Thứ Ba, 11 tháng 2, 2025

'Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả'

 

1. Trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn đặc biệt coi trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, tăng cường hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Đây là một trong những yếu tố then chốt đưa Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành người cầm lái vĩ đại, người thuyền trưởng tinh anh đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt mọi thác ghềnh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Điểm hội tụ chiến lược sau 40 năm đổi mới đất nước đang đem đến cơ hội lịch sử đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; cũng đặt ra yêu cầu cấp bách thực hiện quyết liệt cuộc cách mạng nhằm xây dựng hệ thống chính trị thật sự tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn Cách mạng mới.

Mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta từ năm 1945 đến nay cơ bản ổn định gồm 3 khối (Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội). Với cơ chế vận hành Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, tổ chức bộ máy của từng khối đã có sự điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu cách mạng của từng giai đoạn lịch sử. Từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI đến nay, khái niệm “Hệ thống chính trị” chính thức được sử dụng đánh dấu sự phát triển tư duy, nhận thức của Đảng về yêu cầu, nhiệm vụ đối với hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới.

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt và đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn phát triển nóng bỏng của đất nước, qua nhiều kỳ đại hội, nhất là trong các đại hội gần đây, trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, XII, XIII đều nhấn mạnh các nhiệm vụ cụ thể về tinh gọn tổ chức bộ máy hoặc nghiên cứu xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta liên tục ban hành nhiều Nghị quyết, Kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn tổ chức bộ máy hoạt động hiệu lực hiệu quả, như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 09/2/2007 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, định hướng đổi mới tổ chức bộ máy Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 01/8/2007 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước; Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 02/2/2008 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng; Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; Kết luận số 50-KL/TW, ngày 28/2/2023 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 18; Kết luận số 37-KL/TW, ngày 02/2/2009 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ đến năm 2020; Kết luận số 63-KL/TW, ngày 27/5/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn đề về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020; Kết luận số 64-KL/TW, ngày 28/5/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương; Kết luận số 62-KL/TW, ngày 8/12/2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Thực hiện các Nghị quyết, Kết luận của Đảng, hệ thống tổ chức đảng các cấp, bộ máy Nhà nước từ Trung ương tới cơ sở, tổ chức cơ quan Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội từng bước được đổi mới, phát huy hiệu lực, hiệu quả; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng tổ chức trong hệ thống chính trị được phân định, điều chỉnh hợp lý hơn, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị cơ bản ổn định, phù hợp với Cương lĩnh và Hiến pháp; bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Thông qua vai trò, sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng; giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền; kinh tế xã hội phát triển, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân. Những đổi mới về thể chế, trọng tâm là đổi mới công tác tổ chức bộ máy hệ thống chính trị là một trong những điều kiện cơ bản, quyết định đạt được những thành tựu vĩ đại sau 40 năm đổi mới đất nước.

Qua 07 năm thực hiện Nghị quyết số 18 ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị chúng ta đã đạt được một số kết quả quan trọng, bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị. Tuy nhiên, nhận thức và hành động của một số cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt, việc sắp xếp tổ chức bộ máy chưa đồng bộ, tổng thể, chưa gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại... một số bộ, ngành còn ôm đồm nhiệm vụ của địa phương, dẫn đến tồn tại cơ chế xin-cho, dễ này sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực... Chính vì vậy, cho đến nay tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, quan hệ công tác giữa nhiều cơ quan, bộ phận chưa thật rõ ràng, còn trùng lắp, chồng chéo; phân định trách nhiệm, phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ, hợp lý, có chỗ bao biện làm thay, có nơi bỏ sót hoặc không đầu tư thích đáng… Chất lượng tham mưu, đề xuất của một cơ quan, tổ chức đảng với Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với một số lĩnh vực còn hạn chế; năng lực điều phối, hướng dẫn, tổ chức thực hiện trong toàn Đảng chưa đáp ứng yêu cầu đề ra; phân định phạm vi quản lý đa ngành, đa lĩnh vực của các bộ chưa triệt để; một số nhiệm vụ liên thông, gắn kết nhau hoặc cùng một lĩnh vực nhưng giao cho nhiều bộ quản lý. Tổ chức bộ máy của một số cấp, ngành đến nay cơ bản vẫn giữ nguyên về số lượng, việc sắp xếp chưa gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả, xác định vị trí việc làm, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ. Bộ máy trong bộ, cơ quan ngang Bộ còn nhiều tầng nấc, có cấp không rõ địa vị pháp lý; đơn vị trực thuộc có tư cách pháp nhân tăng, gia tăng tình trạng “Bộ trong Bộ”. Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ.

Những tồn tại, hạn chế, sự chậm chạp, thiếu quyết liệt trong thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gây ra nhiều hệ luỵ nghiêm trọng. Bộ máy cồng kềnh gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển, là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm đi vào thực tiễn cuộc sống hoặc một số chủ trương không được triển khai hoặc triển khai hình thức trên thực tế. Sự chồng chéo, phân định không rõ chức năng, nhiệm vụ dẫn đến không rõ trách nhiệm, “lấn sân”, cản trở, thậm chí “vô hiệu hóa” lẫn nhau, làm giảm tính chủ động, sáng tạo, dẫn đến năng suất lao động, hiệu suất công tác thấp, đùn đẩy trách nhiệm, tiêu cực, cản trở phát triển, phát sinh phiền nhiễu, giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Tầng nấc trung gian dẫn đến mất thời gian qua “nhiều cửa” thủ tục hành chính, gây cản trở, thậm chí tạo điểm nghẽn, làm lỡ cơ hội phát triển. Chi phí vận hành hệ thống tổ chức bộ máy lớn, làm giảm nguồn lực cho đầu tư phát triển, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. So với những thay đổi to lớn của đất nước sau 40 năm đổi mới, sự phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và những thành tựu khoa học công nghệ; tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta tuy đã được đổi mới ở một số bộ phận, nhưng cơ bản vẫn theo mô hình được thiết kế từ hàng chục năm trước, nhiều vấn đề không còn phù hợp với điều kiện mới là trái với quy luật phát triển; tạo ra tâm lý “Nói không đi đôi với làm”.

2. Thời điểm 100 năm đất nước ta dưới sự lãnh đạo Đảng và 100 năm thành lập nước không còn xa, để đạt được các mục tiêu chiến lược, không chỉ đòi hỏi những nỗ lực phi thường, những cố gắng vượt bậc, mà còn không cho phép chúng ta chậm trễ, lơi lỏng, thiếu chính xác, thiếu đồng bộ, thiếu nhịp nhàng trên từng bước đi; muốn vậy cần khẩn trương thực hiện cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, với một số công tác trọng tâm, sau đây:

Thứ nhất: xây dựng và tổ chức thực hiện trong toàn hệ thống chính trị mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Tập trung tổng kết 07 năm thực hiện Nghị quyết số 18 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đánh giá nghiên túc, toàn diện về tình hình và kết quả đạt được, những ưu điểm, khuyết điểm, hạn chế, vướng mắc, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện Nghị quyết; đề xuất, kiến nghị với Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Tổng kết phải tiến hành khách quan, dân chủ, khoa học, cụ thể, sâu sắc, cầu thị, sát đúng với tình hình thực tiễn từ đó đề xuất mô hình tổ chức mới, đánh giá ưu điểm và tác động khi thực hiện mô hình mới, phải bám sát Hiến pháp, Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nguyên tắc của Đảng, các Nghị quyết của Trung ương... bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, liên thông, một cơ quan thực hiện nhiều việc, một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính; khắc phục triệt để chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, chia cắt về địa bàn, lĩnh vực; hạn chế tổ chức trung gian; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể trên cơ sở tính đảng, tính hợp lý, tính hợp pháp.

Thứ hai: tập trung hoàn thiện thể chế theo tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng” để nhanh chóng đưa chủ trương của Đảng đi vào thực tiễn cuộc sống. Rà soát các quy định pháp luật có liên quan để chủ động chuẩn bị sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới theo đúng quy định, bảo đảm chủ trương của Đảng được triển khai nhanh nhất sau khi được Trung ương thống nhất thông qua. Tập trung hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị, gắn với tinh thần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, Trung ương, Chính phủ, Quốc hội tăng cường hoàn thiện thể chế, giữ vai trò kiến tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát và cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân và doanh nghiệp. Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bộ máy nhà nước, bảo đảm sự phân biệt rõ cấp ban hành chủ trương, chính sách, pháp luật với cấp tổ chức thực hiện.

Thứ ba: gắn tinh gọn tổ chức bộ máy với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ, biên chế hợp lý, chuẩn hóa chức danh. Ban hành quy định về khung tiêu chuẩn, tiêu chí bố trí cán bộ ở từng cấp, từ Trung ương tới cơ sở, từng loại hình để chủ động rà soát, xác định có thể bố trí ngay. Đổi mới mạnh mẽ công tác tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, vì việc tìm người, trên cơ sở sản phẩm cụ thể đo đếm được, không có vùng cấm, không có ngoại lệ trong đánh giá cán bộ. Có cơ chế hữu hiệu sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và sử dụng đối với người có năng lực nổi trội.

V.I Lênin khi nói về cải tiến bộ máy Nhà nước đã nhấn mạnh: “Phải tuân theo qui tắc này: thà ít mà tốt... Tôi biết rằng giữ vững qui tắc ấy và vận dụng được nó vào tình hình thực tế của chúng ta là khó khăn... Tôi biết rằng sẽ phải kháng cự một cách mãnh liệt, sẽ phải tỏ ra kiên trì phi thường... Song tôi vẫn tin chắc rằng chỉ có tiến hành công tác đó, chúng ta mới có thể xây dựng được một nước cộng hòa thật sự xứng danh là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô- Viết”[1]; xây dựng tổ chức bộ máy hiệu lực hiệu quả là công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi sự đoàn kết, thống nhất, dũng cảm, sự hy sinh của từng cán bộ, đảng viên cùng với quyết tâm rất cao của toàn Đảng, cả hệ thống chính trị, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp, tất cả vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, sớm sánh vai với các cường quốc năm châu./.

 

Tinh gọn bộ máy: Hoàn thiện phương án sắp xếp của các bộ, ngành

 

Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình, Phó trưởng ban Chỉ đạo của Chính phủ về tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW vừa đề nghị các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ hoàn thiện phương án sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của bộ, ngành.

Giữ nguyên tên gọi một số bộ sau hợp nhất

Theo phương án của Ban Chỉ đạo của Chính phủ, về tên gọi, giữ nguyên tên Bộ Tài chính sau khi hợp nhất Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính.

Giữ nguyên tên Bộ Nội vụ sau khi hợp nhất Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Nội vụ.

Giữ nguyên tên Bộ Xây dựng sau khi hợp nhất Bộ Giao thông vận tải và Bộ Xây dựng.

Giữ nguyên tên Bộ Khoa học và Công nghệ sau khi hợp nhất Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Khoa học và Công nghệ.

Giữ nguyên tên Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sau khi tiếp nhận chức năng quản lý nhà nước về báo chí từ Bộ Thông tin và Truyền thông.

Thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo trên cơ sở Ủy ban Dân tộc tiếp nhận thêm chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo từ Bộ Nội vụ.

Các bộ, ngành khác tiếp tục giữ tên gọi như đề xuất tại Báo cáo số 3792-BC/BCSĐCP ngày 31-12-2024 của Ban cán sự Đảng Chính phủ.

Cụ thể gồm: Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Ngoại giao, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Văn phòng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam.

Tiếp thu ý kiến của Bộ Chính trị về việc điều chuyển một số chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy như sau: Chuyển chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản từ Bộ Thông tin và Truyền thông sang Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Chuyển nhiệm vụ, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giảm nghèo từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sang Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chuyển chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội, trẻ em, phòng, chống tệ nạn xã hội từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sang Bộ Y tế (chức năng chỉ đạo, quản lý công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương của Ban Bảo vệ, Chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương đã được chuyển về Ban Tổ chức Trung ương theo quyết định của Bộ Chính trị; nhiệm vụ quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy chuyển về Bộ Công an).

Đồng thời, điều chỉnh sửa đổi, chức năng, nhiệm vụ của Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, không bao gồm chức năng, nhiệm vụ của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (do Bộ Chính trị đã quyết định chuyển Viện này về Ban Chính sách, chiến lược Trung ương).

Hoạt động của Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp sẽ kết thúc; chuyển 18 tập đoàn, tổng công ty hiện đang giao cho Ủy ban này quản lý về Bộ Tài chính quản lý; chuyển Tổng công ty Viễn thông Mobifone về Bộ Công an quản lý (tổ chức đảng của Tổng công ty chuyển về trực thuộc Đảng ủy Công an Trung ương).

Trước mắt, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp xây dựng phương án tiếp nhận nguyên trạng chức năng, nhiệm vụ và nhân sự của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp để quản lý 18 tập đoàn, tổng công ty này.

Bộ Công an và Bộ Quốc phòng phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia

Về điều chỉnh một số chức năng, nhiệm vụ giữa Bộ Công an và một số bộ, ngành liên quan, Ban Chỉ đạo của Chính phủ đề nghị chuyển nhiệm vụ quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sang Bộ Công an.

Chuyển nhiệm vụ quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp và thực hiện dịch vụ công cấp Phiếu lý lịch tư pháp từ Bộ Tư pháp sang Bộ Công an.

Chuyển nhiệm vụ về sát hạch, cấp Giấy phép lái xe cơ giới đường bộ từ Bộ Giao thông vận tải sang Bộ Công an.

Chuyển nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn, an ninh thông tin mạng từ Bộ Thông tin và Truyền thông sang Bộ Công an.

Về nhiệm vụ quản lý nhà nước về xuất nhập cảnh, Ban Chỉ đạo của Chính phủ giao Bộ Công an chủ trì xây dựng, thu thập, cập nhật, khai thác, chia sẻ thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất nhập cảnh.

Về nhiệm vụ bảo đảm an ninh hàng không, Ban Chỉ đạo của Chính phủ giao Bộ Công an chủ trì bảo đảm an ninh hàng không tại sân bay và trong máy bay.

Về nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia tại khu vực biên giới, cửa khẩu, Ban Chỉ đạo của Chính phủ giao 2 Bộ Công an và Quốc phòng thống nhất nhiệm vụ chủ trì, nhiệm vụ phối hợp, bổ sung vào Nghị định số 03/20219/NĐ-CP của Chính phủ về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng.

Tinh gọn tổ chức bên trong

Trên cơ sở kết luận của Bộ Chính trị, Ban Chỉ đạo của Chính phủ đề nghị tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bên trong của một số bộ, cơ quan ngang bộ theo hướng, Bộ Tài chính tổ chức lại Tổng cục Thuế thành Cục Thuế (có 12 ban/phòng) và sắp xếp, cơ cấu lại Cục Thuế của 63 tỉnh, thành phố thành 20 chi cục Thuế khu vực; sắp xếp, cơ cấu lại 420 chi cục Thuế cấp huyện và khu vực liên huyện thành 350 đội thuế khu vực liên huyện. Sau sắp xếp dự kiến giảm 1.005/4.141 đầu mối (24,27%).

Tổ chức lại Tổng cục Hải quan thành Cục Hải quan (có 12 ban/phòng) và sắp xếp, cơ cấu lại 35 Cục Hải quan khu vực thành 20 chi cục Hải quan khu vực; sắp xếp, cơ cấu lại 181 chi cục Hải quan thành 165 hải quan cửa khẩu/ngoài cửa khẩu, là tổ chức cấp đội. Sau sắp xếp dự kiến giảm 485/902 đầu mối (53,77%).

Tổ chức lại Kho bạc Nhà nước (cấp tổng cục) thành Kho bạc Nhà nước, là tổ chức tương đương cấp cục (10 ban/phòng) và sắp xếp, cơ cấu lại 63 kho bạc nhà nước cấp tỉnh thành 20 kho bạc nhà nước khu vực, là tổ chức cấp chi cục. Sau sắp xếp dự kiến giảm 431/1.049 đầu mối (41,09%).

Tổ chức lại Tổng cục Dự trữ Nhà nước thành Cục Dự trữ nhà nước (có 7 ban); sắp xếp, cơ cấu lại 22 dự trữ nhà nước khu vực thành 15 chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực.

Tổ chức lại Tổng cục Thống kê thành Cục Thống kê (có 14 đơn vị) và sắp xếp, cơ cấu lại 63 cục thống kê cấp tỉnh thành 63 chi cục thống kê cấp tỉnh; sắp xếp, cơ cấu lại 565 chi cục thống kê cấp huyện thành 480 Đội hoạt động theo mô hình liên huyện (giảm 15% đầu mối).

Tổ chức lại Bảo hiểm xã hội Việt Nam thành đơn vị sự nghiệp công lập, có 14 ban (giảm 7 đơn vị); sắp xếp, cơ cấu lại đầu mối bên trong của 63 bảo hiểm xã hội cấp tỉnh thành 35 bảo hiểm xã hội khu vực; sắp xếp, cơ cấu lại 640 bảo hiểm xã hội cấp huyện xuống còn 350 bảo hiểm xã hội liên huyện, bỏ 147 tổ nghiệp vụ (giảm 651/1.465 đầu mối, tương đương với 44,4%).

Bộ Xây dựng hợp nhất Cục Kinh tế xây dựng, Cục Quản lý hoạt động xây dựng của Bộ Xây dựng và Cục Quản lý đầu tư xây dựng của Bộ Giao thông vận tải thành Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sáp nhập Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn vào Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

Bộ Tài nguyên và Môi trường sáp nhập Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tài nguyên và môi trường vào Đại học Tài nguyên và Môi trường.

Bộ Giáo dục và Đào tạo hợp nhất Vụ Giáo dục Tiểu học và Vụ Giáo dục Trung học thành Vụ Giáo dục phổ thông; đồng thời tiếp nhận thêm một số nhiệm vụ của Vụ Giáo dục dân tộc.

Bộ Y tế kết thúc hoạt động của Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền và chuyển chức năng, nhiệm vụ về các đơn vị chuyên ngành thuộc Bộ Y tế. Ban Chỉ đạo của Chính phủ đề nghị Bộ Y tế rà soát để sắp xếp thu gọn thêm đầu mối, bảo đảm giảm tối thiểu từ 15 - 20% đầu mối.

Bộ Ngoại giao hợp nhất Vụ Ngoại giao văn hóa và UNESCO (Bộ Ngoại giao), Vụ Đối ngoại nhân dân (Ban Đối ngoại Trung ương) và Cục Ngoại vụ (Bộ Ngoại giao) thành Cục Ngoại vụ và Ngoại giao văn hóa.

Bộ Dân tộc và Tôn giáo, giữ nguyên tên Ban Tôn giáo Chính phủ để tránh gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động của cơ quan, đơn vị sau sắp xếp.

Bộ Công Thương hợp nhất Vụ Thị trường châu Âu - châu Mỹ và Vụ Thị trường châu Á - châu Phi thành Vụ Thị trường nước ngoài.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đổi tên Trung tâm Công nghệ thông tin thành Trung tâm Chuyển đổi số Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Văn phòng Chính phủ hợp nhất Vụ Tổng hợp và Vụ Thư ký - Biên tập thành Vụ Tổng hợp - Thư ký. Ban Chỉ đạo của Chính phủ đề nghị Văn phòng Chính phủ rà soát để sắp xếp thu gọn thêm đầu mối, bảo đảm giảm tối thiểu từ 15-20% đầu mối.

Ban Chỉ đạo của Chính phủ cũng đề nghị Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tiếp tục nghiên cứu, đánh giá kỹ tác động và hoàn thiện Đề án sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra theo cấp hành chính tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, báo cáo Bộ Chính trị ngày 17-1-2025.

Hoàn thiện ngay Đề án cơ cấu, sáp nhập, hợp nhất và tinh gọn

Căn cứ yêu cầu cuộc họp Bộ Chính trị ngày 10-1-2025, Ban Chấp hành Trung ương sẽ họp vào ngày 23 đến 24-1-2025, dự kiến Quốc hội sẽ tổ chức phiên họp vào khoảng thời gian từ ngày 12 đến 17-2-2025. Theo đó, trên cơ sở phương án sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của Chính phủ, Ban Chỉ đạo của Chính phủ đề nghị các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ hoàn thiện Đề án cơ cấu, sáp nhập, hợp nhất và tinh gọn tổ chức bộ máy bên trong (kèm theo dự thảo nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, ngành mình).

Trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, các cơ quan cần chú ý làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, chế độ, chính sách đối với cán bộ, bảo đảm duy trì và thực hiện tốt công việc thường xuyên, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ sắp tới.

Đối với 6 bộ, ngành: Văn phòng Chính phủ, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Ban Chỉ đạo của Chính phủ đề nghị chủ động trình Chính phủ (hoặc trình Bộ quản lý ngành để trình Chính phủ đối với cơ quan thuộc Chính phủ: Bộ Khoa học và Công nghệ trình nghị định của 2 viện hàn lâm, Bộ Thông tin và Truyền thông trình nghị định của 2 đài và Thông tấn xã Việt Nam) để ban hành nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức cơ quan mình, kịp thời công bố trước ngày 20-1-2025.

Đối với 14 bộ, ngành còn lại, gồm: Bộ Tài chính (sau hợp nhất); Bộ Xây dựng (sau hợp nhất); Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bộ Khoa học và Công nghệ (sau hợp nhất); Bộ Nội vụ (sau hợp nhất); Bộ Dân tộc và Tôn giáo; Bộ Công Thương; Bộ Tư pháp; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Y tế; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Thanh tra Chính phủ, chủ động hoàn thiện dự thảo nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan mình, trình Chính phủ ban hành ngay sau khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng có kết luận, để sau kỳ họp bất thường Quốc hội, Chính phủ sẽ công bố nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ.

Bên cạnh đó, Ban Chỉ đạo của Chính phủ đề nghị Bộ Tài chính khẩn trương hoàn thiện hồ sơ sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, báo cáo Chính phủ để trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp giữa tháng 2-2025.

Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tiếp tục nghiên cứu, đánh giá kỹ tác động và hoàn thiện Đề án sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra theo cấp hành chính tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, báo cáo Bộ Chính trị vào ngày 17-1-2025./.

 

Lật tẩy những chiêu trò xuyên tạc, chống phá trên không gian mạng


Không gian mạng là môi trường đặc biệt mà con người có thể trao đổi thông tin, bày tỏ quan điểm… không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. 

Lợi dụng triệt để thế mạnh này, những năm qua, các thế lực thù địch đã thông qua internet, mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch chống phá nước ta, nhất là trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang tích cực đổi mới, thực hiện tinh gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu quả nhằm tạo tiền đề bước vào Kỷ nguyên vươn mình, phát triển thịnh vượng của dân tộc Việt Nam…

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, nước ta đã đạt được thành tựu to lớn trong việc phát triển không gian mạng, nhờ đó quyền tự do ngôn luận, tự do tiếp cận thông tin của người dân có những bước phát triển mạnh mẽ. Tính đến năm 2024, số lượng người sử dụng internet ở nước ta đạt mốc 78,44 triệu người, Việt Nam là quốc gia trong nhóm đứng đầu thế giới về số người sử dụng mạng xã hội với 72,70 triệu người. Hệ thống cáp quang đã triển khai tới 100% các xã, phường, thị trấn; số thuê bao sử dụng điện thoại smartphone ước đạt 168,5 triệu người. Bản chất không gian mạng là môi trường mở cho phép người sử dụng tự do cung cấp, tìm kiếm và sử dụng thông tin, chia sẻ, kết nối cộng đồng. Thông qua đó, con người được tiếp cận với lượng thông tin, kiến thức xã hội khổng lồ, được cập nhật thường xuyên với tốc độ rất nhanh, nội dung phong phú, đa dạng… nên rất khó quản lý, giám sát và kiểm duyệt.

Đây chính là một trong những thế mạnh của không gian mạng được các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch đối với nước ta.

Qua nghiên cứu thấy, hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch trên không gian mạng thể hiện trên các phương diện sau:

Về nội dung tuyên truyền xuyên tạc: Kẻ địch ra sức xuyên tạc, phủ nhận vị trí, vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong xã hội; xuyên tạc mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chúng triệt để lợi dụng, khoét sâu những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, lợi dụng các vụ việc phức tạp xảy ra ở trong nước để rêu rao rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, cần thay thế bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản để “phù hợp với xu thế phát triển”. Chúng ra sức cổ xúy cho những giá trị quyền con người phương Tây, tuyên truyền, cổ vũ cho luận điệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền”; cho rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, không còn là xã hội áp bức, bóc lột. Đặc biệt, mới đây, nhân việc Đảng, Nhà nước ta thực hiện chủ trương tinh giản biên chế và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, các thế lực thù địch đã ra sức tuyên truyền, xuyên tạc rằng, việc tinh giản biên chế ở Việt Nam “không đem lại hiệu quả thực tế mà chỉ là gây tốn kém tiền bạc, ngân sách”, tinh giản biên chế là “đấu đá quyền lực, phe nhóm”, “cắt giảm quyền lực của người này để tăng quyền lực cho người kia, là cách để “hạ bệ” hoặc “gia cố” quyền lực trong Đảng”. Qua đó nhằm làm cán bộ, đảng viên và nhân dân dao động, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về thành tựu phát triển của đất nước và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam; kích động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN, lôi kéo, dụ dỗ nhân dân tham gia các hoạt động biểu tình, gây mất ổn định chính trị, xã hội ở nước ta.

Về phương pháp, thủ đoạn: Các thế lực thù địch lập ra hàng ngàn trang web, blog, tài khoản mạng xã hội và lôi kéo người tham gia thành lập nhiều hội, nhóm trên mạng xã hội để phát tán luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, những thông tin xấu, độc trên không gian mạng theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”. Chúng trộn lẫn thông tin thật - giả một cách tinh vi để hướng lái người dân theo luồng thông tin sai lệch; núp bóng “phản biện độc lập”, ngụy tạo sự khách quan để xuyên tạc nhiều vấn đề trong xã hội rất khó nhận biết. Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã phát hiện trên 3.000 trang web, blog, tài khoản mạng xã hội và gần 100 hội, nhóm trên mạng xã hội thường xuyên đăng tải thông tin chống Đảng, Nhà nước, kích động gây rối ANTT, kích động biểu tình, bạo loạn. Riêng năm 2020, cơ quan chức năng đã phát hiện hơn 3.000 trang mạng có nội dung xấu, trong đó có 31 trang mạng, blog, 55 kênh Youtube, 49 trang fanpage, 765 tài khoản facebook đăng tải hơn 800.000 bài viết, video, clip có nội dung xấu, độc hại. Các thế lực thù địch còn thiết lập cơ sở dữ liệu, sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), internet kết nối vạn vật, dữ liệu lớn (Big Data)... để tạo ra các dữ liệu, tài liệu giả theo kiểu “có giá trị như thật” nhằm chống phá Việt Nam. 

Về đối tượng, đối tượng hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc trên không gian mạng rất đa dạng, phức tạp, đó là những người nghiên cứu lý luận, thực tiễn bài xích tư tưởng XHCN trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản; một bộ phận cán bộ, đảng viên bất mãn, cơ hội, suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa”; những người nhận thức thấp bị lôi kéo, lừa bịp tham gia tuyên truyền xuyên tạc… nhưng lực lượng chủ yếu chính là các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài câu kết với các đối tượng chống đối, bất mãn, cơ hội chính trị trong nước. Số này giữ vai trò nòng cốt trong phát động và hậu thuẫn cho các chiến dịch phá hoại tư tưởng, tiến hành các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc chống phá nước ta. Chúng triệt để lợi dụng thời điểm trong nước diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng như Đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử Quốc hội hoặc xảy ra các vụ việc nhạy cảm, phức tạp … để đẩy mạnh các chiến dịch phá hoại tư tưởng nhằm tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc, thù địch đối với nước ta.

Nhằm phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hiệu quả hoạt động tuyên truyền luận điệu sai trái, thù địch trên không gian mạng trong thời gian tới đòi hỏi công tác này luôn phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong triển khai thực hiện một cách thực chất, thường xuyên, liên tục với quyết tâm chính trị lớn, có sức thuyết phục cao, có sức lan tỏa rộng; được triển khai sâu rộng trong toàn xã hội với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng và từng khu vực dân cư. Đặc biệt, cần huy động được rộng rãi trí tuệ, tâm huyết của các nhân sĩ, trí thức và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia công tác này. Chủ động nắm tình hình, nghiên cứu dự báo, phát hiện kịp thời âm mưu, thủ đoạn, đặc biệt là phương thức hoạt động mới của kẻ địch lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền các luận điệu sai trái, xuyên tạc, thù địch; chú trọng nắm tình hình từ xa, nắm tình hình ngay từ trung tâm phá hoại tư tưởng ở bên ngoài để triển khai công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn. Xây dựng hệ thống thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng có khả năng chỉ huy, kết nối, chia sẻ thông tin, tiếp nhận và xử lý sớm các thông tin xuyên tạc, xấu độc gây hại tới ANCT-TTATXH của đất nước ta. Phát huy vai trò nòng cốt, chủ lực của các cơ quan chuyên trách bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và hệ thống cơ quan báo chí, đài truyền hình trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Xây dựng cơ chế chỉ đạo thông tin thống nhất, hiệp đồng thông tin đồng bộ, tác chiến thường trực, đa dạng, đa tuyến. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ chuyên gia và cán bộ chuyên trách làm công tác tư tưởng có nhiệt huyết và tầm cao về lý luận, có đạo đức, bản lĩnh, trí tuệ, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đa dạng hóa nội dung, phương pháp, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nhiều cấp độ, phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực và từng địa bàn dân cư.

Tiếp tục đẩy mạnh tuyên tuyền, nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp về tầm quan trọng của công tác đấu tranh chống hoạt động lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền, phá hoại tư tưởng. Làm cho cán bộ, đảng viên và người dân đặc biệt là thanh, thiếu niên có khả năng nhận diện và “miễn dịch” với các nội dung thông tin xấu độc, nguy hại; xây dựng ý thức và phong cách văn hóa khi tham gia mạng xã hội, internet; không đăng tải hoặc để lộ, lọt thông tin, tài liệu liên quan đến bí mật Nhà nước. Xây dựng và phát huy vai trò của phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trên không gian mạng nhằm huy động sức mạnh của nhân dân trong phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động này.

Tăng cường công tác quản lý nhà nước về báo chí, truyền thông, internet nhằm chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các trang mạng, các blog đăng tải các tin, bài, clip có nội dung xấu, độc hại. Quan tâm kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác phòng, chống hoạt động xâm phạm ANCT-TTATXH trên không gian mạng có phẩm chất đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh nhuệ, hiện đại, có trình độ chuyên môn sắc bén. Tiếp tục đầu tư, trang cấp các trang thiết bị nghiệp vụ chuyên dụng và áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại nhằm phục vụ hiệu quả công tác phòng, chống hoạt động lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền, phá hoại tư tưởng đối với nước ta/.

 

Chặn biến tướng trong phong tục, văn hóa Tết

 

Tết Nguyên đán không chỉ là ngày lễ quan trọng trong năm mới, đây còn là dịp để người dân tôn vinh những giá trị truyền thống, gắn kết gia đình và xã hội. Tuy nhiên, trong đời sống hiện đại, một số phong tục, văn hóa Tết có nguy cơ bị biến tướng, mai một.

Lạm dụng tín ngưỡng, rình rang lễ lạt

Dịp tháng Chạp, phố Hàng Mã (Hà Nội)-khu phố có nhiều mặt hàng kinh doanh đồ thờ cúng-trở nên nhộn nhịp. Tại đây, nhiều hàng quán bày bán đa dạng các chủng loại, “mặt hàng thời thượng” bằng giấy như: Điện thoại, xe máy, ô tô... để người dân mua về cúng lễ. Hiện tượng trên là một trong những biến tướng về phong tục thường gặp vào dịp cuối năm, khi không ít người dân quan niệm muốn có nhiều tài lộc thì phải bày biện, dâng mâm cao cỗ đầy, sắm nhiều đồ vàng mã.

Tục cúng ông Công, ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp theo phong tục truyền thống mang ý nghĩa cầu mong sự no đủ. Tuy nhiên, phong tục ấy đang bị hiểu sai và có ít nhiều biến tướng về tư duy văn hóa. Từ việc cúng tiễn Táo quân với mâm cỗ, trầu cau, hương hoa, nay nhiều người sắm thêm đủ các loại hàng mã: Quần, áo, nhà lầu, xe hơi... để Táo quân “báo cáo” với Ngọc Hoàng xin cho nhà mình có nhiều lộc. Khi cúng xong, người dân mang tro đốt hàng mã, mang cá ra sông, hồ để thả. Nhiều người thản nhiên vứt cả túi đựng cá làm không ít sông, hồ tràn ngập túi ni lông, giấy, rác làm ô nhiễm môi trường. Phong tục hái lộc đầu xuân vốn mang ý nghĩa cầu may cũng bị biến tướng thành hành vi chặt cây, bẻ cành ở nơi công cộng, gây mất mỹ quan và ý nghĩa văn hóa...

Khi cuộc sống của người dân được cải thiện, nhu cầu tìm về nguồn cội và nhu cầu tâm linh cũng được quan tâm, chú ý hơn. Ở cấp độ làng xã, nhiều hoạt động lễ hội diễn ra sôi động mỗi khi tết đến, xuân về. Hàng nghìn lễ hội gắn với tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng được tổ chức ở khắp nơi. Tuy nhiên, không ít lễ hội truyền thống vào dịp đầu xuân bị biến thành cơ hội kinh doanh, làm cho yếu tố linh thiêng và giá trị văn hóa bị lu mờ. Việc lạm dụng tín ngưỡng khiến một số lễ hội được tổ chức để trục lợi, xuất hiện tại lễ hội những hành vi gây mất trật tự công cộng.

Cùng với đó là việc có quá đông du khách tham gia dẫn tới quá tải, ô nhiễm môi trường. Nhiều người tham gia lễ hội nhưng không hiểu rõ giá trị linh thiêng và ý nghĩa thật sự của các phong tục. Không ít đơn vị và cá nhân chịu ảnh hưởng bởi lợi nhuận, làm mất đi yếu tố văn hóa.

Ngày 11-12-2024, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 40-CT/TW về việc tổ chức Tết Ất Tỵ 2025, trong đó yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm công tác quản lý và tổ chức lễ hội theo quy định. Chỉ thị còn nhấn mạnh tới việc bảo đảm các hoạt động vui xuân, kỷ niệm ngày truyền thống, tổng kết năm, gặp mặt đầu năm... thiết thực, an toàn, tiết kiệm, tránh phô trương, hình thức, lãng phí. Bởi thực tế có không ít cơ quan, đơn vị, địa phương thường có những cuộc lễ lạt rình rang vào dịp tổng kết năm, gặp mặt đầu xuân, kèm theo đó là sự lãng phí tiền bạc, thời gian, công sức.

Thực tế cho thấy, thay vì chú trọng vào những việc làm tri ân thiết thực, không ít cơ quan, đơn vị vẫn nặng về phô trương, hình thức, cốt để "vui vẻ" mỗi dịp lễ, tết.

Mai một giá trị truyền thống

Năm nào cũng vậy, khi thời điểm tết cận kề thì câu chuyện biếu, tặng quà tết là chủ đề được nhiều người quan tâm, bàn luận. Về vấn đề này, Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư ngày 11-12-2024 đã nhấn mạnh: “Tăng cường công tác phòng, chống lãng phí, tiêu cực; không tổ chức thăm, chúc tết cấp trên và lãnh đạo các cấp; không tổ chức đoàn của Trung ương thăm, chúc tết cấp ủy, chính quyền các địa phương; nghiêm cấm việc biếu, tặng quà tết cho lãnh đạo các cấp dưới mọi hình thức...”.

Tặng quà là để thể hiện sự biết ơn, tình cảm quý mến của người tặng, song ý nghĩa truyền thống ấy đã dần bị mai một, thay vào đó là những món quà mang tính vụ lợi. Trong một cuộc trao đổi về chủ đề “Biến tướng quà tết”, PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, cho rằng, quà tết không chỉ là một hiện tượng mà đã trở thành một thói quen. Tuy nhiên, hiện nay quà tết bị biến tướng, nó đã chuyển từ những món quà đơn giản, gửi gắm tình cảm của người tặng sang những món quà đắt tiền mang tính thực dụng, ẩn chứa “thông điệp” nhờ vả.

Cách đây vài năm, tác giả bài viết có quen một người giữ chức vụ khá cao. Khi vừa nhậm chức vào dịp chuẩn bị đón Tết Nguyên đán, anh bảo: “Có lẽ tôi cần phải thay đổi quan niệm về chuyện nhận quà tết thôi ông ạ, bởi mình đâu có thiếu thốn mà cứ để hết người này tới người khác tới biếu quà...”. Nhưng rồi sau đó, quan niệm, ý tưởng có vẻ chân thành của anh không dễ thành hiện thực, bởi biếu quà tết là một thói quen khó thay đổi; việc biếu, nhận quà tết không phải là bối cảnh của hai người mà đã trở thành câu chuyện của cả xã hội. Nếu người cán bộ kia không nhận quà tết thì những người xung quanh anh sẽ phản ứng thế nào? Họ sẽ nhìn anh ra sao? Nhiều khi họ cũng không thích cái việc “từ chối quà tết để làm gương” của anh, bởi với nhiều người, cả năm họ chỉ trông vào mỗi “khoản” này, và tết chính là dịp mang lại nguồn thu nhập không nhỏ cho họ...

Từ chuyện biến tướng trong việc biếu, nhận quà tết của người lớn, tục lì xì người già và con trẻ cũng có những lệch chuẩn.

Lì xì, mừng tuổi... vốn là một phong tục đẹp, khi mà trong mỗi bao lì xì có một chút tiền lẻ được biếu, tặng, mong người già có thêm sức khỏe, mong con trẻ ngoan ngoãn, khỏe mạnh. Giờ đây, câu chuyện vật chất đã len vào những bao lì xì, khiến không ít gia đình phải dặn kỹ con em mình mỗi khi nhận lì xì thì đừng làm mất mặt người lớn, rằng nhận xong thì chớ có mở ra để... đếm tiền trước mặt khách. Rõ ràng, bao lì xì hiện không còn mang ý nghĩa tượng trưng mà đã mang nặng giá trị vật chất, ảnh hưởng không nhỏ tới quan niệm, hành vi ứng xử của con trẻ, làm mai một giá trị truyền thống.

Nói về giới trẻ hiện nay, nhiều người đặt câu hỏi: Phải chăng giới trẻ đang dần quay lưng với phong tục tết? Vào dịp cuối năm, thấy không ít bạn trẻ lên mạng xã hội ta thán: “Đang yên đang lành, tự dưng lại tết, nghỉ gần chục ngày chẳng biết đi đâu, làm gì”; “Ui, thế là lại tết, ước gì sau một ngày ngủ nướng, thức dậy đã là... mồng 6 tết”. Sở dĩ có hiện tượng trên là do ngày nay, một số người trẻ đã không còn dành thời gian cho các phong tục tết truyền thống như trước. Trên các diễn đàn dành cho dân du lịch, đi phượt..., nhiều bạn trẻ hào hứng bàn bạc, rủ nhau tết này đi du lịch ở đâu, dùng mấy ngày nghỉ tết vào việc gì... Có người rủ nhau xuất ngoại du lịch, có người tính chuyện khoác ba lô đi phượt xuyên Việt.

Trào lưu đi du lịch thay vì đón tết đang trở nên phổ biến không chỉ trong giới trẻ mà còn lan rộng tới các gia đình có điều kiện, dư dả về kinh tế. Nhiều người không còn coi tết là dịp sum vầy mà họ lựa chọn du lịch để tận hưởng kỳ nghỉ tết theo cách riêng. Điều này phản ánh sự thay đổi trong cách sống, quan niệm và nhu cầu giải trí của xã hội hiện đại. Một bộ phận người trẻ lựa chọn đi chơi xa như một hình thức "trốn" tết. Họ xem tết như một kỳ nghỉ để "xả stress" thay vì dành thời gian cho gia đình.

Lối sống, quan niệm ấy đã phần nào khiến ý nghĩa đoàn viên, sum vầy của ngày tết bị xem nhẹ, đồng thời giá trị gắn kết gia đình và xã hội của Tết Nguyên đán cũng đang dần bị mai một.

 Tự giác, nêu gương để giữ gìn văn hóa tết

Để ngăn biến tướng và giữ gìn văn hóa tết, rất cần sự làm gương từ các gia đình, trong đó cha mẹ, ông bà phải là những người lan tỏa ý nghĩa văn hóa tết cho con cháu; chú trọng tổ chức tết đơn giản, tiết kiệm, tránh lãng phí, tập trung vào giá trị tinh thần của ngày tết như sự sum vầy, đoàn tụ gia đình và tôn vinh các giá trị văn hóa dân tộc.

Ngoài ra, các địa phương cần tổ chức các hoạt động lễ hội, trò chơi dân gian mang bản sắc truyền thống, không để diễn ra tình trạng nhiều lễ hội “không quản được thì cấm”, thiếu trách nhiệm với văn hóa truyền thống và nhu cầu chính đáng của nhân dân. Để hạn chế những biểu hiện mê tín dị đoan, trục lợi và các hình ảnh phản cảm trong lễ hội, ngành văn hóa-du lịch đã có nhiều nỗ lực thông qua các biện pháp quản lý, tuyên truyền và giám sát chặt chẽ. Tuy nhiên, để xây dựng môi trường lễ hội văn minh, giàu bản sắc văn hóa, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và sự đồng lòng của người dân.

Khắc phục những dấu hiệu lệch chuẩn trong văn hóa tết, cần đẩy mạnh giáo dục văn hóa trong cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ, để họ hiểu và trân trọng ý nghĩa thực sự của các phong tục tết. Đồng hành trong việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, cán bộ, đảng viên phải là người tiên phong trong hành động, không tham gia hoặc khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan; không sử dụng ngân sách cho các hoạt động lễ lạt rình rang, gây lãng phí trong dịp tết; tránh tổ chức tiệc tùng, lễ nghi mang tính hình thức hoặc quá mức cần thiết.

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong “Sửa đổi lối làm việc”: “Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong ta đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra”. Vì vậy, đạo đức của cán bộ trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa không chỉ là việc thực hiện trách nhiệm công vụ mà còn thể hiện qua lối sống, hành vi và thái độ gương mẫu. Tinh thần tự giác của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người có chức, có quyền chính là lá chắn đầu tiên và quan trọng nhất để ngăn chặn biến tướng quà tết, bởi việc biếu, tặng quà tết với mục đích mưu cầu lợi ích không chỉ làm sai lệch ý nghĩa của việc tặng quà mà còn gây bức xúc trong xã hội.

Để làm được điều này, cán bộ, đảng viên phải thực sự nêu gương, tránh tình trạng gắn “mác” văn hóa trong diễn ngôn, nhắc nhiều đến văn hóa trong các lĩnh vực nhưng lại chưa thực tâm hành xử vì văn hóa./.

 

Ngoại giao kinh tế - Con đường bước vào kỷ nguyên mới

Những năm gần đây, nhất là năm 2024, hợp tác kinh tế trở thành nội dung được quan tâm hàng đầu trong tất cả hoạt động đối ngoại của Việt Nam, đặc biệt là đối ngoại cấp cao. Những thành tựu đạt được trong lĩnh vực ngoại giao kinh tế là lời đáp trả mạnh mẽ trước luận điệu của một số phần tử chống đối, thù địch cho rằng các lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam “đi nhiều nơi, đón nhiều người” nhưng chẳng đem lại lợi ích gì, nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân với đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Năm khởi sắc của ngoại giao kinh tế

Có thể khẳng định rằng, năm 2024 là một năm khởi sắc của ngoại giao Việt Nam.

Theo số liệu tổng hợp của Bộ Ngoại giao, chỉ riêng năm qua đã có gần 60 hoạt động đối ngoại của lãnh đạo chủ chốt Đảng, Nhà nước Việt Nam, trong đó có 21 chuyến thăm tới các nước và tham dự các hội nghị đa phương, đón 25 đoàn lãnh đạo các nước thăm Việt Nam; cùng với đó là các cuộc điện đàm, hội đàm trực tuyến, các hội nghị đa phương trực tuyến hoặc diễn ra tại Hà Nội.

Thông qua các hoạt động đối ngoại cấp cao, hơn 170 thỏa thuận hợp tác giữa Việt Nam và các đối tác đã được ký kết.

Dễ nhận thấy nội dung hợp tác kinh tế là trọng tâm của đối ngoại cấp cao Việt Nam trong những năm gần đây, cụ thể là đẩy mạnh hợp tác về thương mại, đầu tư, du lịch, lao động với các thị trường lớn, các đối tác đầu tư chủ chốt, quan trọng, nhất là khu vực Đông Bắc Á, châu Mỹ, Ấn Độ, Trung Đông...; thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác quốc tế về khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, ngoại giao công nghệ, ngoại giao bán dẫn... với các đối tác chủ chốt và các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới; đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa đối tác, tạo đột phá ở các thị trường mới và tiềm năng, trong đó có các thị trường còn nhiều dư địa như khu vực Mỹ Latin, Trung Đông - châu Phi, Trung-Đông Âu.

Năm 2024, Việt Nam cũng tích cực thúc đẩy ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) mới, nâng tổng số FTA ký kết và tham gia lên con số 17.

Hoạt động ngoại giao kinh tế còn được thể hiện qua việc chỉ trong vòng một năm, các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài đã triển khai hơn 700 hoạt động ngoại giao kinh tế xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch; hỗ trợ địa phương quảng bá giới thiệu, kết nối, thiết lập quan hệ với các đối tác nước ngoài, với hơn 400 hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư của các địa phương trong và ngoài nước, trong đó hỗ trợ các tỉnh, thành phố ký kết 130 thỏa thuận với các đối tác quốc tế.

Nhìn vào hàng loạt hoạt động ngoại giao kinh tế thông qua đối ngoại cấp cao của Việt Nam trong năm qua cũng có thể thấy rằng, ngoại giao kinh tế ngày càng được triển khai bài bản và có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương.

Cơ hội để đất nước phát triển bứt phá

Những thành tựu của ngoại giao kinh tế được gói gọn trong đánh giá mà Thủ tướng Phạm Minh Chính đưa ra tại một hội nghị diễn ra ở Hà Nội hồi tháng 12-2024: Ngoại giao kinh tế ngày càng thực chất hơn và bài bản hơn, với “3 rõ”: Kết quả rõ, sản phẩm rõ, đóng góp rõ cho phát triển kinh tế-xã hội đất nước.

Hiệu quả của ngoại giao kinh tế năm 2024 trước hết được thể hiện qua những kết quả mà Việt Nam đạt được trong thúc đẩy hợp tác quốc tế về khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh.

Điển hình là thông qua các hoạt động đối ngoại cấp cao, Việt Nam và Hàn Quốc đã ký kết 9 văn kiện cấp chính phủ về lĩnh vực năng lượng tái tạo, chất bán dẫn, điện tử công nghệ cao; Việt Nam và Ấn Độ thống nhất đề ra phương hướng hợp tác “5 hơn”, trong đó nhấn mạnh hợp tác khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo rộng mở hơn, và Thủ tướng Ấn Độ cam kết tăng đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn 10 tỷ USD.

Bên cạnh đó, Việt Nam và một số quốc gia ở khu vực Trung Đông cũng nhất trí coi đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số là trọng tâm hợp tác song phương trong thời gian tới, trong đó UAE sẵn sàng hợp tác với Việt Nam xây dựng trung tâm siêu dữ liệu.

Giới đầu tư trong nước, khu vực và quốc tế hẳn cũng chưa quên hình ảnh Thủ tướng Phạm Minh Chính cùng ông Jensen Huang, Nhà sáng lập kiêm Chủ tịch Tập đoàn NVIDIA - tập đoàn sản xuất chip đắt giá nhất thế giới với giá trị thị trường gần 1.200 tỷ USD - dạo quanh phố cổ, gặp gỡ người dân và thưởng thực các món ẩm thực đường phố Hà Nội hồi đầu tháng 12-2024.

Song điều khiến người ta chú ý hơn cả là trong chuyến thăm làm việc ấy của ông Jensen Huang, Chính phủ Việt Nam và Tập đoàn NVIDIA đã ký Thỏa thuận về hợp tác thành lập Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển về trí tuệ nhân tạo (AI) của NVIDIA và Trung tâm Dữ liệu AI tại Việt Nam.

Ngoài ra, Tập đoàn NVIDIA đã ký thỏa thuận trị giá 4-4,5 tỷ USD với một số đối tác về việc dịch chuyển chuỗi sản xuất từ các nước khác sang Việt Nam trong vòng 4 năm tới. Nên nhớ rằng, kết quả này có được chỉ sau hơn một năm kể từ khi Thủ tướng Phạm Minh Chính đến thăm trụ sở Tập đoàn NVIDIA nhân chuyến công tác tại Hoa Kỳ và đề nghị NVIDIA hợp tác với Việt Nam trong phát triển công nghệ.

Những thành quả nói trên chứng tỏ Việt Nam vẫn là điểm đến an toàn, hấp dẫn của đầu tư, kinh doanh quốc tế, và hoàn toàn trái ngược với luận điệu cho rằng, trong khi một số quốc gia liên tục thu về những hợp đồng giá trị thì lãnh đạo cấp cao Việt Nam chỉ công du, “tay bắt mặt mừng” khắp nơi để theo đuổi những mục tiêu, lợi ích viển vông.

Dĩ nhiên, các văn bản, thỏa thuận hợp tác “tỷ đô” không thể tạo ra thay đổi “mắt thấy tai nghe” chỉ trong vòng một đêm. Vẫn cần thời gian và nỗ lực nhằm cụ thể hóa, khai thác hiệu quả các thỏa thuận, khuôn khổ hợp tác đã ký kết, từ đó phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho mỗi người dân.

Những thành quả đạt được thông qua ngoại giao kinh tế rõ ràng đang mở ra cơ hội bứt phá cho Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học-công nghệ. Đó cũng là điều mà ngay cả những đối tượng thường xuyên chống phá, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam cũng phải thừa nhận./.

 

Cuộc chiến toàn cầu chống nạn buôn người

Nạn buôn người đang trở thành một trong những vấn nạn nghiêm trọng, có ảnh hưởng toàn cầu, khi tình trạng đói nghèo, xung đột kéo dài và biến đổi khí hậu khiến hàng triệu người rơi vào cảnh dễ bị lợi dụng. Những đối tượng yếu thế này trở thành “con mồi” của các băng nhóm tội phạm xuyên quốc gia.

Mới đây, Cơ quan Phòng, chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) đã đưa ra một báo cáo toàn cầu về nạn buôn người, nhấn mạnh rằng để giải quyết vấn đề này, cần có sự phối hợp chặt chẽ của tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam - một quốc gia đang đóng góp tích cực trong cuộc chiến này.

Thực trạng đáng báo động

Báo cáo của UNODC năm 2024 chỉ ra rằng, trong năm 2022, hơn 69.600 người đã trở thành nạn nhân của tội phạm buôn người trên toàn cầu, tăng 43% so với năm 2020, thời điểm đại dịch COVID-19 khiến số lượng các vụ án giảm đáng kể. Sự gia tăng này không chỉ phản ánh sự hồi sinh của tội phạm buôn người sau đại dịch, mà còn cho thấy mức độ nghiêm trọng và lan rộng của vấn đề. Dữ liệu sơ bộ năm 2023 tiếp tục cho thấy xu hướng tăng này.

Điều này chứng tỏ rằng, nạn buôn người không chỉ tồn tại ở những khu vực nghèo khó hay chiến tranh, mà đang len lỏi đến mọi ngóc ngách của thế giới, từ các quốc gia phát triển đến những nơi bị ảnh hưởng bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị và môi trường. Một phần quan trọng trong báo cáo lần này của UNODC là chương về châu Phi, nơi các cuộc khủng hoảng nghiêm trọng đã khiến hàng triệu người rơi vào tình trạng dễ bị khai thác. Châu Phi từ lâu đã bị bỏ qua trong các nghiên cứu về buôn người do công tác thu thập dữ liệu khó khăn. Tuy nhiên, nhờ sự phối hợp giữa các tổ chức quốc tế, khu vực và chính quyền các quốc gia châu Phi, UNODC đã có thể cung cấp một bức tranh rõ nét hơn về tình trạng buôn người tại đây.

Khu vực phía Nam Sahara của châu Phi chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số nạn nhân của tội phạm buôn người trên toàn thế giới, lên đến 26%. Phụ nữ và trẻ em gái là nhóm đối tượng bị tội phạm nhắm đến nhiều nhất, tiếp theo là nam giới và trẻ em trai. Tuy nhiên, đáng lo ngại là số lượng trẻ em bị buôn bán đang gia tăng nhanh chóng.

Các nạn nhân của nạn buôn người thường bị cưỡng bức lao động trong các ngành nghề khắc nghiệt như ăn xin, làm việc trong các cơ sở sản xuất trái phép, hoặc tham gia vào các hoạt động lừa đảo trực tuyến. Đặc biệt, phụ nữ và trẻ em gái còn phải đối mặt với nguy cơ bị lạm dụng tình dục và bạo lực giới, làm tăng thêm mức độ nghiêm trọng của tội phạm này.

Theo Giám đốc điều hành UNODC Ghada Waly, điều này không chỉ là vi phạm nhân quyền, mà còn là một thách thức đối với an ninh và trật tự xã hội toàn cầu. Để giảm thiểu và chấm dứt tình trạng buôn người, UNODC đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác ngăn chặn. Đầu tiên, các quốc gia cần hoàn thiện hệ thống pháp luật để đối phó với những phương thức ngày càng tinh vi và táo tợn của các băng nhóm buôn người.

Các biện pháp bảo vệ và hỗ trợ trẻ em cũng cần được tích hợp trong các chiến lược chống buôn người, nhằm ngăn chặn lao động trẻ em và bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bóc lột. Công tác phòng ngừa là yếu tố then chốt, trong đó cải thiện chất lượng báo cáo về nạn buôn người và nâng cao nhận thức của cộng đồng là những biện pháp thiết yếu. Đặc biệt, các chuyên gia nhấn mạnh rằng việc bảo vệ sự an toàn và phẩm giá của các nạn nhân là ưu tiên hàng đầu, thay vì đổ lỗi cho họ vì đã nhẹ dạ cả tin.

Sự vào cuộc và vai trò tích cực của Việt Nam

Trong cuộc chiến chống nạn buôn người, Việt Nam đã thể hiện một cam kết mạnh mẽ và quyết tâm không chỉ bằng những biện pháp nội bộ mà còn thông qua việc thúc đẩy hợp tác quốc tế. Những nỗ lực này đã đem lại những kết quả tích cực, khẳng định vai trò của Việt Nam trong cuộc đấu tranh toàn cầu này. Việt Nam đã ban hành một loạt chính sách quan trọng nhằm phòng ngừa và chống nạn buôn người. Một trong những bước đi quan trọng là việc ký kết và thực thi các hiệp định quốc tế về phòng, chống buôn người.

Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia và thực hiện cam kết của Hiệp định LHQ về buôn bán người và Hiệp định hợp tác khu vực ASEAN trong việc ngăn chặn các tội phạm xuyên biên giới, trong đó có tội phạm buôn người. Các cam kết này không chỉ giúp Việt Nam tăng cường hợp tác với các quốc gia khác mà còn tạo cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý các vụ án liên quan đến buôn người và bảo vệ quyền lợi của nạn nhân.

Bên cạnh các hiệp định quốc tế, Việt Nam cũng đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước. Các quy định pháp lý về phòng, chống buôn người liên tục được cải tiến, đồng thời tăng cường xử lý nghiêm minh các đối tượng buôn bán người. Một trong những dấu ấn quan trọng là việc ban hành Bộ luật Hình sự sửa đổi vào năm 2015, trong đó quy định các tội phạm liên quan đến buôn người, giúp nâng cao khả năng điều tra, truy tố và xét xử các vụ án này.

Không chỉ dừng lại ở các hoạt động phòng ngừa, Việt Nam còn triển khai nhiều chiến dịch lớn để đấu tranh với các băng nhóm tội phạm buôn người xuyên biên giới. Các chiến dịch này không chỉ tập trung vào việc bắt giữ tội phạm mà còn chú trọng đến việc giải cứu nạn nhân, bảo vệ họ khỏi những nguy cơ bị khai thác, bóc lột thêm. Những chiến dịch phối hợp với các quốc gia láng giềng như Lào, Campuchia và các quốc gia trong khu vực ASEAN đã giúp làm suy yếu các mạng lưới buôn người quốc tế. Hơn nữa, Việt Nam đặc biệt chú trọng đến việc hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân. Các cơ quan chức năng phối hợp với các tổ chức phi chính phủ và xã hội dân sự trong nước để cung cấp hỗ trợ thiết thực cho những nạn nhân sau khi được giải cứu...

Bên cạnh những biện pháp pháp lý và hành động cụ thể, Việt Nam cũng chú trọng đến việc nâng cao nhận thức cộng đồng về nạn buôn người. Chính phủ và các tổ chức xã hội dân sự đã tổ chức hàng loạt các chiến dịch tuyên truyền, hội thảo và diễn đàn quốc tế để thu hút sự tham gia của cộng đồng và giới chức các quốc gia. Các hoạt động này nhằm mục tiêu làm tăng hiểu biết của người dân về những phương thức tinh vi của tội phạm buôn người, giúp họ nhận diện những nguy cơ và phòng tránh.

Việt Nam cũng đã tích cực tham gia vào các tổ chức quốc tế như INTERPOL, ASEAN và LHQ để tăng cường hợp tác và chia sẻ thông tin về tội phạm buôn người. Các hội nghị, diễn đàn quốc tế do Việt Nam tổ chức là cơ hội để các chuyên gia và các nhà ngoại giao từ nhiều quốc gia chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi các giải pháp hiệu quả trong công tác phòng, chống buôn người. Qua đó, Việt Nam không chỉ nâng cao vị thế trên trường quốc tế mà còn đóng góp vào việc xây dựng một mạng lưới hợp tác toàn cầu, giúp các quốc gia giải quyết vấn nạn này.

Nhìn chung, trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với những biến động lớn, mối lo ngại về sự gia tăng của các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia và số phận của các nạn nhân buôn người càng trở nên cấp bách. Báo cáo của UNODC và các lời kêu gọi từ cộng đồng quốc tế một lần nữa nhấn mạnh rằng, để giải quyết vấn đề này, tất cả các quốc gia phải cùng chung tay hành động. Việc đưa những kẻ đứng đầu các mạng lưới buôn người ra trước pháp luật và giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của vấn nạn này là nhiệm vụ cấp thiết để bảo vệ quyền con người và an ninh toàn cầu. Việt Nam, với các nỗ lực mạnh mẽ trong việc phòng ngừa, đấu tranh và hợp tác quốc tế, đang chứng minh rằng cuộc chiến chống nạn buôn người không thể thiếu sự tham gia của tất cả các quốc gia./.


BẰNG CHỨNG SINH ĐỘNG PHỦ NHẬN SỰ XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH "ĐẢNG KHÔNG VÌ HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN"

 Sau gần 40 năm đổi mới, các tầng lớp nhân dân tràn đầy niềm tin tưởng và lạc quan bởi những thành tựu to lớn mà đất nước đã đạt được. Điều đó chứng tỏ bản lĩnh, năng lực và uy tín của Đảng đã in sâu vào trái tim, khối óc nhân dân.

 

Mục tiêu “tất cả vì hạnh phúc của nhân dân” luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đó cũng là bằng chứng sinh động phủ nhận mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch “Đảng Cộng sản Việt Nam không vì hạnh phúc của nhân dân”.

 

1. Hạnh phúc là mục tiêu phấn đấu chung của nhân loại tiến bộ hiện nay. Xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc là ước mơ ngàn đời của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cội nguồn hạnh phúc của nhân dân là đất nước được độc lập, tự do, hòa bình, cùng những điều bình dị mà nhân dân cần có, đó là cơm ăn, áo mặc, có nhà để ở, được học hành, được làm chủ vận mệnh của mình và làm chủ xã hội.

 

Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định phải lấy việc xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân làm mục tiêu hàng đầu của Đảng. Ngay từ ngày đầu thành lập, Đảng ta chỉ rõ, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới “đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc”. Rõ ràng, mục tiêu của Đảng luôn gắn liền với mục tiêu giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

 

Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa nhân dân ta lên vị thế chủ nhân của đất nước, làm chủ vận mệnh của mình, được hưởng các quyền con người, quyền tự do, công bằng. Hướng tới lợi ích của nhân dân, lấy nguyện vọng và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu lâu dài đã trở thành nhân tố quyết định quy tụ sức mạnh toàn dân tộc. Trong cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, sức mạnh của tinh thần đoàn kết dân tộc, từ nội lực nhân dân đã làm nên một Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu” và đại thắng mùa xuân năm 1975 đưa non sông thu về một mối. Khi Đảng, Nhà nước quan tâm chăm lo đời sống nhân dân thì dù “khó vạn lần dân liệu cũng xong” và khi Đảng, Nhà nước chăm lo hạnh phúc của nhân dân thì sẽ luôn được nhân dân đồng tình, ủng hộ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

 

Quá trình đổi mới đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN), Đảng ta luôn xác định “lấy nhân dân là chủ thể, trung tâm”, “lấy ấm no, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, nhu cầu của nhân dân; xác định nhân dân chính là nguồn lực, động lực chủ yếu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng yêu cầu phải giải phóng mọi tiềm năng, sức mạnh, khả năng sáng tạo của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đã có nhiều nghị quyết được ban hành, nhiều chiến lược phát triển kinh tế-xã hội được hoạch định ở nhiều thời điểm khác nhau, các chương trình quốc gia hỗ trợ giảm nghèo, phát triển kinh tế và an sinh xã hội được nỗ lực thực hiện, tạo ra những chuyển biến căn bản trong xã hội và trong đời sống của nhân dân.

 

Sau gần 40 năm đổi mới đất nước, kinh tế-xã hội nước ta có nhiều khởi sắc. Với mức tăng trưởng trung bình gần 7% mỗi năm, tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300USD năm 2023, Việt Nam đang tiến tới trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu thiên niên kỷ. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam thuộc nhóm trung bình cao của thế giới. Từ năm 1990 đến 2022, giá trị HDI của Việt Nam nâng từ 0,492 lên 0,726, tăng gần 50%. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng. Quy mô nền kinh tế năm 2024 đã đạt hơn 470 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,93% (theo chuẩn đa chiều) so với mức 60% năm 1986. 

 

2. Tuy nhiên, mỗi bước tiến trong quá trình xây dựng hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam vẫn còn những khó khăn, trở ngại. Một trong những lực cản, đó là các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tìm cách chống phá. Họ xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới. Với luận điệu hết sức trắng trợn, họ cho rằng, phải thay đổi đường lối xây dựng đất nước thì Việt Nam mới phát triển, người dân mới có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

 

Thời gian qua, các đối tượng chống phá cố tình “đổi trắng thay đen” những tiến bộ và kỳ tích trong xóa đói, giảm nghèo đã được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế ghi nhận. Họ còn rêu rao rằng khoảng cách giàu nghèo cách biệt là do cán bộ, đảng viên tham nhũng, vơ vét tài sản của dân. Họ cố tình thổi phồng những khuyết điểm, hạn chế trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước để quy kết Đảng chỉ biết lo cho mình mà không vì hạnh phúc của nhân dân.

 

Những luận điệu xuyên tạc đó nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân ta và phá hủy niềm tin của nhân dân vào con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn.

 

3. Để công cuộc xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, mang lại hạnh phúc cho nhân dân được hiện thực hóa trong đời sống, điều có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là phải kiên trì thực hiện tốt quan điểm “dân là gốc”, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. 

 

Các cấp, các ngành, các địa phương cần phải nhận thức sâu sắc, vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm Đại hội XIII của Đảng đã đúc kết được, trong đó có bài học “lấy dân làm gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho nên mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN, vì chỉ có CNXH mới bảo đảm hạnh phúc lâu dài cho nhân dân.

 

Mục tiêu cao cả, tối thượng của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì hạnh phúc của nhân dân. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần tuyệt đối trung thành với con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn và hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Cán bộ, đảng viên luôn nêu cao tinh thần cách mạng, rèn đức luyện tài, không ngừng trau dồi đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, phấn đấu trở thành người cán bộ vừa "hồng", vừa "chuyên". Trong bài viết “Rạng rỡ Việt Nam” nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2) vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu các cấp ủy đảng cần đề cao trách nhiệm nêu gương, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, kịp thời giải quyết những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội; đồng thời phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, bảo đảm Đảng luôn là lực lượng lãnh đạo trung thành với lợi ích của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân.

 

Giải pháp căn cơ là bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; coi trọng nhân tố con người, phát huy tiềm năng, sức mạnh, năng lực sáng tạo của con người trong phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân. Trong từng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế phải luôn gắn với chính sách xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, xuất phát từ lợi ích thiết thực của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động của nhân dân. Xây dựng các chính sách xã hội phù hợp, kiểm soát sự phân hóa giàu nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc; bảo đảm phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân để không ai bị bỏ lại phía sau; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, gắn nâng cao chất lượng cuộc sống với hạnh phúc của nhân dân.

 

Đại hội XIII của Đảng xác định: Phấn đấu đến năm 2030, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, theo định hướng XHCN. Khát vọng phát triển đất nước “cường thịnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” không phải là viển vông mà hoàn toàn có cơ sở khoa học, được thực tiễn đúc kết, kiểm nghiệm trong các hoạt động, lao động sáng tạo của nhân dân, bằng chính sự đoàn kết, chung sức đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam.

 

Trong suốt 95 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy ấm no, hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu phấn đấu, là cội nguồn làm nên sức sống, sự trường tồn của Đảng. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát ở nước ta là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”. Không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Một chế độ chính trị-xã hội tốt đẹp như vậy chính là môi trường, điều kiện thuận lợi để nhân dân yên tâm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm đem sức lực, tài năng, trí tuệ của mình đóng góp vào sự nghiệp chung của đất nước.

 

Sau gần 40 năm đổi mới, các tầng lớp nhân dân tràn đầy niềm tin tưởng và lạc quan bởi những thành tựu to lớn mà đất nước đã đạt được. Điều đó chứng tỏ bản lĩnh, năng lực và uy tín của Đảng đã in sâu vào trái tim, khối óc nhân dân. Tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và trong tương lai, mục tiêu “tất cả vì hạnh phúc của nhân dân” tiếp tục là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng CNXH. Đây là bằng chứng sinh động phủ nhận mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch “Đảng Cộng sản Việt Nam không vì hạnh phúc của nhân dân”./.