Thứ Ba, 11 tháng 2, 2025

 

CẢNH CHÂN LẠI SO SÁNH HỒ ĐỒ

Trong những ngày qua, nhân dân cả nước ta đang vui mừng trước những thành tựu về kinh tế, xã hội mà Việt Nam đạt được trong năm 2024; góp phần vào niềm vui chung đó, là Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam đã thi đấu thành công Tại vòng chung kết AFF Cúp (giải đấu bóng đá giữa các đội tuyển bóng đá nam đại diện các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á do Liên đoàn bóng đá ASEAN (AFF) tổ chức) mà Việt Nam vô địch. Đi ngược lại với lợi ích và niềm vui chung của dân tộc Việt Nam, Cảnh Chân mới đây trên trang Vietnamthoibao có bài viết tựa đề “Bóng đá Việt Nam thăng hoa cùng tiền đạo và huấn luyện viên ngoại, Bộ chính trị nên học tập”. Qua bài viết càng cho thấy lối tư duy siêu hình, nhận thức lệch lạc của Cảnh Chân đối với thành tựu chung của dân tộc Việt Nam.

Như chúng ta đã biết, sử dụng cầu thủ nhập tịch từ lâu đã trở thành xu hướng của bóng đá thế giới, mang tới cả thành công lẫn thất bại cùng những ý kiến trái chiều, thậm chí tranh cãi gay gắt. Bóng đá Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy đó, cầu thủ nhập tịch thế nào cho đúng đắn nhất là bài toán mà các nhà quản trị bóng đá nước nhà đang phải tính đến. Xin thưa với Cảnh Chân, trong thể thao, đặc biệt là bộ môn bóng đá, Châu Âu là khu vực phát triển cao nhất của bộ môn thể thao Vua này cũng rất nhiều cầu thủ nhập tịch. Trong 14 lần tham dự World Cup, nước Đức đã vô địch 3 lần, về nhì 4 lần. Đội Đức chính là tấm gương phản ánh chuẩn xác một xã hội Đức đa màu sắc, đa văn hóa. Trong danh sách đội Đức dự World Cup 2010, có đến một nửa là các cầu thủ gốc Tunisia, Thổ Nhĩ Kỳ, Nigeria, Ba Lan, Brazil, Ghana, Bosnia, Tây Ban Nha. Đặc biệt, Jerome Boateng (Đức) và người anh ruột Kevin-Prince Boateng (Ghana) đã trở thành cặp anh em đầu tiên trong lịch sử trực tiếp đối đầu nhau trên sân cỏ World Cup (năm 2010). Thành phần vô địch World Cup 1998 của Pháp gồm toàn các hảo thủ có nguồn gốc hoặc sinh ra tại Senegal (Patrick Vieira), Ghana (Marcel Desailly), Algeria (Zinedine Zidane), Guadeloupe (Thierry Henry, Bernard Diomede, Lilian Thuram), New Caledonia (Christian Karembeu)… Chức vô địch World Cup mà họ đem về năm 1998 được xem là thắng lợi to lớn cho cả nước Pháp lẫn châu Âu, bởi khi ấy chủ nghĩa cực hữu của nhân vật Jean-Marie Le Pen (“hãy trả lại đội tuyển Pháp cho người Pháp”) đang có chiều hướng phát triển, đe dọa tính ổn định về chính trị, xã hội của cả châu Âu.

          Thế còn đối với Huấn luyện viên ngoại thì sao, với tinh thần học hỏi, tiếp thu những kiến thức bóng đá văn minh của nhân loại, gần như tất cả các quốc gia trên thế giới giai đoạn này, giai đoạn khác đều thuê huấn luyện viên ngoại. Ngay cả những quốc gia có nền bóng đá phát triển bậc nhất như: Anh, Pháp, Tây Ban Nha cũng không ngoại lệ. Nước Mỹ nổi tiếng với kiểu dân chủ Tư sản mà Cảnh Chân thường ca tụng gần 20 năm qua vẫn thuê huấn luyện viên ngoại: Jurgen Klinsmann (Đức) và mới đây nhất là huấn luyện viên Mauricio Pochettino (cựu tuyển thủ Argentina) trở thành huấn luyện viên trưởng đội tuyển bóng đá nam nước này.

Nhắc đến chuyện cầu thủ Nguyễn Xuân Son được cho nhập tịch và màn thể hiện không thể chê vào đâu được trong màu áo đội tuyển bóng đá nam quốc gia và khát khao cống hiến cho thấy rằng hoạt động nhập tịch nhằm tạo ra sự giao thoa về chuyên môn, tạo động lực cho các cầu thủ quốc nội cố gắng để phát triển hơn. Người nước ngoài được nhập tịch còn tha thiết cống hiến cho đội tuyển thì không có lí do gì cầu thủ trong nước không cố gắng. Đây cũng là một ví dụ điển hình cho việc trọng dụng nhân tài phục vụ đất nước.

Trong thời đại phát triển, hội nhập, sự giao thoa về văn hóa, chuyên môn là điều cần thiết, việc nhập tịch nhằm mục đích phát triển cũng là hoạt động được xem xét tạo điều kiện, nhìn nhận từ góc độ lợi ích, phục vụ xây dựng, phát triển đất nước mới là điều quan trọng. Chúng ta hãy đánh giá từ góc độ phát triển mà bỏ qua các khác biệt về tôn giáo, sắc tộc, màu da để tạo điều kiện cho các cá nhân thực tâm cống hiến có nhiều cơ hội để hòa nhập và cống hiến cho đất nước. Đừng như Cảnh Chân với mục đích chống phá sự phát triển của đất nước Việt Nam để tuyên truyền, định hướng dư luận một cách cực đoan, siêu hình, lệch lạc./.

 

NHÂN QUYỀN LÀ NỀN TẢNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG XÃ HỘI

Vừa qua, tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã tiến hành Hội nghị cấp quốc gia “Hội nghị toàn quốc về giáo dục quyền con người” để khẳng định về quyền con người và tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về quyền con người với mục tiêu “tự do, ấm no, hạnh phúc, an ninh, an toàn, an dân” đúng như lời phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hội nghị.

Lợi dụng sự kiện này, trên trang Baotiengdan, Bút danh Vũ Đức Khánh có bài viết “Nhân quyền là nền tảng của phát triển: Việt Nam bao giờ thay đổi”. Với hàm ý xấu, bài viết có tính chất thù địch, xuyên tạc trắng trợn tình hình và chính sách nhân quyền ở Việt Nam, hòng kích động tâm lý bất mãn; hành động xuyên tạc, chống đối vấn đề quyền con người ở nước ta. Cổ xúy cho tư tưởng phản động đòi thành lập các tổ chức, hội đoàn độc lập, tập hợp lực lượng, phương tiện chống phá; các hành động biểu tình, bạo loạn… Vì vậy, chúng ta cần nhận diện và đấu tranh loại bỏ những kiểu loại ý kiến này.

Chúng ta khẳng định nhân quyền là nền tảng của sự phát triển bền vững xã hội. Nghĩa là mọi sự phát triển suy cho đến cùng đều hướng đến mục tiêu vì con người, vì sự phát triển của xã hội mà trong đó quyền con người được bảo vệ là mục tiêu cơ bản nhất. Bên cạnh những nỗ lực hoàn thiện thể chế, chính sách quyền con người, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người trên các phương diện đời sống xã hội, các quyền về dân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Việt Nam đã thành công về phát triển kinh tế, xã hội đảm bảo quyền con người, quyền công dân đúng như Thủ tướng Phạm Minh Chính đã phát biểu: “Nhân quyền lớn nhất của Việt Nam là làm sao để hơn 100 triệu người dân được sống tự do, ấm no, hạnh phúc, an ninh, an toàn, an dân”. Phát biểu của Thủ tướng đã nhấn mạnh các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội là các quyền cơ bản của con người như mục tiêu hành động của Việt Nam về Nhân quyền. Đây là lời khẳng định đanh thép bác bỏ những luận điệu xuyên tạc Việt Nam vi phạm nhân quyền mà các thế lực thù địch, phản động thường rêu rao, kích động.

Việt Nam là thành viên của Liên hợp Quốc, đã ký kết Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966), không những vậy, trên cơ sở các Công ước quốc tế về quyền con người và những yêu cầu thực tiễn Việt Nam, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Khoản 2, Điều 14 quy định:  “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ cộng đồng”.

Qua đây cho thấy: Quyền con người là quyền tự nhiên của con người, không phải sự ban phát của bất kỳ một lực lượng, tổ chức, cá nhân nào và cũng không thể tùy tiện bị tước đoạt. Nhưng, quyền con người, ngay cả quyền sống, quyền tự do đi lại, quyền cư trú, quyền tự do lập hội… cũng đều bị hạn chế bởi pháp luật của một quốc gia cụ thể dựa trên những nguyên tắc, thực tiễn quốc gia đó về việc bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ người khác và cộng đồng. Vì vậy, Đảng, Nhà nước, Nhân dân Việt Nam luôn nhận thức rõ vấn đề Nhân quyền là nền tảng của sự phát triển bền vũng xã hội và luôn bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo đúng hiến pháp, pháp luật Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế./.

 

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN

 Vừa qua, trên Bloger của Baoquocdan, bút danh Quê Hương có bài viết: “Nhân dân ở đâu trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc?”, cho rằng quan điểm tất cả vì nhân dân, lấy dân làm gốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước chỉ là mĩ từ để ru ngủ nhân dân… Thực tế, Quê Hương đang cố tình xuyên tạc, chống, phá chế độ chính trị ở Việt Nam.

  1. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Nước lấy dân làm gốc. Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do nhân dân quản lý và điều hành xã hội. Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
  2. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, quần chúng là động lực của cách mạng. Chính quần chúng nhân dân là lực lượng cách mạng đông đảo nhất trực tiếp thực hiện đường lối cách mạng, biến đường lối cách mạng của Đảng thành hiện thực. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Vậy, theo Quê Hương nhân dân có làm nô lệ cho Đảng Cộng sản không?
  3. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay, nếu không phát huy được dân chủ và quyền giám sát của nhân dân thì sẽ thất bại. Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm dân là gốc; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ, giám sát của nhân dân;dân chủ nói chung, giám sát nói riêng ở Việt Nam thể hiện bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa với nội dung cốt lõi là tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của nhân dân, gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ công dân; được vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” bảo đảm tất cả quyền lực, trong đó có quyền giám sát thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở; kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Thành tựu gần 40 năm đổi mới đã khẳng định, Đảng, Nhà nước đã ban hành và thực hiện có hiệu quả nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm phát huy quyền giám sát của nhân dân, thực hiện ngày càng tốt hơn quyền giám sát của nhân dân trong thực thi những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước. Như vậy, giám sát của nhân dân là thực sự, chứ không phải nằm trên giấy. Vì vậy, phải tiếp tục phát huy vai trò, sự tham gia của nhân dân trong xây dựng, ban hành, tổ chức, giám sát thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Mọi hoạt động của hệ thống chính trị phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ nói chung, giám sát nói riêng và vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

 

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN “YÊU THUẬT” CỦA ĐẶNG ĐÌNH MẠNH

Gần đây, trên trang Vietnamthoibao, luật sư “biến chất” Đặng Đình Mạnh đã có bài viết với tựa đề: Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên “vươn vòi” của dân tộc. Nội dung bài viết đã xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, xuyên tạc tư tưởng về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

  1. Đặng Đình Mạnh đã dùng thủ đoạn đánh tráo khái niệm để bôi nhọ đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Ngay đầu bài viết, Đặng Đình Mạnh đã ngông cuồng đưa ra nhận định: Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên “vươn vời” của dân tộc Việt Nam. Đây là nhận định hết sức nguy hiểm, mục đích của Y là “Đánh tráo khái niệm”, thổi phồng khuyết điểm, tồn tại của Việt Nam, bôi đen hiện thực, gieo rắc hoài nghi, phá vỡ niềm tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, kích động chia rẽ nội bộ, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

Để đạt được mục đích, Y đã cố tình rêu rao về sai phạm của một số nghệ sĩ, cán bộ của ta khi đi công tác, du lịch ở nước ngoài để quy chụp, hướng lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực. Thủ đoạn đánh tráo khái niệm từ “vươn mình” thành “vươn vòi” này rất nguy hiểm, nó là thủ đoạn tuy không mới, nhưng khi được truyền bá vào từng thời điểm cụ thể, đánh trúng tâm lý một bộ phận nhân dân sẽ rất sức độc hại, nguy hiểm, gây mất niềm tin của nhân dân  đối với Đảng.

Thực tế chứng minh, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, dân tộc Việt Nam đã có những bước phát triển đột phá kỳ diệu, tạo ra những kỷ nguyên vẻ vang: kỷ nguyên độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930 – 1975); kỷ nguyên thống nhất đất nước, đổi mới (1975 – 2025) và bây giờ, chúng ta bước vào kỷ nguyên thứ ba – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Như vậy, kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam sẽ là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh, kỷ nguyên thịnh vượng. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phát triển theo chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Qua đây, mỗi chúng ta cần hiểu rõ bản chất “yêu thuật” nguy hiểm của thủ đoạn “đánh tráo khái niệm” không để Đặng Đình mạnh và các thế lực thù địch lợi dụng, mê hoặc.

  1. Đặng Đình Mạnh cho rằng, đường lối ngoại giao “cây tre Việt Nam” là đường lối đối ngoại“uốn éo của giới buôn phấn bán hoa” hay “ chính sách đối ngoại đu dây”

Đây là nhận định thể hiện sự “ấu trĩ”, phản động, phản khoa học của Đặng Đình Mạnh, bởi lẽ, ngoại giao “cây tre Việt Nam” là đường lối ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh:

Thứ nhất, ngoại giao “cây tre Việt Nam” phù hợp với cách mạng Việt Nam cả về lý luận và thực tiễn, thể hiện sự khoa học, ý chí, niềm tin và mong muốn của nhân dân Việt Nam. Người Việt Nam đã trải qua các cuộc chiến tranh với những mất mát và đau thương to lớn. Vì thế, càng hiểu và trân trọng giá trị của hòa bình, độc lập, tự do; hiểu và trân trọng tinh thần tự lực, tự cường “đem sức ta mà giải phóng cho ta” từ các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Thứ hai, ngoại giao “cây tre Việt Nam” thể hiện sự tiến bộ, phù hợp với dòng chảy của thời đại. Trên thực tế, trong xu thế toàn cầu hóa, hợp tác và cạnh tranh diễn ra đan xen, mối quan hệ giữa các quốc gia trên thế giới cũng có nhiều biến đổi khó lường. Trong bối cảnh đó, ngoại giao “cây tre Việt Nam” xác định độc lập dân tộc, lợi ích Tổ quốc là “gốc”, là nguyên tắc “bất biến”; linh hoạt, uyển chuyển để cân bằng, giữ vững mối quan hệ hữu nghị, hợp tác với các quốc gia trên thế giới, để không bị rơi vào “vòng xoáy” của bất cứ một quốc gia nào.

Thứ ba, ngoại giao “cây tre Việt Nam” luôn khẳng định sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, là “gốc vững” cho “thân” và “cành” lớn mạnh. Trong bất kỳ khó khăn, thử thách nào cũng luôn bản lĩnh, kiên định, can trường vì mục tiêu độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Củng cố các quan hệ đa phương một cách uyển chuyển, linh hoạt, sáng tạo, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi. Vì thế, chắc chắn không phải là những hoạt động “tầm gửi”, “ăn bám” – lợi dụng, phụ thuộc vào nước khác như các đối tượng phản động rêu rao.

Thứ tư, ngoại giao “cây tre Việt Nam” mang bản sắc riêng của dân tộc Việt Nam; được kế thừa, đúc rút và phát huy từ những giá trị truyền thống ngoại giao của dân tộc qua ngàn năm lịch sử, sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, được lãnh đạo, sáng tập bởi lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại và được phát triển, hoàn thiện trong suốt quá trình cách mạng của đất nước. Điều đó thể hiện nét riêng có của dân tộc Việt Nam xuất phát từ mục tiêu “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân”.

Từ những luận giải trên, có thể thấy, đường lối ngoại giao “cây tre Việt Nam” là một bước đi chiến lược, rất đúng đắn, sáng tạo trong việc lãnh đạo thực hiện chính sách đối ngoại của Việt Nam. Đường lối ngoại giao này thực sự đóng một vai trò quan trọng nhằm giúp Việt Nam phát triển, tiến bộ và có những bước đi rất vững chắc trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay./.

 

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC NGHỊ ĐỊNH 126 CỦA CHÍNH PHỦ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định 126 về tổ chức, hoạt động và quản lý hội đã kịp thời thể chế các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về hội, cũng như giải quyết được những vấn đề không thống nhất giữa quy định của Đảng và quy định của pháp luật về quản lý hội. Nghị định 126 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/11/2024, gồm 8 chương, 53 điều (tăng 11 điều) đã giải quyết được những vấn đề bất cập phát sinh trong thực tiễn, giúp công tác quản lý của Nhà nước về hội ngày càng hiệu quả hơn.

 Từ khi Nghị định 126 được ban hành và có hiệu lực, một số báo, đài, trang mạng xã hội có tư tưởng thù địch chống phá như: Đài RFA, RFI, Việt Tân và gần đây nhất là VOA Tiếng Việt với bài viết “Thêm nhiều nhóm nhân quyền lên án Nghị định 126 của Việt Nam”, với thủ đoạn đưa tin phỏng vấn, hoặc viện dẫn phát biểu, bài viết của nhà nghiên cứu thuộc tổ chức nhân quyền hay nhóm phi lợi nhuận nào đó, để đưa ra những thông tin  có có tính chất thổi phồng, bôi đen Nghị định 126 “là một công cụ giúp chính quyền quản lý chặt hơn không gian của xã hội dân sự”; nhằm “tăng cường hơn nữa các hạn chế đối với các hội nhóm ở Việt Nam”; “gia tăng sự kiểm soát của nhà nước, hạn chế sự phát triển của các tổ chức xã hội độc lập và quyền tự do lập hội”…Khẳng định đây là những lập luận sai trái, phản động, cố tình xuyên tạc sự thật, gây hiểu lầm, hồ nghi trong nhân dân về việc bảo đảm, bảo vệ và thực thi quyền lập hội tại Việt Nam, chúng lợi dụng dân chủ, nhân quyền để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Thực tế, ở nước ta chưa hề có việc ngăn cản việc các cá nhân, tổ chức thành lập hội hay kiểm soát, hạn chế các hội ấy hoạt động, trừ phi các hội có vi phạm pháp luật. Quyền lập hội và quyền hội họp được Việt Nam chính thức ghi nhận trong Hiến pháp. Việc ban hành Nghị định 126 nhằm đáp ứng với yêu cầu quản lý chặt chẽ và tránh tình trạng lợi dụng hội để hoạt động phi pháp, gây thiệt hại về kinh tế và an ninh cho xã hội. Đây là biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi của người dân và đảm bảo các hội nhóm hoạt động lành mạnh, công khai, đồng thời là một công cụ pháp lý giúp Nhà nước có căn cứ để xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi lợi dụng hội nhóm để hoạt động trái phép, chống phá chính quyền. Nghị định 126 được thiết kế không chỉ để quản lý, mà còn hỗ trợ các hội nhóm hoạt động hiệu quả. Các quy định giúp cho các hội hoạt động có tổ chức, chuyên nghiệp hơn, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong hội. Khi hội hoạt động đúng theo quy định, quyền lợi của các thành viên cũng được đảm bảo, tạo sự tin tưởng và khuyến khích người dân tham gia, đóng góp vào sự phát triển của xã hội.

Có thể khẳng định, Nghị định 126/2024/NĐ-CP là bước tiến quan trọng để củng cố hệ thống quản lý xã hội tại Việt Nam, là văn bản quy phạm pháp luật cần thiết để góp phần giữ vững ổn định xã hội và đảm bảo cho các hội tại Việt Nam hoạt động theo khuôn khổ pháp luật, tuân thủ các giá trị văn hóa và truyền thống dân tộc. Trong Nghị định 126 đã quy định chi tiết các nội dung về thành lập, tổ chức hoạt động hội nhằm đảm bảo các tổ chức, cá nhân sẽ thành lập và hoạt động hội phù hợp với quy định của pháp luật, góp phần vào sự phát triển chung của xã hội, thể hiện qua một số điểm nổi bật như sau:

Một là, về đối tượng áp dụng, Nghị định 126  áp dụng đối với tổ chức, công dân Việt Nam có liên quan đến thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước về hội. Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định đặc thù về tổ chức, hoạt động của hội khác với Nghị định này thì áp dụng quy định của pháp luật chuyên ngành đó. Nghị định này sẽ không áp dụng với các tổ chức: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam; các tổ chức tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng; tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp theo quy định của Bộ luật Lao động.

Hai là, việc thành lập hội từ ngày 26/11/2024 phải đảm bảo các điều kiện như: tên gọi; lĩnh vực hoạt động chính không trùng lặp với lĩnh vực hoạt động chính của hội đã được thành lập hợp pháp trước đó trong cùng phạm vi hoạt động; có tôn chỉ, mục đích, lĩnh vực hoạt động phù hợp quy định pháp luật.

Ba là, quy định về cơ sở dữ liệu về Hội: Nghị định mới có riêng một điều quy định về cơ sở dữ liệu về Hội phục vụ cho công tác quản lý nhà nước mà Nghị định 45/2010/NĐ-CP chưa quy định.

Bốn là, về thời gian đại hội thành lập là 60 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định. Quá thời hạn 60 ngày làm việc mà ban vận động thành lập hội chưa chuẩn bị kịp để tiến hành tổ chức đại hội thành lập, thì trong thời gian 15 ngày làm việc tính từ ngày hết thời hạn 60 ngày làm việc, ban vận động thành lập hội chủ động có văn bản gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 15 Nghị định này đề nghị gia hạn.

Năm là, quy định về các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ: Nghị định 126  dành một chương để quy định về các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ.

Sáu là, về thẩm quyền giải quyết các thủ tục về hội: Nghị định số 126 quy định về điều khoản phân cấp thành lập và quản lý hội cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã.

Bảy là, quy định về trách nhiệm của các cơ quan, liên quan: Nghị định 126 quy định một cách cụ thể trách nhiệm của từng Bộ, ngành có liên quan.

Vì vậy, chúng ta khẳng định Nghị định 126 là văn bản pháp lý quan trọng quy định về cách thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý các hội tại Việt Nam; thể hiện rõ tính minh bạch, trách nhiệm và hiệu quả trong hoạt động của các hội; quy định cụ thể về quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước và ban lãnh đạo các hội… Từ đó, giúp giảm thiểu các hành vi tiêu cực, lạm dụng quyền lực và đảm bảo hoạt động hội diễn ra đúng với tôn chỉ, mục đích ban đầu… Đồng thời, siết chặt các quy định đảm bảo các đối tượng phản động, chống đối không thể thành lập các hội, nhóm trá hình hòng liên kết trong ngoài, nhận sự tài trợ của các thế lực thù địch bên ngoài chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Do đó, chúng ta cần phải nhận diện thấy rõ những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, chọn lọc những thông tin chính thống, xác thực; bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, xấu độc, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức xã hội hoạt động theo đúng tôn chỉ, mục đích.

 

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC NGHỊ ĐỊNH 147 CỦA CHÍNH PHỦ

Nghị định số 147/2024/NĐ-CP (Nghị định 147) của Chính phủ ban hành ngày 9/11/2024 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, có hiệu lực ngày 25/12/2024. Nghị định ra đời được đánh giá là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý quản lý viễn thông và an ninh mạng. Tuy nhiên, trên Doithoaioline, Trần Hiếu Chân có bài viết: “Không thể xiềng xích những cái đầu biết nghĩ Tự do”. Y bịa đặt thông tin cho rằng, với sự ra đời của Nghị định 147 là “Bước thụt lùi về nhân quyền”. Thực chất, Y và đồng bọn đã “mượn danh” quyền con người để chống phá chính sách mới của Đảng và Nhà nước ta; lo ngại các nội dung thông tin xấu độc, những thông tin gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bí mật nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân… mà chúng thường xuyên đăng tải trên mạng xã hội sẽ không “phủ sóng” được trên môi trường mạng, làm thất bại ý đồ, mục đích chống phá cách mạng của các thế lực thù địch. Bởi vì:

  1. Nghị định 147 quy định, người dùng mạng xã hội phải cung cấp thông tin cá nhân cơ bản gồm họ tên, ngày sinh, số điện thoại di động tại Việt Nam hoặc ID (nếu không có số điện thoại). Mạng xã hội phải thực hiện xác thực người dùng qua số điện thoại hoặc số định danh cá nhân đã đăng ký. Chỉ các tài khoản mạng xã hội đã được xác thực mới được cung cấp thông tin (viết bài, bình luận, livestream) và chia sẻ thông tin trên mạng xã hội. Nghị định quy định người sử dụng được bảo vệ thông tin theo quy định của pháp luật, đồng thời phải chịu trách nhiệm về nội dung do mình cung cấp, lưu trữ, truyền đưa, chia sẻ trên mạng; tuân thủ quy định pháp luật chuyên ngành khi cung cấp dịch vụ chuyên ngành trên mạng xã hội.

Môi trường mạng xã hội bên cạnh những yếu tố tích cực cũng hàm chứa những tiêu cực. Ở nước ta, mạng xã hội phát triển nhanh chóng, trở thành nhu cầu không thể thiểu của nhiều người. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, năm 2024, số người dùng Zalo hàng tháng là 76,5 triệu người dùng; số người dùng Facebook là 72 triệu, Youtube đạt 63 triệu và Tiktok là 67 triệu người dùng. Trong đó, nền tảng Zalo có đông tài khoản đăng ký sử dụng hơn 3 nền tảng xuyên biên giới. Tuy nhiên, mạng xã hội cũng là “mảnh đất màu mỡ” cho nhiều kẻ xấu lợi dụng giả mạo đăng những nội dung không tốt, các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước đang có xu hướng gia tăng trên các mạng xã hội. Nhiều tổ chức, cá nhân thù địch, định kiến với Việt Nam ở nước ngoài tìm mọi cách kích động, móc nối với các đối tượng bất mãn trong nước thông qua mạng xã hội để chống phá đất nước.

  1. Việt Nam luôn đảm bảo quyền con người

Tính đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế. So với nhiều nước, Việt Nam không thua kém về số lượng các công ước đã ký kết. Hiện nay, một số ứng dụng mạng xã hội như Facebok, Youtube, Zalo cũng đã đưa ra các tiêu chuẩn yêu cầu người tham gia phải đáp ứng yêu cầu “chính chủ” tối thiểu như người tham gia phải cung cấp thông tin số điện thoại, email… để xác minh và tăng cường bảo mật. Hơn nữa, rất nhiều mạng xã hội phổ biến hoạt động xuyên biên giới tạo ra những thách thức, trở ngại không nhỏ là bài toán mà các chính phủ, trong đó có Việt Nam tìm ra cách hóa giải để người dùng các nền tảng này tuân thủ quy định, vừa thỏa mãn lợi ích cá nhân, vừa đáp ứng yêu cầu xã hội. Cần thấy rằng, việc xác thực định danh cá nhân đối với người dùng mạng xã hội không có nghĩa mọi người đều phải công khai họ tên thật trên mạng mà chỉ xác thực tính chính danh tài khoản, còn việc lấy tên, nick gì là quyền của mỗi người. Ngoài việc hạn chế các hành vi vi phạm, định danh cá nhân còn góp phần giúp người dùng nâng cao tinh thần trách nhiệm khi dùng mạng xã hội, hạn chế tình trạng phát ngôn bừa bãi, thông tin xấu độc, sai sự thật. Việc xác thực người dùng sẽ tạo thuận lợi cho các cơ quan chức năng phát hiện và xử lý các hành vi sai phạm. Với việc 100% công dân Việt Nam đã có mã số định danh hoặc căn cước công dân gắn chip, việc triển khai định danh trên mạng xã hội sẽ thuận lợi. Vì vậy, Chính phủ ban hành Nghị định 147 nhằm bảo vệ quyền con người, ngăn chặn những hành vi lệch chuẩn trên không gian mạng, gây hại đến tổ chức, cá nhân, lợi ích quốc gia – dân tộc, hoàn toàn không phải “Bước thụt lùi về nhân quyền” như các thế lực thù địch, phản động rêu rao, xuyên tạc.

  1. Tự do ngôn luận trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật

Tại Việt Nam, quyền con người, quyền công dân luôn được tôn trọng, bảo vệ, thực thi theo Hiến chương Liên hợp quốc, Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam. Tự do ngôn luận là quyền hiến định trong Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25). Tuy nhiên, không phải tự do ngôn luận là nói gì cũng được, quyền này phải được thực hiện đúng theo quy định pháp luật, không làm ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia – dân tộc, ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng của người khác.

Về cơ sở pháp lý quốc tế, điều ước quốc tế cơ bản nhất về quyền con người là Công ước về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) nêu rõ: “1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp. 2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ. 3. Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và cần thiết để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín người khác. Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”.

Về cơ sở thực tiễn, thời gian qua, song song với sự phát triển như vũ bão của internet, bên cạnh những lợi ích vô cùng thiết thực thì môi trường internet và mạng xã hội tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn, các thế lực thù địch, chống phá cách mạng xem internet và mạng xã hội là mảnh đất màu mỡ để gieo rắc các thông tin xấu, độc. Việt Nam lại nằm trong tốp những quốc gia có số lượng người dùng mạng xã hội cao nhất thế giới; do đó, việc Nhà nước ta ban hành nhiều luật, văn bản dưới luật, cụ thể mới đây là Nghị định 147 để nhằm tiếp tục hoàn hiện hệ thống pháp luật Việt Nam, không chỉ thúc đẩy, đảm bảo quyền con người, mà còn tăng cường, củng cố thể chế để kiến tạo một môi trường mạng lành mạnh, an toàn, trách nhiệm.

Trên thế giới, một số nước đã đề ra những quy định mạnh mẽ trong quản lý, sử dụng internet và mạng xã hội. Chẳng hạn, ngày 6-11, Canada thông báo sẽ không cho phép Công ty TikTok Technology Canada Inc hoạt động tại quốc gia này sau khi xem xét vấn đề an ninh. Thượng viện Australia đã thông qua luật ngày 28/11/2024cấm người dưới 16 tuổi sử dụng mạng xã hội. Tương tự, năm 2023, nước Pháp cũng đã đề xuất lệnh cấm sử dụng mạng xã hội đối với trẻ em dưới 15 tuổi. Tại Trung Quốc, để có được tài khoản xã hội, người dân phải đăng ký với cơ quan chức năng với các nội dung: Tên thật, số chứng minh nhân dân, số điện thoại di động thật…Đây không phải lần đầu tiên và nội dung duy nhất mà các thế lực thù địch tạo cớ để chống phá; nhân danh “nhân quyền” để nói về tự do ngôn luận nói riêng và các quyền khác nói chung. Các thế lực thù địch chỉ nói những lời vô căn cứ, hoàn toàn sai trái, bịa đặt, với toan tính chia rẽ, làm mất lòng tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Do vậy, chúng ta phải nắm vững cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn về tự do ngôn luận và hết sức cảnh giác trước ý đồ nham hiểm của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị này./.

 

CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG CÁC VỤ VIỆC ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Vừa qua, trên trang voatiengviet đã đăng tài bài viết với tiêu đề “Nhìn lại 10 sự kiện tin tức nổi bật ở Việt Nam trong năm 2024”. Các thế lực thù địch, phản động vừa tung tin, vừa ra sức xuyên tạc và kích động, chống phá Đảng, Nhà nước, hòng gây ra sự bất ổn trong xã hội Việt Nam.

Các sự kiện gần đây như hành trình đi bộ của ông Thích Minh Tuệ hay các vụ bắt giữ, xử lý các đối tượng phản động đã bị các thế lực thù địch lợi dụng để tấn công chính quyền, xuyên tạc các chính sách của Nhà nước. Các tổ chức phản động, các đối tượng chống đối trong và ngoài nước đã không ngừng lợi dụng các vấn đề này để tuyên truyền thông tin sai lệch về tình hình tự do tôn giáo, quyền con người tại Việt Nam. Họ tuyên bố rằng chính quyền Việt Nam đang đàn áp tôn giáo, làm giảm quyền tự do của người dân. Tuy nhiên, thực tế không phải vậy. Chính quyền đã khẳng định rõ ràng về việc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của người dân, nhưng những đối tượng phản động đã lợi dụng những sự kiện này để vu khống, khiến một số người hoang mang, mất niềm tin vào hệ thống chính trị.

Một trong những phương thức chống phá mà các thế lực thù địch sử dụng là tạo ra sự hoài nghi và chia rẽ trong xã hội. Việc kêu gọi chống lại chính quyền, làm suy yếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, thường xuyên được thể hiện qua các thông điệp trên mạng xã hội. Những thông tin sai lệch này có thể gây nên sự chia rẽ giữa các tầng lớp xã hội, tạo ra những làn sóng phản đối vô căn cứ. Do đó, chúng ta phải tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vì Đảng luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu, luôn kiên định với các mục tiêu phát triển bền vững và bảo vệ sự ổn định chính trị. Cùng với đó, chúng ta cần định hướng cho người dân luôn tin tưởng vào các phương tiện truyền thông chính thống của Nhà nước, các cơ quan báo chí, để có những thông tin chính xác và đầy đủ về các vấn đề đang diễn ra trong xã hội. Các phương tiện thông tin chính thống luôn phản ánh sự thật khách quan, không bị tác động bởi các thế lực bên ngoài, đảm bảo cung cấp những thông tin chính xác giúp người dân có cái nhìn đúng đắn về các sự kiện và vấn đề trong xã hội.

Cảnh giác với những âm mưu của các thế lực thù địch cũng là một điều hết sức quan trọng. Các thế lực phản động luôn tìm cách kích động sự chia rẽ giữa các thành phần trong xã hội, tạo ra một môi trường bất ổn để dễ dàng thực hiện âm mưu của họ. Các tổ chức phản động này không từ bỏ bất kỳ cơ hội nào để triển khai các chiến dịch “cách mạng màu”, kích động bạo loạn, biểu tình, chống đối chính quyền. Những cuộc tẩy chay hay biểu tình bị xúi giục có thể được kích động từ những sự kiện, các vấn đề xã hội đang được dư luận quan tâm. Mục tiêu của họ là phá vỡ sự ổn định chính trị của Việt Nam, gây ra sự mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, làm xói mòn tinh thần đoàn kết dân tộc. Chính vì vậy, người dân cần phải tỉnh táo, không để bị lôi kéo, lợi dụng bởi những luận điệu phản động, không tham gia vào các cuộc biểu tình bất hợp pháp, và đặc biệt phải giữ vững niềm tin vào Đảng, Nhà nước.

Chúng ta cũng cần nâng cao nhận thức về các mối nguy hại từ các thế lực thù địch thông qua các kênh tuyên truyền, giáo dục. Cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giải thích rõ ràng về các chủ trương, chính sách, giải thích về các sự kiện, và công khai thông tin chính thức từ các cơ quan có thẩm quyền để người dân có thể phân biệt được giữa sự thật và các thông tin sai lệch. Những thông tin này phải được cung cấp đầy đủ, kịp thời và dễ hiểu, để người dân có thể tự bảo vệ mình khỏi những luận điệu xuyên tạc, đồng thời nâng cao ý thức cảnh giác trong cộng đồng.

Ngoài ra, chính quyền cũng cần tăng cường quản lý các thông tin trên mạng xã hội, vì đây là kênh dễ bị lợi dụng nhất để phát tán thông tin sai lệch. Các cơ quan chức năng cần có những biện pháp ngăn chặn, xử lý những đối tượng tung tin đồn, thông tin xuyên tạc, gây ảnh hưởng đến tinh thần đoàn kết, ổn định chính trị của xã hội. Người dân cũng cần phải cẩn trọng trong việc chia sẻ thông tin, đặc biệt là trên các nền tảng mạng xã hội, và chỉ tin tưởng vào những nguồn thông tin chính thống từ Nhà nước.

Trong bối cảnh đất nước đang đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn, việc bảo vệ sự ổn định chính trị và bảo vệ niềm tin vào Đảnh, Nhà nước là vô cùng quan trọng. Chúng ta cần phải kiên định, đoàn kết và giữ vững niềm tin vào Đảng và Nhà nước, vì chỉ có sự tin tưởng vào Đảng, vào các phương tiện thông tin chính thống và sự tỉnh táo trong việc nhận diện các âm mưu của các thế lực thù địch, chúng ta mới có thể vượt qua mọi thử thách, giữ vững sự ổn định và tiếp tục xây dựng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

 

VẠCH TRẦN THỦ ĐOẠN CỦA CHÂU NAM VIỆT

Chủ trương tinh giản biên chế và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam triển khai đồng bộ, mạnh mẽ, đạt nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên lợi dụng vấn đề này, trên trang Vietnamthoibao đã đăng tải bài viết với tiêu đề: “Tinh giản biên chế – sân chơi đầy tiêu cực”. Nội dung bài viết đã xuyên tạc, bóp méo sự thật về chủ trương tinh giản biên chế, kích động, lôi kéo phần tử cơ hội, phản động chống đối chính quyền, bôi nhọ, hạ thấp uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta.

  1. Thực tế cho thấy, bộ máy hành chính cồng kềnh sẽ gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển của đất nước. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm đi vào thực tiễn cuộc sống hoặc một số chủ trương không được triển khai hoặc triển khai hình thức trên thực tế. Một trong những lý do chính để tiến hành cải cách bộ máy hành chính là giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Theo số liệu từ Bộ Tài chính, chi cho bộ máy hành chính chiếm khoảng 70% tổng ngân sách chi tiêu thường xuyên của Nhà nước. Do vậy, tinh giản biên chế là một trong những yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan nhà nước, đồng thời giảm thiểu các chi phí hành chính không cần thiết. Trong thời gian qua, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác tinh giản bộ máy hành chính. Đặc biệt, việc tinh giản biên chế và giảm bớt các đầu mối hành chính đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Tính đến 30/10/2024, số biên chế công chức, viên chức của bộ, ngành, địa phương đã giảm theo quy định tại các Nghị định của Chính phủ là 16.149 người (trong đó, bộ, ngành là 217 người, địa phương là 15.932 người). Chỉ tính từ 2019 cho đến nay, chúng ta đã tiết kiệm được trên 25.600 tỷ đồng, đây là nguồn để đưa vào cải cách tiền lương.

Từ những luận giải trên, có thể khẳng định, tinh giản biên chế là chủ trương lớn, đặc biệt quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Thực hiện tốt chủ trương này sẽ giảm thiểu tình trạng lãng phí, giúp tiết kiệm ngân sách và tái phân bổ các nguồn lực cho các lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội.

  1. Tinh giản biên chế là yêu cầu tất yếu khách quan để xây dựng bộ máy công quyền hoạt động hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Ngoài ra, việc tinh giản bộ máy còn là một yếu tố then chốt trong việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và cải thiện công tác quản lý nhà nước. Một bộ máy hành chính tinh gọn và chuyên nghiệp sẽ giúp các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ hơn trong công tác phòng, chống tham nhũng, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân và doanh nghiệp. Cũng nhờ vào sự cải cách này, quy trình cung cấp dịch vụ công đã được đơn giản hóa, rút ngắn thời gian chờ đợi, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các dịch vụ của Nhà nước.

Thực tiễn chứng minh, tinh gọn biên chế là việc làm không hề dễ dàng, không đơn giản, không phải làm một sớm, một chiều, làm một lần là xong vì nó liên quan đến nhiều vấn đề nhạy cảm, phức tạp. Để ngăn chặn kịp thời biểu hiện tiêu cực trong tinh giản biên chế, Chính phủ đã yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương phải thực hiện đúng theo Điều 3, Nghị định 29/2023/NĐ-CP, đó là: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò giám sát của các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân trong quá trình thực hiện tinh giản biên chế; gắn tinh giản biên chế với sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, phù hợp với cơ chế tự chủ của cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, minh bạch và theo quy định của pháp luật. Tiến hành chi trả chế độ, chính sách tinh giản biên chế kịp thời, đầy đủ theo quy định của pháp luật, bảo đảm sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước; người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện tinh giản biên chế trong cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý theo thẩm quyền; đối tượng tinh giản biên chế nếu được bầu cử, tuyển dụng lại vào các cơ quan, tổ chức, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong thời gian 60 tháng kể từ ngày thực hiện tinh giản biên chế thì phải hoàn trả lại số tiền trợ cấp đã nhận cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đã chi trả trợ cấp.

Như vậy, tinh giản biên chế trong tình hình hiện nay là vấn đề cấp thiết thiết, thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Nhà nước ta, với mục đích rõ ràng, hoàn toàn không có chuyện tinh giản biên chế là nguyên nhân phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực như như Châu Nam Việt đã cố tình xuyên tạc, rêu rao./.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRƯỚC HẾT PHẢI ĐỌC KỸ, HIỂU ĐÚNG!

     Như mọi quy định khác, muốn thực hiện hiệu quả Thông tư số 122/2024/TT-BQP ngày 31-12-2024 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở trong Quân đội nhân dân Việt Nam thì các chủ thể liên quan phải đọc kỹ, hiểu rõ nội dung của thông tư, nắm được quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình.

Thực tế cho thấy, vì không nắm chắc điều này nên có những trường hợp chủ yếu đòi hỏi các chế độ, quyền lợi đơn thuần nặng tính cá nhân, góp ý không đúng nội dung, thiếu tính xây dựng, dân chủ vô nguyên tắc... Có trường hợp chiến sĩ mới đề đạt nguyện vọng một cách rất “vô tư” như: Đề nghị được sử dụng điện thoại di động, xin được về thăm gia đình vào ngày nghỉ cuối tuần, điều chỉnh thời gian biểu công tác... Tuy nhiên, điều này là do chiến sĩ chưa nắm rõ các quy định nên chỉ huy các cấp cần lắng nghe, giải thích để anh em hiểu, tránh mệnh lệnh nặng nề khiến chiến sĩ ngại thổ lộ, chia sẻ.

Song song với công tác phổ biến, quán triệt quy định đến mọi quân nhân, chỉ huy các cấp cũng cần có nhận thức đúng và gương mẫu thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; đa dạng hóa hình thức lắng nghe ý kiến của bộ đội và khuyến khích bộ đội bày tỏ chính kiến, kể cả những ý kiến trái chiều. Kịp thời giải đáp, giải quyết những thắc mắc chính đáng của bộ đội theo thẩm quyền; tránh tình trạng thực hiện dân chủ hình thức, hứa nhưng không thực hiện hoặc nói một đằng làm một nẻo dẫn đến mất niềm tin của bộ đội.

Tổ chức “hòm thư góp ý” và có hình thức phù hợp để tiếp nhận thông tin phản ánh, ý kiến của quân nhân một cách nhanh chóng, kịp thời. Thực hiện nghiêm các quy định về đối thoại dân chủ, giải quyết nội dung phản ánh, kiến nghị...; chủ động phát hiện và xử lý nghiêm các biểu hiện trù dập, đe dọa người tham gia ý kiến, phản ánh... Đồng thời, biểu dương, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân, tổ chức thực hiện có hiệu quả việc phát huy dân chủ; phát hiện và xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật, quy định của Bộ Quốc phòng về thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Dân chủ ở các cơ quan, đơn vị Quân đội ngày càng mở rộng và toàn diện. Nhưng để phát huy được dân chủ thì trước hết, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải nắm chắc, hiểu đúng các quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở trong Quân đội nhân dân Việt Nam trên từng cương vị công tác.

Theo đó, khi tiến hành góp ý, quân nhân phải tuân thủ pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, quy định của Quân đội và với tinh thần xây dựng đơn vị, tuyệt đối không được ý kiến tùy tiện, không đúng sự thật; có ý kiến xuyên tạc hoặc nhằm mục đích vụ lợi cá nhân, gây chia rẽ, mất đoàn kết; ý kiến về dân chủ cần phải phù hợp với đạo đức xã hội; bảo vệ lợi ích và không cản trở hoạt động bình thường của cá nhân, cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp. Một điều cần lưu ý nữa là Quân đội có tổ chức biên chế chỉ huy từ cấp tiểu đội trở lên, nên việc đề đạt nguyện vọng, tham gia ý kiến phải báo cáo theo phân cấp chỉ huy, không ý kiến vượt cấp...
Ảnh: Đêm sinh nhật đồng đội của chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 692, Sư đoàn 301, Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội.
Môi trường ST.

 

ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ KỶ NGUYÊN MỚI CỦA DÂN TỘC

Phát biểu bế mạc tại Hội nghị Trung ương 10 và trong nhiều bài viết, phát biểu quan trọng vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Với thế và lực đã tích luỹ được sau 40 năm đổi mới, với sự đồng lòng, chung sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, với những thời cơ, thuận lợi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chúng ta đã hội tụ đủ những điều kiện cần thiết đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”.

Tuy nhiên, bằng nhiều thủ đoạn, phương thức khác nhau, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại ra sức xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu đó của dân tộc ta. Vừa qua trên trang Thongluan-rdp.org, Kỷ Nguyên có bài “Những gì cần thấy đằng sau kỷ nguyên mới của Tô Lâm”, đã xuyên tạc, bóp méo quan điểm về kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam. Chúng ta cần khẳng định:

  1. Cơ sở định vị mục tiêu đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Kỷ nguyên là một giai đoạn lịch sử được đánh dấu bởi những đặc điểm quan trọng hoặc sự kiện có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội – văn hóa – chính trị – tự nhiên. Kỷ nguyên thường được sử dụng để phân chia thời gian trong lịch sử theo những biến cố lớn hoặc có sự thay đổi căn bản trong đời sống chính trị hay khoa học, công nghệ, môi trường. Kỷ nguyên vươn mình hàm ý tạo sự chuyển động mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt, tích cực, nỗ lực, nội lực, tự tin để vượt qua thách thức, vượt qua chính mình, thực hiện khát vọng, vươn tới mục tiêu, đạt được những thành tựu vĩ đại. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là, dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Những thành tựu vĩ đại đạt được sau 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, giúp Việt Nam tích lũy thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong giai đoạn tiếp theo: Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia – dân tộc được bảo đảm. Quy mô nền kinh tế năm 2023 tăng gấp 96 lần so với năm 1986. Việt Nam trong nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài; có quan hệ ngoại giao với 194 nước là thành viên Liên hợp quốc; xây dựng các mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược và có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 8 nước trên thế giới. Đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; hoàn thành về đích sớm các mục tiêu Thiên niên kỷ. Tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học – công nghệ, quốc phòng, an ninh không ngừng nâng cao; tham gia đóng góp tích cực duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

  1. Mục tiêu của kỷ nguyên mới

Theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, mục tiêu tổng quát của kỷ nguyên mới chính là: Phấn đấu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; có thể chế quản lý hiện đại, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; kinh tế phát triển năng động, nhanh và bền vững, độc lập, tự chủ trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với nâng cao hiệu quả trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy sức sáng tạo, ý chí và sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng xã hội phồn vinh, dân chủ, công bằng, văn minh, trật tự, kỷ cương, an toàn, bảo đảm cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Không ngừng nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Phấn đấu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa XHCN Việt Nam, trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại, từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới, đây cũng là thời kỳ cơ hội chiến lược quan trọng, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề vững chắc đạt mục tiêu 100 năm thành lập nước. Sự biến chuyển có tính thời đại đem đến thời cơ, thuận lợi mới, đồng thời cũng có nhiều thách thức, trong đó mặt thách thức nổi trội hơn và thời cơ mới còn có thể xuất hiện trong khoảnh khắc giữa những thay đổi đột biến trong cục diện thế giới. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là trí tuệ nhân tạo và công nghệ số đem đến cơ hội mà những quốc gia đang phát triển, chậm phát triển có thể nắm bắt để đi trước đón đầu, phát triển vượt bậc.

Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, khơi dậy ý chí tự lực, tự chủ, tự tin, tự cường, tự hào dân tộc, huy động sức mạnh toàn dân kết hợp với sức mạnh thời đại, con thuyền cách mạng Việt Nam sẽ đạt được những kỳ tích (kỳ tích về một nước dân chủ thuộc địa nửa phong kiến có thể chiến thắng hai đế quốc thực dân hùng mạnh; kỳ tích về một nước từ bị bao vây cấm vận thực hiện thành công công cuộc đổi mới với những thành tựu vĩ đại). Hiện nay là thời điểm ý Đảng hòa quyện với lòng dân trong khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sớm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Những vấn đề đã được đề cập ở trên là minh chứng khách quan, sinh động, phản bác những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch về mục tiêu đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.