Thứ Ba, 11 tháng 2, 2025
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: DÂNG HIẾN THANH XUÂN CHO TỔ QUỐC BÌNH YÊN!
KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN THÀNH TỰU TRONG GIÁO DỤC VÀ TUYÊN TRUYỀN Ở VIỆT NAM
Cố tình chống phá đường lối và quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt
Nam, Vũ Hoàng Anh bịa ra ba “châm ngôn” tuyên truyền trong bài: “Giáo Dục và Tuyên Truyền” trên trang Quyenduocbiet.com để đánh đồng mục đích của giáo dục với tuyền
truyền nhằm trắng trợn xuyên tạc chủ trương, chính sách về công tác giáo dục,
tuyên truyền của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Những luận điệu của Y là xuyên tạc,
cần đấu tranh bác bỏ:
Thứ nhất, mọi đường lối nói chung cũng như chủ
trương, chính sách về giáo dục và tuyên truyền nói riêng của Đảng đều khẳng
định ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam không có
lợi ích gì khác. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng
minh, Đảng gắn bó với nhân dân, dân tộc, vì lợi ích của nhân dân, dân tộc là
thuộc tính, đặc trưng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám năm 1945
thành công, chính quyền về tay nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công khai
trước đồng bào và bạn bè quốc tế, khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đại
biểu trung thành của nhân dân, của dân tộc; Nhân dân là chủ thể duy nhất của
quyền lực nhà nước; mỗi cán bộ, đảng viên phải đúng tôn chỉ, mục đích của Đảng
và một lòng phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc.
Thực tiễn 94 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát huy tốt dân chủ xã hội
chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Mọi đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện
vọng, quyền lợi chính đáng của Nhân dân và được Nhân dân thảo luận, đóng góp ý
kiến. Điều này, được thể hiện ở những kết quả hoạch định, thực hiện mọi đường
lối nói chung cũng như chủ trương, chính sách về giáo dục và tuyên truyền nói
riêng của Đảng – là sự kế thừa truyền thống dân tộc, phản ánh bản chất của chế
độ xã hội chủ nghĩa luôn lấy con người làm trung tâm, vì sự phát triển toàn
diện của con người. Những thành tựu đạt được qua gần 40 năm đổi mới là do có
đội ngũ cán bộ tài đức, thông tuệ và sự đồng thuận, đoàn kết của toàn dân cùng
tham gia kết thành; là do giáo dục và tuyên truyền đúng đắn đã quy tụ, phát huy
được sức mạnh dân tộc, sức mạnh thời đại, huy động được mọi nguồn lực, tiềm
năng con người, đất nước tạo lên, chứ không phải “chạy trốn trách nhiệm”, để
“bám giữ quyền lực”; “bóc lột những người dân bằng mọi hình thức”; diệt “tinh
thần quật khởi Việt tộc”; “chỉ là bề ngoài, một hình thức” như Vũ Hoàng Anh
xuyên tạc.
Thứ hai, mục đích giáo dục và tuyên truyền của
mọi quốc gia, đảng phái, nhà nước là làm cho nhân dân hiểu, thực thi đúng chủ
trương, đường lối chính
sách của mình. Từ thời cổ đại, khi bắt đầu có Nhà
nước đến nay, bất kỳ một quốc gia, đảng phái, nhà nước nào muốn tồn tại đều
phải giáo dục đào tạo đội ngũ cán bộ là những người đem chủ trương, đường lối,
chính sách của đảng phái, nhà nước tuyên truyền, giải thích cho dân chúng hiểu
rõ và cùng thực hiện. Đồng thời, duy trì, theo dõi để tổng kết đánh giá tính khả
thi, mức độ hoàn thành, đúc rút kinh nghiệm báo cáo cho đảng phái, nhà nước đó
để điều chỉnh, đề xuất chủ trương, chính sách mới cho đúng. Khi đã được giáo
dục và tuyên truyền, mọi cán bộ, người dân hiểu được quan điểm, đường lối, chủ
trương, chính sách; thấy được lợi ích mà các chủ trương, chính sách đó đem lại
thì mới tạo được sự chung tay, đồng lòng trong tổ chức thực hiện và nâng cao
chất lượng, hiệu quả mục tiêu của chủ trương, chính sách đề ra. Như vậy, giáo
dục và tuyên truyền là không thể thiếu, có vai trò quan trọng đối với mỗi quốc
gia, đảng phái, nhà nước.
Ở Việt Nam, với tư cách là Đảng cầm quyền, mục đích duy nhất của Đảng Cộng
sản Việt Nam là giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc, xây dựng cuộc sống ấm no,
hạnh phúc, tiếp tục đưa cả nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, vươn mình
vào kỷ nguyên mới của dân tộc bằng đường lối đổi mới làm cho dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Như vậy, mục đích giáo dục đào tạo cán bộ
và tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam là đúng đắn,
nhất quán từ khi thành lập đến nay, đồng thời, đây cũng là minh chứng bác bỏ
những luận điệu xuyên tạc Vũ Hoàng Anh.
Mọi người dân Việt Nam cần nâng cao cảnh giác và tích cực đấu tranh bảo vệ
đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; đập tan những luận điệu sai trái của
những kẻ như Vũ Hoàng Anh. Mọi cán bộ, đảng viên cần xung kích đi đầu trong
giáo dục và tuyên truyền bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, kiên quyết đấu tranh chống
mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dám hy sinh
lợi ích cá nhân vì lợi ích quốc gia – dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân
và chế độ xã hội chủ nghĩa./.
Vạch trần luận điệu xuyên tạc, phủ nhận truyền thống và những cống hiến, hy
sinh của Quân đội nhân dân Việt Nam
Kỷ niệm 80 năm ngày thành lập là
dịp để chúng ta ôn lại lịch sử, truyền thống quý báu của Quân đội nhân dân
(QĐND) Việt Nam. Đó cũng là những chứng lý đanh thép, vững chắc, đập tan những
luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, là cơ sở để các thế hệ cán bộ,
chiến sĩ QĐND Việt Nam giữ vững lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, chủ động
sáng tạo, mưu trí dũng cảm, quyết chiến, quyết thắng, xứng đáng là Quân đội anh
hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng.
Trắng
trợn xuyên tạc với mưu đồ chính trị đen tối
Thời gian qua, thực hiện chống phá
cách mạng Việt Nam bằng “diễn biến hòa bình” và âm mưu “phi chính trị hóa” Quân
đội, các thế lực thù địch tập trung xuyên tạc những giá trị lịch sử, truyền
thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, nhất là phủ nhận những chiến thắng của Quân
đội dưới sự lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc về lòng trung thành của Quân đội với
Đảng, Nhà nước và nhân dân; xuyên tạc mối quan hệ đoàn kết nội bộ, đoàn kết
quân dân, đoàn kết quốc tế của Quân đội với những lời lẽ hết sức phản động,
phản khoa học hòng làm phai mờ hình ảnh tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong lòng
nhân dân và bạn bè quốc tế, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Quân
đội, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Quân đội với nhân dân, giữa Quân đội với
Đảng và Nhà nước.
Bằng những lời lẽ vô căn cứ, các
thế lực thù địch bịa đặt với cái gọi là “luận bàn” nhiều vấn đề liên quan đến
mục tiêu, lý tưởng, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội ta. Cùng với đó, các thế
lực thù địch lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm của một số cán bộ,
chiến sĩ trong quan hệ với nhân dân, ra sức kích động nhằm chia rẽ mối quan hệ
giữa Quân đội với nhân dân; xuyên tạc về nghĩa vụ quốc tế vô sản cao cả của QĐND
Việt Nam đối với cách mạng Lào và Campuchia trong thời kỳ chiến tranh giải
phóng dân tộc, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trước đây…
Luôn
xứng đáng là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân
Có thể nói, những luận điệu nêu
trên là sự xuyên tạc, bịa đặt một cách trắng trợn, vô căn cứ, vừa phi lý, vừa
phản khoa học, bởi lẽ:
Thứ nhất, QĐND Việt Nam ra đời
là thành quả tất yếu từ đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Được xây dựng trên cơ sở những nguyên lý xây dựng quân đội
kiểu mới của Đảng, QĐND Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân
dân và tính dân tộc sâu sắc. Đó là một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân
mà chiến đấu. Lịch sử cách mạng Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua đã chứng minh,
Quân đội ta không chỉ là công cụ, lực lượng chính trị tin cậy, trung thành của
Đảng, Nhà nước mà còn là chỗ dựa vững chắc của nhân dân, của dân tộc.
Quân đội ta sẵn sàng hy sinh phục
vụ lợi ích của dân tộc, của giai cấp và của nhân dân Việt Nam; bảo vệ độc lập
dân tộc, chủ quyền quốc gia, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, bảo vệ lợi ích
và cuộc sống an bình của nhân dân. Trung thành với Đảng, trung với nước, hiếu
với dân là những nội dung phẩm chất cơ bản, cốt lõi gắn bó chặt chẽ với nhau
trong bản chất, truyền thống của Quân đội. Trung với Đảng, trung với nước và
hiếu với dân là mối quan hệ biện chứng, thống nhất nằm trong thuộc tính bản
chất của QĐND Việt Nam, không thể tách rời.
Thứ hai, lịch sử đã chứng
minh, gắn với quá trình đấu tranh của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của
Đảng, QĐND Việt Nam đã có những bước trưởng thành vượt bậc: Từ những đội du
kích phát triển thành một đội quân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước
hiện đại. Từ một quân đội chỉ có bộ binh thông thường phát triển thành quân đội
có đủ các quân chủng, binh chủng, được tổ chức, biên chế, trang bị phù hợp.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ,
chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.
Quân đội ta đã hoàn thành xuất sắc
vai trò là lực lượng nòng cốt hỗ trợ quần chúng nhân dân tiến hành Tổng khởi
nghĩa, giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tham gia xây dựng và
bảo vệ chính quyền cách mạng; là lực lượng nòng cốt, cùng toàn dân tiến hành
đấu tranh và giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ xâm lược, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội vì dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh. Sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì lợi ích của
dân tộc, của nhân dân là vấn đề thuộc về bản chất của QĐND Việt Nam, quân đội
cách mạng, quân đội kiểu mới, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.
Thứ ba, không chỉ hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu chống xâm lược, giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, QĐND
Việt Nam còn là đội quân công tác, giúp đỡ nhân dân trong phòng, chống, khắc
phục hậu quả thiên tai, bão lũ, dịch bệnh, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn và là
lực lượng xung kích trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả. Với chức năng là
đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, bên cạnh
nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, trong những năm qua, Quân đội luôn tích
cực, chủ động phát huy vai trò là lực lượng chủ lực, nòng cốt trong phòng,
chống thiên tai, dịch bệnh, ứng phó, xử lý những sự cố và tìm kiếm cứu nạn. Lực
lượng Quân đội đóng quân trên khắp các vùng, miền của Tổ quốc luôn nêu cao tinh
thần trách nhiệm, ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, nguy
hiểm để đến giúp đỡ đồng bào, đồng chí.
Thực tế đã chứng minh, trong dịch
bệnh hay trong bão, lũ, ngập lụt, sạt lở đất đá, khi biển động, sóng lớn hay
khi xảy ra các thảm họa cháy nổ, cháy rừng, sập đổ công trình, sự cố rò rỉ,
tán phát hóa chất, tràn dầu…, lực lượng Quân đội luôn phát huy vai
trò nòng cốt, có mặt kịp thời ở những nơi khó khăn, phức tạp, hiểm nguy, giúp
đỡ nhân dân sơ tán, chằng chống nhà cửa, thu hoạch lúa và hoa màu, gia cố đê
kè, tìm kiếm người mất tích, cứu chữa người bị thương, vận chuyển, cấp phát, hỗ
trợ lương thực, nước uống, nhu yếu phẩm, dựng lại nhà cửa, trường học, cơ sở y
tế, sửa chữa cơ sở hạ tầng, khám, chữa bệnh, tiêu tẩy môi trường, phòng, chống
dịch bệnh, ổn định đời sống, khôi phục sản xuất… Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân
đội trong phòng, chống dịch Covid-19, trong khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ
thời gian qua càng góp phần tô thắm truyền thống, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong
lòng nhân dân và bạn bè quốc tế, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của Quân đội
“Vì nhân dân phục vụ”, “Vì nhân dân quên mình”.
QĐND Việt Nam không có hành động
xâm lược đối với bất cứ quốc gia, dân tộc nào. Việc Quân tình nguyện và chuyên
gia quân sự Việt Nam giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, giúp
cách mạng Lào trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc là biểu hiện cụ thể
của tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung. Trong suốt chiều dài lịch sử,
truyền thống đoàn kết chiến đấu giữa QĐND Việt Nam với Quân đội cách mạng Lào
và Quân đội Campuchia là nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi của cách
mạng mỗi nước. Mối quan hệ ấy tồn tại một cách khách quan, được nhiều thế hệ
người Việt Nam, Lào và Campuchia dày công vun đắp. Đó cũng là mối quan hệ quốc
tế thủy chung, trong sáng và là hiện thân của chủ nghĩa yêu nước chân chính.
Thứ tư, lịch sử hào hùng 80
năm qua với những bài học kinh nghiệm sâu sắc là cơ sở vững chắc để khẳng định:
Bất luận trong hoàn cảnh nào, Quân đội ta đều nhất mực giữ vững và nêu cao bản
chất của quân đội cách mạng, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến
đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Thử hỏi, nếu quân đội
chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân”, “bảo vệ đất nước và lợi ích quốc gia
dân tộc”, không cần trung thành, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của lực lượng chính
trị nào, đảng phái nào, thì quân đội ấy mang bản chất nào, của ai? Hay là
“không có bản chất”, “không có chính trị”? Đây là chiêu trò nhằm đánh lừa bản
chất, chứ bản thân những kẻ đưa ra các luận điệu chống phá cũng thừa hiểu quân
đội phải mang bản chất chính trị và phải phục vụ cho ai, trung thành với ai.
Nhiệm vụ của Quân đội là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, nhưng chỉ có quân đội
của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam như QĐND Việt Nam mới có thể làm tròn phận sự đó theo đúng nghĩa.
Trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, chế độ và nhân dân là một chỉnh
thể thống nhất, không thể tách rời.
Kỷ niệm 80 năm ngày thành lập là
dịp để chúng ta ôn lại lịch sử, truyền thống quý báu của QĐND Việt Nam. Đó cũng
là những chứng lý đanh thép, vững chắc, đập tan những luận điệu xuyên tạc của
các thế lực thù địch, là cơ sở để các thế hệ cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam giữ
vững lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, chủ động sáng tạo, mưu trí dũng cảm,
quyết chiến, quyết thắng, tiếp tục góp phần xây đắp truyền thống vẻ vang:
“Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do
của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào
cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; xứng đáng với danh hiệu cao quý Bộ
đội Cụ Hồ mà nhân dân đã dành tặng, xứng đáng là Quân đội anh hùng của dân tộc
Việt Nam anh hùng.
Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc việc thực hiện nghĩa vụ quân sự
Đã thành quy luật, cứ đến mỗi “mùa
tuyển quân”, các thế lực thù địch lại ra sức tung ra những luận điệu xuyên tạc,
kích động chống phá công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ và việc thực
hiện nghĩa vụ quân sự của công dân. Mới đây, trang Rfavietnam.org với bài viết “Đi bộ đội: nghĩa vụ của con nhà nghèo?” đã đưa ra những luận điệu, chiêu bài tâm lý lừa
bịp đánh vào những người nhẹ dạ cả tin, gây hoang mang dư luận, nghi ngờ, mất
niềm tin trong nhân dân, làm cản trở việc thực hiện công tác tuyển quân năm
2025 tại các địa phương.
Với giọng điệu bồi bút xảo quyệt,
bài viết đã cho rằng, việc thực hiện nghĩa vụ quân sự ở Việt Nam “không có sự công bằng giữa người giàu và người
nghèo”; “chuyện con nhà giàu không phải đi lính, hay có đi thì chỉ là chỉ huy,
ngồi tuyến sau, trong an toàn; con nhà nghèo luôn phải đi lính trong thời bình
và phải ra trận trong thời chiến được coi là quy luật ở Việt Nam”; “ai không
muốn đi nghĩa vụ quân sự thì phải chạy tiền”. Đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, lợi dụng từ một vài hiện tượng
tiêu cực cá biệt xảy ra trong quá trình thực hiện nghĩa vụ quân sự để quy chụp
bản chất tốt đẹp, quyền và nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân Việt Nam
trong bảo vệ Tổ quốc.
Cần
khẳng định, thực hiện nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang, đồng thời cũng là
trách nhiệm của công dân đối với Tổ quốc, không phân biệt dân tộc, thành phần
xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú. Việc thực hiện nghĩa vụ quân sự của công dân đã được
hiến định trong Hiến pháp, pháp luật Nhà nước. Điều 45, Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng
liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự
và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân”; Điều 64, Hiến pháp năm 2013 cũng
quy định: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân….
Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an
ninh”. Thể chế hóa Hiến pháp, Khoản 1, Khoản 2, Điều 4 và Khoản 1, Điều 59
Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định: Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang
của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân; công dân trong độ tuổi thực hiện
nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn
giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú, phải thực hiện nghĩa vụ quân
sự theo quy định. Tổ chức, cá nhân có hành vi trốn tránh, chống đối, cản trở
việc thực hiện nghĩa vụ quân sự thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử
lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo đó,
Hiến pháp và pháp luật Việt Nam đều quy định rõ, mọi công dân trong độ tuổi và
có đủ các tiêu chuẩn theo quy định đều bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ
quân sự. Vì vậy, không thể có chuyện việc thực hiện nghĩa vụ quân sự chỉ là
“nghĩa vụ của con nhà nghèo” như trang Rfavietnam.org đã rêu rao.
Kế
thừa phát huy truyền thống của ông cha, nhận thức sâu sắc nghĩa vụ vẻ vang đối
với Tổ quốc, khi đến tuổi trưởng thành, rất nhiều thanh niên Việt Nam trên mọi
miền Tổ quốc đã xung phong nhập ngũ để được đóng góp một phần công sức nhỏ bé
cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn cho thấy, việc thực hiện nghĩa vụ quân sự của công dân Việt Nam
không chỉ đơn thuần là chấp hành pháp luật của Nhà nước, mà còn là nghĩa vụ
thiêng liêng cao cả, là ý thức tự giác, tự nguyện cống hiến sức lực, trí tuệ,
sức trẻ của mình đối với dân tộc, với Tổ quốc. Trong lịch sử đấu tranh dựng
nước và giữ nước của dân tộc đã có biết bao thế hệ ông cha đã tự nguyện hiến
dâng đời mình, chiến đấu anh dũng hy sinh cho nền độc lập của Tổ quốc, tự do,
hạnh phúc của nhân dân; hàng triệu thanh niên Việt Nam đã xung phong lên đường
chiến đấu, trở thành những chiến sĩ kiên trung, bất khuất. Đây là biểu tượng
sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là niềm tự hào của các thế hệ thanh
niên Việt Nam.
Hiện nay, hằng năm, hàng vạn thanh
niên Việt Nam trong độ tuổi từ 18 đến 27, không phân biệt dân tộc, thành phần
xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp … đã tạm gác lại
học tập, công việc để lên đường nhập ngũ với niềm vinh dự, tự hào, đại diện cho
thanh niên Việt Nam thực hiện trách nhiệm của công dân bảo vệ Tổ quốc; hàng
nghìn thanh niên đã viết đơn tình nguyện nhập ngũ dù họ đang sống trong những
gia đình khá giả hoặc đang có một công việc tốt với thu nhập ổn định.
Từ những minh chứng trên cho thấy,
việc trang
Rfavietnam.org và các thế lực thù địch cố
tình quy chụp, xuyên tạc việc thực hiện nghĩa vụ quân sự ở Việt Nam là hoàn
toàn sai trái, phản động. Mỗi chúng ta cần nêu cao cảnh giác với những âm mưu
thâm độc, bịa đặt này và kiên quyết đấu tranh bác bỏ./.
Luận điệu xuyên tạc của “tiến sĩ phản động” Bùi Quang Vơm
Thời gian gần đây, tình hình căng thẳng đang leo thang ở Biển Đông, được
các thế lực thù địch xem như “cơ hội vàng” để thực hiện các hoạt động tuyên
truyền, kích động, gây bất ổn chính trị – xã hội ở Việt Nam; từ đó tạo bàn đạp,
hòng hiện thực hóa tham vọng xóa bỏ con đường CNXH mà Đảng và nhân dân ta đã
lựa chọn. Hưởng ứng tích cực vào “phong trào” của bèn lũ “dân chủ” bán nước,
Bùi Quang Vơm – tên tiến sĩ nửa mùa, bệnh hoạn, luôn tỏ ra là phần tử “tích
cực” nhất. Mới đây, y lại “trình làng” bài viết: “Mất Trường Sa lớn và thông điệp gửi
Hà Nội”, được phát tán trên một số trang
mạng phản động. Dù đã khéo léo tạo vỏ bọc dưới danh nghĩa một người có “lòng
yêu nước”, “lo lắng cho vận mệnh” của quốc gia, dân tộc, nhưng Bùi Quang Vơm
vẫn “hiện nguyên hình” là tên bồi bút phản động, bán nước cầu vinh.
Một là, Bùi
Quang Vơm đã cố tình phản ánh sai lệch tình hình trên biển Đông, hòng tạo nhận
thức lệch lạc trong quần chúng, từ đó dễ bề kích động các hoạt động gây rối
tình hình chính trị – xã hội của đất nước.
Với “kỹ năng” sẵn có của một kẻ bồi bút chuyên nghiệp, Vơm đã khéo léo cóp
nhặt, cắt, dán nhiều sự kiện đơn lẻ, thiếu căn cứ diễn ra trên biển Đông trong
thời gian gần đây; từ đó đưa ra “thông điệp khẩn thiết”: rằng đảo đã mất, sắp mất hết, biển đang mất và
đất nước sẽ mất. Thật lố bịch
và nực cười! Thật hổ thẹn với cái mác “tiến sĩ” của Bùi Quang Vơm! Bởi, những
thông tin y đưa ra chẳng có gì mới và chẳng thể lừa bịp được ai. Có chăng, nó
chỉ có tác dụng “đánh bóng” cho y, thể hiện y là người “học cao, hiểu rộng” và
tạo cớ để kích động gấy rối. Thực tế, tình hình biển Đông trong thời gian gần
đây thu hút sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội. Bởi, đây là vấn đề chủ quyền
– vấn đề thiêng liêng của quốc gia, dân tộc. Tin tức, diễn biến mới nhất trên
biển Đông được cập nhật thường xuyên, liên tục, hàng ngày, hàng giờ trên các
phương tiện thông tin đại chúng. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông
tin như hiện nay, mỗi người dân Việt Nam, ở mọi miền Tổ quốc đều dễ dàng nắm
bắt những thông tin khách quan, chân thực này. Mỗi người con đất Việt đều cảm
thấy xót xa khi chủ quyền bị xâm phạm và thể hiện rõ tinh thần đoàn kết một
lòng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, kiên quyết đấu tranh bảo vệ biển, đảo quê
hương. Tiếng nói, hành động bảo vệ chủ quyền đất nước của Đảng, Nhà nước và
nhân dân ta được cộng đồng quốc tế ủng hộ, đã mang lại những kết quả khả quan
bước đầu. Những màn “khua môi, múa mép” của Bùi Quang Vơm về “tình hình nguy
cấp” của biển Đông chẳng qua chỉ là tấm “vải thưa” hòng che đậy những mưu đồ
chính trị đen tối của y.
Hai là, Bùi Quang Vơm đã xuyên tạc, phá hoại chủ
trương giải quyết tình hình trên biển Đông của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Từ việc vẽ lên “bức tranh u ám” về tình hình trên biển Đông và “truyền
thông điệp” bảo vệ chủ quyền biển, đảo, Vơm lớn tiếng quy kết, nguyên nhân của
“tình trạng nguy cấp” trên biển Đông là do chúng ta mê muội bạn – thù. Theo y, Cần
phải có ngay lập tức một Hiệp định an ninh tương hỗ cho phép Mỹ quyền
đương nhiên và tức khắc can thiệp, mỗi khi Việt Nam có xung đột vũ
trang đe dọa an ninh biển đảo và chủ quyền quốc gia. Nghe thoảng qua, tưởng chừng y là người “có trách
nhiệm” với Tổ quốc, nhưng kỳ thực, những lời lẽ ấy đang đi ngược lại con đường,
biện pháp đấu tranh bảo vệ chủ quyền đúng đắn, khả dụng nhất mà Đảng và nhân
dân ta đã lựa chọn.
Hiện nay, để giải quyết tranh chấp biển Đông, Đảng, Nhà nước luôn nhất quán
quan điểm: Những
ai tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác
bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm
mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta. Quan điểm trên là định hướng quan trọng để các cấp, các
ngành, các lực lượng vận dụng đối sách thích hợp, dựa trên tình hình thực
tế, linh hoạt mở rộng quan hệ đối tác, thu hẹp đối tượng; trong đó, cần đặc
biệt quan tâm việc lựa chọn, xây dựng cho được “đối tác chiến lược tin cậy” làm
chỗ dựa vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tế cho thấy,
với việc kiên trì, kiên quyết đấu tranh, giải quyết các tranh chấp trên biển
Đông bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế,
nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử
của các bên trên Biển Đông (DOC); chúng ta đã được cộng đồng quốc tế ủng hộ
và có những “đối tác” quan trọng, tạo chỗ dựa tin cậy cho cuộc đấu tranh của
chúng ta. Tuy nhiên, muốn bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của quốc gia, dân
tộc, nhân dân ta phải luôn “tự lực cánh sinh”, phải dùng “sức ta”, không thể
trông chờ vào các lực lượng từ bên ngoài.
Tựu chung, Bùi Quang Vơm vẫn theo lối “bình cũ, rượu mới”, mục đích không
ngoài khuếch trương thanh thế, kiếm chút đôla và để không bị “lạc lõng” giữa
“bầy đàn” dân chủ phản động. Là những người dân Việt Nam yêu nước, chúng ta cần
nêu cao tinh thần cảnh giác trước âm mưu và thủ đoạn hoạt động thâm độc của bè
lũ phản động lợi dụng dân chủ, tuyên truyền chống Đảng, chống Nhà nước như Bùi
Quang Vơm; đồng thời tuyệt đối tin tưởng vào chủ trương giải quyết tranh chấp
biển Đông của Đảng và Nhà nước, đóng góp thiết thực vào công cuộc bảo vệ vững
chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc./.
VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ
Thành thông lệ, cứ đến dịp kỷ niệm Ngày ký Hiệp định Giơnevơ, trên một số
trang mạng lại xuất hiện nhiều bài viết của các thế lực thù địch, với nội dung
rằng: “Hiệp định Giơnevơ như vết thương “mưng mủ” bởi vì cộng sản đã “chia đôi
đất nước gây ra cảnh đẫm máu và nước mắt”… Đây là những luận điệu xuyên tạc hết
sức trắng trợn, bịa đặt, bóp méo lịch sử, phủ nhận kết quả, ý nghĩa lịch sử của
Hiệp định Giơnevơ, cần phải được vạch trần, bác bỏ, trong đó cần làm rõ những
vấn đề sau:
Trước tiên, phải khẳng định rằng, việc chia cắt hai miền là ý định của các nước lớn,
với mục đích riêng của họ, không phải nguyện vọng của Việt Nam dân chủ cộng
hòa. Mặc dù Việt Nam đến Hội nghị với tâm thế bên thắng cuộc, song do vị thế và
điều kiện chưa cho phép, nên phải chấp nhận các điều khoản Hội nghị để tranh
thủ các nước lớn, nhất là Liên Xô, Trung Quốc trong việc thi hành Hiệp định sau
này.
Thứ hai, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp hành
nghiêm chỉnh và kiên trì đấu tranh yêu cầu các bên liên quan tuân thủ, thi
hành Hiệp định. Ngay sau khi
Hội nghị Giơnevơ thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Điều chỉnh khu
vực là việc tạm thời, là bước quá độ để thực hiện đình chiến, lập lại
hòa bình và tiến đến thống nhất nước nhà bằng cách tổng tuyển cử. Điều chỉnh
khu vực quyết không phải là chia xẻ đất nước ta, quyết không phải là phân trị”[1]. Bộ Chính trị ra chỉ thị phải: “Thi hành triệt để Hiệp định đình chiến
(tập kết quân đội, rút quân ra Bắc…). Đấu tranh đòi Pháp phải thi hành đúng
Hiệp định (đòi thả hết tù binh, tù chính trị và thường dân bị bắt; chống tuyển
mộ thêm ngụy binh; chống đàn áp, bắt bớ những người kháng chiến; chống phá hoại
cơ sở của ta…)[2]. Cùng với đó, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa gửi công hàm cho Quốc trưởng và Thủ tướng Quốc gia Việt Nam (chính quyền
Sài Gòn) đề nghị đại biểu hai miền mở Hội nghị hiệp thương để bàn việc tổ chức
tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Chính quyền Sài Gòn đã bác bỏ đề nghị đó.
Ngày 17/8/1955, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi công hàm cho Ngoại trưởng Anh và
Liên Xô, hai đồng Chủ tịch Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương, yêu cầu thi hành mọi
biện pháp cần thiết để Hiệp định Giơnevơ được tôn trọng và vấn đề chính trị ở
Việt Nam được giải quyết trên cơ sở hiệp thương hai miền Bắc – Nam, tổng tuyển
cử tự do, thống nhất nước Việt Nam. Ngày 21/7/1956, thời hạn hai năm theo quy
định của Hiệp định Giơnevơ đã qua nhưng không diễn ra tổng tuyển cử để thống
nhất nước Việt Nam. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn kiên trì con đường
hiệp thương hòa bình đi đến tổng tuyển cử. Tuy nhiên, phía Mỹ và chính quyền
Sài Gòn ngày càng lộ rõ âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam thành hai quốc gia. Ý
đồ đó được thể hiện rõ khi tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc ngày 23/01/1957,
Mỹ đề nghị cho Nam Việt Nam và Nam Triều Tiên gia nhập Liên Hợp quốc.
Thứ ba, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã cố
tình phá hoại có hệ thống Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Việt
Nam. Điều này cho thấy dã tâm của Mỹ rất
rõ ràng là thay thế Pháp xâm chiếm Việt Nam, hòng biến Việt Nam thành căn cứ
quân sự và thuộc địa kiểu mới, phục vụ lợi ích và chiến lược toàn cầu của Mỹ.
Trước khi ký kết Hiệp định Giơnevơ, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng
trong chính quyền Bảo Đại (6/1954). Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết,
Mỹ đã cùng chính quyền Sài Gòn không thực thi những điều khoản cả về chính trị
và quân sự. Cùng với đó, Mỹ đã đưa nhân viên và cố vấn quân sự cùng vũ khí, đạn
dược vào miền Nam Việt Nam, gấp rút tăng cường lực lượng quân sự để đàn áp
phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân miền Nam. Sau này, Mỹ đề ra những
chiến lược chiến tranh tàn bạo, đẩy mạnh các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”
gây chia rẽ, hận thù, chống lại lợi ích và khát vọng độc lập, thống nhất của
dân tộc Việt Nam.
Từ những vấn đề trên có thể thấy, không ai khác, chính Mỹ và chính
quyền Sài Gòn đã phá hoại Hiệp định Giơnevơ, biến ranh giới tạm thời hai năm
thành đôi bờ chiến tuyến kéo dài suốt hai mươi năm, gây ra bao cảnh đau thương,
chết chóc. Sau này, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã nhắc lại cuộc chiến ở Việt
Nam: “Tôi chưa bao giờ là fan hâm mộ cuộc chiến đó cả, tôi nói thẳng cho anh
biết đó đã là cuộc chiến tồi tệ”1. Cho nên, những luận điệu cho rằng,
cộng sản đã “chia đôi đất nước gây ra cảnh đẫm máu và nước mắt” như lời của các
thế lực thù địch cố tình rêu rao là hoàn toàn bịa đặt, xuyên tạc lịch sử, phủ
nhận giá trị, ý nghĩa của Hiệp định Giơnevơ, cần phải lên án, đấu tranh bác bỏ.
Không thể xuyên tạc giá trị của “Tuyên ngôn độc lập”
Vừa qua trên trang “Vietnamthoibao”, Lê Bá Vận có giật tít: “Tuyên Ngôn Độc Lập 2/9 Danh Chính Ngôn Thuận Sự
Thành?” đã cố tình đưa ra nhiều luận
điệu sai trái, bóp méo, xuyên tạc giá trị của bản Tuyên ngôn độc lập, cho rằng:
“Bản Tuyên Ngôn Độc Lập lời lẽ hằn học, lập luận ngoa ngôn hồ đồ, từ ngữ không
chính xác. Không xứng đáng là một bản tuyên ngôn nghiêm túc”. Cần khẳng định
ngay: đó là những luận điệu sai trái, bóp méo sự thật lịch sử của Lê Bá Vận,
bởi lẽ:
Thứ nhất, “Tuyên ngôn độc lập” là áng văn chính
luận đầy mẫu mực
Với hơn 1.000 chữ, bản Tuyên ngôn có ba phần theo bố cục chặt chẽ của văn
chính luận: Cơ sở pháp lý – cơ sở thực tế – khẳng định. Phần đầu bản Tuyên ngôn
nêu lên những chân lý về nhân quyền và dân quyền với trích dẫn lời hai bản
Tuyên ngôn nổi tiếng thế giới “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ và “Tuyên ngôn nhân
quyền và dân quyền” của Pháp. Lời lẽ của hai bản tuyên ngôn trên tự thân đã nêu
lên những chân lý không ai có thể phủ nhận tính đúng đắn của chúng. Từ đó, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách đầy sáng tạo: “Suy rộng ra, câu ấy có
nghĩa là: Tất cả dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng
có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
Phần kế tiếp, trong một đoạn ngắn hai mươi mốt câu với sự liệt kê ngắn gọn
và đầy đủ những tội ác mà thực dân Pháp đã gây ra trên đất nước ta, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã cho cả thế giới biết chiêu bài “khai hóa, bảo hộ” với những việc
làm độc ác của thực dân Pháp. Và trước những hành động tàn nhẫn của thực dân
Pháp chúng ta buộc phải “rũ bùn đứng dậy”, làm cuộc cách mạng giải phóng chính
mình…
Kết thúc phần cơ sở thực tiễn, Tuyên ngôn đã nhấn mạnh: “Sự thật là từ mùa
Thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật…” và “Sự thật là dân ta lấy
lại nước Việt Nam từ tay Nhật..”. Sau khi đã làm rõ cơ sở pháp lý và nêu ra cơ
sở thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng những lời lẽ đanh thép để tuyên
bố nền độc lập của dân tộc, đồng thời khẳng định “Toàn thể dân tộc Việt Nam
quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng tính mạng và của cải để giữ vững quyền
tự do độc lập ấy”.
Thứ hai, “Tuyên ngôn độc lập” là một áng hùng văn
lập quốc vĩ đại của dân tộc Việt Nam
Với lập luận chặt chẽ, sắc bén, lời lẽ đanh thép, đầy sức thuyết phục của
một áng văn chính luận mẫu mực,Tuyên ngôn Độc lập có thể sánh với những áng
hùng văn của các bậc tiền nhân như bài thơ Thần “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt, “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn hay “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi. “Tuyên ngôn độc lập” là sự kết
tinh khát vọng độc lập mấy nghìn năm của dân tộc và cũng tỏ rõ ý chí, quyết tâm
giữ vững quyền tự do, độc lập, xứng đáng được xếp vào hàng “thiên cổ hùng văn” của dân tộc ta.
Bên cạnh sứ mệnh khai sinh, đưa dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới
– kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, bản “Tuyên ngôn độc lập” là bản
Tuyên ngôn về nhân quyền, về cuộc đấu tranh vì quyền bình đẳng thiêng liêng
giữa các dân tộc và mỗi con người của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thực hiện
lời thề độc lập, dân tộc Việt Nam do Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh
đạo đã anh dũng chiến đấu suốt 30 năm chống sự xâm lược của thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ với tinh thần “thà
hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô
lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.
Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam phải chống lại nhiều thế lực xâm lược hùng
mạnh và tàn bạo để bảo vệ quyền độc lập thiêng liêng. Hơn ai hết, người Việt
Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình, độc lập, tự do. Dân tộc Việt Nam yêu chuộng
hòa bình, trọng sự hòa hiếu, luôn luôn mong muốn là bạn với tất cả các nước
trên thế giới, nhưng quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc với lời thề bất hủ: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh
thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Như vậy, “Tuyên ngôn độc lập” được Bác Hồ tuyên đọc tại Quảng trường Ba
Đình ngày 02/9/1945 là tuyên ngôn lập quốc của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí
Minh, thể hiện sâu sắc ý chí, khát vọng của nhân dân ta về độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội. Chỉ có những kẻ vẫn đang tự giam mình trong bóng đêm thù hận,
theo đuổi mưu đồ chính trị lỗi thời, đi ngược với lợi ích, truyền thống văn
hóa, nhân văn của dân tộc như Lê Bá Vận mới đưa ra nhiều luận điệu sai trái, cố
tình bóp méo, xuyên tạc giá trị của bản “Tuyên ngôn độc lập”. Những luận điệu
sai trái, xuyên tạc sự thật đó của y và đồng bọn cần phải bị lên án và đấu
tranh bác bỏ./.
LUÂN LÊ – KẺ BỒI BÚT LƯU VONG XẢO TRÁ
Mới đây, trên trang “Việt
Nam thời báo”, Luân Lê – kẻ bồi bút lưu vong xảo trá tán phát bài với tiêu đề “Ngày Quốc khánh”. Xuyên suốt bài viết, Luân Lê tỏ rõ thái độ hằn học, thù địch “phân tích lịch sử”, đưa ra nhận định
sai trái, hết sức ấu trĩ rằng: nếu theo cụ Phan Chu Trinh “ỷ Pháp cầu tiến bộ”,
tức dựa vào người Pháp để “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” thì đất
nước ta thoát khỏi cả giặc ngu dốt và chiến tranh bạo lực đẫm máu, sẽ thịnh
vượng như Hồng Kông, Đài Loan… Hơn thế, Luân Lê còn lợi dụng “dân chủ” đòi “quyền tự do biểu tình, tự do ngôn
luận và tự do hội họp”; cố tình xuyên tạc, suy diễn, thổi phồng các hạn chế
tiêu cực trong đời sống xã hội hiện nay rồi đổ lỗi là do độc đảng, là sai lầm
áp dụng thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa, vận hành nền kinh tế méo mó, đổ vỡ
tất yếu…
Thủ đoạn, luận điệu này không mới nhưng việc Luân Lê và đồng bọn cứ nhai đi nhai lại, nhất là các dịp ngày lễ lịch sử của
dân tộc sẽ tạo ra sự nhiễu loạn thông tin trên mạng xã hội, ảnh hưởng đến quan
điểm, suy nghĩ của một bộ phận người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin hòng dẫn
dắt dư luận. Mục đích cuối cùng của chúng là hô hào, kích động nhân dân lật đổ
Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta và Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã dày công thực hiện.
Nhìn lại thực tiễn lịch sử, hơn 80 năm đô hộ Việt Nam, thực dân Pháp đã để
lại những vết thương sâu trong lòng dân tộc Việt Nam. Người Pháp thẳng tay chém
giết những người Việt Nam yêu nước, tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể
máu, thi hành nhiều chính sách hà khắc, chính sách ngu dân để trị, bóc lột dân
ta đến tận xương tủy…, tình cảnh của người dân Việt Nam trong đêm trường nô lệ,
nhà tù nhiều hơn trường học và chỉ để lại Việt Nam vài công trình kiến trúc
“đáng giá” mà mục đích là phục vụ người Pháp cai trị lâu dài người Việt. Vậy mà
kẻ bồi bút xảo trá Luân
Lê lại cho rằng người Pháp “khai
sáng văn minh”, thật là ẫu trĩ và vô xỉ như thế là cùng!
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh 2/9 đã đi vào lịch
sử dân tộc, mở ra bước ngoặc vĩ đại của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước
sang một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm
chủ vận mệnh của mình. Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9/1945 không chỉ là
mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc mà còn là sự kiện mang tầm vóc thời đại,
có ý nghĩa quốc tế sâu sắc; nguồn cổ vũ, động viên, truyền cảm hứng đối với các
dân tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức, bóc lột trên thế giới đấu tranh giành
độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Trong suốt quá trình cách mạng, từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản
Việt Nam luôn khẳng định vai trò là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt
Nam, lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, thực
hiện thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, đưa cả nước đi lên chủ
nghĩa xã hội, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh. Với những gì Đảng Cộng sản Việt Nam mang lại cho dân, cho nước đã khiến
tất cả người dân Việt Nam từ già đến trẻ đều tin và nguyện theo Đảng, phấn đấu
vì mục tiêu lý tưởng của Đảng, gọi bằng một cái tên thân thương là “Đảng ta”.
Sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước đạt được những thành
tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên tất cả mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không
ngừng được nâng cao, các phong trào đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo luôn
được các tổ chức chính trị, xã hội và các tầng lớp nhân dân quan tâm, ủng hộ.
Việt Nam được bạn bè thế giới mến phục, coi là biểu tượng của hòa bình, ổn định
chính trị, xã hội, sự thân thiện, mến khách, đồng thời là biểu hiện của sự nỗ
lực, tinh thần chiến thắng đói nghèo trong thế kỷ XXI. Những thành tựu to lớn
đã đạt được từ ngày thành lập nước đến nay chứng tỏ sự trưởng thành về mọi mặt
của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam.
Việc các thế lực phản động, cơ hội chính trị mang dòng máu Việt Nam nhưng
phản bội lại quê hương, cố tình xuyên tạc, bôi nhọ, hạ thấp bản chất, ý nghĩa
của Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 là hành vi đi ngược lại lợi ích đất
nước, phủ nhận khát vọng của dân tộc, vong ơn, bội nghĩa trước xương máu của
biết bao thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất của
Tổ quốc. Đối với Luân
Lê, ẩn dưới cái áo luật sư thực
chất là kẻ cơ hội lưu manh chính trị, với tư tưởng phản động, chống cộng cực
đoan, cùng miệng lưỡi rắn độc và thủ đoạn đê tiện, bẩn thỉu nhất, Luân Lê luôn cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật về bản chất cách mạng, hạ
thấp ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, bôi nhọ, phủ nhận vai
trò Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta. Những luận điệu xuyên tạc và những con
người đang đi ngược dòng sự thật ấy chỉ có thể gây nhiễu về thông tin chứ không
thể phủ nhận sự thật hiển nhiên, không ngăn cản bởi dòng chảy lịch sử của dân
tộc./.
Kiên định lý tưởng xã hội chủ nghĩa trong công cuộc đổi mới của cách mạng
Việt Nam
Các thế lực thù địch dùng mọi biện pháp để đánh vào nền tảng tư tưởng của
Đảng ta, hòng gây hoang mang dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ
nghĩa. Đồng thời, chúng hân hoan nói về sự vĩnh cửu của chủ nghĩa tư bản, đẩy
mạnh tuyên truyền, ca ngợi chủ nghĩa tư bản, cổ súy cho chủ nghĩa cá nhân, lối
sống thực dụng.
Phạm Đình Trọng là một người trong số đó với bài viết trên baotiengdan với
tiêu đề “thảm họa cộng sản” ngày 13.11.2019.
Thứ nhất, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, gây hoang mang dao động về hệ tư
tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa.
Phạm Đình Trọng cố tình xuyên tạc về chủ nghĩa xã hội hiện thực, về thành
tựu lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội. Ông ta rất xa rời thực tiễn, phủ
nhận lý luận và hiện thực khách quan khi viết: Thời gian và cuộc sống đã chứng
minh rằng lý thuyết cộng sản là sai lầm, thực tế cộng sản là tội ác; cộng sản
là: những người trì trệ, tối tăm, chưa tách khỏi bầy đàn… Thực chất, đây chỉ là
biện pháp đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta hòng gây hoang mang dao động
về hệ tư tưởng, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà các thế lực thù địch
với chủ nghĩa xã hội thường dùng. Cũng giống như những người thù địch với lý
tưởng cộng sản, thù địch với chủ nghĩa xã hội, Phạm Đình Trọng đã theo đuôi để
tuyên truyền, ca ngợi cho chủ nghĩa tư bản, tạo ra nhận thức mơ hồ về chủ nghĩa
tư bản để thừa nhận chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất không còn là một xã
hội áp bức, bóc lột nữa, chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội cuối cùng của lịch
sử loài người. Đồng thời, họ cố tình làm cho mọi người hiểu rằng con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là “mù mờ”, “không tưởng”. Như vậy, đích cuối
của những người thù địch với chủ nghĩa cộng sản là làm cho mọi người nhầm hiểu
rằng chủ nghĩa Mác – Lênin là sai lầm, sai lầm từ trong bản chất chứ không phải
do nhận thức và vận dụng sai trong thực tiễn. Họ luôn mong muốn để từ đó đưa
chủ nghĩa Mác – Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam,
hướng lái cách mạng Việt Nam xa rời và đi đến từ bỏ lý tưởng cộng sản.
Thứ hai, tư tưởng xã hội chủ nghĩa đã có lịch sử rất lâu dài trong sự phát triển của
tư tưởng nhân loại, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn trường
tồn, phát triển.
Chúng ta biết rằng, từ thời xa xưa, con người cổ đại trên trái đất đã mơ
ước đến một xã hội công bằng, bình đẳng, không có áp bức và bóc lột. Mơ ước đó
đã phát triển trong lý luận của các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng. Chúng ta
biết rằng, lý luận xã hội chủ nghĩa không phải là phát hiện của Mác và Ăngghen
mà đã có trước các ông và đã được các ông kế thừa, phát triển. Lý tưởng xã hội
chủ nghĩa cũng không phải là lý tưởng riêng của giai cấp công nhân mà là lý
tưởng chung của nhân loại không chỉ trong quá khứ mà ngay cả hiện nay.
Chủ nghĩa Mác – Lênin là một khoa học về giải phóng và phát triển con người
và loài người, phản ánh bằng lý luận về lý tưởng của nhân loại vươn tới một xã
hội tốt đẹp là tự do, bình đẳng, hạnh phúc. Vì vậy, lý tưởng xã hội chủ nghĩa
của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn giữ nguyên ý nghĩa của nó trong thời đại ngày
nay.
Chủ nghĩa xã hội hiện thực ra đời trong thế kỷ XX là tất yếu khách quan,
hợp quy luật phát triển. Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã đạt được những thành tựu
to lớn góp phần làm thay đổi bộ mặt thế giới hiện đại. Giá trị của chủ nghĩa xã
hội hiện thực không dễ gì mất đi ngay cả ở các nước thuộc Đông Âu và Liên Xô
trước đây, mà nó còn lại cho đến ngày nay và tiếp tục tác động sâu sắc đến sự
phát triển của thời đại. Thực tiễn cách mạng ở Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo đã khẳng định sự kiên định chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn
duy nhất đúng.
Như vậy, lý tưởng xã hội chủ nghĩa vẫn đang tồn tại và được củng cố trong
đời sống xã hội và xu thế khách quan của sự phát triển xã hội trong thời đại
ngày nay là sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội để thực hiện lý tưởng đó, tức là đi
tới chủ nghĩa xã hội thông qua cuộc đấu tranh vì các mục tiêu hòa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Ý đồ trước mắt và lâu dài không thay đổi của các thế lực thù địch là xóa bỏ
vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ xã hội ở nước ta. Thông qua việc
truyền bá những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, lối sống lai căng vào
xã hội, vào cán bộ, đảng viên, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong
nội bộ ta để đi đến chuyển hóa Đảng, chuyển hóa chế độ ta, xóa bỏ lý tưởng xã
hội chủ nghĩa. Chúng ta hãy cảnh giác và kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi
âm mưu, thủ đoạn chống phá về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa của các
thế lực thù địch./.





