Vì sao?” trên trang Rfavietnam. Nội dung bài viết của Y cho rằng Việt Nam đã tận dụng “kẽ hở” của cơ chế ứng cử và bầu cử để “giành ghế” trong hội đồng. Đây là điều không lạ với những kẻ mượn cớ để công kích, xuyên tạc, vu cáo tình hình nhân quyền ở Việt Nam! Những luận điệu của Cao Nguyên là sai trái, cần đấu tranh, bác bỏ.

Thứ nhất, kết quả Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc là khách quan, đúng nguyên tắc, xứng đáng; không phải là sự lợi dụng “kẽ hở”. Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc gồm 47 thành viên, có tôn chỉ, nguyên tắc, mục đích, nhiệm vụ rất rõ ràng; hoạt động trên cơ sở khách quan, hợp tác và đối thoại; trên tinh thần xây dựng, không thiên vị, chọn lọc. Tất cả các nước thành viên Liên Hợp quốc đều có quyền ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc và khi bỏ phiếu tại Đại hội đồng để bầu thành viên, các nước thành viên Liên Hợp quốc thường xem xét những đóng góp của từng ứng cử viên trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người cũng như những cam kết tự nguyện của họ trong lĩnh vực này. Sự thật đó, chứng tỏ những luận điệu, dẫn chứng của Cao Nguyên cho rằng Việt Nam trúng cử chỉ là do “điều đình”, “kêu gọi” trong bỏ phiếu chỉ là sự ngây ngô và thiển cận! Bởi, Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền là chính đáng, trên cơ sở bỏ phiếu khách quan, đúng nguyên tắc của các nước tham gia và Hội đồng kiểm duyệt phiếu.

Nhìn lại từ lần đầu tiên, năm 2013, Việt Nam đã trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016 với số phiếu 184/192, cao nhất trong số 14 nước thành viên mới. Lần bầu cử thứ hai, nhiệm kỳ 2023 – 2025, nhóm châu Á – Thái Bình Dương là khu vực có sự cạnh tranh cao nhất cho vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ này với 7 nước giới thiệu ứng cử từ giữa năm 2020 và không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam là một trong 14 quốc gia đã trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023 – 2025 với số phiếu cao. Kết quả này, đã bác bỏ luận điệu sai trái của Cao Nguyên cho rằng hình thức bỏ phiếu giúp “các quốc gia độc tài” dễ dàng “ủng hộ lẫn nhau”, “hay bầu cho nhau”!

Thứ hai, kết quả bầu cử cho Việt Nam không chỉ là kết quả do sự tham gia hoạt động tích cực mà còn là sự tín nhiệm của các quốc gia bầu Việt Nam. Thực tiễn cho thấy, trong các nhiệm kỳ Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là sự thành công của những tiếp nối nhiều đóng góp và thực hiện cam kết quốc tế về quyền con người. Đặt con người là mục tiêu, động lực cho sự phát triển, các ưu tiên của Việt Nam là việc bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, bình đẳng giới, chuyển đổi số và quyền con người; thông báo Việt Nam đã thực hiện hoàn toàn gần 90% số khuyến nghị theo cơ chế UPR năm 2019. Ông Jean-Pierre Archambault, nguyên Tổng thư ký Hội Hữu nghị Pháp – Việt thì cho rằng: “Bảo đảm tốt quyền con người là một trong những thành tựu của công cuộc Đổi mới ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người của Việt Nam là không thể phủ nhận”. Khi Việt Nam tái cử lần thứ hai liên tiếp 2026-2028, Đại sứ Riyad Mansour – Trưởng phái đoàn quan sát viên thường trực Palestine tại Liên Hợp quốc, đánh giá Việt Nam là quốc gia có truyền thống đứng về phía tự do, công lý. Như vậy, những dấu ấn về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người của Việt Nam là minh chứng bác bỏ luận điệu cho rằng Việt Nam không “cải thiện nhân quyền” nhằm xuyên tạc việc Việt Nam tái đắc cử vào Hội đồng nhân quyền của Cao Nguyên là sai trái!

Mỗi lá phiếu của mỗi quốc gia bầu chọn Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc là một trong những minh chứng khẳng định thành tựu nhân quyền ở Việt Nam. Cho dù, có những kẻ đơm đặt luận điệu xuyên tạc thì những đánh giá, những thành tựu về nhân quyền Việt Nam là không thể phủ nhận. Với thông điệp: Tôn trọng và hiểu biết. Đối thoại và hợp tác. Tất cả các quyền con người – cho tất cả mọi người, trong nhiệm kỳ 2026 – 2028 tới, Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam tin tưởng sẽ tiếp tục có nhiều đóng góp hơn nữa vào công tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trên toàn thế giới; cùng Hội đồng Nhân quyền phấn đấu vì hòa bình, dân chủ, hợp tác phát triển và tiến bộ xã hội loài người.

 

LẠI TRÒ LỐ BỊCH CỦA “THƯ NGỎ”

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch lại ra sức đẩy mạnh các hoạt động chống phá, đưa ra các quan điểm sai trái, bịa đặt và tìm mọi thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta, một trong số đó có tác giả Anh Ba Sàm trên trang Baotiengdan có bài “Thư ngỏ gửi Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam”, với chủ đích phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, xuyên tạc, cho rằng Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là “lạc đường”, đi ngược lại sự phát triển của nhân loại… Mục đích của chúng không gì khác là làm cho quần chúng nhân dân hoài nghi, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn. Đó là luận điệu hết sức phi lý, không có cơ sở khoa học và thực tiễn, cần đấu tranh, bác bỏ.

Thứ nhất, con đường phát triển đi lên CNXH dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin là khát vọng và tương lai của xã hội loài người, của dân tộc ta, bởi đó là quy luật tiến hóa của lịch sử; việc Đảng ta lựa chọn con đường đi lên CNXH là hoàn toàn khách quan, khoa học, trên cơ sở “ý Đảng” – “lòng dân”, phù hợp với thực tế đất nước và xu thế của thời đại. Bởi, xây dựng CNXH là sự lựa chọn đúng đắn; kiên trì con đường đi lên CNXH đã giúp cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành chính quyền về tay nhân dân, làm nên những thắng lợi vĩ đại trong đấu tranh giải phóng dân tộc; thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đúng như lời của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đảng ta khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Thứ hai, thực tiễn những thành tựu đạt được sau gần 40 năm đổi mới đã không chỉ giúp nâng cao chất lượng mọi mặt đời sống của các tầng lớp nhân dân, mà còn trực tiếp nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Chúng ta vô vùng cùng tự hào rằng: Kể từ sau khi gia nhập WTO vào năm 2007 cho đến nay, đã có 74 nước công nhận Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế thị trường. Theo số liệu được Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố vào cuối năm 2023, quy mô GDP của nền kinh tế đến hết năm 2023 ước đạt khoảng 10,22 triệu tỉ đồng, tương đương khoảng 430 tỉ USD. GDP bình quân đầu người Việt năm 2023 đạt khoảng 101,9 triệu đồng/người/năm, tương đương khoảng 4.284,5 USD/người/năm, Nước ta đứng thứ 35 trong top 40 nước có quy mô kinh tế hàng đầu thế giới, với quy mô kinh tế 435 tỉ USD, đứng thứ 4 Đông Nam Á và bình quân GDP/đầu người đứng thứ 6 khu vực.  …Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Cả về lý luận và thực tiễn đã minh chứng sự lựa chọn đó là hoàn toàn đúng đắn, chứ đâu phải theo một học thuyết “lạc đường” như các thế lực thù địch đang công kích. Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng trong chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vững bước trên con đường đi lên CNXH. Chỉ có những kẻ tráo trở, cố tình nhắm mắt, bịt tai phủ nhận sự thật lịch sử mới có thể bịa đặt, phê phán con đường đúng đắn ấy.