Thứ Ba, 11 tháng 2, 2025

 

Hiếu học là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

Những ngày qua, trên “Vietnamthoibao” đã đăng tải bài viết “Hám học hay hám danh?” của Nguyễn Văn Tuấn. Trong bài viết, đã “nghĩ lại” theo kiểu “thầy bói xem voi” để minh chứng cho lời của “một giáo sư khả kính ở Hà Nội nhận xét rằng người Việt hám danh, chớ không hẳn hám học” là đúng. Nghĩa là Tuấn đã dựa vào “góc nhìn của xã hội phương Tây” và hiện tượng “háo danh” của không ít người để bài bác truyền thống hiếu học của dân tộc ta. Thực tế là:

Học tập là cách thức con người tích lũy kinh nghiệm và làm giàu tri thức cho mình.

Không một nước nào, không một dân tộc nào tồn tại và phát triển mà không coi trọng việc học tập. Học tập chính là con đường ngắn nhất để làm giàu, lưu giữ, truyền đạt kiến thức, tích lũy kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác. Có thể nói, không một bước phát triển nào của văn minh nhân loại mà không gắn với việc học. Học tập góp phần trang bị hệ thống kiến thức và kỹ năng cần thiết cho mỗi cá nhân trong lao động, sinh tồn và phát triển. Bằng vốn kiến thức, kinh nghiệm thu nhận được từ thế hệ trước, con người nâng cao trình độ, tăng hiệu quả lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống, thích nghi với hoàn cảnh tự nhiên, xã hội và tiếp tục bổ sung kinh nghiệm, phát triển tri thức. Học tập mang lại cho cá nhân trình độ học vấn, nâng cao kỹ năng lao động, hòa nhập vào cộng đồng, thích nghi với hoàn cảnh tự nhiên và xã hội; đồng thời rèn luyện đạo đức và nhân cách con người. Như UNESCO đã đề xướng “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.

Hiếu học là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam

Hiếu học là thói quen ham thích, coi trọng việc học hành và được hình thành lâu dài, truyền từ đời này sang đời khác trở thành truyền thống của dân tộc Việt Nam. Người “hiếu học” là biểu hiện của sự ham học hỏi, ham hiểu biết, muốn vươn tới, muốn chinh phục những tri thức của nhân loại. Hiếu học thể hiện một tinh thần tự nguyện, một sự nỗ lực cố gắng không ngừng của bản thân, không bao giờ tự bằng lòng với những cái đã biết, những cái đã học được. Người hiếu học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, học trong sách vở, học trong cuộc sống. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc thông minh và có truyền thống hiếu học. Người Việt Nam luôn coi trọng việc học, lấy việc học làm điều căn bản để thực hiện đạo lý làm người.

Nổi bật lên những nhân vật có tinh thần hiếu học, đó là Thầy Chu Văn An (1292 – 1370); Trạng nguyên nhỏ tuổi nhất Việt Nam – Nguyễn Hiền (1234 – 1256); Nhà sử học  Lê Văn Hưu (1230 – 1322), Nhà chính trị – nhà quân sự – nhà văn hóa Nguyễn Trãi (1380 – 1442); Nhà toán học Lương Thế Vinh (1441 – 1497); Nhà văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585); Nhà bác học Lê Qúy Đôn (1726 – 1784); Thầy giáo Võ Trường Toản (1709 – 1792); Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh; Thầy giáo – Nhà khoa học Tạ Quang Bửu (1910 – 1986); Thầy Nguyễn Ngọc Ký (1947 – 2022), v,v… là những tấm gương hiếu học, tự học, đồng thời là những “nhà giáo, nhà văn hóa mẫu mực đức trọng, tài cao”, mãi sáng ngời cho mọi thế hệ học sinh noi theo.

Tiếp nối truyền thống hiếu học trong thời đại Hồ Chí Minh

Truyền thống hiếu học của dân tộc đã thấm đẫm trong nhận thức của người Việt Nam, tiếp tục được kết tinh và tỏa sáng trong thời đại Hồ Chí Minh. Ngay sau khi giành được độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, ngày 03 – 9 – 1945, khi đề cập “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra sáu “vấn đề cấp bách hơn cả” trong đó có “vấn đề thứ hai là nạn dốt”. Nạn dốt làm cho hơn 90% đồng bào Việt Nam mù chữ; đó là sản phẩm của một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân đã dùng để cai trị chúng ta. Đó là một trong ba thứ giặc cần phải diệt. Bởi: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Hạnh phúc đầu tiên khi đất nước có nền độc lập là đồng bào được đi học, được thoát khỏi sự tăm tối của cuộc đời để đến với ánh sáng của thế giới tri thức, văn minh. Ngày 04 – 10 – 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục ra lời kêu gọi “chống nạn thất học” để khuyến khích toàn dân học tập. Chỉ trong vòng một năm đã có trên 2,5 triệu người biết chữ, đồng thời các hủ tục cũng dần được xóa bỏ. Hạnh phúc của thành quả đầu tiên ấy đã góp phần quan trọng xây dựng nền móng hệ thống giáo dục phổ thông, chuyên nghiệp, đại học, văn hóa, khoa học kỹ thuật của đất nước ngày nay.

Trong 94 năm lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn quan tập đặc biệt đến công tác giáo dục, đào tạo. Coi đây là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước và luôn bảo đảm điều kiện thuận lợi để mỗi người dân có cơ hội được thụ hưởng công bằng thành quả của nền giáo dục. Học tập không chỉ là nghĩa vụ thiêng liêng mà còn là quyền lợi cao cả của mọi công dân. Học tập không chỉ đem lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân, mà còn là hạnh phúc cho cả một dân tộc và toàn nhân loại.

Những nhận định xuyên tạc của Nguyễn Văn Tuấn không lừa gạt được người dân Việt Nam, mà ngược lại chỉ làm cho dân ta thấy rõ bộ mặt thật của những kẻ phản động, lừa dân, hại nước như Nguyễn Văn Tuấn.

 

CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG CÁC VỤ VIỆC ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Vừa qua, trên trang voatiengviet đã đăng tài bài viết với tiêu đề “Nhìn lại 10 sự kiện tin tức nổi bật ở Việt Nam trong năm 2024”. Các thế lực thù địch, phản động vừa tung tin, vừa ra sức xuyên tạc và kích động, chống phá Đảng, Nhà nước, hòng gây ra sự bất ổn trong xã hội Việt Nam.

Các sự kiện gần đây như hành trình đi bộ của ông Thích Minh Tuệ hay các vụ bắt giữ, xử lý các đối tượng phản động đã bị các thế lực thù địch lợi dụng để tấn công chính quyền, xuyên tạc các chính sách của Nhà nước. Các tổ chức phản động, các đối tượng chống đối trong và ngoài nước đã không ngừng lợi dụng các vấn đề này để tuyên truyền thông tin sai lệch về tình hình tự do tôn giáo, quyền con người tại Việt Nam. Họ tuyên bố rằng chính quyền Việt Nam đang đàn áp tôn giáo, làm giảm quyền tự do của người dân. Tuy nhiên, thực tế không phải vậy. Chính quyền đã khẳng định rõ ràng về việc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của người dân, nhưng những đối tượng phản động đã lợi dụng những sự kiện này để vu khống, khiến một số người hoang mang, mất niềm tin vào hệ thống chính trị.

Một trong những phương thức chống phá mà các thế lực thù địch sử dụng là tạo ra sự hoài nghi và chia rẽ trong xã hội. Việc kêu gọi chống lại chính quyền, làm suy yếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, thường xuyên được thể hiện qua các thông điệp trên mạng xã hội. Những thông tin sai lệch này có thể gây nên sự chia rẽ giữa các tầng lớp xã hội, tạo ra những làn sóng phản đối vô căn cứ. Do đó, chúng ta phải tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vì Đảng luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu, luôn kiên định với các mục tiêu phát triển bền vững và bảo vệ sự ổn định chính trị. Cùng với đó, chúng ta cần định hướng cho người dân luôn tin tưởng vào các phương tiện truyền thông chính thống của Nhà nước, các cơ quan báo chí, để có những thông tin chính xác và đầy đủ về các vấn đề đang diễn ra trong xã hội. Các phương tiện thông tin chính thống luôn phản ánh sự thật khách quan, không bị tác động bởi các thế lực bên ngoài, đảm bảo cung cấp những thông tin chính xác giúp người dân có cái nhìn đúng đắn về các sự kiện và vấn đề trong xã hội.

Cảnh giác với những âm mưu của các thế lực thù địch cũng là một điều hết sức quan trọng. Các thế lực phản động luôn tìm cách kích động sự chia rẽ giữa các thành phần trong xã hội, tạo ra một môi trường bất ổn để dễ dàng thực hiện âm mưu của họ. Các tổ chức phản động này không từ bỏ bất kỳ cơ hội nào để triển khai các chiến dịch “cách mạng màu”, kích động bạo loạn, biểu tình, chống đối chính quyền. Những cuộc tẩy chay hay biểu tình bị xúi giục có thể được kích động từ những sự kiện, các vấn đề xã hội đang được dư luận quan tâm. Mục tiêu của họ là phá vỡ sự ổn định chính trị của Việt Nam, gây ra sự mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, làm xói mòn tinh thần đoàn kết dân tộc. Chính vì vậy, người dân cần phải tỉnh táo, không để bị lôi kéo, lợi dụng bởi những luận điệu phản động, không tham gia vào các cuộc biểu tình bất hợp pháp, và đặc biệt phải giữ vững niềm tin vào Đảng, Nhà nước.

Chúng ta cũng cần nâng cao nhận thức về các mối nguy hại từ các thế lực thù địch thông qua các kênh tuyên truyền, giáo dục. Cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giải thích rõ ràng về các chủ trương, chính sách, giải thích về các sự kiện, và công khai thông tin chính thức từ các cơ quan có thẩm quyền để người dân có thể phân biệt được giữa sự thật và các thông tin sai lệch. Những thông tin này phải được cung cấp đầy đủ, kịp thời và dễ hiểu, để người dân có thể tự bảo vệ mình khỏi những luận điệu xuyên tạc, đồng thời nâng cao ý thức cảnh giác trong cộng đồng.

Ngoài ra, chính quyền cũng cần tăng cường quản lý các thông tin trên mạng xã hội, vì đây là kênh dễ bị lợi dụng nhất để phát tán thông tin sai lệch. Các cơ quan chức năng cần có những biện pháp ngăn chặn, xử lý những đối tượng tung tin đồn, thông tin xuyên tạc, gây ảnh hưởng đến tinh thần đoàn kết, ổn định chính trị của xã hội. Người dân cũng cần phải cẩn trọng trong việc chia sẻ thông tin, đặc biệt là trên các nền tảng mạng xã hội, và chỉ tin tưởng vào những nguồn thông tin chính thống từ Nhà nước.

Trong bối cảnh đất nước đang đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn, việc bảo vệ sự ổn định chính trị và bảo vệ niềm tin vào Đảnh, Nhà nước là vô cùng quan trọng. Chúng ta cần phải kiên định, đoàn kết và giữ vững niềm tin vào Đảng và Nhà nước, vì chỉ có sự tin tưởng vào Đảng, vào các phương tiện thông tin chính thống và sự tỉnh táo trong việc nhận diện các âm mưu của các thế lực thù địch, chúng ta mới có thể vượt qua mọi thử thách, giữ vững sự ổn định và tiếp tục xây dựng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

 

Thấm nhuần lời dạy của Bác về Đức và Tài, “Hồng” và “Chuyên” của người cán bộ

Cứ đến dịp 19 tháng 5, mỗi người dân Việt Nam lại nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh – Lãnh tụ kính yêu, vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Dù Bác đã đi xa, nhưng đạo đức, phong cách, tư tưởng của Người vẫn luôn gần gũi với mỗi người dân Việt Nam; định hướng, soi đường cho mỗi cán bộ đảng viên. Đức và Tài, “Hồng” và “Chuyên” là một trong những tư tưởng như vậy.

Sinh thời, trong quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viện, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo bồi dưỡng, giáo dục rèn luyện về mọi mặt cả phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, cả trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Những phẩm chất nhân cách đó của người cán bộ, đảng viên đã được Hồ Chí Minh khái quát ngắn gọn trong hai chữ Đức và Tài. Từ đó đức và tài đã trở thành tiêu chuẩn, giá trị cơ bản cho mỗi người cán bộ, đảng viên phấn đấu, rèn luyện và cũng là tiêu chuẩn cơ bản để xem xét, đánh giá, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, đảng viên.

Trước lúc đi xa, Người còn căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Ở đây, Người đã đi đến một sự khái quát mới về những phẩm chất, nhân cách của người đoàn viên thanh niên và rộng hơn của tất cả những người xã hội chủ nghĩa, trong đó có đội ngũ cán bộ, đảng viên là vừa “hồng” lại phải vừa “chuyên”.

“Hồng” ở đây có thể được hiểu bao gồm cả phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, là lòng trung  thành vô hạn đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa; là trình độ giác ngộ mục tiêu; lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng chiến đấu hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đó. “Hồng” còn thể hiện ở đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, thể hiện ở lối sống giản dị, trong sạch, lành mạnh.

“Chuyên” ở đây bao gồm trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ. “Chuyên” không chỉ là làm chủ được tri thức khoa học, có sự hiểu biết thấu đáo về lĩnh vực chuyên môn mà mình hoạt động, mà “chuyên” còn bao gồm cả kỹ năng thực hành. Dù hoạt động trên bất cứ lĩnh vực chuyên môn nào, thì người có “chuyên” phải là người có sự hiểu biết thấu đáo và thực hành thành thạo các công việc mà mình đảm nhiệm. Người chỉ rõ: Đảng yêu cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thạo về chính trị mà còn giỏi về chuyên môn, không thể lãnh đạo chung chung.

Trong khi yêu cầu phải đào tạo cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên – những con người xã hội chủ nghĩa phải vừa “hồng”, vừa “chuyên” không phải ngẫu nhiên mà người đặt chữ “hồng” lên trước. Cũng như khi nói đến đức và tài, bao giờ người cũng coi “đức” là gốc, và người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang.

Mặt khác, giữa “hồng” và “chuyên” Hồ Chí Minh không xem nhẹ mặt nào, mà Người yêu cầu cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên vừa “hồng” vừa “chuyên” không phải chỉ có “hồng” mà không có “chuyên” càng không phải  chỉ có “chuyên” mà không có “hồng” cũng như vừa có đạo đức, lại phải vừa có tài. Có tài mà không có đức, ví như một anh làm kinh tế, tài chính rất giỏi, nhưng lại đi đến thụt két, thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài, ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không mang lợi ích gì cho loài người.

Là người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, trong quá trình giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm, bồi dưỡng rèn luyện cả đức và tài, cả “hồng” và “chuyên” để không ngừng hoàn thiện nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”. Trong thư gửi Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, người căn dặn phải ra sức thi đua: luyện tập thân thể cho mạnh mẽ, nghiên cứu kỹ thụât cho thông thạo, trau dồi tinh thần cho vững chắc, hun đúc đạo đức người quân nhân cách mạng cho vững vàng. Bởi vì, theo Người, nếu anh em tư tưởng, chính trị vững vàng, thân thể khoẻ mạnh thì ta nhất định thắng.

Nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, cán bộ, chiến sĩ quân đội, cùng toàn thể nhân dân Việt Nam luôn khắc ghi lời căn dặn của Bác Hồ; nguyện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc, bôi nhọ thân thế, sự nghiệp và tư tưởng của Người./.

 

Kiên định lý tưởng xã hội chủ nghĩa trong công cuộc đổi mới của cách mạng Việt Nam

Các thế lực thù địch dùng mọi biện pháp để đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, hòng gây hoang mang dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, chúng hân hoan nói về sự vĩnh cửu của chủ nghĩa tư bản, đẩy mạnh tuyên truyền, ca ngợi chủ nghĩa tư bản, cổ súy cho chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng.

Phạm Đình Trọng là một người trong số đó với bài viết trên baotiengdan với tiêu đề “thảm họa cộng sản” ngày 13.11.2019.

Thứ nhất, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, gây hoang mang dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

Phạm Đình Trọng cố tình xuyên tạc về chủ nghĩa xã hội hiện thực, về thành tựu lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội. Ông ta rất xa rời thực tiễn, phủ nhận lý luận và hiện thực khách quan khi viết: Thời gian và cuộc sống đã chứng minh rằng lý thuyết cộng sản là sai lầm, thực tế cộng sản là tội ác; cộng sản là: những người trì trệ, tối tăm, chưa tách khỏi bầy đàn… Thực chất, đây chỉ là biện pháp đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta hòng gây hoang mang dao động về hệ tư tưởng, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội thường dùng. Cũng giống như những người thù địch với lý tưởng cộng sản, thù địch với chủ nghĩa xã hội, Phạm Đình Trọng đã theo đuôi để tuyên truyền, ca ngợi cho chủ nghĩa tư bản, tạo ra nhận thức mơ hồ về chủ nghĩa tư bản để thừa nhận chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất không còn là một xã hội áp bức, bóc lột nữa, chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội cuối cùng của lịch sử loài người. Đồng thời, họ cố tình làm cho mọi người hiểu rằng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là “mù mờ”, “không tưởng”. Như vậy, đích cuối của những người thù địch với chủ nghĩa cộng sản là làm cho mọi người nhầm hiểu rằng chủ nghĩa Mác – Lênin là sai lầm, sai lầm từ trong bản chất chứ không phải do nhận thức và vận dụng sai trong thực tiễn. Họ luôn mong muốn để từ đó đưa chủ nghĩa Mác – Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, hướng lái cách mạng Việt Nam xa rời và đi đến từ bỏ lý tưởng cộng sản.

Thứ hai, tư tưởng xã hội chủ nghĩa đã có lịch sử rất lâu dài trong sự phát triển của tư tưởng nhân loại, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn trường tồn, phát triển.

Chúng ta biết rằng, từ thời xa xưa, con người cổ đại trên trái đất đã mơ ước đến một xã hội công bằng, bình đẳng, không có áp bức và bóc lột. Mơ ước đó đã phát triển trong lý luận của các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng. Chúng ta biết rằng, lý luận xã hội chủ nghĩa không phải là phát hiện của Mác và Ăngghen mà đã có trước các ông và đã được các ông kế thừa, phát triển. Lý tưởng xã hội chủ nghĩa cũng không phải là lý tưởng riêng của giai cấp công nhân mà là lý tưởng chung của nhân loại không chỉ trong quá khứ mà ngay cả hiện nay.

Chủ nghĩa Mác – Lênin là một khoa học về giải phóng và phát triển con người và loài người, phản ánh bằng lý luận về lý tưởng của nhân loại vươn tới một xã hội tốt đẹp là tự do, bình đẳng, hạnh phúc. Vì vậy, lý tưởng xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn giữ nguyên ý nghĩa của nó trong thời đại ngày nay.

 Chủ nghĩa xã hội hiện thực ra đời trong thế kỷ XX là tất yếu khách quan, hợp quy luật phát triển. Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã đạt được những thành tựu to lớn góp phần làm thay đổi bộ mặt thế giới hiện đại. Giá trị của chủ nghĩa xã hội hiện thực không dễ gì mất đi ngay cả ở các nước thuộc Đông Âu và Liên Xô trước đây, mà nó còn lại cho đến ngày nay và tiếp tục tác động sâu sắc đến sự phát triển của thời đại. Thực tiễn cách mạng ở Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã khẳng định sự kiên định chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng.

Như vậy, lý tưởng xã hội chủ nghĩa vẫn đang tồn tại và được củng cố trong đời sống xã hội và xu thế khách quan của sự phát triển xã hội trong thời đại ngày nay là sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội để thực hiện lý tưởng đó, tức là đi tới chủ nghĩa xã hội thông qua cuộc đấu tranh vì các mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Ý đồ trước mắt và lâu dài không thay đổi của các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ xã hội ở nước ta. Thông qua việc truyền bá những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, lối sống lai căng vào xã hội, vào cán bộ, đảng viên, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta để đi đến chuyển hóa Đảng, chuyển hóa chế độ ta, xóa bỏ lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta hãy cảnh giác và kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa của các thế lực thù địch./.

 

Kẻ đội lốt tôn giáo, vu cáo chế độ, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ quốc gia dân tộc Việt Nam

Dưới vỏ bọc “Thánh lễ Cầu nguyện cho Công lý – Hòa bình tại nhà thờ Thái Hà (Hà Nội), Linh mục Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong đã có nhiều lời lẽ xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ quốc gia – dân tộc Việt Nam, kích động người dân đứng lên chống đối chế độ, chống đối Đảng, Nhà nước Việt Nam, phá hoại sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.

Nhân các ngày Lễ kỷ niệm lớn của đất nước như, ngày quốc khánh 2/9, Kỷ niệm Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc…, trong các buổi rao giảng cho giáo dân ở nhà thờ Thái Hà, cũng như trên facebook của ông ta, Linh mục Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong đã có những ngôn từ sai trái kích động dân chúng, rằng người Việt Nam rất giỏi giang, rất tài năng, nhưng do chế độ xã hội chủ nghĩa, ý thức hệ cộng sản kìm hãm nên đến nay vẫn không thể “sánh vai với cường quốc năm châu”. Dựa vào một số hiện tượng trong xã hội ta (mà hầu như quốc gia nào cũng có) như, tham nhũng, khiếu kiện, tệ nạn xã hội… Nguyễn Ngọc Nam Phong đã lu loa, thổi phồng rằng; “Chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã kìm hãm, còn chính quyền đè đầu cưỡi cổ nhân dân, dân thì hèn nhát không dám đấu tranh nên đất nước này không thể phát triển lên được”.

Không chỉ xuyên tạc tình hình đất nước, trong buổi rao giảng “Thánh lễ Cầu nguyện cho Công lý – Hòa bình tại nhà thờ Thái Hà (Hà Nội) vào hồi 20 giờ Chúa Nhật 30/9/2018, Linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong đã lộ rõ là một tay sai đắc lực trong việc truyền bá quan điểm của những kẻ ngoại bang thù địch với chủ nghĩa xã hội. Không biết độ chính xác đến đâu vì thật giả đều không có căn cứ kiểm chứng, vị linh mục này đã cao tung hô một luận điệu của một ông Tổng thống của nước nọ trong bài diễn thuyết tại diễn đàn của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc rằng: “Gần như ở nơi nào mà chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản đã được thử nghiệm, chúng cũng gây ra đau khổ, tham nhũng và mục nát. Cơn khát quyền lực của chủ nghĩa xã hội dẫn đến sự bành trướng, thôn tính và đàn áp”. Rồi ông ta liên hệ đến Việt Nam, rằng xã hội ta cần sửa chữa những “cơ cấu tội lỗi”, “những hệ thống chính trị không mang “khuôn mặt người” mà chỉ duy nhất hướng tới lợi nhuận của phe nhóm, đảng phái”. Vì vậy, ông ta tuyên truyền kích động “trách nhiệm của công dân” phải hiểu được “những hiểm họa của chủ nghĩa xã hội”, sẵn sàng “cải cách cơ cấu”.

Sự thực, từ lúc ra đời cho đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự nghiệp cách mạng nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia – dân tộc và toàn thể nhân dân lao động. Đó là độc lập tự do cho dân tộc; là quyền tự quyết dân tộc, quyền bình đẳng với mọi quốc gia dân tộc khác trong việc lựa chọn con đường phát triển đi lên của mình; là quyền tự do lập hiến và lập pháp, lựa chọn và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; là quyền bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các thành phần kinh tế; quyền tự do làm giàu theo pháp luật, phát huy dân chủ gắn liền với giữ vững kỷ cương xã hội; là sự phát triển trong đa dạng các sắc màu văn hóa dân tộc; là sự tiến bộ trong giáo dục, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ vì sự tiến bộ và phát triển toàn diện con người… Tuy đất nước ta còn nhiều khó khăn, nhưng những thành tựu vĩ đại ấy là điều không thể phủ nhận, đã và đang khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội do của nhân dân ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là hoàn toàn đúng đắn. Các thế lực thù địch như Linh mục Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong, một kẻ mang khuôn mặt vô hồn trong mọi luận điệu phản động dù có ôm mộng và ngông cuồng chống phá đến đâu thì càng lộ rõ chân tướng phản dân, hại nước.

Nguyễn Ngọc Nam Phong cần ý thức rõ việc rao giảng, truyền đạo tối ngày 30.9.2018 của mình là trái với pháp luật Việt Nam. Nếu y cứ tiếp tục bước vào vũng bùn tội lỗi thì số phận của y sẽ không khác gì Ngô Quang Kiệt và những kẻ cùng hội, cùng thuyền gây rối, kích động giáo dân vào năm 2008, làm tổn hại cả chính tôn giáo và mọi giáo dân luôn có ý tưởng sống tốt đời đẹp đạo.

Bản chất phản động và hành vi chống phá đất nước một cách hết sức cực đoan của Nguyễn Ngọc Nam Phong, kẻ đội lốt tôn giáo, khoác áo thầy tu, mặt người dạ sói đã bộc lộ rất rõ ràng. Cần phải khẳng định một cách mạnh mẽ với nhiều chứng cứ rõ ràng về những việc làm của Linh mục Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong, Dòng chúa cứu thế ở nhà thờ Thái Hà là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, phạm vào các quy định trong Luật hình sự như, tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân; Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tâm nguyện của đông đảo người dân Việt Nam, yêu cầu chính quyền sở tại sớm ra tay xử lý, không để một kẻ ẩn dưới vỏ bọc hoạt động tôn giáo, khoác áo thầy tu công khai xuyên tạc tình hình đất nước, kích động giáo dân, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam như Nguyễn Ngọc Nam Phong./.

 

SỰ TRƠ TRẼN CỦA NHỮNG KẺ BẤT NHÂN, BẤT NGHĨA

Gần đây, trên mạng xã hội có đưa ra cái gọi là “Tại sao Lenin ghét nông dân và muốn tiêu diệt mọi tôn giáo? của Berthold Seewald dịch giả Lê Quang Ngọ và Lê Quý Trọng.

Đọc nội dung, chúng tôi thấy các vị (dù là ai) đều đích thực là những kẻ bất nhân, bất nghĩa và các vị đã xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của toàn thể nhân dân Việt Nam dành cho lãnh tụ V.I.Lênin.

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với các Lãnh tụ của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, V.I.Lênin – Nhà tư tưởng vĩ đại, người kế tục xuất sắc sự nghiệp giải phóng con người của C.Mác, Ph.Ăngghen, người lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, mở ra thời đại mới của nhân loại – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Sinh ra trong một gia đình trí thức có tinh thần dân chủ, V.I.Lênin đã sớm đến với chủ nghĩa Mác. Ngay từ năm 1900, Người đã chỉ rõ sự cấp bách phải thống nhất tất cả các lực lượng giác ngộ của giai cấp vô sản Nga, thành lập một chính đảng lấy chủ nghĩa Mác làm nền tảng mới có thể đưa cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đến thắng lợi.

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác vào thực tiễn nước Nga, dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin, Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 đã thắng lợi trọn vẹn. Sự kiện này đã đặt ra nhiệm vụ mới đối với V.I.Lênin – nhiệm vụ lãnh đạo Đảng Cộng sản Nga, nhân dân Nga bảo vệ chính quyền công – nông, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Nga và cách mạng vô sản đang hình thành và phát triển ở nhiều nước trên thế giới. V.I.Lênin đã dành toàn bộ phần còn lại của cuộc đời thực hiện nhiệm vụ này. Người đã cống hiến cho nhân loại nhiều thành tựu vĩ đại cả về lý luận và thực tiễn.

V.I.Lênin không chỉ quan tâm đến vận mệnh của nước Nga, mà còn luôn quan tâm sâu sắc đến vận mệnh của các dân tộc thuộc địa. V.I.Lênin đã xác định đúng đắn, khoa học mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, giữa yếu tố dân tộc và yếu tố quốc tế trong cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản; đồng thời vạch ra những vấn đề có tính nguyên tắc của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đó là: các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại. Người còn chỉ rõ: Tuyên chiến với tôn giáo là tự sát. Tất cả những tư tưởng của V.I.Lênin đến nay vẫn còn mang tính chiến lược trong định hướng, thúc đẩy các cuộc đấu tranh giành độc lập, giành quyền tự do, dân chủ trên phạm vi toàn cầu.

Cả cuộc đời hoạt động, cống hiến V.I.Lênin đã để lại một gia tài đồ sộ, đó là di sản quý báu về tư tưởng và lý luận; đó là tấm gương đạo đức cao đẹp, mẫu mực của người cộng sản chân chính, suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người khỏi nạn áp bức, nô dịch. Dù thời gian đã lùi xa và thế giới hiện đã có nhiều đổi thay to lớn, song tư tưởng của V.I.Lênin vẫn là ngọn đuốc soi đường cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, dân sinh, vì tiến bộ và công bằng xã hội trên toàn thế giới.

Đối với Việt Nam, từ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam để dân tộc Việt Nam đạt được những thắng lợi vĩ đại trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng; cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới, là dịp để chúng ta tiếp tục nhìn nhận, khẳng định những công lao, cống hiến vĩ đại của V.I.Lênin, chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục bổ sung, phát triển và vận dụng sáng tạo những tư tưởng cơ bản của V.I.Lênin cho phù hợp. Thực hiện đúng như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Học tập và thực hành chủ nghĩa Mác – Lênin, là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Thành tựu gần 35 năm đổi mới đất nước là minh chứng sáng ngời về sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc Việt Nam theo con đường chủ nghĩa Mác – Lênin.

Với thủ đoạn xảo quyệt, thay vì phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam một cách trực diện, các vị lại thông qua việc phủ nhận công lao và đóng góp to lớn của các lãnh tụ Đảng Cộng sản (V.I.Lênin) đối với dân tộc Việt Nam bằng luận điệu vu khống, xuyên tạc trắng trợn cố gán ghép cho Người “ghét nông dân và muốn thủ tiêu mọi tôn giáo”! – các vị thật là trơ trẽn.

Vì vậy, những vị đã xúc phạm đến lãnh tụ V.I.Lênin, đó là kẻ có tội với dân, với nước. Kẻ đó đã xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tất cả những người dân Việt Nam chân chính, yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý dành cho lãnh tụ Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế V.I.Lênin.

Cho nên, mỗi cư dân mạng cần hết sức cảnh giác không để các thế lực thù địch lừa bịp, lôi kéo. Cho dù chúng có mưu mô, xảo trá, quỷ quyệt đến đâu cũng sẽ bị lật tẩy, vạch mặt trước tinh thần cảnh giác của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta tin tưởng vào sự thắng lợi của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo./.

 

LUẬN VỀ KẺ SĨ NGÀY XƯA VÀ “KẺ SĨ” NGÀY NAY

Nói tới kẻ sĩ là nói tới những người có văn hóa và nhân cách ở trình độ cao; kẻ sĩ là người học cao, hiểu rộng. Chữ  cũng có bóng dáng đầu tiên của học trò, nhưng mục đích ở cuối chặng đường học hành lại là làm quan. Tóm lại, chữ  phản ánh một hành trình gồm nhiều chặng, từ lúc đi học đến khi làm quan.

Từ xa xưa, giới trí thức, những người học cao hiểu rộng, có chí khí được nhân dân vinh danh là kẻ sĩ. Danh xưng kẻ sĩ, ngoài ý nghĩa đề cao đạo học và nhân tài, còn là sự gửi gắm, hy vọng, đặt ra yêu cầu cao về nhân cách, cốt cách người quân tử, dù cạm bẫy, cám dỗ thế nào cũng phải luôn giữ lòng ngay thẳng, tôn trọng, đấu tranh bảo vệ lẽ phải. Tuy nhiên, ngày xưa vẫn có kẻ sĩ thuộc hạng “dài lưng tốn vải”, hữu danh vô thực, thường được gọi là “sinh đồ ba quan” mà Phan Huy Chú đã than phiền: “Từ khi kẻ nịnh thần đề nghị đổi phép thi, hạng sinh đồ ba quan đầy cả trong thiên hạ. Người trên do đó lấy tiền mà không ngại, kẻ dưới nộp tiền để đỗ mà không biết thẹn, làm cho trường thi thành ra chỗ buôn bán”.

Trí thức ngày nay cũng có thể xem là kẻ sĩ dù có khác nhau về cái học (nội dung đào tạo, phương pháp rèn luyện, chỗ đứng trong xã hội)… nhưng về vai trò, sứ mệnh đối với xã hội, với nhân tâm, thế đạo thì không khác. Kẻ sĩ hay trí thức mãi mãi là hình thái văn hóa. Lịch sử dân tộc qua các thời kỳ đã chứng minh, hiền tài là nguyên khí quốc gia, là vốn quý của dân tộc. Sự tồn vong của chế độ; cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước phụ thuộc rất lớn vào vai trò của tầng lớp tinh hoa trong đời sống xã hội. Cụ Nguyễn Công Trứ (1778-1858) viết: “Tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt/ Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên...” (Tước có 5 bậc, sĩ được dự vào bậc nhất/ Dân có 4 loại, sĩ đứng đầu…). Bất cứ triều đại nào muốn phát triển thịnh vượng cũng phải coi trọng chính sách xây dựng, trọng dụng hiền tài.

Cái học ngày xưa có gì khác với cái học ngày nay? Và kẻ sĩ ngày xưa nắm giữ vai trò gì đối với quốc gia, xã tắc? Thời Phong kiến, kẻ sĩ lấy tư tưởng nho giáo để làm cái sự học của mình; lấy Đạo tam cương, ngũ thường là rường cột của mọi mối quan hệ đạo đức – xã hội; đó là những chuẩn mực tất nhiên, bất biến. Trong ba mối quan hệ quân – thần, phụ – tử, chồng – vợ, hai mối quan hệ đầu được kẻ sĩ coi trọng. Kẻ sĩ coi đức trung và đức hiếu là hai giá trị căn bản nhất xác định giá trị của con người. Họ trung thành với vương triều, là mưu sĩ cận thần, là sĩ phu yêu nước, góp phần cùng đế vương “trị quốc, bình thiên hạ”. Trong thời đại ngày nay không còn quan hệ vua – tôi thì đó chính là “lòng trung thành với tổ quốc, với nhân dân và với chế độ đã đem lại độc lập, tự do, cơm ngon, áo đẹp như ngày nay”. Thời nào cũng thế, đã là kẻ sĩ thì phải lấy trung, hiếu làm trọng, phải là những người “giàu sang không thể cám dỗ, nghèo khó không thể chuyển lay, quyền uy không thể khuất phục”. Đã là kẻ sĩ thì trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải luôn nuôi dưỡng chí khí lớn lao, phải gánh vác trọng trách với non sông đất nước và luôn luôn kiên trì ý chí anh hùng. Kẻ sĩ dám chấp nhận mọi khó khăn để thực hiện bổn phận, trách nhiệm với non sông; có vị trí cao và vai trò quan trọng trong xã hội, có tài trị nước an dân, có bổn phận nặng nề nhưng vẻ vang.

Nước Việt hơn 4000 năm văn hiến có biết bao nhiêu kẻ trí sĩ đem tài năng của mình để kinh bang tế thế, mang cái tài của mình mà trị quốc an dân; biết bao kẻ sĩ dấn thân vì đại nghiệp giải phóng dân tộc, từ bỏ vinh hoa, phú quý để đồng hành cùng dân tộc; góp sức lực và trí tuệ của mình vào sự nghiệp thống nhất nước nhà; ví như giáo sư Trần Đại Nghĩa, kỹ sư luyện kim Võ Quý Huân, bác sĩ Trần Hữu Tước từ bỏ nơi gấm hoa để theo Bác Hồ về nước đóng góp vào sự nghiệp chung, đó là rửa mối nhục nô lệ của dân tộc.

Ngày nay đám “kẻ sĩ – trí giả nửa mùa” đó cũng không phải là ít; thậm chí là những kẻ con cháu, dòng dõi thế gia; được đảng nhà nước cho ăn học tử tế, hưởng lương bổng từ ngân sách nhà nước; thậm chí có kẻ còn đương chức, đương quyền nhưng lại trở cờ theo giặc, thường xuyên chống phá sự bình yên của đất nước ta. Bọn chúng ôm dạ phản trắc, thấy lợi nhỏ quên nghiệp lớn, bán rẻ Tổ quốc và luôn có tư tưởng thờ ngoại bang. Nhiều cái tên cũng được xem là “kẻ sĩ” như: Chu Hảo, Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang A, Nguyễn Đăng Quang, Mạc Văn Trang, Đỗ Ngọc Thống, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Đức Thành, Chu Mộng Long…là những trường hợp điển hình. Chúng lợi dụng những sự kiện được dư luận quan tâm để xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ Đảng và Nhà nước ta, kêu gọi phương Tây can thiệp chuyện nội bộ của Việt Nam. Chúng là lũ lưu manh nhân danh trí trức. Những “kẻ sĩ” này, luôn cho mình là học cao, biết rộng; trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, nhưng có một điều chắc chắc là “trung, hiếu, lễ, nghĩa, trí, tín” những cái làm nền tảng để làm nên kẻ sĩ thì họ lại không hề có. Họ can tâm phò trợ ngoại bang, khúm núm và tôn thờ bọn ngụy quân – ngụy quyền, đám tàn binh, thất tướng đang ngày đêm chống phá đất nước ta.

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao …, gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng đãi ngộ nhân tài”[1]. Như vậy, mục tiêu lao động và cống hiến của giới trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ trong thời đại ngày nay là sự hòa quyện, phản ánh chân thực và sinh động khát vọng dân tộc hùng cường. Mỗi cá nhân kẻ sĩ là một nhân tố quan trọng cấu thành nguyên khí quốc gia, vốn quý của dân tộc. Mọi tư tưởng, hành động của kẻ sĩ cần đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết và trước hết, hướng đất nước đến phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường. Khi kẻ sĩ mang trong mình cốt cách như cây tùng, cây bách thì chẳng có thế lực nào có thể lôi kéo, chẳng có thủ đoạn nào có thể khuất phục, chẳng có vũ khí nào có thể hạ gục./.

[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 203-204

 

NGUYỄN QUANG DY – KẺ PHẢN ĐỘNG NÚP DANH TRÍ THỨC

Nguyễn Quang Dy là một nhân vật được học hành tử tế, đã từng du học và nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Úc (ANU, 1976-1979), Đại học Harvard (Nieman Fellow, 1992-1993), công tác tại Bộ Ngoại giao (1971-2005). Thay vì đem tri thức, tài năng cống hiến xây dựng đất nước, Dy lại quá tham vọng, bất mãn với chế độ, thoái hóa biến chất rồi trở thành kẻ phản động, điên cuồng chống phá Đảng, Nhà nước ta. Dy thường xuyên lợi dụng các trang mạng xã hội, các kênh truyền thông thiếu thiện chí với Việt Nam để phát tán các bài viết nhằm xuyên tạc, bôi nhọ, chống phá Việt Nam.

Trên trang “Nghiencuuquocte. org” Dy lại phát tán bài Đến lúc Việt Nam phải thay đổi. Dy lượm lặt các thông tin “hổ lốn”, “thập cẩm” từ quốc tế, khu vực đến trong nước rồi nhận định, đánh giá chủ quan về vấn đề đổi mới của Việt Nam. Dy cho rằng: Việt Nam cải cách “vòng một” đã hết đà nên phải cải cách “vòng hai”, phải đổi mới toàn diện về kinh tế và chính trị, trong đó chủ yếu là đổi mới về thể chế nhằm tiếp tục phát triển. Thoạt nghe, Dy là người có trách nhiệm đóng góp xây dựng đất nước, nhưng thực chất đây chỉ là chiêu bài, luận điệu hết sức thâm độc, hòng dẫn dắt, gây hoang mang dư luận để thực hiện mưu đồ hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, Nhà nước ta. Dy còn trắng trợn xuyên tạc: “Hà Nội không chịu đổi mới thể chế” vì lợi ích nhóm. Việt Nam thực hiện “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” theo mô hình Trung Quốc…

Thực tế cho thấy, thấy công cuộc đổi mới ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng từ năm 1986 đến nay là quá trình đổi mới toàn diện, trong đó có kinh tế và chính trị. Bên cạnh những thành tựu đạt được rất đáng mừng, cũng còn những hạn chế, bất cập; đặt biệt, “đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế; năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ” (1). Đại hội XII của Đảng xác định: tiếp tục quán triệt và xử lý tốt các quan hệ lớn; trong đó có quan hệ “giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị” (2). Điều này được thể hiện ở các nhiệm vụ: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (3), “Hoàn thiện, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; không ngừng củng cố, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc” (4), “Tiếp tục hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” (5), “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh,” (6). Đó chính là tiếp tục đổi mới đồng bộ thể chế chính trị và thể chế kinh tế, chứ không phải “Hà Nội không chịu đổi mới thể chế” như Dy hồ đồ khẳng định.

Về Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – là cống hiến mới vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin; phát hiện đầy tính sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuất phát từ tổng kết thực tiễn Việt Nam và tiếp thu chắt lọc kinh nghiệm của thế giới. Đây là mô hình phát triển tổng quát của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, “Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ)” (7). Điều này hoàn toàn khác với Trung Quốc khi họ chủ trương xây dựng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và cũng hoàn toàn khác với kinh tế tư bản chủ nghĩa. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhận định: “Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới” (8).

Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng với tiêu đề: “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” xác định: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước” (9).

Điều này không chỉ tạo tiền đề xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Việt Nam mà còn góp phần bổ sung, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại mới và chứng minh chủ trương này là hoàn toàn đúng đắn, sự phát hiện mới mang tính đột phá lý luận đầy tính sáng tạo của Việt Nam. Đồng thời, bác bỏ một cách đanh thép luận điệu xuyên tạc, mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của các thế lực thù địch và kẻ phản động núp danh trí thức như Nguyễn Quang Dy./.

 

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

Gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, trong đó có việc bảo đảm nhân quyền; Việt Nam cũng là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 và luôn được đánh giá là thành viên tích cực, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch không ngừng đưa ra những luận điệu xuyên tạc về việc bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam. Mới đây trên trang Việt Nam thời báo, có bài viết “Eu kêu gọi khẩn cấp về việc giải quyết các vi phạm nhân quyền tại Việt Nam” nhằm xuyên tạc bản chất vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Cần khẳng định rằng:

  1. Nhân quyền là một trong những giá trị cốt lõi của xã hội hiện đại, phản ánh sự tiến bộ của nhân loại. Ở Việt Nam, nhân quyền được thực hiện theo nguyên tắc “nhân quyền xã hội chủ nghĩa” nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa quyền con người, lợi ích cộng đồng và sự phát triển của quốc gia. Quan điểm này thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa trong việc đảm bảo quyền con người một cách toàn diện. Nó không chỉ dừng lại ở việc tôn trọng và bảo vệ các quyền tự nhiên của con người, mà còn nhấn mạnh việc tạo điều kiện để tất cả mọi người đều có cơ hội thực hiện các quyền đó. Nhân quyền ở Việt Nam được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với quyền dân tộc, quyền phát triển và quyền của tập thể. Điều này xuất phát từ nhận thức rằng quyền con người không thể tách rời khỏi quyền tự quyết và độc lập dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì.” Đây là nền tảng để Việt Nam xây dựng mô hình nhân quyền gắn liền với mục tiêu vì dân, vì lợi ích chung của cộng đồng và xã hội.
  2. 2. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc bảo vệ nhân quyền trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội …, mọi người dân đều bình đẳng trong lao động, sản xuất, phát triển kinh tế, học tập, khám chữa bệnh… Đặc biệt, Việt Nam đã đạt được những bước tiến lớn trong việc mở rộng quyền tham gia chính trị của người dân, như quyền bầu cử, ứng cử, và tham gia quản lý xã hội thông qua các tổ chức chính trị – xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam luôn sẵn sàng hợp tác với cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền. Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế về quyền con người, như Công ước về Quyền trẻ em, Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, và gần đây nhất là Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023 – .. Những kết quả về hoạt động thực tiễn cho thấy, từ năm 1993 đến 2023, tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam đã giảm mạnh từ hơn 58% xuống dưới 2%. Tỷ lệ biết chữ ở Việt Nam hiện nay đạt trên 95%, là một trong những quốc gia có chỉ số giáo dục cao ở khu vực Đông Nam Á. Trong lĩnh vực y tế, Việt Nam xây dựng hệ thống bảo hiểm y tế toàn dân, với hơn 92% dân số được bao phủ tính đến năm 2023.

Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam cần nâng cao nhận thức, tỉnh táo và cảnh giác trước những thông tin không chính thống xuyên tạc về nhân quyền ở Việt Nam. Chủ động đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động./.

 

LỜI KÊU GỌI LỐ BỊCH CỦA VŨ ĐỨC KHANH

Lợi dụng vào tự do, dân chủ, nhân quyền, các thế lực thù địch đang tăng cường phát tán các bài viết trên không gian mạng với nhiều luận điệu xuyên tạc nhằm “phi chính trị hoá” lực lượng vũ trang. Nổi bật trong số này là bài viết “Thời khắc của dân tộc: lời kêu gọi lực lượng công an và quân đội hành động vì một Việt Nam tự do, dân chủ và thịnh vượng” của blogger Vũ Đức Khanh được đăng tải trên Vietnamthoibao. Đây là “lời kêu gọi vô cùng lố bịch”, che đậy bản chất của kẻ “bồi bút” nhuốm màu tư duy áp đặt và đi ngược lại bản chất truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam.

Thứ nhất, bất kỳ một giai cấp nào nắm quyền và tổ chức ra quân đội, công an thì đều lãnh đạo lực lượng vũ trang do mình tổ chức ra. Đây là quan điểm nhất quán và xuyên suốt của chủ nghĩa Mác – Lênin về bản chất giai cấp của lực lượng vũ trang. Ph.Ăngnghen đã khẳng định: “quân đội là một tập đoàn có tổ chức gồm những người được vũ trang, được nhà nước đài thọ để thực hiện chiến tranh tấn công hoặc phòng ngự”[1] và “quân đội đã trở thành mục đích chủ yếu của nhà nước, trở thành một mục đích tự nó”[2]. Lịch sử phát triển của văn minh nhân loại đã chứng minh, lực lượng vũ trang bao giờ cũng mang bản chất của giai cấp tổ chức ra nó, không có lực lượng vũ trang phi giai cấp.

Đối với cách mạng Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện; là lực lượng trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Nhờ có sự lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt” của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy, đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, cùng toàn dân đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước, đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Bước vào công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay, nhờ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam mà nòng cốt là Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam đã phát huy tốt chức năng, nhiệm vụ, ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, lập nên nhiều chiến công mới, thực sự là điểm tựa của Nhân dân Việt Nam. Đây là điều mà mọi người dân Việt Nam đều ghi nhận, đánh giá cao; và mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đều phấn khởi, tự hào, tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, coi đó là vinh dự, trách nhiệm, góp phần tô thắm thêm truyền thống cách mạng của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong giai đoạn mới.

Thứ hai, lòng trung thành của Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam là điều bất biến. Với cách thức kêu gọi trên không gian mạng, Vũ Đức Khanh bất chấp sự thật cả trong lịch sử và hiện tại, lớn tiếng hô hào Quân đội và Công an “thay đổi” lòng trung thành, mà không hiểu rằng, một trong những giá trị truyền thống tiêu biểu của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân là “tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân”.

Lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh có một phần quan trọng được tô điểm bởi đóng góp của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Điều đó bắt nguồn từ sự tuyệt đối trung thành của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, trở thành bản chất cách mạng, truyền thống cao quý được lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân, Công an nhân dân nỗ lực phấn đấu, hy sinh để tạo lập. Lòng trung thành của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân đã trở thành mẫu số bất biến, niềm vinh dự, tự hào mà mỗi cán bộ, chiến sĩ đều thấm nhuần và tiếp tục đoàn kết, thống nhất ý chí, hành động trong phát huy truyền thống vẻ vang đó, để góp phần cùng toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn dân chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Năm tháng sẽ còn qua đi, nước Việt Nam vẫn đang đổi thay từng ngày và đang vững bước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, con đường đó là sự lựa chọn lịch sử của dân tộc Việt Nam. Trên con đường này, Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam sẽ luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy nhất của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam./.